Tháng 6 với “Khúc hát người chèo thuyền”

TchaikovskyChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga với cái tên rất quen thuộc – Tchaikovsky và một tiểu phẩm “Khúc hát người chèo thuyền”.

 1) Tiểu sử (theo Wikipedia): Pyotr Ilyich Tchaikovsky (25/4/1840 – 25/10/1893) là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga. Sống trong gia đình quý tộc bậc trung, ông được giáo dục toàn diện, rất yêu thích và có năng khiếu về âm nhạc từ nhỏ. Tuy nhiên, bố mẹ không muốn cho con theo con đường nghệ thuật nên gửi Tchaikovsky đến Petersburg để học ở trường Trung cấp luật (từ năm 1850 – 1859).

Theo lời khuyên của A.Rubinsten, Tchaikovsky bỏ nghề luật và thi vào nhạc viện Petersburg (1862). Sau ba năm học tập, Tchaikovsky tốt nghiệp với huy chương bạc và trở về hoạt động ở Mátxcơva rồi trở thành giáo sư của nhạc viện thành phố (1865). Tchaikovsky hoạt động rất hăng say trong lĩnh vực sáng tác, lý luận, giáo dục… Trong khoảng 12 năm (từ 1865-1877) ông đã sáng tác nhiều tác phẩm. Năm 1877 – 1885, tình hình xã hội có nhiều biến đổi và với cuộc hôn nhân không thành Tchaikovsky bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trong một thời gian. Giữa những năm 80, Tchaikovsky với tư cách là nhạc trưởng đã đi biễu diễn khắp nơi trong và ngoài nước. Năm 1893 ông nhận học vị tiến sĩ của trường đại học tổng hợp Cambrigde ở Anh. Tchaikovsky mất ngày 25/10/1893 ở Petersburg sau một tuần lễ chỉ huy bản giao hưởng cuối cùng của mình.

 June2) Tháng 6 “Khúc hát người chèo thuyền”:

Tháng 6 (Barcarolle) là một tiểu phẩm nằm trong liên khúc “Bốn mùa” của ông. “Bốn mùa” là tên một liên khúc gồm 12 tiểu phẩm viết cho cho piano. Trong các tiểu phẩm này Tchaikovsky đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh với những khoảng không vô biên của những cánh đồng Nga, các phong tục tập quán ở nông thôn, các bức tranh đời sống thị thành ở Peterburg, những cảnh sinh hoạt âm nhạc của người dân Nga thời kỳ đó.

Barcarolle là một từ tiếng Ý chỉ khúc hát của người chèo thuyền trong âm nhạc dân gian. Các khúc ca này đặc biệt thịnh hành ở Venise, thành phố trên bờ những con kênh, và phương tiện giao thông chính là những con thuyền đặc chủng đi lại trên các con kênh này trong giai điệu trầm bổng rất đặc trưng của các bài hát. Nhịp điệu và nhạc đệm của chúng mô phỏng những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước. Các bài hát này trở nên rất phổ biến trong nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ XIX, và trở thành một phần không thể thiếu của thanh nhạc trữ tình Nga, đi vào thi ca Nga và cả hội hoạ.

Notes: Dưới đây 12 tiểu phẩm trong liên khúc “Bốn mùa”.
1) Tháng giêng: “Bên lò sưởi”

2) Tháng hai : “Lễ Tiễn mùa đông”

3) Tháng ba: “Chim sơn ca”

4) Tháng tư: “Hoa xuyên tuyết ”

5) Tháng 5: “Những đêm trắng”

6) Tháng 6: “Khúc hát người chèo thuyền”

7) Tháng bảy: “Bài ca cắt cỏ”

8 ) Tháng tám: “Mùa gặt”

9) Tháng chín: “Đi săn”

10) Tháng mười: “Bài ca mùa thu”

11) Tháng mười một:  “Trên xe tam mã”

12) Tháng mười hai: “Hội mùa đông”

Sau đây là video clip “Barcarolle” do nghệ sĩ piano thiên tài Đặng Thái Sơn biểu diễn. Chúc các bạn một tuần thật vui!

Loan Subaru

Daily English Discussion–Tuesday, June 23, 2009

englishchallenge
Hi everyone,

The teacher that I remember most is my teacher in primary school in Nha Trang. That was a catholic nun in the parish school in Hà Dừa parish, Thành, 12 km West of Nha Trang. Her name sounded like Séraphin. But I am not sure how it spelled. (Séraphin is a French word for high-ranked angle, but that is a masculine term). I guess I liked her because I was her favorite student, doing well in class, not making troubles, winning inter-school competitions. And all the kids agreed that she was much nicer than the other nun, who were more ready to scold and spank you (usually with a stick on your buttocks). I have always wanted to visit her (probably in their convent in Bình Cang, between Nha Trang and Thành) but have never got a chance yet.

Who is your favorite primary-school teacher? Tell us about him/her.
.

TODAY’s CHALLENGE

Please translation the following excerpt into Vietnamese.

Chúng ta phải đối diện với một cuộc đời đầy khó khăn và thử thách, đòi hỏi mồ hôi, nghị lực, và chiến đấu. Nhưng không sao, mình có tin vui cho các bạn, kể cả các bạn không thích đổ mồ hôi, hao nghi lực, hay phải chiến đấu: Bản chất kinh tế của đời sống tạo ra qui luật căn bản là những việc càng khó khăn thì càng mang lại nhiều phần thưởng. Việc càng dễ dàng thì càng nhiều người vào làm, mà càng nhiều người cạnh tranh lao động, thì giá lao động, hay phần thưởng lao động, càng thấp. Ví dụ: Làm nhân công may trên dây chuyền của hãng may thì dễ hơn làm bác sĩ—ít tốn thời giờ học ở trường, và không phải học các môn khó khăn như bác sĩ. Vì vậy, nhiều người có thể làm hãng may hơn làm bác sĩ. Giá lao động may, do đó, thấp hơn giá lao động bác sĩ. Tương tự như vậy, bán hàng rong cũng ít lời hơn là mở tiệm phở, vì hàng rong đòi hỏi ít kiến thức và vốn liếng hơn.

Thank you everyone. Have a great day!

Hoanh

Tôi lắng nghe

nature10
Tôi lắng nghe cây cối, và chúng nói:
“Đứng thẳng cao và nhường nhịn.
Độ lượng và mềm dẻo.
Chân thật với chính bạn.
Đứng một mình, và đứng cùng nhau.
Cam đảm.
Kiên nhẫn.
Với thời gian, bạn sẽ lớn.”

Tôi lắng nghe ngọn gió, và gió nói:
“Hít thở.
Chăm sóc chính bạn –
Thân thể, trí óc, và tinh thần.
Dành thời gian.
Yên lặng.
Nghe bằng trái tim.
Tha thứ.”

Tôi lắng nghe mặt trời, và ông nói:
“Nuôi dưỡng những người khác.
Để hơi ấm của bạn tỏa ra cho người khác cảm được.
Hãy cho đi chính mình mà không kỳ vọng gì.”

Tôi lắng nghe dòng suối, và suối nói:
“Thả lỏng, đi theo dòng chảy”
Quan tâm đền những gì thực sự quan trọng,
Và để những điều khác trôi qua.
Chuyển động liên tục – đừng do dự hay sợ hãi.
Nhẹ nhõm nào – cười to, khúc khích nào”
nature6

Tôi lắng nghe những ngọn núi, và chúng nói:
“Hãy có mặt.
Hãy trung thực.
Hãy đáng được tin tưởng.
Hãy làm điều bạn nói là bạn sẽ làm.
Hãy thành thật, hãy chính thống, và hãy thực tế.
Nói từ trái tim.
Không lừa lọc.”
Tôi lắng nghe đàn chim, và chúng nói:
“Giải phóng chính bạn.
Hát”

Tôi lắng nghe những đám mây, và chúng nói:
“Hãy sáng tạo.
Hãy bày tỏ.
Hãy để tinh thần của bạn chạy nhảy tự do.
Hãy để chính bạn nhẹ nhõm và hào hứng,
Nhưng cho phép bạn nặng nề và buồn,
Khóc khi bạn muốn khóc.”

Tôi lắng nghe bầu trời, và trời nói:
“Mở rộng ra.
Bỏ đi những giới hạn và rào cản,
mà bạn đã tạo ra để tự bảo vệ.
Hãy trải nghiệm sự thay đổi.
Bay.”
nature
Tôi lắng nghe những bông hoa và những cây con, và chúng nói:
“Hãy khiêm tốn.
Hãy đơn giản.
Kính trọng vẻ đẹp của những điều nhỏ bé.
Kính trọng vẻ đẹp của khiêm tốn và sự thật.
Bỏ đi chủ nghĩa hoàn hảo.
Yêu bạn vì bạn là thế, điều đó mở ra cánh cửa để thay đổi.
Thực hành tính chấp nhận.”

Tôi lắng nghe sâu bọ và những côn trùng bay, và chúng nói:
“Làm việc.
Sản xuất tốt.
Dùng đôi tay của bạn.
Tập trung vào những điều trước mắt bạn.
Lờ quá khứ đi, chỉ có hiện tại thôi.”

Tôi lắng nghe mặt trăng, và trăng nói:
“Yêu.
Chia sẻ tình yêu.
Làm chuyện yêu.
Hãy lãng mạn – vuốt ve và âu yếm.
Cho phép bạn được yêu.
Nhẹ nhàng, tử tế, và thấu hiểu.
Dùng nến.”
nature9
Tôi lắng nghe những ngôi sao, và chúng nháy mắt và nói:
“Chơi vui.
Nhảy múa, làm hề, vui chơi.”

Tôi lắng nghe đất, và đất nói:

“Ta là mẹ của con.
Ta cho con sự sống.
Kính trọng tất cả những gì quanh con.
Tìm thấy vẻ đẹp trong tất cả mọi thứ – dù sinh động hay vô tri – kể cả
Chính con; bởi vì chúng ta là một – không tách rời.
Đặc biệt kính trọng với những người rất trẻ và rất già,
Bởi cả hai đều rất gần Thượng đế.
Bỏ đi niềm tin rằng con là một dạng cao hơn của sự sống;
Không có dạng cao hơn của sự sống.
Chúng ta bình đẳng bởi vì chúng ta đều như nhau.
Khi con trở lại với ta, ta sẽ chào đón con,
và ta sẽ giải phóng linh hồn của con.
Hãy yêu thương và nuôi dưỡng con cái; nấu thức ăn ngon cho chúng,
và ôm chúng thường xuyên vào lòng.
Hãy thưừon xuyên ôm ta vào lòng con nữa.
Và ta cũng sẽ ôm con, đáp lại. Ta sẽ hỗ trợ con.
Hãy có niềm tin.

Nguyễn Minh Hiển dịch

.
nature7
I Listen

I Listen to the trees, and they say:
“Stand tall and yield.
Be tolerant and flexible.
Be true to yourself.
Stand alone, and stand together.
Be brave.
Be patient.
With time, you will grow.”

I Listen to the wind, and it says:
“Breathe.
Take care of yourself —
body, mind, and spirit.
Take time.
Be quiet.
Listen from your heart.
Forgive.”

I Listen to the sun, and it says:
“Nurture others.
Let your warmth radiate for others to feel.
Give yourself without expectations.”
nature3
I Listen to the creek, and it says:
“Relax; go with the flow.
Tend to what’s really important,
and let the rest go by.
Keep moving — don’t be hesitant or afraid.
Lighten up — laugh, giggle.”

I Listen to the mountains, and they say:
“Be there.
Be honest.
Be trustworthy.
Do what you say you’re going to do.
Be true, genuine, and real.
Speak from the heart.
Don’t cheat.”

I Listen to the birds, and they say:
“Set yourself free.
Sing.”
I Listen to the clouds, and they say:
“Be creative.
Be expressive.
Let your spirit run free.
Let yourself be light and gay,
but let yourself be heavy and sad.
Cry when you feel like it.”
nature8
I Listen to the sky, and it says:
“Open up.
Let go of the boundaries and barriers
which you have created to protect yourself.
Experience change.
Fly.”

I Listen to the flowers and small plants, and they say:
“Be humble.
Be simple.
Respect the beauty of small things.
Respect the beauty of humility and truth.
Let go of perfectionism.
Love yourself as you are; it opens the door to change.
Practice acceptance.”

I Listen to the bugs and flying insects, and they say:
“Work.
Be productive.
Use your hands.
Focus on what’s in front of you.
Ignore the past; there is only the present.”

I Listen to the moon, and it says:
“Love.
Share love.
Make love.
Be romantic — touch and caress.
Allow yourself to be loved.
Be gentle, kind, and understanding.
Use candles.”
nature4

I Listen to the stars, and they wink and say:
“Play.
Dance, be silly, have fun.”

I Listen to the earth, and it says:
“I am your mother.
I give you life.
Respect all that is around you.
Find beauty in all things — living and not — including
yourself; for we are all one — not separate.
Be especially respectful to the very young and the very old,
for they are both very near God.
Give up the belief that you are a higher form of life;
there is no higher form of life.
We are equal because we are the same.
When you return to me, I will welcome you,
and I will set your spirit free.
Love and nurture your children; cook good food for them,
and hold them very close to you often.
Hold me close to you often as well,
and I will hold you in return; I will support you.
Have faith.

Dr. Charles Roper

Đường Đến Thành Công

Con đường đến thành công không hề thẳng road
Có một khúc quanh gọi là THẤT BẠI
Có một đường vòng gọi là TỪ TÂM
Có những chỗ giảm tốc độ gọi là BẠN HỮU
Có đèn đỏ gọi là KẺ ĐỊCH
Có đèn vàng là GIA ĐÌNH
Sẽ có những căn hộ gọi là CÔNG VIỆC
Nhưng, nếu bạn có một phụ tùng gọi là QUYẾT TÂM
Một động cơ gọi là NHẪN NẠI
Sự bảo hiểm gọi là NIỀM TIN
Một tài xế gọi là THƯỢNG ĐẾ
Bạn sẽ đến được nơi gọi là THÀNH CÔNG
.

The Road To Success

The road to success is not straight,
There is a curve called Failure,
A loop called Compassion,
Speed bumps called Friends,
Red lights called Enemies
Caution lights called Family
You will have flats called Jobs
But, if you have a spare called Determination,
An engine called Preserverance,
Insurance called Faith,
A driver called God,
You will make it to a place called Success.
(Pravs)

Khi ta không phải thiên tài

girl

Ông Nội tôi là một người rất đặc biệt. Trong khoảnh khắc tình cờ, tôi mới chợt nhận ra điều đó. Ba thì gật gù một cách nghiêm túc: “Tất cả các ông Nội đều là những người đặc biệt!”

Hiển nhiên là Ba đang muốn nói về ông Nội của Ba, tức ông cố của tôi, người vẫn xuất hiện thường xuyên trong các câu chuyện của ông Nội. Và tôi nhớ nhất là chuyện về người nông dân nghèo sống cạnh sông Gianh đã trở thành ông chủ một trang trại lớn như thế nào. “Tất cả bắt đầu bằng một tia sáng loé lên trong suy nghĩ – ông Nội tôi thường nói như vậy trước khi kể chuyện- nhưng muốn tia sáng loé lên thì những suy nghĩ phải chuyển động trước đã”. Ông minh họa bằng cách làm cháy bó rơm khô với hai cục đá nhặt bên lề đường. “Phải có chuyển động thì mới có những tia sáng, con thấy không?”

Tất cả bắt đầu từ những tia sáng như thế. Vào một ngày nọ, ông cố lúc đó là anh nông dân tay trắng quyết định đem bán tất cả những tài sản mình có, ra chợ mua một con bò gầy giá một đồng rưỡi. Đó là thời kỳ khó khăn, mùa màng thất bát, con bò gầy đến nỗi chỉ còn da bọc xương, bước chân loạng choạng vì bị cột lâu ngày. Nó bị bỏ quên một góc ở chợ Bò (Đồng Hới, Quảng Bình) vì chẳng ai thèm để ý đến. Nó quá ít thịt đối với những lò mổ, và quá yếu ớt để kéo xe hay cày bừa. Ông cố tôi mang nó về và đưa nó vào tận trong thung lũng. Nơi đó ở xa làng, nhưng có nhiều cỏ non và không khí, có những khe nước hiếm hoi bé xíu róc rách chảy xuống từ trên những vách đá. Ông chăm cho con bò béo lên. Sau vài tháng, con bò gầy thành con bò béo, mông nó đủng đỉnh, bụng nó căng tròn, vì công việc thì nhẹ nhàng, lại ăn toàn cỏ tươi và nước ngọt. Ông mang nó ra chợ, bán lại với giá năm đồng, một đồng để tiêu xài, còn bốn đồng thì mua hai con bò gầy, và mang vào thung lũng chăm sóc. Cứ thế, mua một bò gầy, bán một bò béo, lại mua hai bò gầy… Có khi, ông giữ lại những con khỏe mạnh để cày bừa, hay để sinh con…và bán đi những con còn lại. Ba năm sau, ông có cả một đàn bò cả trăm con, có đất đai, vườn tược, có những người làm thuê trên khắp các cánh đồng…Ông trở thành một ông chủ trang trại giàu có nhất làng…

Sau hai ba cuộc chiến tranh, ông cố nuốt nước mắt chứng kiến gia tài của mình lần lượt tiêu tan cùng với loạn lạc và ly tán. Cho đến khi cả ông cũng ra đi. Nhưng câu chuyện về cuộc đời ông vẫn lưu truyền trong gia đình tôi như một huyền thoại. Câu chuyện bắt đầu từ một tia sáng lóe lên trong suy nghĩ, khi người nông dân nhìn thấy trong chợ những con bò béo giá cao, và những con bò gầy, giá rẻ.
sparkofcreatvity
Khi ông Nội kể câu chuyện đó, mẹ tôi cứ tấm tắc: “Ông cố kinh doanh giỏi thật!”. Nhưng ông Nội nghiêm nghị : “Đó không phải là kinh doanh, đó là cuộc sống!” Ý ông muốn nói, những tia sáng phải loé lên luôn luôn trong mỗi ngày ta sống.

Kỉ niệm tôi nhớ nhất về ông là một cái Tết nóng bức của miền Trung. Đó là những ngày độc địa, cái nóng bất chợt giữa mùa đông thật đáng sợ, hơi nóng như bốc lên từ mặt đất. Gió táp vào mặt, nước ngọt chỉ còn trong một vài cái giếng sâu hơn 15 mét. Ông Nội là người chịu đựng cái nóng giỏi hơn ai hết. Cả buổi trưa, ông cũng lang thang ngoài đường. Chiều 28 Tết, ông trở về với đôi mắt sáng ngời: “Hà hà hà… Tết này nhà ta sẽ có tủ lạnh”. Mẹ hoảng hốt nhìn ba. Thời đó, điện vẫn còn là thứ xa xỉ, nói gì đến tivi hay tủ lạnh. Nhưng tủ lạnh của ông Nội giá chỉ có năm nghìn. Tết năm đó, nhà tôi đãi khách bằng cây nhà lá vườn chính cống: Dưa leo, dưa hấu, rau muống, xà lách tươi rói, ổi, mận ướp lạnh… và uống nước chanh dây…với đá lạnh. Ai cũng trầm trồ vì cái “tủ lạnh” độc đáo của Nội tôi. Mùa hè sau đó, ngoài chợ rộ lên cơn sốt mua thùng xốp, loại thùng xốp đựng đá thường thấy ở những quán nước dã chiến lề đường. Giá thùng xốp tăng lên mười nghìn và cả xóm tôi ai cũng có trong nhà một “tủ lạnh” nhẹ tênh, gọn gàng, hữu ích trong mùa nắng nóng. Bên trong có đầy đủ mọi thứ rau quả và…nửa cây nước đá.

Ông Nội tôi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng, chúng ta không phải là thiên tài, vì thế ta phải học mỗi ngày một chút. Có vài người sống cuộc đời của mình như thể họ sẽ sống mãi mãi. Vài người tranh đấu suốt đời để mưu cầu sự giàu có về vật chất hay danh vọng. Sự tham lam đẩy họ về phía trước. Nó là chất xúc tác của họ. Còn đối với ông Nội tôi, sự khôn ngoan chính là của cải mà ông tích luỹ được bao nhiêu năm trong đời. Ông cho rằng, ta chú tâm bao nhiêu, ta học được bao nhiêu, và nhớ được bao nhiêu những kinh nghiệm của mình- đó là điều cốt lõi của sự tồn tại.

Cùng với ông, tôi học được rằng tôi lúc này có thể yếu đuối, lúc khác rất quả cảm, đôi khi tôi sợ hãi, nhưng phần lớn thời gian còn lại – tôi tự do. Khi người ta có thể tự do, là khi những suy nghĩ có thể chuyển động muôn phương, và từ đó, lóe lên những tia sáng của sự sáng tạo. Với một tâm hồn tự do và trí óc rộng mở, thế giới sẽ luôn mới mẻ và không bao giờ quá bất ngờ đến nỗi ta không thể thích nghi. Tôi rất nhớ một câu nói của nhân vật Laura trong phim Men in Black II : “Từ khi ta còn bé, lúc được mọi người bảo cho biết ta phải nghĩ gì, tin gì, thì trái tim ta đã nói với ta rằng ở ngoài kia còn có nhiều hơn thế!”. Và trái tim chỉ có thể nói được điều đó khi trái tim mở rộng và luôn luôn chuyển động.

Tặng ông Nội của con và ông Nội của Ba
Đặng Nguyễn Đông Vy

Thứ hai, 22 tháng 6 năm 2009

Bài hôm nay:

Nat King Cole – Ca sĩ của những bản ballad bất tử, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chị Huỳnh Huệ giới thiệu và nối links.

Bài thơ viết trên giáo án, Thơ, anh Nguyễn Tấn Ái.

Daily English Discussion, anh Trần Đình Hoành.

Bảo vệ giấc mơ, Danh Ngôn, song ngữ, chị Đặng Nguyễn Đông Vy dịch.

Lời tử tế , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Kiêm Yến dịch.

Tôi khiếm thị, và tôi viết báo, Trà Đàm, anh Trần Bá Thiện.

Về nghề báo–Từ những điều bé nhỏ và chân thật, Trà Đàm, Phạm Lữ Ân

Nói và viết như thế nào ?, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin sáng quốc tế, anh Trần Đình Hoành tóm tắt và nối links.

World Cup: Biện hộ cho vuvuzela – Bóng đá không chỉ vui vì bóng và đá, mà phần lớn là vì cờ quạt trống chiên hò hét cổ vũ, hay là chạy xe phất cờ vòng vòng thành phố… Ở South Africa, nơi tổ chức World Cup năm tới, bóng đá đồng nghĩa với kèn vuvuzela–cây kèn ống dài, đầu loa, ngày nay làm bằng nhựa. Đi xem bóng đá ở Sough Africa mà không kè kè một vuvuzela thì bạn thuộc loại lạc đạo rồi. Thế nhưng, ở đời hay có chữ “nhưng” quái gở, vài quí vị ở Âu châu phàn nàn là tiếng vuvuzela inh ỏi trong trận đấu làm họ không nghe được lời nói của người tường thuật trận đấu.

Chủ tịch Liên Đoàn Bóng Đá Thế Giới, Sepp Blatter, vừa cho biết có một số hãng truyền hình và truyền thanh yêu cầu cấm vuvuzela trong kỳ World Cup ở South Africa. Nhưng ông lại nói, vuvuzela là một phần của bóng đá ở South Africa. “Đó chính mục tiêu của bóng đá cho người Phi châu và nước Nam Phi – tiếng ồn, kích động, nhảy múa, vui chơi.” Việc gì mà phải mang bóng đá qua Nam Phi để chỉ có cảm giác là đang ở Âu châu?

Click để xem ảnh vận động trường Soccercity đang được xây ở Johannesburg.

Bài luận văn của bé 13 tuổi biến em và thầy giáo thành nhân vật trong truyện Superman – Hakeem Bennett là một học sinh với nhu cầu đặc biệt (special need student, thường là vì bệnh thần kinh), lớp 8 ở New York. Em thắng giải luận văn quốc gia của nhà xuất bản Stone Arch Books, với bài luận về người anh hùng của em–đó là thầy giáo Matthew Brown. Thầy Brown của em bị mù một mắt và mắt kia thì có thị giác rất hẹp (tunnel vision). Thầy phải dùng một con chó dẫn đường.

Sau khi em thắng giải, nhà xuất bản phát hành một truyện Superman mới, trong đó có hai nhân vật là em và thầy giáo của em.

Nghĩa trang Memorial Park Cemetery ở thành phố Indianapolis, bang Indiana, Mỹ, hiện đang quảng cáo “Mua một chỗ, tặng thêm một chỗ” – Có ai dự tính sẽ có người đi theo mình không?

Người tròn trịa sống lâu hơn người gầy khoảng 5 năm – Đó là kết quả nghiên cứu một nhóm chuyên gia của Bộ Y tế Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của GS Ichiro Tsuji, nghiên cứu 50 nghìn người từ 40 tuổi đến 79 tuổi ở miền Bắc nước Nhật. Theo các chuyên gia này thì cơ thể người gầy có khả năng chống bệnh thấp hơn.
.

Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.

Niềm vui được làm nghề báo “Khi quyết định làm nghề này và sống chết với nó, tôi phải dung hòa nhiều thứ: ước muốn điên cuồng được kể chuyện bằng chữ viết, bằng hình ảnh và lưu giữ những dấu vết của lịch sử; sở thích về tự do và độc lập và một niềm tin sâu thẳm nghề báo có chức năng căn bản là thúc đẩy xã hội hướng đến sự bình đẳng, chính trực và công bằng hơn.” – Võ Trung Dung, một trong số ít nhà báo gốc Việt làm việc độc lập cho các báo, tạp chí, đài truyền hình của nhiều nước trên thế giới.

Trao thưởng hai thí sinh lỡ thi vì cứu người – Sáng 20/6, Trường THPT Đô Lương 1 chung niềm vui khi hai thí sinh Lữ Đức Quân và Tăng Ngọc Dũng nhận giấy khen và phần thưởng của Sở GD-ĐT, Hội khuyến học Nghệ An. Chiều ngày 3/6, trên đường đến địa điểm thi tốt nghiệp THPT, Dũng và Quân đã phát hiện một phụ nữ đi xe đạp bị bất tỉnh trên đường. Hai em đã đưa nạn nhân đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đô Lương. Khi cứu được người bị nạn cũng là lúc Dũng và Quân đã bị trễ giờ thi môn Sinh học. Ngay sau đó, Bộ GD-ĐT đã có công văn đề nghị Sở GD-ĐT Nghệ An đặc cách cho hai em trong môn thi này.

Vẽ, cho xanh thêm ước mơ trẻ thơÁnh sáng là tên cuộc triển lãm tranh thiếu nhi diễn ra từ ngày 19 đến 22-6 tại gallery Không Gian Xanh (Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, 97A Phó Ðức Chính, Q.1). Triển lãm trưng bày 45 tác phẩm sơn dầu của trẻ lang thang đường phố, mồ côi, khó khăn và cả những em gia đình không hạnh phúc… tại Hiệp hội Bảo trợ trẻ em Christina Noble (CNCF).

Thanh Bình – cầu nối của du học sinh tại New Zealand Bùi Thanh Bình là một cái tên khá nổi trong giới sinh viên (SV) Việt đang du học tại New Zealand vì thành tích học tập cũng như hoạt động xã hội đều rất đáng nể. Tuy nhiên điều khiến cô trở nên đặc biệt trong mắt mọi người lại chính là sự kiên nhẫn, cố gắng không mỏi mệt để biến ước mơ của mình thành hiện thực.

Làm giàu nhờ trồng cây hiếm: Trồng gừng trong bao – Đó là cách trồng gừng độc đáo đem lại hiệu quả kinh tế cao, khắc phục được những bất lợi của thời tiết, đất đai.

Chàng thạc sĩ đưa xoài vào “ghép” – Sau hai năm cật lực, chàng thạc sĩ trẻ Lê Văn Bằng – chủ nhiệm Câu lạc bộ Dịch vụ sản xuất trái cây Nông trường Sông Hậu (TP Cần Thơ) – đã đem giấy chứng nhận “ghép” (Global GAP) đạt chuẩn xuất khẩu vào thị trường quốc tế cho trái xoài cát Hòa Lộc.

Hơn 3.000 tỷ đồng xây nhà ở sinh viên – Bộ Xây dựng vừa trình Thủ tướng phê duyệt 61 dự án xây nhà ở sinh viên với tổng vốn đầu tư hơn 3.000 tỷ đồng.

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn được vinh danh – Tại Liên hoan phim Madrid dành cho phim Ấn Độ và châu Á vừa diễn ra ở Tây Ban Nha, trong khuôn khổ hạng mục phim châu Á, vượt qua tám đạo diễn khác, đạo diễn Vinh Sơn với bộ phim Trăng nơi đáy giếng đã được vinh danh với giải thưởng đạo diễn châu Á xuất sắc nhất.

Kết nối vòng tay nhân ái Bắc – Trung – Nam – Đó là chủ đề của hội trại hè dành cho gần 1.000 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dạy tại các tổ chức, trung tâm bảo trợ trẻ em trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đà Lạt, Quảng Trị, Hà Nội.

“Cải” của cô bí thư năng nổ – Chủ nhân của “Cải” là cô SV Nguyễn Thị Thu Lành, năm 2 lớp công tác xã hội Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM. Đến “Cải”, các bạn trẻ được lướt web miễn phí, được đọc sách báo từ tủ sách, tạp chí với nhiều đầu sách hay và tạp chí “nóng”, trẻ của quán. Và đặc biệt là những chậu gỗ nhỏ có thể trồng nhiều loại rau yêu thích. “Cải” còn thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm về các chuyên đề “nóng” của sinh viên, về kỹ năng mềm, về sách và tâm lý… với sự góp mặt của nhiều chuyên gia, giảng viên.

“Nghề báo giúp tôi thú vị hơn trong mắt mọi người” – Xinh đẹp, thành công trong nghề nghiệp, luôn gây ấn tượng với những câu chuyện xúc động của chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly…

Quà nhân ái đến với các bệnh nhi ung thư – Sáng 19/6, phóng viên Dân trí trở lại khoa Ung bướu viện Nhi Trung ương trao quà bạn đọc giúp đỡ cho các bệnh nhi ung thư.

Bí quyết của một thủ khoa – Nguyễn Thùy Linh (học sinh lớp 12A2 trường THPT chuyên Lê Quý Đôn) đã đỗ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008 – 2009 tại TP Đà Nẵng với 57,5 điểm, tái lập thành tích đỗ thủ khoa của chính bố cô hơn 20 năm trước đó.

Trò chuyện với thủ khoa Lê Nguyễn Đăng Khoa: May mắn nằm trong thực lực.

Huế: Gần 10.000 chỗ trọ miễn phí, giá rẻ cho các thí sinh

Học sinh gốc Việt giành 5/8 danh hiệu thủ khoa tại Mỹ – Theo kết quả của khu Garden Grove tại California, Mỹ, năm trong số tám học sinh tốt nghiệp thủ khoa và bảy trong số tám á khoa của Garden Grove là học sinh gốc Việt.

Đội “sơn ca” trên cao nguyên đá – Thời gian gần đây, khách du lịch ở miền xuôi mỗi khi ghé quán cà phê Phố Cổ ở thị trấn Đồng Văn (Đồng Văn, Hà Giang) thường xuýt xoa khen hết lời tiếng kèn môi và lời hát diết da của những chàng trai cô gái người dân tộc Mông biểu diễn tại quán.
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

🙂 🙂 🙂 🙂 🙂

Đọt Chuối Non

Nat King Cole – Ca Sĩ của Những Bản Ballad Bất Tử

Nat “King” Cole được mệnh danh là “bất tử’’ bởi giọng ca ngọt ngào êm ái như nhung làm say mê những người yêu nhạc pop của phương Tây vào thập niên 50 và đầu thập niên 60, tiếp tục vượt ra khỏi biên giới chính trị văn hoá của nước Mỹ để chinh phục biết bao con tim trên thế giới. Câu chuyện cuộc đời của người nghệ sĩ Mỹ da đen gốc Phi này thực sự là một bài học về thành công trong nghịch cảnh và tài năng đã chiến thắng vượt lên trên những hận thù do vô minh và thành kiến về chủng tộc màu da. cole_instudio

Nathaniel Adams Coles, sinh ngày 17/ 3/1919 tại Montgomery, Alabama, trong một gia đình có vị trí quan trọng thuộc cộng đồng người da đen. Cha ông là mục sư giáo hội Tin Lành. Năm ông 2 tuổi cả gia đình chuyển đến Chicago theo làn sóng di cư mong tìm cuộc sống tốt hơn trong thành phố phương Bắc phát triển về công nghiệp. Lên 4 tuổi, ông học đàn organ theo trí nhớ với mẹ, một trưởng ca đoàn trong nhà thờ của chồng mình, và cậu bé 4 tuổi đã biểu diễn rất thành công bài hát “Yes, We Have No Bananas”.

Năm 12 tuổi, ông học các bài nhạc cổ điển, nhạc gospel (hát trong nhà thờ của người da đen) và cả jazz vì say mê nhạc jazz.
Ông thôi học năm 15 tuổi để theo đuổi sự nghiệp của một nhạc công jazz – piano. Ban nhạc của Cole thường trình diễn ở các câu lạc bộ. Cái tên Nat King Cole đến với ông từ khi ông trình diễn ở câu lạc bộ nhạc jazz.

Ngoài tiếng tăm của một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông trở thành ca sĩ hát jazz, được mến mộ nhờ chất giọng nam trung ấm áp, mềm mại được ví như liễu tơ, làn gió đêm mát dịu, một sáng hè êm êm, và một đám tuyết rơi mềm. Năm 1937, trong một chuyến lưu diễn đến Long Beach, California, ông đã ở lại đó và tìm việc trong 1 hộp đêm.natkingcole

Năm 1939, Cole lập ban nhạc 3 người với Oscar Moore (guitar), Wesley Prince (bass), không có tay trống. Ban nhạc của Cole đã nổi lên với nghệ thuật trình diễn đầy xúc cảm tinh tế thể hiện những khát vọng mới của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Trong một đêm trình diễn tại hộp đêm, một người khách say nằng nặc đòi nghe Cole hát một bài gì đó mà ông không biết. Để vừa lòng người khách, Cole đã hát bài “Sweet Lorraine; bài hát đã làm dịu cơn say của anh ta và Cole được thưởng 15 xu. Từ đó Cole dần dần từ chơi piano chuyển sang hát thanh nhạc và bắt đầu sự nghiệp ca hát huyền thoại của mình.

Năm 24 tuổi, chàng ca sĩ trẻ Cole bắt đầu thu âm cho hãng Capitol Records với bài “ Straighten Up And Fly Right” lấy cảm hứng từ một câu chuyện dân gian của người da đen được cha dùng giảng đạo; bài hát này liền chiếm lĩnh vị trí đầu bảng xếp hạng và khiến cho Cole rất được trọng vọng trong ngành công nghiệp âm nhạc với hãng Capitol Records.
Thập niên 40 bắt đầu thời kỳ nhạc trữ tình của Cole với những bài top hits như “The Christmas Song”, “It’s Only A Paper Moon” và “For Sentimental Reasons”. Get Your Kicks On, Route 66 (1946) nhảy lên hạng 3. Mona Lisa là bản ballad xếp hạng 1 và bán được 3 triệu bản.

Cole cũng có tham gia trong lĩnh vực điện ảnh trong thập niên 50 nhưng chính ca nhạc mới đem lại thành công và danh tiếng để đời cho ông như một người tiền phong, một nghệ sĩ lẫy lừng của nhạc pop kết hợp jazz và đặc trưng ballad.
Những năm 50 và 60 khi Cole biểu diễn với các ban nhạc lớn, ông vẫn không bỏ ban nhạc tam tấu của mình. Những bài “Nature Boy”, Mona Lisa” (1950), “Too Young” và bài Unforgettable (1951) đều là top hit xếp hạng 1. Các top hit của Cole tiếp nối nhau như ” Smile”, “Pretend”,”A Blossom Fell,” and “If I May.”

Có thể nói Cole là ca sĩ da màu đầu tiên có nhiều ca khúc top hit bán chạy nhất so với các ca sĩ cùng thời ông, là niềm tự hào của người da đen thời ấy.Tuy vậy ông vẫn phải chịu đựng nạn kì thị chủng tôc khi bị tấn công và bị thương ở lưng trên sàn diễn năm 1956 ở Birmingham, Alabama khi đang hát bài Little Girl, ( sau đó ông đã giữ lời thề không trở lại phương Nam). Cole đã rất dũng cảm đấu tranh với nạn phân biệt chủng tộc thời kỳ thập niên 50 và đầu 60 khi mà sự khinh bỉ và căm ghét người da đen trong xã hội Mỹ khi ấy còn hết sức nặng nề. Chương trình TV trên kênh NBC của ông, chương trình của Cole do một người Mỹ gốc Phi tài trợ, bắt đầu tháng 11-1956, đã gây rất nhiều quan tâm và tranh cãi vào thời điểm đó.

Trong một số chương trình TV này, Cole phải chịu sự sỉ nhục là đánh phấn trắng để khán giả da trắng có thể chấp nhận ông. Tuy nhiên, năm 1948, ông không chịu ra đi khi những người hàng xóm da trắng ở khu sang trọng Beverly Hill kịch liệt phản đối vì ông đã mua nhà ở đây và đảng The Ku Klux Klan vẫn tiếp tục đe doạ ông.Album-Cover-nat-king-cole-
Chính là nhờ tài ca hát của ông và tính khiêm nhường của ông đã khiến ông rất được yêu mến với cả những người da trắng, nên khi ông qua đời ở độ tuổi còn rất trẻ để lại niềm thương tiếc vô hạn cho người yêu nhạc khắp thế giới.Do nghiện thuốc lá, hút đến 3 gói thuốc mỗi ngày, Cole mất vì bệnh ung thư phổi ngày 15/2/1965 khi mới 46 tuổi.

Người nghệ sĩ tài danh này để lại một di sản âm nhạc cho bao thế hệ. Tháng 3 năm 2000, Cole được vinh danh vào Bảo Tàng Âm Nhạc Rock and Roll với giải thưởng Thành Tựu Trọn Đời như một nghệ sĩ vĩ đại đã có ảnh hưởng sâu sắc tới nền công nghiệp âm nhạc nói chung và thể loại nhạc rock and roll nói riêng. Đến tận ngày nay, những bài ballad đậm đà chất thơ nhẹ nhàng, trữ tình, sâu lắng và tha thiết vẫn đi vào lòng người vào tận cùng sâu thẳm của cảm xúc, vượt thời gian và không gian xoá bỏ những ngăn cách dị biệt về địa vị, chủng tộc, tôn giáo trong thế giới diệu kỳ của âm nhạc.
Tiếng hát ngọt ngào của Nat “ King” Cole vẫn sống mãi cùng chúng ta.

Trong chương trình Nhạc Xanh hôm nay, xin giới thiệu 3 ca khúc của Nat King Cole để các bạn vừa thưởng thức vừa có thể chia sẻ lời dịch theo hứng thú của các bạn. Ngoài ra, do có yêu cầu từ một fan của Nhạc Xanh đề nghị nhạc ABBA
và cổ điển do Richard Clayderman biểu diễn (gửi về hộp thư của mình) nên xin post trước mấy bài mà Cole đã hát được chơi bởi Richard Clayderman. Nhạc sĩ dương cầm người Pháp này đã trình tấu hơn 1200 giai điệu trong đó có 267 đĩa vàng và 70 đĩa bạch kim, cũng là người mình rất yêu thích, nên sẽ giới thiệu với các bạn vào kỳ tới.

Mời các bạn nghe các bài Smile, Autumn Leaves, Mona Lisa, và Pretend.

Smile là bài hát chủ đề trong bộ phim câm cuối cùng “Modern Times” năm 1936 của vua hề Charlie Chaplin, do chính Charplin là tác giả của giai điệu. Nó chính thức có tên Smile khi được John Turner and Geoffrey Parsons thêm lời năm 1954. Smile được Cole ghi âm lập tức thành hit.
Smile nhắc chúng ta nhớ đến ý nghĩa của nụ cười trong cuộc sống của mỗi chúng ta, trong từng giây phút, thậm chí cả khi ta bị ngã quị trên đường đời, khi ta thấy buồn vì một vài điều bất ưng trong cuộc sống, gặp thất bại… Điều này nghe có vẻ hơi khó, nhưng chúng ta hãy cười, cười nhiều hơn, và tin rằng mọi nỗi buồn nếu có rồi sẽ qua và sau thất bại là thành công và niềm vui vẫn còn đó như với Nhạc Xanh- ĐCN.

Autumn Leaves: rất nổi tiếng, nguyên từ bài hát tiếng Pháp “Les feuilles mortes” ( The Dead Leaves), nhạc của Joseph Kosma, lời của nhà thơ Jacques Prévert, lời Anh do nhạc sĩ Mỹ Johnny Mercer viết.

Mona Lisa: bài hát của Ray Evans and Jay Livingston đạt được giải Oscar về bài hát hay nhất cho phim “Captain Carey, USA”, dẫn đầu bảng xếp hạng trong 8 tuần khi Cole hát bài này

Pretend: xếp thứ 2 trên Billboard 1953, nhạc và lời của Lew Douglas, Cliff Parman, and Frank Lavere

Thân ái chúc các bạn một ngày vui tươi bắt đầu tuần làm việc mới hiệu quả.

1. SMILE ( Charlie Chaplin- Nat King Cole )

Smile though your heart is aching
Smile even though it’s breaking
When there are clouds in the sky, you’ll get by
If you smile through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll see the sun come shining through for you

Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile

That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile

2. AUTUMN LEAVES (Nat King Cole, 1955 )

The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long
And soon I’ll hear old winter’s song
But I miss you most of all, my darling
When autumn leaves start to fall

AUTUMN LEAVES : RICHARD CLAYDERMAN (PIANO)

3. MONA LISA ( from the Nat King Cole Show , con gái Natalie của Cole nói về cha )

Mona Lisa, Mona Lisa, men have named you
You’re so like the lady with the mystic smile
Is it only cause you’re lonely they have blamed you?
For that Mona Lisa strangeness in your smile?

Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?

Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?

MONA LISA ( CLAYDERMAN )

4. PRETEND

Pretend you’re happy when you’re blue
It isn’t very hard to do
And you’ll find happiness without an end
Whenever you pretend

Remember anyone can dream
And nothing’s bad as it may seem
The little things you haven’t got
Could be a lot if you pretend


You’ll find a love you can share
One you can call all your own
Just close your eyes, she’ll be there
You’ll never be alone

And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?

And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?

Bài Thơ Viết Trên Giáo Án

tinhthaytro

    ( Kính tặng thầy
    Trương Vũ Thiên An)

Thầy tôi dạy tôi:

Cổ nhân quí nhau nâng rượu
Cổ nhân thương nhau dạo cờ
Băng tâm ngọc hồ đãi người bằng hữu
Tri kỉ khát tình nghẹn đứt câu thơ.

thaytro

Tôi mang lời thầy tôi trên chuyến thời gian không vé khứ hồi
Đau đáu khát thèm nếp đời trinh bạch
Thắp lửa giữa đêm chờ ngày hiển thánh
Xin được chữ rồi quí chữ bao nhiêu!

Tôi mang lời thầy tôi qua khắp thành thị, miền quê,
qua cuộc rượu, cuộc người,
Ngã độn độn hề nhìn đời tiến hóa
Giáo án ngày xưa thầy trinh bạch quá
Cánh hẩu bây giờ mời nhau ăn sâu!

Người làm thơ là làm chuyện báo đăng
Say rượu còn có đất về, say văn đành lữ thứ
Tìm đâu ra cái sở nguyện chân thành của người xin chữ
Chữ ông Huấn chừ thôi đành niêm phong.

Muốn cược linh hồn vào cuộc đục trong
Chạnh thương mắt học trò trinh bạch
Lại chông chênh qua bao mùa dằn vặt
Giữ gìn trang giáo án tinh khôi.

Lại làm tên lính canh đạo đức của đời
Phấn trắng bảng đen kẻ dòng luân lí
Lại nức khóc khi biết mình đãng trí
Để nhật thực toàn phần lên những câu thơ.
education
Có những lần muốn bỏ cuộc thầy ơi!
Thương lắm nỗi niềm ÂN SƯ tuyệt tự
Lại thắp lửa lên làm người cho chữ
Lời thầy về trên giáo án con nay.

    Quế Sơn mùa thi
    Nguyễn Tấn Ái

Daily English Discussion–Monday, June 22, 2009

englishchallenge
Hi everyone,

June 21 is the Revolutionary Press Day of Vietnam. So we have a couple of articles about the press and writing today.

For our discussion:

How do you think about being a journalist? Are you a journalist? Are you planning to be a journalist? Why do you want to be a journalist?

Where do you normally get your daily news? On TV? radio? hard-copy newspapers? online newspapers?

Do you think you have enough information every day?

What improvement do you think we should have for the Vietnamese press in general?

OK, you guys, chip in. Let’s imagine that your input may help improve Vietnam’s press scene. Think positive!

.

TODAY’s CHALLENGE

1. Today chi Huệ posted several songs by Nat King Cole, we can translate them into Vietnamese. And we have chị Ngoan and anh Hưng help proving feedback.

2. Translate the following text into English.

Cả tích cực lẫn tiêu cực, cả tình yêu lẫn thù hận, đều tạo ra năng lực. Cuộc đấu tranh giữa năng lực tích cực và năng lực tiêu cực là cái mà, trong mọi nền văn hoá của con người, chúng ta gọi là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhưng, bạn đừng vội giơ tay sớm “Tôi phe thiện.” Nếu tự cho điểm, thì tất cả thế giới chỉ có một phe thôi, các bạn ạ–mọi người chúng ta đều dõng dạc tuyên bố, rất thành thật, “Tôi đương nhiên là thuộc phe thiện.” Nhưng rất tiếc, sự thật là thế giới có biết bao nhiêu người gây bao đau khổ và phiền não hằng ngày. Mọi người đã thuộc về phe ta hết rồi, phe địch ở đâu ra vậy kìa?

That’s it for today. Have fun, everyone.

Great day!

Hoành

Tôi khiếm thị, và tôi viết báo

Với chiếc máy tính cài phần mềm phát âm, anh Trần Bá Thiện kết nối mình với thế giới ánh sáng – Ảnh: TT

Nhiều đọc giả hỏi tôi: một người mù như anh làm sao viết báo được? Chắc vì anh hồi xưa học văn giỏi lắm…. Nghe xong lời nhận xét ấy mà tôi như rớt từ trời xuống.

Từ… dốt văn

Cha tôi là nhà báo. Ông viết tin chiến trường cho các báo quốc tế thời chiến tranh Việt Mỹ. Thời ấy, tôi đang học trung học tức phổ thông cấp 2-3 với những bài văn được 10/20 hay 11/20 điểm là mừng hú vía. Tôi nghĩ, nghiệp văn chương chẳng phải là cái nợ của mình nói chi đến nghề làm báo.

Nhớ lại các bài toán đố thời học tiểu học tức cấp 1 ngày nay, tôi lại ngớ người ra mà không tài nào hiểu được điều gì đã xảy ra cho tôi. Tôi không giỏi toán cấp 1 lắm nhưng hầu hết các bài tôi đều giải được, và trong bài giải, chỉ có chữ: “Đáp số”. Phần còn lại của bài làm chỉ toàn là con số và phép tính. Tôi không biết sẽ viết cái gì để giải thích về các con số mình đã tính ra. Những câu văn ngắn như thế mà tôi còn chưa nghĩ ra được thì nói chi đến môn tập làm văn. Từ những bài luận dễ như miêu tả, tường thuật cho đến các bài hóc búa như nghị luận đều ôi thôi cả. Mỗi khi xem lại sổ điểm của mình ngày xưa, tôi lại phì cười. Điểm toán, sinh ngữ, sử, địa môn nào cũng giỏi, chỉ trừ nàng văn.

Chẳng những văn viết, ngay văn nói của tôi cũng thật là ấm ớ. Tôi mà kể chuyện thì chỉ được ba câu đã bị người khác chen vào vì chẳng ai đủ kiên nhẫn để nghe cả. Không biết nói, hay không có khả năng nói khiến tôi nhiều phen bị đòn oan. Tính tôi hay nghịch phá. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng là tác giả các màn quậy. Vài lần, đứng xem các bạn trong xóm nghịch đến chừng người lớn đến, chúng nó bỏ chạy cả. Tôi đứng lại vẫn còn cười toe toét. Khi người lớn hỏi thì trả lời ấm ớ nên… ăn đòn oan là chuyện thường. Phải chăng ngày xưa, tôi mang một loại khuyết tật có tên là rối loạn chức năng ngôn ngữ?

Bức màn tăm tối của văn chương bỗng một hôm biến mất khi tôi học 11. Lần đó, lớp làm báo tường và tôi bị các bạn chỉ định phải có một bài, đề tài tự do. Chẳng hiểu ma đưa đường hay quỷ dẫn lối, tôi lấy giấy viết ra và trong vòng một giờ đồng hồ, bài viết hoàn tất. May cho học sinh toàn trường là bài ấy bị loại . Tôi ấm ức và viết lại cho riêng mình vài bài nữa. Chữ nghĩa bao năm đèn sách bỗng tuôn ra ào ào. Từ đó, điểm văn tôi cứ lên đều đều.

Tới làm báo

Tôi không nhớ rõ bài báo đầu tiên của tôi là bài nào. Chỉ nhớ lúc ấy, chị Thủy Cúc cần viết một phóng sự và đến rủ tôi cộng tác. Sau đó, tôi bắt đầu dịch các bản tin khoa học tiếng Anh của các đài nước ngoài và gởi Tuổi Trẻ, thời 1988. Tôi nhớ số tiền nhuận bút đầu tiên do tôi tự viết trọn một bài đã được tôi dùng để mua xấp vải may cái quần Tây. Cái quần ngày ấy không còn mặc được nhưng tôi vẫn giữ lại như một kỷ niệm. Nó đánh dấu rằng nếu một người mù như tôi chịu khó thì cũng làm ra tiền xứng đáng.

Cái sân lớn nhất để tôi múa bàn phím chính là lãnh vực khuyết tật. Trên cái sân này, mỗi phận người là một bài học. Mỗi thành tích là một điểm sáng cho nhiều người vươn đến. Trên mảnh sân này, tôi viết đủ loại “báo” như báo mạng, diễn đàn, báo cáo, dự án, tài liệu hướng dẫn… Càng phải viết nhiều tôi càng phải đọc nhiều. Thủa nhỏ tôi cũng là kẻ chăm đọc sách như câu “thư trung hữu nữ nhan như ngọc” – trong sách vở có cô gái đẹp như ngọc. Càng đọc nhiều tôi viết càng cô đọng, súc tích hơn. Có hôm trong một ngày tôi phải viết gần 10 trang trên máy vi tính.

Nhưng cái sân ấy cũng đầy chông gai. Từ khi trở thành một người mù năm 20 tuổi, tôi cảm nhận sâu sắc cái nỗi đau của phận người khuyết tật – NKT. Chẳng những họ bị lãng quên, bị xem thường, họ còn bị đưa lên công luận theo một cách nhìn tiêu cực. Hơn mười năm trước, NKT đã phải đấu tranh vì những bài báo khơi dậy nỗi đau của NKT để kêu gọi lòng thương hại của cộng đồng. Có người nói thương hại là tình cảm của gái điếm. Chúng tôi phải bênh vực không chỉ để cộng đồng dành cho những NKT thành công một cái nhìn xứng đáng nhưng còn vì những NKT đang vượt qua bao thử thách để tìm một vị thế tử tế trong xã hội. Nói những vấn đề nặng tính lý luận này, với tôi tuy rất khó nhưng lại không gian khổ bằng việc….. đem niềm vui đến NKT.

Một nhóm vài NKT như tôi, Hoàng Yến (*) có khả năng viết lách đã mỗi ngày tự quán sát nội tâm, tự tắm rửa tâm hồn mình bằng những bài viết về tư duy tích cực. Chúng tôi phải học cách tìm được bình an và niềm vui thật cho chính mình. Tôi không có niềm vui thật thì lấy niềm vui nào để san sẻ với các bạn khuyết tật của mình. Chính chúng tôi cũng phải đối chọi với các rào cản từ nhận thức của đồng loại, từ những trở ngại mỗi ngày khi ra đường, khi học tập, khi vui chơi.

Cãi lý chăng? Tôi tự tin vào kinh nghiệm bản thân và kiến thức của những năm học xã hội học và kiến thức của bao khóa tập huấn có lẽ tạm đủ để tôi đấu lý với đời. Nhưng, một bồ cái lý không bằng một tí cái tình. Làm sao tôi có được cái tình khi tâm hồn mình đang chứa đầy phẫn nộ vì bị ngược đãi. Có chăng là cái tình nhu nhược giả dối. Quả thật, các bài báo của tôi về đề tài khuyết tật thường được khởi đầu từ những cơn phẫn nộ. Đã bao lần tay tôi run lên vì giận dữ khi gõ bàn phím.

Thế nhưng, sau đó, tôi phải biết cách lắng lòng xuống và tìm ra sự minh mẫn của bình an. Chỉ khi tôi biết yêu cả những người từng ngược đãi tôi, tôi mới nói cho họ hiểu họ đang làm tổn thương NKT chúng tôi. Không phải dám nói ra một sự thật. Đôi vai con người nhỏ bé lắm, không đủ sức gánh vác tất cả sự thật. Nỗ lực của tôi trong mỗi bài báo là nỗ lực biết yêu người yêu đời. Vì yêu mà lên tiếng. Và lên tiếng để thay đổi chứ không lên tiếng để vạch trần hay khơi dậy những nỗi đau.

o0o

Sao tôi lại phải nói ra những điều cao siêu thế này? Thực ra tôi chỉ là một đứa mê ăn. Mê ăn từ nhỏ. Mê ăn đến nỗi cả dòng họ nhà tôi khi nhắc đến tôi chỉ nhớ đến cái thiên tài ẩm thực ấy. Sao tôi lại không dùng đức tính phàm ăn tục uống của mình để quan sát xã hội. Đi đến đâu, thăm viếng ai, tôi cũng ráng nấn ná để được chủ nhà mời ăn. Văn hóa ẩm thực của mỗi địa phương hay mỗi cá nhân sẽ nói lên rất nhiều điều về thực trạng đời sống của họ. Họ sướng hay khổ, vui hay buồn, giàu hay nghèo, kiểu cách hay chơn chất.. hết thảy đều có thể quan sát được khi họ ăn, cách họ ăn, món họ ăn và những thứ liên hệ.

Bạn đọc có khi nào được ăn bữa cơm do chính những người mù tự đi chợ và nấu chưa? Bạn đã từng dự tiệc cưới của một đôi vợ chồng khuyết tật chưa? Giữa thung lũng đầy nước mắt ấy, họ vẫn nở cho đời những đóa sen lộng lẫy. Với tôi làm báo là hái những đóa hoa ấy.

TRẦN BÁ THIỆN

(*) Thạc sĩ Võ Thị Hoàng Yến-Long Thành, một bạn khuyết tật của tôi.

Tuổi Trẻ

Về nghề báo–Từ những điều bé nhỏ và chân thật

journalist
Tôi vừa nhận được điện thoại của em, báo tin em đã đăng ký thi vào Khoa báo chí năm nay. Nhưng em vẫn đang băn khoăn không biết mình có đủ bản lĩnh để theo nghề báo hay không, một nghề mà em nói rằng “rất cao quý”. Em muốn “thỉnh giáo” tôi thêm vài thông tin về nghề báo để giúp em đi đến quyết định. Tôi nghe giọng nói sôi nổi của em, và mỉm cười một mình. Vì em đã yêu cầu, bạn nhỏ, tôi sẽ nói em nghe về nghề báo. Có thể nó không giống điều em thấy, hoặc những điều em sẽ được học ở trường, nhưng đó là những gì tôi nghĩ, sau bấy nhiêu năm làm công việc này.

1. Nghề báo trước hết là một nghề. Tôi không ưa dùng từ “cao quý” cho một nghề nào đó, nếu như em cũng đồng ý với tôi rằng mọi nghề nghiệp lương thiện đều cao quý như nhau. Như mọi nghề nghiệp khác mà em biết, ta kiếm sống bằng công việc đó. Nghề báo nuôi sống ta bằng lương và nhuận bút. Và cũng như mọi nghề nghiệp khác, ta phải làm công việc của mình với hết năng lực và trách nhiệm để không hổ thẹn với đồng lương nhận được.

Vì sao tôi nhắc đến nhuận bút trước hết. Bởi vì việc chúng ta được trả tiền cho những gì chúng ta viết sẽ khiến ta tỉnh táo, và không cho rằng mình đang làm một công việc cao quý hơn nhiều nghề khác trong xã hội. Và vì niềm vui mỗi khi lãnh nhuận bút cho một bài báo là niềm vui không bao giờ cũ. Từ một cái tin nhỏ đầu tiên cho đến bài báo cuối đời, khi niềm vui đó còn tồn tại nghĩa là em còn tự hào vì mình nhận được thành quả xứng đáng từ công sức của chính mình. Một người làm báo chính trực luôn trân trọng từng đồng nhuận bút, bởi đó sẽ là nguồn thu nhập duy nhất nếu anh ta quyết dành cả đời mình chỉ để làm báo.

2. Khi ta đặt nghề báo trong tương quan bình đẳng với nghề khác, ta sẽ đặt bản thân người viết báo bình đẳng với nhân vật của mình. Quan tòa có thể đứng cao hơn để tra hỏi hay phán xét bị cáo, nhưng chúng ta đứng trước quan tòa và bị cáo để phỏng vấn họ với một tư thế như nhau, sự tôn trọng như nhau. Đó cũng sẽ là tư thế trước chính trị gia, nghệ sỹ cho đến người công nhân quét đường. Người giàu, người nghèo, người thành công hay người thất bại. Em không yêu hay ghét hết thảy các nhân vật như nhau, nhưng em phải đối xử với họ như nhau: tôn trọng và không mặc cảm. Khiếp hãi hay khinh thường không nên là tác phong của một nhà báo.
journalistmemorial
3. Trong nghề báo, tuổi trẻ không phải là thế mạnh tối thượng. Sự thông minh và xông xáo là những ưu điểm đáng kể, nhưng kinh nghiệm và kiến thức học được mới là giá trị quyết định. Nghề báo là nghề “gừng càng già càng cay”…Chúng ta xuất thân không phải là những người thông thái, nhưng lại phải biết về nhiều lĩnh vực, đó là lý do ta phải học liên tục. Và cách học tuyệt vời nhất quyết định sự hấp dẫn của nhà báo, là ta có cơ hội học trực tiếp từ những người am hiểu nhất về vấn đề đó, bên cạnh sách báo. Ta học cái nhìn kinh tế vĩ mô từ một nhà kinh tế học, ta học về cách điều hành một công ty từ số 0 qua một giám đốc thành công, học về nhạc lý và thị hiếu ấm nhạc từ một nhạc sĩ, học biết về công nghệ lăng xê qua một ông bầu… Không hiểu về điều mình viết không chỉ là một sai lầm, mà còn là sự thiếu trách nhiệm. Chúng ta học để biết, và biết thì mới viết. Càng làm nghề lâu thì ta càng học được nhiều. Khi quay nhìn lại, tôi nhận ra rằng mỗi đối tượng tôi gặp trong nghề báo đều đã dạy cho tôi điều gì đó hữu ích, và như vậy, chúng ta là người có nhiều thầy hơn bất cứ ai.

4. Tôi ưa thích nghề báo bắt đầu từ những tin vắn quốc tế, ký tên AP, AFP, Reuter… Và cho đến giờ tôi vẫn yêu thích chúng. Những tin vắn, không có tên phóng viên nào được ký, thay vào đó là tên hãng tin. Đối với tôi, nó thể hiện toàn bộ nghề báo: Cả một bộ máy khổng lồ để đưa đến cho ta dòng tin 50 từ đó. Khi em nói mình muốn làm báo, thông thường điều đó có nghĩa là em sẽ làm người viết, một phóng viên ký tên dưới bài được đăng. Hãy nghĩ đến bộ máy sau đó: người dịch, người biên tập, thư ký tòa soạn là người tổ chức bài, người trình bày, tổng biên tập là người chịu trách nhiệm, người đọc morasse, người thủ quỹ phát nhuận bút, người phát hành và bán báo, và…người đọc. Một bộ máy khổng lồ rất nhiều khi bị lãng quên.

5. Nghề báo trong tim tôi gói trọn trong một chữ TIN. TIN – là thông tin – thứ chúng ta phải cung cấp. TIN- là lòng tin – thứ chúng ta phải đạt được. Nếu không có thông tin, không thể đòi hỏi lòng tin. Nếu không có lòng tin, thông tin chỉ là trò hề vô nghĩa. Để có được hai thứ đó, phải bắt đầu từ sự thật, và vì sự thật.

Nghề báo xét cho cùng không mang đến cho chúng ta thứ quyền lực nào ngoài quyền được đòi hỏi tìm đến tận cùng sự thật. Cũng như đối với nhiều người làm báo khác, sự thật có sức quyến rũ ghê gớm đối với tôi. Sự thật, để có được nó, người ta có thể phải trải qua rất nhiều thứ. Có thể là những chuyến đi dài, những cuộc phỏng vấn đeo đuổi hàng tuần. Có thể là khổ ải, nhục nhằn, mất mát. Có thể là trung thành, hay phản bội. Là sức lực, trí tuệ, lòng dũng cảm. Là mồ hôi, máu. Là cận kề chiến tranh, thảm họa, tù đày. Là cái chết…Có thể, là tất cả những cái đó gộp lại.

Sự thật, chính là lý do khiến những nhà báo mất mạng ở chiến trường. Sự thật, là nguyên nhân sâu xa khiến nghề báo luôn được xếp vào những nghề nguy hiểm.

Để CÓ được sự thật, người làm báo phải chính trực và biết hoài nghi. Để NÓI được sự thật, tờ báo phải chính trực và có dũng khí.

Nhưng, em sẽ hỏi, rằng sự thật là gì? Sự thật, đôi khi là điều không dễ nắm bắt. Sự thật, đôi khi nằm giữa hai chiều thông tin. Sự thật, đôi khi nằm giữa hai bản báo cáo của hai phe thắng bại. Sự thật, đôi khi là ranh giới mờ ảo mong manh. Và sự thật rất nhiều lúc là thứ vẫn đang được tìm kiếm chứ không phải đã được khẳng định. Người tìm kiếm nó không phải bao giờ cũng gặp được nó.

Nhưng dù thế nào, thì nghề báo cũng phải khởi đầu từ niềm khao khát đạt đến sự thật. Từ niềm tin sâu sắc vào điều đúng đắn. Ngày mà ta thấy thanh thản trước một điều không tốt, đó cũng là ngày ta bôi vết đen đầu tiên lên nhân cách của chính mình.

6. Dù sao tôi vẫn nghĩ nghề báo không phải là một nghề khó. Không có gì bảo đảm là ta sẽ viết được những điều lớn lao, nhưng chắc chắn ta luôn có thể làm được điều tối thiểu là viết một cách chân thật. Viết thì dễ hơn là nói, nói thì dễ hơn là tin, và tất nhiên, tin thì dễ hơn là sống vì những điều tốt đẹp.

Bởi thế, nếu ta chưa thể viết được những điều vĩ đại và chân thật, thì ít nhất, ta cũng phải viết được những điều bé nhỏ và chân thật.

Hãy bắt đầu từ đó.

Phạm Lữ Ân
(Bút hiệu chung cho Đặng Nguyễn Đông Vy và Phạm Công Luận)