Thuê người học hộ, thuê người làm khóa luận tốt nghiệp và bây giờ thì thậm chí ngay cả việc làm luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ cũng có thể thuê được.
Dịch vụ làm thuê được tổ chức thành một nhóm chuyên nghiệp và được quảng cáo rằng “có sự giúp đỡ của các
giảng viên kinh nghiệm”, được rao tràn lan trên mạng.
Giảng viên cũng tham gia?
Nếu dò tìm dịch vụ làm thuê luận văn thạc sĩ từ Internet, rất có thể bạn sẽ lúng túng khi gặp không ít các nhóm đang ra sức quảng cáo cho mình: “Khi thực hiện những bài luận văn bảo vệ, bạn cần rất nhiều thời gian để có thể thu thập kiến thức và tài liệu. Tuy nhiên, vì một số lý do nào đấy mà bạn không có đủ thời gian để làm hoặc để làm tốt việc này.
SGTT.VN – Với sự bùng nổ của mạng toàn cầu, thông điệp bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt đã được truyền đi và dần trở thành những phong trào rầm rộ trên thế giới ảo, ở mọi “mặt trận” từ trang tin điện tử, diễn đàn đến nhật ký trực tuyến cá nhân (blog)… Điều đặc biệt là tác giả của phong trào ấy, lại là những bạn trẻ thuộc thế hệ 8X, 9X.
“Luật” bảo vệ tiếng Việt trên mạng
Một buổi họp mặt của sinh viên tham gia diễn đàn ngonnguhoc.org. Ảnh: Ngonnguhoc.org
Trước tình trạng viết sai chính tả, sử dụng ngôn ngữ tuỳ tiện, lậm ngoại ngữ… nhiều diễn đàn đã ban hành “luật” sử dụng tiếng Việt và kêu gọi các thành viên nghiêm túc thực hiện. Hình thức xử lý, tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xoá bài viết hoặc xoá tài khoản…
TT – Tìm đâu cho đủ nguồn giáo viên (GV) để đáp ứng yêu cầu của đề án ngoại ngữ quốc gia 2008-2020 trong khi các trường ĐH, CĐ vẫn chưa có mã ngành đào tạo GV tiếng Anh tiểu học?
Tìm kiếm giáo viên tiếng Anh đang là việc khiến nhiều trường tiểu học đau đầu. Trong ảnh: giờ học tiếng Anh của cô trò lớp 3/2 Trường tiểu học Lê Văn Sỹ, Q.Tân Bình, TP.HCM – Ảnh: NHƯ HÙNG
Rất nhiều ý kiến nghi ngại của đại diện các trường ĐH, CĐ, cán bộ quản lý, giảng viên tiếng Anh nhiều tỉnh thành cả nước đã được đưa ra tại hội thảo “Ngành đào tạo GV tiểu học với đề án ngoại ngữ quốc gia 2008-2020” do Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức sáng 23-12.
Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)
GS Dương Phúc Gia.
Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm. Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.
Bài này gồm 5 phần: – Sứ mệnh của trường ĐH; – Nội hàm văn hóa ĐH; – Gợi ý từ ĐH hàng đầu; – ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; – Trách nhiệm của sinh viên.Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.
ĐH Chulalongkorn, đại học hàng đầu ở Thái Lan với hơn 36 nghìn sinh viên.Có dạo, các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam xem xét nhiều mô hình đại học trên thế giới để tham khảo và đi đến cải cách giáo dục. Một trong những nước được nhiều chú ý là Thái Lan, bởi vì thành tựu giáo dục đại học của Thái Lan có thể nói là đáng khen ngợi. Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống giáo dục đại học tương đối hoàn chỉnh. Một số đại học Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáo dục có uy tín ở Á châu, với nhiều sinh viên nước ngoài đến học. Ngay cả các quĩ học bổng quốc tế tuyển sinh Việt Nam cũng có khi gửi sinh viên sang Thái Lan học. Ngày nay, một số đại học lớn của Thái Lan thậm chí còn vươn ra xa thu hút sinh viên từ Việt Nam và các nước trong vùng! Do đó, tìm hiểu hệ thống đại học Thái Lan cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài thông tin có ích.
Đây là chủ trương của chính quyền Đà Nẵng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đã được thành ủy thông qua. Theo giải thích của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, hiện nay nguồn nhân lực đang được đào tạo bằng kinh phí của thành phố vẫn chưa bố trí hết. Việc không tuyển bằng tại chức là do chất lượng của hệ chính quy và hệ tại chức có sự chênh lệch mặc dù biết rằng về mặt bằng cấp là bình đẳng.
Bằng đại học chính quy và không chính quy đều có giá trị như nhau.
Trước chủ trương trên của Thành phố Đà Nẵng, nhiều giáo sư, nhà quản lý giáo dục đã có ý kiến :
Khi tốt nghiệp đại học ra trường, bạn có biết ngay là mình sẽ làm nghề gì, và theo đuổi một con đường sự nghiệp như thế nào không?
Ngày còn học ở Đại học Ngoại thương Hà Nội hầu như sinh viên nào ở trường mình cũng vẫn nghĩ về điều này. Trường mình thì nổi tiếng trong khối kinh tế thật đấy, nhưng có “tương truyền”: “Ngoại thương cái gì cũng giỏi nhưng lại không biết giỏi cái gì” :D. Có nghĩa là cái gì cũng biết, cái gì học cũng được, nhưng bảo ra trường làm gì, thì câu trả lời thật khó khăn. Sinh viên trường mình được đào tạo đúng ngành thì làm xuất nhập khẩu, nhưng đa phần thì lại làm ngành ngân hàng, tài chính, chứng khoán, làm kinh doanh, marketing…nói chung là không thiếu lĩnh vực nào, thậm chí trong giai đoạn sốt việc thì làm kế toán cũng được.
Miley Cyrus (tên đầy đủ là Destiny Hope Cyrus, sinh 23 tháng 11 năm 1992) lớn lên tại Nashville, Tennessee, Mỹ. Mẹ là Leticia “Tish” (họ gốc: Finley) và bố là ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ Billy Ray Cyrus. Cyrus có các người anh, chị, em. Anh trai của Miley là Trace Cyrus, thành viên của ban nhạc Metro Station, và chị của Miley là Brandi, tay guitar cho biểu diễn của Miley và một thành viên trong ban nhạc với Megan Park.
Cô có thêm “nick name” là Smiley vì cô bé hồi nhỏ thường hay cười mỉm, sau này đọc tắt lại là Miley. Cô bé dễ thương luôn cười rất tươi này thích hát và đàn từ năm sáu tuổi và khi chín tuổi, năng khiếu nghệ thuật của Miley bộc lộ rất rõ. Mười hai tuổi, cha mẹ đưa Miley đến thử vai cho bộ phim Hannah Montana của kênh Disney, Miley Cyrus đã gây ấn tượng mạnh mẽ với ban giám khảo nhưng cuối cùng cô vẫn không được chọn vì lý do là còn quá ít tuổi. Không nản chí, Miley Cyrus theo đuổi vai diễn này hàng năm sau và tới năm 2006, ở tuổi mười bốn, cô đã chính thức nhận được vai chính trong bộ phim này.
Với diễn xuất tự nhiên, chuyên nghiệp, thuần thục những vẫn đầy ngẫu hứng, Miley Cyrus vụt trở thành ngôi sao tuổi teen nổi tiếng nhất thế giới. Bộ phim truyền hình Hannah Montana (Nhân vật Hannah Montana xuất hiện trong thế giới âm nhạc ngoài đời như một nghệ danh cho diễn viên nữ chính trong phim) là phim được khán giả nhỏ tuổi của Mỹ yêu thích nhất và Miley Cyrus trở thành thần tượng của hàng triệu em nhỏ trên khắp thế giới. Hannah Montana được trình chiếu liên tục từ năm 2006 đến nay nhưng lượng khán giả của nó không hề giảm sút. Thu nhập của Miley ước chừng là 3,5 triệu đô la mỗi năm kể từ năm 2006 đến giờ.
Không chỉ đóng phim xuất sắc mà Miley Cyrus còn sở hữu một chất giọng cực kỳ khỏe khoắn, ấn tượng. Năm 2006, khi hãng Walt Disney phát hành album tuyển chọn những bài hát trong phim Hannah Montana qua giọng hát của Miley Cyrus thì album này đã tiêu thụ được tới 4,5 triệu bản và có tên trong Top 10 album bán chạy nhất thế giới năm 2006. Ca khúc See You Again của Miley lọt Top 10 của bảng xếp hạng âm nhạc Billboard và đưa tên cô trở thành một trong những nghệ sỹ trẻ đa tài và thành công nhất.
Miley cũng góp mặt trong phim hoạt hình Bolt – Tia Chớp vào năm 2008 (Miley tham gia lồng tiếng cho bộ phim hoạt hình Bolt với vai Penny), và thu âm bài I Thought I Lost You cùng John Travolta, bài này sau đó đã được đề cử giải Quả cầu vàng. Nhận thấy sự thành công của phiên bản truyền hình, ngày 10 tháng 4 năm 2009, Walt Disney đã cho ra mắt chính thức phiên bản điện ảnh của Hannah Montana có tên: Hannah Montana: The Movie.
Năm 2008, Miley Cyrus được tạp chí Time xếp vào một trong 100 người ảnh hưởng nhất thế giới. Miley đã trở thành ngôi sao teen được yêu thích nhất và một trong số các ngôi sao giàu nhất. Tạp chí Forbes xếp hạng cô ở hạng 35 vào năm 2008 với thu nhập 25 triệu USD trong bảng xếp hạng 100 ngôi sao quyền lực nhất thế giới, thứ hạng của cô tăng lên hạng 29 vào năm 2009. Trong Teen Choice Awards 2009, cô đã trình bày bài hát Party in the USA và đã được lọt trong top 5 của bảng xếp hạng billoards trong suốt 1 thời gian dài.
Mời các bạn thưởng thức 3 bài hát đánh dấu mốc quan trọng trong thành công của Miley : See You Again, I Thought I Lost You, Party in the USA
1. See You Again
Lyric
I got my sights set on you and I’m ready to aim
I have a heart that will never be tamed
I knew you were something special
When you spoke my name
Now I can’t wait to see you again
I’ve got a way of knowing when something is right
I feel like I must have known you in another life
Cause I felt this deep connection when you looked in my eyes
Now I can’t wait to see you again
[Chorus:]
The last time I freaked out
I just kept looking down
I st-st-stuttered when you asked me what I’m thinking about
Felt like I couldn’t breath
You asked what’s wrong with me
My best friend Lesley said “Oh she’s just being Miley”
The next time we hang out
I will redeem myself
My heart can’t rest till then
Woh woh I
I can’t wait to see you again
I got this crazy feeling, deep inside
When you called and asked to see me tomorrow night
I’m not a mind reader but I’m reading the signs
That you can’t wait to see me again
[Chorus]
I got my sights set on you and I’m ready to aim
[Chorus]
Woh woh I
I can’t wait to see you again
2. Thought I Lost You
Lyric :
MILEY
Nobody listens to me, don’t hear a single thing I’ve said
Say anything to soothe me, anything to get you from my head
Don’t know how really I feel,
Cause it’s the faith that makes it like I don’t care
Don’t know how much it hurts to turn around like you were never there
Like somehow you could be the break and I could walk away from the promises we made
And swore we’d never break!!
MILEY AND TRAVOLTA CHORUS
I thought I lost you when you ran away to try to find me
I thought I’d never see your sweet face again.
I turned around and you were gone and on and on the days went
but I kept the moments that we were in
‘Cause I hoped in my heart, that you would come back to me my friend
And now I got you, but I thought I lost you!
TRAVOLTA
I felt so empty out there, and there were days I had my doubts
but I knew I’d find you somewhere
because I knew I couldn’t live without you in my life for one more day
and I swore I’d never break a promise we made
MILEY AND TRAVOLTA CHORUS
I thought I lost you when you ran away to try to find me
I thought I’d never see your sweet face again.
I turned around and you were gone and on and on the days went
I Thought I Lost You lyrics on http://music.yeucahat.com/song/English/47155-I-Thought-I-Lost-You~Miley-Cyrus-Feat-John-Travolta.html
but I kept the moments that we were in
‘Cause I hoped in my heart, that you would come back to me, my friend
And now I got you, but I thought I lost you!
TRAVOLTA
I told myself I wouldn’t sleep ’til I searched the world from sea to sea
MILEY
I made a wish upon a star, I turned around and there you were
MILEY AND TRAVOLTA
And now here we are, are
MILEY
here we are
I thought I lost you
TRAVOLTA
I thought I lost you too
MILEY
I thought I lost you
TRAVOLTA
I thought I lost you
MILEY
yeah
MILEY AND TRAVOLTA CHORUS
I thought I lost you when you ran away to try to find me
I thought I’d never see your sweet face again.
I turned around and you were gone and on and on the days went
but I kept the moments that we were in
and I knew in my heart, that you would come back to me, my friend
And now I got you, I thought I lost you!
MILEY
but I thought I lost you
TRAVOLTA
I thought I lost you too
BOTH
so glad I got you, got you
MILEY
so glad I got you, yeah yeah
I thought I lost you
TRAVOLTA
I thought I lost you too
3. Party in the USA
Lyric :
I hopped off the plane at LAX
with a dream and my cardigan
welcome to the land of fame excess, (woah)
am I gonna fit in?
Jumped in the cab,
Here I am for the first time
Look to the right and I see the Hollywood sign
This is all so crazy
Everybody seems so famous
My tummys turnin and I’m feelin kinda home sick
Too much pressure and I’m nervous,
That’s when the taxi man turned on the radio
and a Jay Z song was on
and the Jay Z song was on
and the Jay Z song was on
CHORUS:
So I put my hands up
They’re playing my song,
And the butterflys fly away
Noddin’ my head like yeah
Moving my hips like yeah,
And I got my hands up,
They’re playin my song
I know I’m gonna be ok
Yeah, It’s a party in the USA
Yeah, It’s a party in the USA
Get to the club in my taxi cab
Everybody’s lookin at me now
Like “whos that chick, thats rockin’ kicks?
She gotta be from out of town”
So hard with my girls not around me
Its definitely not a Nashville party
Cause’ all I see are stilletos
I guess I never got the memo
My tummys turnin and I’m feelin kinda home sick
Too much pressure and I’m nervous
That’s when the D.J. dropped my favorite tune
and a Britney song was on
and the Britney song was on
and the Britney song was on
CHORUS:
So I put my hands up
They’re playing my song,
And the butterflys fly away
Noddin’ my head like yeah
Moving my hips like yeah,
And I got my hands up,
They’re playin my song
I know I’m gonna be ok
Yeah, It’s a party in the USA
Yeah, It’s a party in the USA
Feel like hoppin’ on a flight (on a flight)
Back to my hometown tonight (town tonight)
Something stops me everytime (everytime)
The DJ plays my song and I feel alright!
CHORUS:
So I put my hands up
They’re playing my song,
And the butterflys fly away
Noddin’ my head like yeah (Oh, nodding my head)
Moving my hips like yeah, (Ooh Yeah)
And I got my hands up,
They’re playin my song
I know I’m gonna be ok (gonna be okay)
Yeah (huh huh), It’s a party in the USA (Yeah)
Yeah, It’s a party in the USA
So I put my hands up
They’re playing my song,
And the butterflys fly away (flying away)
Noddin’ my head like yeah (nodding my head like yeah)
Moving my hips like yeah, (moving my hips like yeah)
And I got my hands up,
They’re playin my song
I know I’m gonna be ok (I’m gonna be okay)
Yeah (Yeah), It’s a party in the USA
Yeah (hahaha), It’s a party in the USA (Party in the USA!)
Ngày Quốc tế Phụ Nữ (mồng 8 tháng 3) là một dịp được ghi dấu bởi những hiệp hội phụ nữ trên toàn thế giới. Ngày này cũng được Liên Hiệp Quốc kỷ niệm và được xem như ngày lễ quốc gia ở nhiều nước. Khi phụ nữ trên tất cả các châu lục, bị chia cắt bởi những khác biệt về biên giới quốc gia, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế và chính trị, cùng nhau kỷ niệm Ngày của mình, họ có thể nhìn lại truyền thống tiêu biểu cho ít nhất chin thập kỷ đấu tranh vì sự bình đẳng, công bằng, hòa bình và phát triển.
Ngày Quốc tế Phụ nữ là câu chuyện về những người phụ nữ bình thường đã tạo nên những dấu ấn lịch sử; nó bắt nguồn từ cuộc đấu tranh hàng thế kỷ của phụ nữ để tham gia vào xã hội một cách bình đẳng như nam giới. Vào thời Hy Lạp cổ đại, Lysistrata đã khởi đầu một cuộc biểu tình của nữ giới yêu cầu chấm dứt chiến tranh; suốt Cách Mạng Pháp, những người phụ nữ Paris đã diễu hành ở Versailles, kêu gọi cho “Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái”, và đòi quyền được bỏ phiếu của phụ nữ.
Ý tưởng về Ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên nảy sinh vào thời điểm chuyển đổi thế kỷ, khi thế giới công nghiệp đang trong giai đoạn bành trướng và hỗn loạn của bùng nổ dân số và các ý thức hệ cấp tiến. Sau đây là tóm tắt theo cột mốc thời gian những sự kiện quan trọng nhất: Đòi Quyền Phụ Nữ trước Nhà Trắng 1909
Cùng với tuyên bố của Đảng Xã Hội Mỹ, ngày Phụ nữ Quốc gia đầu tiên được kỷ niệm trên toàn Liên Bang Hoa Kỳ là ngày 28 tháng hai. Phụ nữ tiếp tục kỷ niệm nó đến ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai năm 1913.
1910
Quốc tế Xã hội họp tại Copenhagen, thiết lập một Ngày Phụ Nữ mang tính quốc tế để vinh danh phong trào đòi những quyền phụ nữ và hỗ trợ quyền bầu cử phổ thông cho phụ nữ. Đề nghị được chào đón với sự nhất trí tán thành tại hội nghị của hơn 100 phụ nữ đến từ 17 nước, gồm cả ba người phụ nữ đầu tiên được bầu vào quốc hội Phần Lan. Chưa có ngày cố định được chọn để kỷ niệm.
1911
Như kết quả của quyết định tại Copenhagen năm trước, Ngày Quốc tế Phụ nữ lần đầu tiên được ghi nhận (19 tháng ba) tại Áo, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ, nơi hơn một triệu phụ nữ và nam giới tham dự đại hội. Bên cạnh quyền bầu cử và đảm nhiệm những công việc văn phòng chính phủ, họ đã yêu cầu quyền làm việc, học nghề và chấm dứt phân biệt trong công việc.
Chưa đầy một tuần sau đó, vào ngày 25 tháng ba, thảm họa tại Triangle Fire, New York đã lấy đi sinh mạng của hơn 140 nữ công nhân, phần lớn là những người nhập cư gốc Ý và Do Thái. Sự kiện này có một ảnh hưởng quan trọng đến luật lao động của Hoa Kỳ, và những điều kiện làm việc dẫn đến thảm họa đã được viện dẫn trong suốt những lễ kỷ niệm sau đó của Ngày Quốc tế Phụ Nữ.
1913-1914
Như một phần của phong trào hòa bình đã tích tụ từ buổi đêm của cuộc Chiến tranh Thế giới I, những người phụ nữ Nga kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên vào ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai năm 1913. Ở những nơi khác trên châu Âu, vào đúng ngày 8 tháng ba hoặc những ngày gần đó của năm sau đó, phụ nữ đã tập hợp để chống chiến tranh và để bày tỏ tinh thần đoàn kết giữa các chị em. Đòi Quyền Phụ Nữ ở Pakistan 1917
Với hai triệu người lính Nga tử trận, những người phụ nữ Nga một lần nữa đã chọn ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai để biểu tình vì “bánh mì và hòa bình”. Những nhà lãnh đạo chính trị phản đối thời điểm của cuộc biểu tình, nhưng những người phụ nữ vẫn tiến hành dù thế nào. Phần còn lại là lịch sử: Bốn ngày sau đó, Sa hoàng bị buộc thoái ngôi và chính phủ lâm thời đã trao cho phụ nữ quyền bầu cử. Ngày chủ nhật lịch sử đó là ngày 23 tháng hai theo lịch Julian được sử dụng ở Nga thời đó, nhưng là ngày 8 tháng ba theo lịch Gregorian ở những nơi khác.
Ngay từ những năm đầu, ngày Quốc tế Phụ nữ đã được xem như một chiều hướng mới trên toàn cầu cho phụ nữ ở các nước phát triển và đang phát triển. Sự lớn mạnh của phong trào phụ nữ quốc tế, được hỗ trợ bởi bốn hội nghị phụ nữ toàn cầu của Liên Hiệp Quốc, đã làm cho việc kỷ niệm trở thành một điểm tập hợp của những nỗ lực liên kết đòi quyền phụ nữ và sự tham gia vào quá trình chính trị và kinh tế. Càng ngày, ngày Quốc tế Phụ nữ là một thời điểm để nhìn lại những bước tiến đã qua, kêu gọi những thay đổi và kỷ niệm những hành động dũng cảm và quyết đoán của những người phụ nữ bình thường, những người đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử của quyền phụ nữ.
Vai trò của Liên Hiệp Quốc
Những mục tiêu được Liên Hiệp Quốc thúc đẩy đã tạo ra những ủng hộ mạnh mẽ và lan rộng hơn cho chiến dịch xúc tiến và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được ký tại San Francisco năm 1945, là hiệp định đầu tiên công bố bình đẳng giới như một nhân quyền cơ bản. Từ đó, tổ chức đã giúp tạo nên một di sản lịch sử về những chiến lược ưng thuận quốc tế, những tiêu chuẩn, chương trình và mục tiêu để nâng cao vai trò người phụ nữ trên toàn thế giới.
Trong nhiều năm, hoạt đông của Liên Hiệp Quốc vì sự tiến bộ của phụ nữ đã có bốn định hướng rõ ràng: thúc đẩy về những phương sách luật pháp, huy động ý kiến công chúng và hoạt động quốc tế; đào tạo và nghiên cứu, bao gồm biên soạn những thống kê về xóa bỏ phân biệt chủng tộc về giới và hướng đến hỗ trợ những nhóm bất lợi (khó khăn). Ngày nay, một nguyên tắc tổ chức trọng tâm của công việc ở Liên Hiệp Quốc là không có giải pháp dài hạn nào cho những vấn nạn gay cấn nhất của xã hội về mặt xã hội, kinh tế, chính trị có thể tìm thấy được nếu không có sự tham gia đầy đủ, và sự trao quyền đầy đủ của thế giới phụ nữ.
Hôm nay chúng ta trở lại với Words and Their Stories ( Những Câu Chuyện về Từ ngữ) với link cho phần Nghe, của VOA.
Bài hôm nay có tựa đề I Feel Very Blue của tác giả Warren Scheer. Đọc tựa đề các bạn sẽ thấy nội dung câu chuyện xoay quanh các thành ngữ thông dụng về màu sắc
Bài dịch do bạn Lê Vĩnh Thanh, một cây dịch tuổi học trò, đã từng dịch một số truyện song ngữ và một bài về Word and Their Stories trên ĐCN. Cảm nhận về từ ngữ Tiếng Anh trong ngữ cảnh, khả năng đọc hiểu nhạy và cách dịch của Vĩnh Thanh khá gãy gọn và chính xác.
Mời các bạn đọc- vui học thành ngữ cũng như trau đồi kỹ năng nghe Tiếng Anh.
Mỗi dân tộc có một cách nói riêng, những đặc ngữ của riêng họ. Nhiều thành ngữ thông dụng của người Mỹ dựa trên màu sắc.
Màu đỏ là một màu nóng. Người Mỹ dùng nó để thể hiện sức nóng. Họ có thể nói họ đang nóng tiết/ nóng phừng phừng lên vì một chuyện bất công nào đó. Khi họ nóng tiết nghĩa là họ đang rất tức giận vì chuyện gì đó. Loài ớt nhỏ, cay được dùng trong nhiều món ăn Mêhicô thì gọi là ớt đỏ (red hots) vì màu và vị cay mạnh của chúng. Nhạc chơi nhanh và to đuợc nhiều người rất ưa thích. Họ có thể nói nhạc đó “ red hot”, đặc biệt là loại nhạc Jazz. Dixieland.
Màu hồng là một loại màu nhạt hơn của màu đỏ. Ngưòi ta hay nói họ đang tươi hồng khi họ khỏe. Thành ngữ này được sử dụng đầu tiên bởi ngưòi Mỹ đầu thế kỉ 20. Có thể nó bắt nguồn từ việc em bé sinh ra hồng hào cho thấy rằng chúng đang khỏe.
Xanh dương là một màu mát. Loại nhạc blues truyền thống ở Mỹ thì đối lập với nhạc red hot đỏ. Nhạc blue chậm, buồn và có hồn. Duke Ellington và ban nhạc của ông thu âm một bài hát nổi tiếng-Mood Indigo-về một màu xanh trầm, màu chàm. Trong lời bài hát có câu: “Bạn chưa biết buồn chừng nào mà bạn chưa từng trải qua cảm giác xanh Indigo đó”. Khi ai đó đang xanh blue thì nghĩa là họ đang rất buồn.
Màu xanh lá là màu tự nhiên của cỏ cây. Nhưng không tự nhiên đối với người. Một người mà bị đau bụng thì có thể nói cô ấy hơi xanh tái. Một hành khách trên thuyền bị say sóng thì trông xanh mét mặt mày.
Đôi khi ngưòi ta buồn vì không có một thứ gì đó tốt bằng bạn mình, như một chiếc xe mới chạy nhanh. Người đó có thể nói rằng anh ta xanh lên vì ghen tị. Một vài ngưòi ghen tị vì một người bạn có nhiều tiền hay giấy xanh. Tờ đô-la được gọi là giấy xanh vì mặt sau nó có màu xanh.
Màu đen rất hay đựơc sử dụng trong diễn đạt. Người ta tả một ngày mà mọi việc đều xui xẻo là một ngày đen tối. Một ngày mà có một thảm họa xảy ra thì được nhớ đến là một ngày đen tối. Bây giờ một danh sách đen là bất hợp pháp. Nhưng có một thời các ông chủ từ chối thuê những ngưòi trên danh sách đen vì họ thuộc những hội kín.
Ở một vài trường hợp, màu sắc thể hiện một tình huống. Một giảm điện/ tối nâu là một thành ngữ thể hiện sự giảm cường độ điện. Giảm địên xảy ra khi có quá nhiều nhu cầu về điện. Hệ thống điện không còn đủ khả năng để cung cấp điện cho toàn khu vực. Tối đen rất phổ biến thời Thế Chiến II. Các sĩ quan đã cho tắt hết điện trong thành phố để làm cho máy bay địch khó phát hiện mục tiêu trong đêm tối.
Lê Vĩnh Thanh
Lớp 10 CA Nguyễn Du BMT
I FEEL VERY BLUE
Every people has its own way of saying things, its own special expressions. Many everyday American expressions are based on colors.
Red is a hot color. Americans often use it to express heat. They may say they are red hot about something unfair. When they are red hot they are very angry about something. The small hot tasting peppers found in many Mexican foods are called red hots for their color and their fiery taste. Fast loud music is popular with many people. They may say the music is red hot, especially the kind called Dixieland jazz.
Pink is a lighter kind of red. People sometimes say they are in the pink when they are in good health. The expression was first used in America at the beginning of the twentieth century. It probably comes from the fact that many babies are born with a nice pink color that shows that they are in good health.
Blue is a cool color. The traditional blues music in the United States is the opposite of red hot music. Blues is slow, sad and soulful. Duke Ellington and his orchestra recorded a famous song – Mood Indigo – about the deep blue color, indigo. In the words of the song: “You ain’t been blue till you’ve had that Mood Indigo.” Someone who is blue is very sad.
The color green is natural for trees and grass. But it is an unnatural color for humans. A person who has a sick feeling stomach may say she feels a little green. A passenger on a boat who is feeling very sick from high waves may look very green.
Sometimes a person may be upset because he does not have something as nice as a friend has, like a fast new car. That person may say he is green with envy. Some people are green with envy because a friend has more dollars or greenbacks. Dollars are called greenbacks because that is the color of the back side of the paper money.
The color black is used often in expressions. People describe a day in which everything goes wrong as a black day. The date of a major tragedy is remembered as a black day. A blacklist is illegal now. But at one time, some businesses refused to employ people who were on a blacklist for belonging to unpopular organizations.
In some cases, colors describe a situation. A brown out is an expression for a reduction in electric power. Brown outs happen when there is too much demand for electricity. The electric system is unable to offer all the power needed in an area. Black outs were common during World War Two. Officials would order all lights in a city turned off to make it difficult for enemy planes to find a target in the dark of night.
Tôi thích người thầy, bên cạnh bài tập về nhà, còn cho bạn đem một điều gì đó về suy nghĩ.
I like a teacher who gives you something to take home to think about besides homework.
~Lily Tomlin.
.
Nhiệm vụ của người thầy xuất sắc là kích thích học trò chắc chỉ trung bình nỗ lực phi thường. Vấn đề khó khăn không phải trong việc xác định những người chiến thắng, mà là trong việc tạo ra những người chiến thắng trong số những người bình thường.
The task of the excellent teacher is to stimulate “apparently ordinary” people to unusual effort. The tough problem is not in identifying winners: it is in making winners out of ordinary people.
~K. Patricia Cross
. Người thầy được mong đợi sẽ đạt tới mục tiêu không thể đạt nổi với công cụ không phù hợp. Điều kỳ diệu là đôi khi họ hoàn thành được nhiệm vụ bất khả thi này.
Teachers are expected to reach unattainable goals with inadequate tools. The miracle is that at times they accomplish this impossible task.
~Haim G. Ginott
.
Khi bạn dạy con trai, bạn đã dạy cả cháu trai.
When you teach your son, you teach your son’s son.
~The Talmud
.
Người thầy truyền cảm hứng hiểu rằng sẽ luôn có những tảng đá trên con đường phía trước chúng ta. Chúng là chướng ngại vật hay là bàn đạp phụ thuộc vào cách chúng ta sử dụng chúng như thế nào.
Teachers who inspire realize there will always be rocks in the road ahead of us. They will be stumbling blocks or stepping stones; it all depends on how we use them.
~Author Unknown
.
Người thầy cố gắng dạy nhưng không truyền cảm hứng để học trò muốn học là nện búa vào tấm sắt lạnh.
A teacher who is attempting to teach without inspiring the pupil with a desire to learn is hammering on cold iron.
~Horace Mann
. Việc dạy học nên phong phú ý tưởng thay vì nhồi nhét sự kiện.
Teaching should be full of ideas instead of stuffed with facts.
~Author Unknown
.
Dạy học là đặt vết tích của một người vào sự phát triển của một người khác. Và chắc chắn học trò là ngân hàng nơi bạn có thể gửi kho báu quý giá nhất của bạn.
Teaching is leaving a vestige of one self in the development of another. And surely the student is a bank where you can deposit your most precious treasures.
Đã bao đời nay, người thầy giữ một vị trí quan trọng trong xã hội Việt Nam. Dù trong xã hội phong kiến hay thời hiện đại, người thầy luôn được tôn kính, nể trọng. Hình ảnh của một thầy đồ, của một giáo viên mẫu giáo hay một vị giáo sư trên giảng đường đều đáng kính như nhau trong sự trân trọng của xã hội.
Dân tộc ta vốn có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Trong xã hội từ lâu đã thấm nhuần “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hoặc “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”.
Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong những nghề cao quí. Người thầy lao động trí óc và làm việc với tất cả nghệ thuật của tâm hồn bằng nhân cách và trí tuệ của mình nhằm nâng cao trí tuệ và giáo dục tâm hồn người học.
Và như thế người thầy được gọi là kỹ sư tâm hồn.
Nhân ngày kỉ niệm 20/ 11/ 2009, xin tặng bài này cho các bạn đọc là thầy cô giáo của Đọt Chuối Non, và các bạn sinh viên học sinh ngành sư phạm, cũng dành tặng cho tất cả chúng ta, những người trò đang hướng lòng yêu thương và tri ân đến Thầy của mình.
Xin trân trọng gửi một lời tri ân đến Cô Huỳnh Huệ, người đã khơi dậy niềm say mê học tập Tiếng Anh đối với tôi và các con, đã là cô giáo của cả ba mẹ con tôi, và hi vọng thế hệ thứ ba sẽ tiếp tục kế thừa truyền thống này.
Cũng xin gửi tặng tất cả các tác giả của ĐCN đang thể hiện thiên chức của mình trên bục giảng: Cô Dala, Cô Ngọc Hoa, Thầy Tấn Ái, Cô Minh Tâm..
Chúc tất cả các thầy cô giáo và các bạn sinh viên, học sinh một ngày lễ Nhà Giáo Việt Nam tràn đầy niềm vui và ý nghĩa 😆 😆 😆
.
Dạy học là nghề dạy mọi nghề khác.
Teaching is the profession that teaches all the other professions. ~Author Unknow
.
Dạy là học hai lần.
To teach is to learn twice. ~Joseph Joubert
.
Người dám dạy phải không bao giờ ngừng học.
Who dares to teach must never cease to learn. ~John Cotton Dana
.
Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật giúp khám phá.
The art of teaching is the art of assisting discovery. ~Mark Van Doren
.
Dạy tốt là một phần tư chuẩn bị và ba phần tư thực hiện .
Good teaching is one-fourth preparation and three-fourths theater. ~Gail Godwin
.
Người thầy truyền hứng khởi biết việc dạy giống như trồng một khu vườn, và ai chẳng đưa tay vào bụi gai sẽ chẳng bao giờ hái được hoa.
Teachers who inspire know that teaching is like cultivating a garden, and those who would have nothing to do with thorns must never attempt to gather flowers. ~Author Unknown
.
Người thầy tốt như một ngọn nến – Thầy đốt chính mình để soi đường cho người khác.
A good teacher is like a candle – it consumes itself to light the way for others. ~Author Unknown
.
Người thầy giỏi nhất dạy từ trái tim chứ không phải từ sách.
The best teachers teach from the heart, not from the book. ~Author Unknown
.
Người thầy thực khôn ngoan không mời bạn vào ngôi nhà thông thái của ông mà dẫn dắt bạn đến ngưỡng cửa trí tuệ của bạn.
The teacher who is indeed wise does not bid you to enter the house of his wisdom but rather leads you to the threshold of your mind. ~Kahlil Gibran
.
Mục đích của người thầy không phải tạo nên học trò trong hình ảnh của thầy, mà là giúp học trò có thể tạo dựng hình ảnh của chính trò.
A teacher’s purpose is not to create students in his own image, but to develop students who can create their own image. ~Author Unknown
.
Mục đích dạy dỗ một đứa trẻ là làm cho nó tiến bộ được không cần người thầy.
The object of teaching a child is to enable him to get along without his teacher. ~Elbert Hubbard
.
Thầy thế nào quan trọng hơn thầy dạy cái gì.
What the teacher is, is more important than what he teaches. ~Karl Menninger
.
Đừng cố chú ý vào học sinh, hãy chú ý chính mình trước nhất. Thầy giỏi làm trò dở thành giỏi và trò giỏi thành xuất sắc. Khi học sinh thất bại, chúng ta, vì là thầy, cũng thất bại.
Don’t try to fix the students, fix ourselves first. The good teacher makes the poor student good and the good student superior. When our students fail, we, as teachers, too, have failed. ~Marva Collins
.
Người thầy trung bình nói. Thầy tốt giải thích. Thầy giỏi chỉ dẫn. Thầy xuất sắc truyền cảm hứng
The mediocre teacher tells. The good teacher explains. The superior teacher demonstrates. The great teacher inspires. ~William Arthur Ward
.
Người thầy tốt nhất là người gợi ý hơn là giáo điều, và truyền cảm hứng để người nghe muốn tự học
The best teacher is the one who suggests rather than dogmatizes, and inspires his listener with the wish to teach himself. ~Edward Bulwer-Lytton
.
Người thầy nên có ảnh hưởng tối đa và uy quyền tối thiểu.
A teacher should have maximal authority, and minimal power. ~Thomas Szaz
.
Khi dạy, bạn không thể thấy kết quả của một ngày làm việc. Nó vô hình và nguyên vẹn thế, có thể tới 20 năm.
In teaching you cannot see the fruit of a day’s work. It is invisible and remains so, maybe for twenty years. ~Jacques Barzun
.
Người Thầy là người làm cho mình dần dần trở thành không cần thiết.
A teacher is one who makes himself progressively unnecessary. ~Thomas Carruthers
Với hơn 4,000 trường, hệ thống đại học ở Mỹ rất phong phú và đa dạng về chương trình học, lĩnh vực nghiên cứu với các mức độ khác nhau. Ví dụ, cùng là một chương trình học về Kinh tế học (economics), so sánh hai trường ở hai bang của nước Mỹ sẽ cho ra những kết quả như sau: theo xếp hạng của US News and World Reports[1] trường A xếp thứ 50, trong khi trường B xếp thứ 100; chương trình học của trường A là 2 năm, của trường B là 1 năm rưỡi; trường A có nhiều môn thiên về kinh tế lượng và toán trong khi trường B lại có một số môn như kinh tế chính trị, kinh tế môi trường mà trường A không có vv…
Về mặt nghiên cứu và giảng dạy, hệ thống giáo dục đại học và sau đại học (Higher Education) chia làm hai dạng (tạm dịch): đại học nghiên cứu (research university) và đại học giảng dạy (teaching university). Về sở hữu thì chia làm đại học quốc lập (public university) và đại học tư (private university). Cũng chính vì sự phong phú của giáo dục đại học Mỹ mà có rất nhiều các cơ quan xếp hạng các trường đại học theo những tiêu chí khác nhau. Các bảng xếp hạng có uy tín được nhiều người sử dụng như US News and World Reports, hay xếp hạng do các tổ chức chuyên ngành như The Center of Measuring University Performance.
Theo CMUP, các tiêu chí xếp hạng một trường đại học nghiên cứu hàng đầu bao gồm: tổng số bài nghiên cứu, số tiền nhận tài trợ (endowment), số tiền cấp cho nghiên cứu hàng năm, số lượng giải thưởng của giáo viên trong khoa, số lượng sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ vvv…Các trường nghiên cứu hàng đầu theo xếp hạng năm 2008 [2]là Columbia University, MIT, Standford University, Havard University. Điểm đáng chú ý là 7 trường top đầu của bảng xếp hạng này đều là trường đại học tư. Khác với Việt Nam hay các trường ở châu Âu, các trường tư tại Mỹ rất hoạt động hiệu quả và luôn dẫn đầu trong hệ thống giáo dục bậc cao.
Mỹ là một trong số ít các nước áp dụng chế độ biên chế (tenure) trong giáo dục đại học và sau đại học. Thông thường muốn làm giảng viên đại học ở Mỹ thì ứng viên phải có ít nhất bằng tiến sĩ (Doctor of Philosophy). Tùy thuộc trường mà ứng viên được vào làm việc và xét biên chế là trường thiên về nghiên cứu hay giảng dạy mà tiêu chí xét biên chế sẽ khác nhau. Có 3 mức bổ nhiệm cho vị trí giảng viên đại học: Assistant Professor, Associate Professor, và (Full) Professor. Giảng viên mới được gọi là Assistant Professor và kí hợp đồng làm việc với nhà trường trong một vài năm đầu (6-7 năm).
Trong giai đoạn thử việc (probationary period) các giảng viên thường được yêu cầu phải có một số lượng bài nghiên cứu nhất định đăng trên tạp chí chuyên ngành hàng đầu của Mỹ hoặc thế giới, xin được tài trợ từ các tổ chức uy tín, viết sách hoặc là đồng tác giả viết sách, được trao giải thưởng về thành tích nghiên cứu hay giảng dạy xuất sắc, có những đóng góp tích cực trong các công tác xã hội khác (ví dụ, là thành viên quản trị của một tổ chức nào đó trong ngành/lĩnh vực liên quan) vv… Sau 6 hoặc 7 năm của giai đoạn xét biên chế sẽ có một hội đồng thẩm định các kết quả làm việc của ứng viên. Nếu được chấp nhận biên chế, ứng viên sẽ được gọi là Associate Professor, sau một vài năm nếu tiếp tục có những nghiên cứu đáng kể thì sẽ được bổ nhiệm thành Professor.
Ví dụ, trường Rice University có quy định về biên chế như sau[3]: Assistant Professor được kí hợp đồng 4 năm đầu tiên, và được hội đồng xem xét vào năm thứ 3. Nếu được tiếp tục bổ nhiệm và kí hợp đồng làm việc 4 năm nữa, ứng viên sẽ được phép nghỉ 1 kì học chỉ để tập trung vào nghiên cứu, tìm nguồn tài trợ, hoặc các hoạt động sáng tạo khác, thường là vào năm thứ 4 hoặc thứ 5 trong khi vẫn nhận lương đầy đủ. Nếu sau lần xét đầu tiên vào năm 3 mà ứng viên không đạt yêu cầu thì họ sẽ có 1 năm để đi tìm việc và kết thúc hợp đồng vào năm thứ 4. Tương tự như vậy với hợp đồng lần 2 vào năm thứ 7.
Năm 1: bổ nhiệm chức Asssistant Professor và giao nhiệm vụ
Năm 3: xét lần đầu và bổ nhiệm lần hai hoặc chấm dứt hợp đồng
Năm 5: giai đoạn 2 bắt đầu
Năm 4 hoặc 5: nghỉ phép (cho phép nghỉ một kì để ứng viên tập trung vào nghiên cứu trong khi vẫn nhận lương đầy đủ)
Năm 7 hoặc sớm hơn: xét lần 2
Hết năm 7: thăng chức hoặc chấm dứt hợp đồng (có 1 năm sau đó để ứng viên đi tìm việc).
Lí do áp dụng chính sách biên chế được giải thích là giúp cho các học giả nghiên cứu có được sự tự do trong nghề nghiệp. Các giảng viên đại học hoặc giáo sư đôi khi không dám đi sâu nghiên cứu những ý tưởng mới lạ do bị sức ép từ phía giám hiệu nhà trường để đạt thành tích nghiên cứu, giải thưởng, hay thu hút nhiều sinh viên theo học. Nếu như không có chế độ biên chế, nhiều người sẽ chấp nhận chọn một con đường an toàn hơn là đề xuất những ý tưởng đột phá.
Hơn nữa việc xét biên chế cũng giúp các trường giữ chân người tài, tránh các chi phí tuyển dụng người mới hay cạnh tranh giữa các trường để thu hút giáo viên giỏi từ trường khác.
Các giáo sư lâu năm cũng nhiệt tình giúp đỡ những người mới vào vì không bị lo “mất ghế”.
Ngoài ra sự hấp dẫn của chế độ biên chế cũng là động lực giúp cho các giảng viên trẻ tích cực nghiên cứu và có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực của mình.
Một điểm đặc biệt trong hệ thống giáo dục Mỹ không thể không nhắc tới đó là chế độ nghỉ phép (sabbatical leave) dành cho các giáo sư đã có biên chế. Cứ sau mỗi 6 năm giảng dạy toàn thời gian, các giáo sư sẽ được nhà trường cho phép nghỉ 1 năm có lương để hoàn toàn tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, xin tài trợ, hoặc đi khảo sát thực địa vv…
Tuy nhiên chế độ biên chế cũng có những hạn chế của nó đó là một số giáo sư sau khi có được biên chế thì không còn hứng thú với nghiên cứu nữa và gần như không có đóng góp gì đáng kể trong lĩnh vực của họ. Để tránh việc này nhiều trường ở Mỹ hiện nay có chính sách cấp biên chế với số lượng có hạn, còn lại là tuyển dụng theo hợp đồng hoặc thời hạn.