Danh mục lưu trữ: Văn Hóa

Ngày Cá tháng 4: Nguồn gốc và Lịch sử

jester_reading

April Fools’ Day – ngày nói dối – ngày 1 tháng 4 – là một trong những ngày vui nhộn nhất trong năm trên thế giới. Ở Việt nam ta hay gọi là ngày Cá Tháng 4. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn gốc của ngày này không rõ ràng. Một số người cho rằng ngày 1/4 là ngày đánh dấu sự chuyển mùa từ Đông sang Xuân tại các quốc gia Âu Mỹ. Còn một số khác lại tin rằng ngày này xuất phát từ việc chấp nhận Công lịch mới.

Thay đổi ngày tân niên

Vào thời xưa, người ta đón mừng tân niên vào ngày 1/4, sau ngày Xuân Phân (20/3 hoặc 21/3). Đến thời trung cổ, nhiều quốc gia Châu Âu tổ chức Lễ Truyền Tin vào ngày 25/3 và xem nó như ngày tân niên. Lễ Truyền Tin là lễ trong Công giáo La Mã (Roman Catholic) và Chính thống giáo (Eastern Orthodox), nhắc lại truyền kỳ Thiên thần Gabriel báo tin cho Maria là bà sẽ thụ thai và sinh con.

pig

Vào năm 1582, Giáo hoàng Gregory 13 ban hành công lịch mới (gọi là lịch Gregory) thay thế lịch cũ Julius. Theo công lịch này, ngày tân niên được chọn là ngày 1/1. Nước Pháp đã đón nhận lịch này và thay đổi ngày đầu năm thành ngày 1/1. Vào thời điểm này, có nhiều người không chấp nhận ngày tân niên 1/1, hoặc cũng có thể họ không biết sự thay đổi đó, nên vẫn tiếp tục chào đón tân niên vào ngày 1/4. Kết quả là họ bị những người khác cười chế nhạo, và phong tục này đã lan rộng khắp Châu Âu.

Tuy nhiên, giả thuyết này cũng chưa xác đáng vì hai lý do:

1) Chưa giải thích được sự lan rộng của ngày nói dối đến các nước Châu Âu khác: Trước năm 1752, lịch Gregory vẫn chưa được chấp nhận ở Anh quốc. Trong khi đó, ngày nói dối hầu như đã hiện diện ở Anh vào thời điểm này.

2) Chưa có bằng chứng lịch sử cụ thể chứng minh cho giả thuyết này. Đó chỉ là phỏng đoán, và sự phỏng đoán này chỉ mới xuất hiện gần đây.

aprilsfoolsday
Câu chuyện giữa Hoàng Đế Constantine và anh hề Kugel

Joseph Boskin, giáo sư Sử học trường Đại học Boston (Mỹ) cũng cung cấp một giả thuyết khác về nguồn gốc của ngày nói dối. Theo ông, ngày này xuất hiện vào thời Constantine Đại Đế, khi một nhóm các chú hề của triều đình nói với hoàng đế La Mã rằng: họ có thể điều hành đất nước tốt hơn ông ấy. Hoàng Đế Constantine lấy làm thích thú về việc này và cho phép một chú hề tên là Kugel làm vua một ngày. Vào ngày đó, anh hề Kugel thông qua sắc lệnh cho sự hài hước này, và từ đó, tục lệ này đã trở thành sự kiện hàng năm.

Giả thuyết này được đăng trên nhiều bài báo của Associated Press (AP – thông tấn xã Hoa kỳ, lớn nhất thế giới) vào năm 1983 và gây được nhiều chú ý trong công chúng. Thật ra, đó chỉ là trò đùa bịa đặt của giáo sư Boskin. Hai tuần sau, thông tấn xã AP mới nhận ra họ chính là nạn nhân của trò đùa của vị giáo sư kia.

Sốt đầu xuân

Đáng chú ý là có nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới đều có những ngày vui nhộn vào đầu tháng 4, và kéo dài vài tuần. Những người theo giáo hội La Mã có lễ hội Hilaria vào ngày 25/3 – ngày lễ phục sinh của thần Attis (một vị thần trong thần thoại Hy Lạp). Lịch Ấn giáo thì có ngày Holi và lịch Do Thái có ngày Purim. Nhìn chung, vào thời điểm giao mùa từ Đông sang Xuân, người ta tổ chức những lễ hội vui nhộn để chào đón mùa xuân.

april01
Lễ hội khắp nơi trên thế giới

Ngày nói dối được tổ chức ở khắp các nước phương Tây. Vào dịp này, người ta có thể gửi cho nhau những món quà nghịch ngợm, chơi khăm nhau và cố làm cho mọi người tin vào những điều ngớ ngẩn.

Người Pháp gọi ngày nói dối là ngày Cá tháng 4. Vào ngày này, thỉnh thoảng trẻ em Pháp lại dán hình con cá lên lưng bạn học, và la lên “Cá tháng 4” khi trò chơi khăm bị phát hiện.

Chiến dịch thống kê dân số bắt đầu từ 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009

Có tin là Tổng Cục Thống Kê Việt Nam sẽ khai hỏa mở đầu chiến dịch tổng điều tra dân số và nhà ở bắt đầu từ ngày 1.4.2009. Lần này, ngoài nội dung điều tra về dân số như lần trước (năm 1999), chiến dịch còn mở rộng thêm 3 nội dung mới: điều tra về số lượng người khuyết tật, điều tra về thị trường lao động và về chất lượng nhà ở.

Nhưng … chẳng biết đây là chiến dịch thật hay chỉ là … cá tháng tư của Tổng Cục Thống Kê ??? 😦

Sau đây là video về bản tin đặc biệt của BBC phát ngày 31 tháng 3 năm 2008 về một loài chim cánh cụt, mới được khám phá, bay hàng nghìn dặm, từ Nam cực đến rừng rậm Amazon ở Nam Mỹ.

Chúc các bạn nhiều dịp cười hôm nay 🙂 🙂

Loan Subaru
.

Chào mừng Lễ hội Chùa Thầy

chuathay

Ngày hôm nay, mồng 7 tháng 3 âm lịch là ngày chính hội của lễ chùa Thầy, diễn ra hàng năm từ ngày 5 tới ngày 7 tháng 3 âm lịch tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

Lịch sử lễ hội

Chùa Thầy, còn gọi là Chùa Láng, là nơi thờ và lưu dấu ấn tu hành của nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh (1072-1127) vào thời Lý. Theo tích kể, thiền sư có oan gia, ông sang Ấn độ đi tu rồi trở về giảng đạo, chữa bệnh cứu người, sáng tạo và tổ chức trò chơi dân gian múa rối nước cho dân chúng. Nhà sư hóa Phật tại nơi đây. Trong Lĩnh Nam Chích Quái có một truyện thần thoại về Từ Đạo Hạnh.
chuathay1
Nhân dân lấy ngày Từ Đạo Hạnh hóa Phật (7 tháng 3 âm lịch) để mở hội chùa Thầy. Cứ đến ngày mồng 5 tới ngày mồng 7 âm lịch hàng năm, nhân dân thập phương tứ xứ lại về trảy hội ở núi Thầy, xã Thầy.

Nhớ ngày mồng bảy tháng Ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy.

Từ Đạo Hạnh
Từ Đạo Hạnh

Văn hóa lễ hội

Lễ hội chùa Thầy có nét văn hóa rất đặc sắc. Trong ngày hội, các tăng ni phật tử từ các nơi cùng về dự lễ trong những bộ cà sa sang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ gồm hai lễ chính. Lễ tắm tượng và lễ cúng Phật và chạy đàn rất trang nghiêm với phối hợp của nhiều nhạc cụ dân tộc.

Ở hội có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở nhiều nước.
Trai thanh gái lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong cảnh non nước Sài Sơn hữu tình.

Rủ nhau lên núi Sài Sơn
Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
Hỏi non, non những làm thinh
Phải rằng non đã vô tình với ai?
Nước non ví chẳng chiều đời
Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
Yêu nhau ta dắt nhau cùng
Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.

(Á Nam Trần Tuấn Khải)

Tại các links này các bạn có thể đọc thêm về Chùa Thầy và lễ hội chùa Thầyxem chùm ảnh Chùa Thầy.

Nguyễn Minh Hiển

Borobudur – Indonesia

borobudur1

Borobudur là một ngôi đền tháp Phật giáo lớn ở miền trung đảo Java, Indonesia. Ngôi đền tháp này được xây dựng dưới vương triều Sailendra sùng đạo Phật (thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 9). Ngôi đền này nằm trên đỉnh một quả đồi, giữa vùng đồng bằng phì nhiêu, phía sau là một dãy núi màu lam, làm nổi bật lên ngôi đền.

Borobudur mang ý nghĩa là “Ngọn núi hình thành từ những ưu điểm của Bồ Tát”. Đền tháp Borobudur, xây dựng trên lưng chừng quả đồi, cách chân đồi 15,5 m, bao gồm 12 tầng to, nhỏ, vuông, tròn xen kẽ, kế tiếp nhau. Toàn bộ ngôi đền cao 42 m. Chiều dài mỗi mặt ở chân đền là 123 m. Nhưng nếu đi hết các bậc thang, các hành lang của 12 tầng để lên đến đỉnh tháp thì phải đến 5 km.

Tầng thứ nhất (từ chân đồi lên) hình vuông, mỗi cạnh hướng về một phương rõ rệt. Giữa mỗi cạnh có một khoảng trống rộng 7,38 m, có hai con sư tử bằng đá chầu hai bên, hình thù khá đồ sộ, miệng chúng khá rộng, lông bờm ở lưng, cổ, ngực dựng lên trông rất dữ tợn, đuôi uốn cong ngược về phía sau. Song, tám con sư tử ở bốn cạnh có con đã được đẽo gọt, chạm trổ hoàn chỉnh, có con còn đang dở dang.

Tầng thứ hai cách tầng thừ nhất 1,52 m, không xây theo dạng hình vuông như ở tầng thứ nhất, mà là hình đa giác 20 cạnh, gần như bao quanh lấy sườn đồi. Tuy nhiên, vẫn có bốn cạnh lớn hướng về bốn phương trời, giữa có bốn tầng cấp. Hai bên tầng cấp có hai lan can uốn cong rất duyên dáng. Cuối lan can là một đầu voi rất to, trong miệng ngoạm một con sư tử; còn đầu lan can kia, là một đàn sư tử, mõm mở rộng, lưng tựa vào tường.

borobudur-temple-292612-sw1Từ tầng thứ ba trở lên, lại có hình dạng vuông, riêng tầng ba trên cùng có dạng hình tròn. Trên mỗi tầng có xây dựng nhiều đền đài miếu mạo, cái lớn nhất ở giữa, hai bên là những cái bé hơn. Trên cùng của đền tháp là mái tròn hình chuông.

Tất cả các bậc thềm từ tầng một đến tầng chín đều được phủ kín những phù điêu, được chạm trổ rất công phu, mô tả về cuộc đời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các bồ tát và các anh hùng đã giác ngộ Phật pháp, về thiên đàng, về đia ngục…

Ba tầng của Borobudur đại diện cho ba phần trong vũ trụ theo quan niệm của Phật giáo. Tầng thấp nhất là nơi mà tinh thần con người bị xâu xé bởi lòng ham muốn. Tầng giữa: tinh thần con người đã thoát khỏi sự ham muốn nhưng chưa vượt ra khỏi thế giới vật chất. Tầng cao nhất: tinh thần con người dã được giải phóng khỏi những ham muốn trần thế. Vì thế, những tháp lớn ở chính giữa đại diện cho cõi niết bàn thì trống rỗng.

Suốt trong thế kỷ thứ 10 và 11, có một sự chuyển tiếp quyền lực từ miền Trung Java sang phía Ðông Java và các tháp này bị bỏ hoang. Sau nhiều thế kỷ chìm trong quên lãng, chúng bị chôn dưới lớp tro núi lửa và rừng bắt đầu phát triển. 

borobudur_monksVào năm 1814, những nhà thám hiểm người Anh do ngài Stamford Raffles dẫn đầu đã phát hiện những pho tượng bị vùi lấp trong các khu rừng trên đồi. Ðến năm 1900 một ủy ban được lập ra để bảo quản Borobudur. Vào năm 1907, ông Thadeus Van Erp – một kỹ sư Hà Lan – được chỉ định lãnh đạo công cuộc phục hồi, nhưng kinh phí hạn chế đã ngăn cản những nỗ lực của Van Erp. Vì thế, Borobudur vẫn ở trong tình trạng hoang phế cho tới năm 1973, UNESCO công nhận Borobudur là một di tích lịch sử thế giới và tài trợ kinh phí cho việc trùng tu Borobudur. Hằng năm, đây là nơi hành hương của Phật tử Indonesia trong dịp lễ Vesak.

Loan Subaru
.

Đừng bao giờ quên người phục vụ ta

waitress

Luôn nhớ ai phục vụ mình

Vào thời mà giá một ly kem sundae còn rất rẻ, một cậu bé 10 tuổi vào một cửa hàng café trong khách sạn và ngồi ở một bàn.

Chị tiếp viên đặt một ly nước trước mặt cậu.

“Bao nhiêu tiền một ly kem sundae?”, cậu hỏi.

“Năm mươi xu”, chị tiếp viên trả lời.

Cậu bé nhấc tay ra khỏi túi và nhẩm tính các đồng cắc trên tay. Cậu hỏi: ” Vậy bao nhiêu tiền cho một ly kem thường?”.

Lúc này có thêm nhiều người đang đứng đợi chỗ ngồi và chị tiếp viên mất kiên nhẫn: “Ba mươi lăm xu” chị trả lời cộc lốc.

Cậu bé lại đếm các đồng cắc. Cậu nói, “Cho em ly xem thường”.

Chị tiếp viên mang kem đến, đặt hóa đơn trên bàn và bước đi. Cậu bé ăn kem xong, trả tiền tại quầy và đi.

Khi chị tiếp viên quay lại, chị bắt đầu khóc khi chị lau bàn. Ở đó, nằm gọn bên cạnh chiếc đĩa trống, là hai đồng cắc năm xu và năm đồng cắc một xu. Các bạn xem, cậu bé không thể ăn ly kem sundae vì cậu cần có đủ tiền dư để “boa” chị tiếp viên.

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

Always remember those who serve

In the days when an ice cream sundae cost much less, a 10 year old boy entered a hotel coffee shop and sat at a table.

A waitress put a glass of water in front of him.

“How much is an ice cream sundae?” he asked.

“Fifty cents,” replied the waitress.

The little boy pulled his hand out of his pocket and studied the coins in it. “Well, how much is a plain dish of ice cream?” he inquired.

By now more people were waiting for a table and the waitress was growing impatient. “Thirty-five cents, she brusquely replied.”

The little boy again counted his coins. “I’ll have the plain ice cream,” he said.

The waitress brought the ice cream, put the bill on the table and walked away. The boy finished the ice cream, paid the cashier and left.

When the waitress came back, she began to cry as she wiped down the table.There, placed neatly beside the empty dish, were two nickels and five pennies. You see, he couldn’t have the sundae, because he had to have enough left to leave her a tip.

Anonymous

Hanami – Lễ hội hoa Anh đào

Vào khoảng thời gian này (cuối tháng 3 kéo dài đến đầu tháng 4), khắp nơi trên đất nước Nhật tổ chức lễ hội hoa anh đào, được gọi là Hanami. Và cũng nhân dịp Hà nội dự kiến sẽ tổ chứclễ hội hoa anh đào (diễn ra từ 10/4 – 12/4) để chào mừng 999 năm Thăng Long, xin được giới thiệu đôi nét về lễ hội, nhằm giúp bạn có thêm một chút thông tin về văn hóa đặc sắc này. 

Hoa Anh đào
Hoa Anh đào

Hanami (花見) là từ ghép giữa hai từ “Hana (花)” và “Mi (見)”, trong đó “Hana” có nghĩa là hoa (hoa anh đào hoặc hoa mơ), “Mi” có nghĩa là xem, ngắm nhìn. Hanami có nghĩa là ngắm nhìn, thưởng lãm hoa anh đào, và được gọi là hội hoa anh đào. Đây là tập quán thưởng thức vẻ đẹp của hoa anh đào, chúc mừng nhau và cảm nhận không khí mùa xuân của người Nhật. Vào những ngày lễ hội này, mọi người thường tụ tập dưới những gốc cây anh đào nở hoa, vừa ngắm hoa, vừa uống rượu. Loại rượu được uống lúc ngắm hoa là “Hanamizake” (kết hợp của hai từ: Hanami và rượu sake)

Hoa Anh đào mọc trên khắp nước Nhật. Ở mỗi địa phương, vào mùa xuân, hoa chỉ nở đồng loạt vào khoảng 2 tuần rồi tàn nên ghi dấu ấn rất đậm trong tâm hồn và trở thành cảm nhận về mùa xuân cho mỗi người dân Nhật bản. Vẻ đẹp cùng với thời gian khai hoa ngắn ngủi của hoa Anh đào thường được ví như sự phù du của kiếp người. Có lẽ vì vậy mà từ xưa tới nay, người ta vẫn nói rằng hoa Anh đào khiến con người trở nên bốc đồng.

Hội hoa Anh đào
Hội hoa Anh đào

Vào tháng 3 hàng năm, nhà khí tượng Nhật Bản thường công bố lịch dự kiến của mùa hoa Anh đào nở ở từng địa phương. “Tuyến hoa nở” là từ chỉ đường nối các vùng có hoa đồng loạt nở trong một ngày. Tùy theo từng loại Anh đào mà giờ hoa nở có thể nhanh hay chậm hơn nhau một chút. Hơn nửa số địa phương ở Nhật bản có thời kỳ hoa nở trùng với năm tài chính mới của công ty hay năm học mới. Riêng các vùng phía nam như Kyusyu, Shikoku, Chugoku, hoa nở từ tháng 3, còn các vùng phía bắc như vùng Đông Bắc hay Hokkaido thì hoa lại nở vào tháng 5.

Ngắm hoa vào ban đêm cũng là một nét đặc biệt của Hanami. Tại công viên Ueno có bố trí một số khu vực phục vụ cho việc ngắm hoa vào buổi đêm.

Mỗi khi có gió lớn thổi qua, vô vàn cánh Anh đào đồng loạt thả mình bay theo gió sẽ tạo nên khung cảnh tựa như tuyết rơi nên còn gọi là “Tuyết hoa Anh đào”. Vẻ đẹp của nó đã góp phần tạo nên cảnh sắc rung động lòng người của mùa hoa Anh đào nở.

Lịch sử

Người ta cho rằng Hanami là lễ hội bắt nguồn giới quí tộc từ thời Nara. Thời Nara, họ ngắm hoa mai mới được đưa về từ Trung Quốc, nhưng đến thời Heian thì chuyển thành ngắm hoa Anh đào. Vào thời Heian, việc ngắm hoa Anh đào chỉ giới hạn ở giới quý tộc, nhưng sau đó lan rộng đến giới võ sĩ đạo Samurai. Đến thời Edo, Hanami trở thành thói quen của dân chúng, khi Tokugawa Yoshimune (*) cho trồng Anh đào rộng khắp ở Edo và khuyến khích Hanami.

* Tokugawa Yoshimune: Tướng quân thứ 8 của dòng họ Tokugawa, người dẫn đầu vụ “cải cách tài chánh Kyoho ” nổi tiếng. Ông bày tỏ lòng cộng cảm với nền kinh tế trong nước bằng cách quyết định không mặc áo quần lụa và thay vào đó mặc vải bông.

Loan Subaru

.

Washington DC, Lễ hội Hoa Anh Đào 4 và 5 tháng 4 năm 2009. Anh Nguyễn Minh Hiển, Đọt Chuối Non admin từ Connecticut, và chị Pham Thị Thanh-An, VNBIZ admin từ Hà Nội, đến Washington DC tham dự Lễ hội, cùng anh Trần Đình Hoành và chị Tuý-Phượng.

Từ bên trái:  Chị Tuý Phượng, anh Hoành, chị Thanh An, anh Hiển
Từ bên trái: Chị Tuý Phượng, anh Hoành, chị Thanh An, anh Hiển
anh Minh Hiển và chị Thanh An --National Gallery of Fine Arts
anh Minh Hiển và chị Thanh An --National Gallery of Fine Arts
anh Hoành -- National Gallery of Fine Arts
anh Hoành -- National Gallery of Fine Arts

Thời chuyển đổi

spring

Thời chuyển đổi

Mỗi thứ có một mùa
Và mỗi thời dành cho một mục đích
Ở dưới thiên đường

Giờ là thời chuyển đổi
Lá bắt đầu chuyển màu
Từ xanh sang đỏ và cam
Chim bắt đầu chuyển
Trữ thức ăn cho vụ đông

Với cây lá, chim muông và thú vật
Chuyển đổi đến thật tự nhiên
Nhưng với chúng ta, chuyển đổi không dễ dàng như thế

Phải có quyết tâm
Thì ta mới chuyển đổi

Có nghĩa là từ bỏ những thói cũ
Có nghĩa là công nhận mình sai
Và điều đó chẳng bao giờ dễ

summer1

Có nghĩa là mất mặt,
Có nghĩa là bắt đầu lại từ đầu
Và điều này luôn đau đớn

Có nghĩa là nói: “Mình xin lỗi”
Có nghĩa là xác nhận mình có khả năng thay đổi
Và luôn luôn, điều đó thật bẽ bàng

Những điều này thật khó khăn
Nhưng nếu không chuyển đổi, ta sẽ mãi bị vướng bẫy
Trong những con đường ngày hôm qua

Chúa ơi, giúp chúng con chuyển đổi
Từ chai đá sang nhậy cảm
Từ thù địch sang yêu thương
Từ nhỏ nhặt sang đầy mục đích
Từ ghen tị sang bằng lòng
Từ cẩu thả sang kỷ luật
Từ sợ hãi sang tin tưởng
Hãy chuyển đổi chúng con, Chúa ơi, và hướng chúng con về phía Ngài
Làm sống lại cuộc đời chúng con, như mới tự khi đầu
Và hướng chúng con về phía nhau, Chúa ơi,
Bởi trong cô lập, không có sự sống.

Kinh lễ sám hối của Do Thái
Nguyễn Minh Hiển dịch

.
autumn

A time for turning

To everything there is a season,
And there is an appointed time for every purpose
Under heaven.

Now is the time for turning.
The leaves are beginning to turn
From green to red and orange.

The birds are beginning to turn
To storing their food for the winter
For leaves, birds, and animals
Turning comes instinctively.

But for us turning does not come so easily.
It takes an act of will
For us to make a turn

It means breaking with old habits
It means admitting that we have been wrong;
And this is never easy.

It means losing face;
It means starting all over again;
And this is always painful.

It means saying: ‘I am sorry.’
It means admitting that we have the ability to change;
And this is always embarrassing.

snow
These things are terribly hard to do.
But unless we turn, we will be trapped forever
In yesterday’s ways.
Lord, help us turn–
From callousness to sensitivity,
From hostility to love,
From pettiness to purpose,
From envy to contentment,
From carelessness to discipline,
From fear to faith.
Turn us around, O Lord, and bring us back towards You.
Revive our lives, as at the beginning.
And turn us towards each other, Lord,
For in isolation there is no life.

Yom Kippur liturgy

Sao biển

saobien

Một ông nọ một lần kia đi dạo dọc theo bãi biển. Mặt trời đang tỏa sáng và ngày rất đẹp. Từ xa ông thấy một người đi đi lại lại giữa bờ sóng và bãi biển. Người đó cứ tiếp tục đi đi lại lại. Khi đến gần, ông có thể thấy cả hàng trăm con sao biển đã bị mắc cạn trên cát theo dòng thủy triều, và người kia đang nhặt từng con sao biển một, ném trả lại cho sóng biển.

Ông ta rất đỗi kinh ngạc bởi công việc thật rõ là vô ích kia. Có quá nhiều sao biển. Nhiều con trong đám đó chắc chắn sẽ chết. Ông bước đến, người kia vẫn tiếp tục nhặt và ném.

Người đàn ông bước đến gần người kia và nói: “Anh bạn điên à. Đến hàng nghìn dặm bãi biển phủ đầy sao biển. Bạn đâu thể thay đổi được gì.” Người kia nhìn người đàn ông. Rồi anh ta cúi xuống, nhặt thêm một con sao biển, và ném nó trở lại với đại dương. Anh quay lại phía người đàn ông và nói, “Nhưng chắc chắn có thay đổi cho con sao biển đó!”.

Nguyễn Minh Hiển dịch
.

Once a man was walking along a beach. The sun was shining and it was a beautiful day. Off in the distance he could see a person going back and forth between the surf’s edge and and the beach. Back and forth this person went. As the man approached he could see that there were hundreds of starfish stranded on the sand as the result of the natural action of the tide. And the other person was picking up the stranded starfish, one by one, and throw them back into the surf.

The man was struck by the the apparent futility of the task. There were far too many starfish. Many of them were sure to perish. As he approached the person continued picking and throwing.

As he came up to the person he said, “You must be crazy. There are thousands of miles of beach covered with starfish. You can’t possibly make a difference.” The person looked at the man. He then stooped down and pick up one more starfish and threw it back into the ocean. He turned back to the man and said, “It sure made a difference to that one!”

Anonymous

Nghi Lễ Trà Đạo

Trong nghi lễ Trà Đạo, có hai cách pha trà: pha trà đặc và pha trà loãng. Bài này chủ yếu giới thiệu về nghi thức pha trà đặc.

1) Giai đoạn chuẩn bị:

Trong Trà Đạo, nước biểu tượng cho âm (Yin), lửa biểu tượng cho dương (Yang). Nước đựng trong một cái bình có tên gọi là “mizushashi”. Bình này chứa nước suối là biểu tượng của sự thuần khiết, chỉ có chủ nhà mới được đụng đến.

chaire-igaMatcha (trà xanh chỉ dùng trong lễ trà) đựng trong một cái bình bằng gốm (gọi là Cha-Ire) và được bọc trong một cái túi lụa tơ mỏng rất đẹp (gọi là shifuku) và đặt cạnh bình Mizushashi.

Chủ nhà bước vào, trên tay cầm chén trà (Cha-wan), kèm theo chổi đánh trà (Cha-sen), và một mảnh vải trắng nhỏ (Cha-kin) dùng để lau khô chén trà, muỗng múc trà (Cha-shaku: muôi làm bằng tre dùng để chia trà). Những đồ này được sắp cạnh bình trà tượng trưng cho mặt trời (dương – yang), và chén trà biểu tượng cho mặt trăng (âm – yin).

Sau đó, chủ nhà quay ra phòng ngoài và mang vào kensui (chén dùng để đựng nước trà bỏ đi), hishaku (muôi múc nước làm bằng tre) và futaoki (đồ gác nắp hộp trà). Chuẩn bị xong mọi vật dụng cần thiết, chủ nhà nhẹ nhàng đóng cửa phòng trà lại.

2) Thực hiện nghi lễ

Chủ nhà dùng tấm vải fukusa (tấm vải tơ tốt), lau bình trà, điều này tượng trưng cho tinh thần của chủ nhà. Một cách chậm rãi, chủ nhà gấp gọn và đặt tấm vải fukusa xuống. Việc gấp tấm vải thể hiện sự chu đáo của chủ nhà nên cần được làm với một sự tập trung cao độ. Người ta thấy ý nghĩ sâu sắc của người chủ trong việc xem xét kỹ lưỡng, gấp và sử dụng fukusa, trong mức độ tập trung và trạng thái mặc tưởng được nâng cao.

chado_tea-ceremonyNgười chủ dùng thìa châm nước nóng vào chén trà, rửa sạch chổi trà, đổ nước đi, và lau sạch chén với Cha-kin. Người chủ nhấc thìa trà và hũ đựng trà lên, cho mỗi vị khách 3 muỗng trà vào chén trà. Sau đó châm từ ấm đun vào chén trà một lượng nước nóng đủ để có thể tạo ra một hỗn hợp nhão mỏng với cái chổi trà. Rồi thêm nước đủ để có thể dùng chổi trà khuấy thành một chất lỏng đặc quánh như súp đậu. Phần nước còn thừa lại trong thìa được cho lại vào ấm đun nước.

kyoto_sado_tea-ceremony_7Tiếp theo, người chủ sẽ chuyền chén trà cho vị khách chính, vị khách sẽ cúi đầu để nhận chén trà. Vị khách sẽ dùng hai tay nâng chén lên và dùng tay xoay nó để ca tụng, rồi uống 1 ngụm trà lớn, sau đó lau sạch vành chén và chuyền cái chén cho vị khách kế tiếp cũng sẽ làm y như vị khách chính (lượng trà trong chén được người chủ khéo léo đong vưà đủ cho 4 vị khách để trà không dư lại). Đối với trường hợp pha loãng, mỗi khách sẽ uống riêng một chén trà.

129_01_t1Khi tất cả khách đã thưởng thức trà xong, chén trà được đưa trở lại cho người chủ. Chủ nhà sẽ rửa sạch nó, làm sạch hũ đựng trà và thìa múc trà. Thìa múc trà và hũ đựng trà sẽ được chuyền cho khách để xem xét. Sau đó mọi người sẽ thảo luận về các vật dụng, cách trình bày và những chủ đề thích hợp khác.

3) Rời tiệc trà

Lửa bếp lại được thắp lên để pha trà nhạt. Trà này để tráng miệng và một cách biểu trưng để chuẩn bị cho những vị khách rời khỏi thế giới tâm linh của lễ trà và bước lại vào thế giới vật chất.

Natsume
Natsume

Trà nhạt và Trà đậm được pha theo cùng một cách, ngoại trừ trà nhạt dùng ít bột trà hơn, dùng chất lượng trà ít hơn, và được phân ra từ một hũ đựng trà bằng gỗ có hình quả chà là gọi là natsume.

Kiểu của chén trà được trang trí nhiều hơn và mỗi người khách được dọn cho một chén trà riêng. Lúc kết thúc, khách sẽ bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với lễ trà và sự thán phục đối với nghệ thuật của người chủ. Họ rời khỏi và người chủ sẽ quan sát họ từ cửa của trà thất.

Loan Subaru

Ôi Bãi Bờ Tìm Kiếm Suốt Đời Ta…

vung-tau1

Ôi Bãi Bờ Tìm Kiếm Suốt Đời Ta…

Những tưởng mình có thể nghỉ ngơi
Với biển xanh kia nắng gió tuyệt vời
Tôi lại sống những đêm hè trăn trở
Sóng nói gì trước cửa Vũng Tàu ơi ?

Bạn tôi chết dưới chân cầu Cỏ May
Mũi Vu Hồi phía đông năm ấy
Phút khốc liệt cuối cùng
Khuôn ngực anh bất thần bật dậy
Cụm hỏa lực cuối cùng
Tắt hẳn
Chúng tôi ào lên ngày đại thắng

Bây giờ những chiếc xe qua, rồi những chiếc xe qua
Mùa hè bình yên đưa người đi nghỉ mát
Trong số họ có bao nhiêu người biết được
Máu đã đổ làm sao trước nhịp cầu này
Cây cầu tầm thường vài phút bánh xe quay

Bạn tôi chết khi còn rất trẻ
Tuổi cô gái kia thôi, đang ùa chạy nô cười
Mắt mở nhìn như uống cả xa khơi
Giang tay choàng lấy biển

Và thân thể ngời ngời trong sóng quyện
Bạn tôi ơi, nếu còn sống, chắc chắn là anh phải đến tận đây
Để xoài mình trên cát
Cho sóng mơn làn da nghe rì rầm biển hát
Thấy cuộc đời yên ả biết bao nhiêu

Có thể là anh sẽ gặp và yêu
Chính cô gái kia đang tung mình giỡn sóng
Cô ấy cũng yêu anh—Ôi vầng mặt trời bé bỏng
Cứ thế bồng bềnh mọc lặn giữa đời anh

Nhưng anh chẳng đến được đây, chẳng bao giờ đến được
Tuổi hai mươi anh nằm lại đó rồi
Ngực đẩm máu dầm trong bùn nước
Nghe thân cầu rung động tiếng xe lăn

Anh cứ nằm lặng lẽ chẳng băn khoăn
Bao người vụt đi qua
Có ai nhớ tới mình hay chẳng nhớ
Cái đó đâu quan trọng chi mà
Anh chỉ biết gửi hồn mình theo họ
Một bãi bờ khao khát suốt đường xa
Ôi bãi bờ tìm kiếm suốt đời ta
Nơi biểu hiện những gì ta hằng nấu nung trong lửa
Người thực sự làm người, người thực sự thương nhau
Mắt gặp mắt trong ngần, lòng với lòng rộng mở
Mỗi ban mai lại như thuở yêu đầu

Bùi Minh Quốc, 1984
Tình Bạn Tình Yêu Thơ, tr. 283
Nhà XBGD, Hà Nội, 1987

.

vungtau_bridge
O The Shore We’ve Looked for All Our Life

I thought I could rest
With the blue ocean, the sunlight, the magnificent wind
But I’ve lived through the summer nights tossing and turning
O Vung Tau, what say the waves at the ocean’s door?

My friend died under Co-May Bridge
At Cape Vu-Hoi that winter
The last intense minute
Your chest sprang up suddenly
The last firing spot
Died out
We stormed forth to victory

Now cars pass, then cars pass
Peaceful summer brings vacationers
How many know
How blood has flowed before this bridge
The ordinary bridge, a few minutes of wheel rolling

My friend died young
At the age of that running laughing girl
Eyes open drinking up high seas
Arms stretched wide holding the large ocean

And the body glittering in the rolling waves
O my friend, if still alive, you surely would have come here
To sprawl on the sand
Letting the waves caress the skin, listening to the sea’s murmuring
Feeling how peaceful life is

Perhaps you would meet and love
That wave-playing girl
And she would love you—O the small sun
Just like that, would always bob up and down in the midst of your life

But you can’t come, you can never come
At twenty you have stayed there
Bloody chest soaked in the watery mud
Hearing the bridge’s tremors under the rolling wheels

You lie there quietly, wondering not
Among the many who scurry by
Who remember you, who do not
That is unimportant
You know how to send them your soul
The shore we’ve thirsted for during that long long way
O the shore we’ve looked for all our life
Where exists what we’ve forged in fire–
Man as true man, man who truly loves
Eyes meeting pure eyes, hearts wide-open hearts
Each morning feeling like falling again in love

Translated by Trần Đình Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Chào mừng Ngày Xuân phân và Ngày Trái Đất

earth-lighting-equinox

Chào các bạn,

Hôm nay, 20 tháng 3 năm 2009, là Ngày Xuân phân và Ngày Trái Đất.

Ngày Xuân phân là ngày đầu tiên chính thức của mùa xuân tại Mỹ và nhiều quốc gia Âu Mỹ. Tại các quốc gia theo âm lịch ở Á châu, Ngày Xuân phân lại được xem là ngày chính giữa mùa xuân.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2009, đúng 7 giờ 44 sáng (giờ Washington DC) (20 tháng 3, 11 giờ 44 sáng, giờ Greenwich), mặt trời sẽ đi ngang xích đạo của trái đất, chiếu ánh sáng thẳng góc vào xích đạo. Thời điểm này được gọi là Xuân phân nếu ta ở bắc bán cầu (vernal equinox) và Thu phân ở nam bán cầu (autumnal equinox).

spring

Equinox có nghĩa là “equal night” (đêm bằng, hay là, đêm bằng ngày), bởi vì mặt trời nằm ở vị trí thẳng đứng trên xích đạo. Thời điểm này đặc biệt bởi vì trục xoay của quả đất đứng nghiêng 23°4. Vì độ nghiêng này, chúng ta nhận ánh sáng nhiều nhất từ mặt trời trong mùa hè (ngày dài đêm ngắn) và ít nhất trong mùa đông (ngày ngắn đêm dài). Vào thời điểm Xuân phân (Thu phân), mặt trời đứng thẳng góc ngay trên xích đạo nên ngày và đêm bằng nhau.

Bởi vì được xem là ngày đầu của mùa xuân, mùa vạn vật bừng sống trở lại sau mùa đông lạnh lẽo tăm tối, Ngày Xuân phân có ý nghĩa lớn và là ngày lễ hội lớn trong nhiều nền văn hóa.

Theo Wikipedia tiếng Việt, Ngày Xuân phân được xem là ngày lễ hội tại nhiều nơi trên thế giới như sau:

Lễ hội Norouz (lễ hội năm mới hay lễ hội đầu xuân) của Iran được tổ chức vào ngày này. Đạo Bahai gọi lễ này là Naw-Rúz. Ngoài ra còn có lễ hội Ostara của đạo Wicca, và là một trong tám lễ hội Sabbat của những người theo đạo đa thần giáo kiểu mới (neopagan).

Tại Nhật Bản ngày Xuân phân (春分の日) là ngày lễ chính thức của quốc gia để mọi người đi tảo mộ và đoàn tụ gia đình.

Lễ Phục sinh ở các nước theo Cơ đốc giáo được tổ chức vào ngày chủ nhật đầu tiên ngay sau khi trăng tròn kể từ ngày Xuân phân.

Ngày Trái Đất được kỷ niệm vào ngày Xuân phân hàng năm kể từ ngày đầu tiên là 21 tháng 3 năm 1970.

Năm mới Tamil được tổ chức sau ngày Xuân phân. Nó được tổ chức tại bang miền nam Ấn Độ (Tamil Nadu).

earthbluemarblewestterra

Ngày Trái Đất (Earth Day)

Theo John McConnell, người sáng lập Ngày Trái Đất, khi ông đang suy tư tìm một ngày nào đó để mọi người trên thế giới cùng nhau ca tụng huyền diệu của đời sống trên quả đất, “Ngày Xuân phân hiện ra trong óc, và tôi biết ngay là chính nó. Một cơn động đất ở California làm rung rinh căn nhà của tôi lúc đó như là dấu hiệu đồng ý. Còn thời điểm nào hay hơn là lúc bắt đầu mùa xuân, khi ngày và đêm bằng nhau khắp mọi nơi trên thế giới, và mọi trí óc và con tim có thể hợp nhau trong suy tư về hòa hợp và sự tươi mới trở lại của Trái Đất. Chỉ một lời cầu nguyện đã rất ý nghĩa, còn ý nghĩa hơn biết bao nhiêu khi hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu người vòng quanh thế giới hợp nhau trong suy tư và cầu nguyện để nuôi dưỡng tình láng giềng và thiên nhiên.”

Ngày Trái Đất đầu tiên xảy ra tại San Francisco vào ngày 21 tháng 3 năm 1970, với một công bố chính thức của thành phố San Francisco, bang California, Mỹ. San Francisco có nghĩa là “Thánh Phan-xi-cô”, thánh quan thầy của sinh thái học (ecology). Sau này, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant ký một Công bố xác nhận Ngày Trái Đất cho Liên Hiệp Quốc.

Vào Ngày Trái Đất, ngay khi mùa xuân bắt đầu Chuông Hòa Bình của Liên Hiệp Quốc sẽ đổ, để hàng triệu người trên thế giới đồng tâm suy niệm.

Chúc các anh chị em một mùa xuân đầy tình yêu và ánh sáng.

Trần Đình Hoành

Sự có mặt — quà tặng quý giá

sadness
“Tặng phẩm quý giá nhất ta có thể dâng tặng cho người khác là sự có mặt của chúng ta. Khi sự quan tâm chia sẻ của chúng ta bao bọc những người ta yêu thương, họ sẽ rộ nở như những đóa hoa tươi thắm”

Ý nghĩa đích thực của từ có mặt trong lời dạy trên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là gì? Và bằng cách nào sự có mặt là một tặng phẩm ta dành cho người khác?

Và câu hỏi cuối cùng ta tự đặt cho mình là mỗi ngày trong đời, ta đã thực sự tặng cho những người ta yêu, ta quý, những người sống, làm việc bên ta hay những người ta gặp, sự có mặt của mình đúng nghĩa hay chưa?

Chắc chắn mỗi chúng ta đều có câu trả lời, nhưng trước hết mời các bạn suy nghĩ về câu trả lời của Sunada. Bà Sunada sinh ra ở Nhật, nhưng sống tại Mỹ từ năm lên 3 cho đến nay. Bà đã có 16 năm làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao (high tech), quản lý các chương trình phát triển phần mềm . Trong khoảng thời gian đó thường xuyên đối mặt với áp lực rất lớn, bà đã phải chịu đựng những thương tổn nặng là hậu quả của stress . Bà bắt đầu nghiên cứu Phật pháp và thực hành thiền định từ 1995, có 3 năm giảng dạy các lớp tu học và thiền tại Boston (Mỹ), hiện đang tham gia giảng dạy các lớp tu học thiền qua mạng Internet với Wildmind và tư vấn cho những ai cần giúp đỡ về tu học. “Khi tôi bắt đầu thực hành chánh niệm, lĩnh vực đầu tiên của tôi là chánh niệm trong mỗi hoạt động hàng ngày quen thuộc. Tôi “nhìn “ lại những gì đang diễn ra trong đầu tôi trong một bữa ăn trưa cùng một người bạn đồng nghiệp. Tôi giật mình sửng sốt nhận ra rằng tôi không đang chú ý đến bạn. Trong khi anh ấy đang say sưa nói về một dự án chung của chúng tôi, tôi thấy mình đang suy nghĩ về ý tưởng của tôi. Rồi sau đó tôi thấy mình đang lập kế hoạch cho cuộc họp chiều hôm đó. Tóm lại, tôi đang theo đuổi những vấn đề, một chương trình tương lai của tôi, và tôi không thực sự đang có mặt trong hiện tại cùng anh ấy. Bây giờ tôi mới nhận ra rằng thật đáng buồn chúng ta hiếm khi thực sự có mặt cùng người khác.”

gia-dinh

Các bạn có thấy mình giống hệt Sunada không? Tôi cũng không phải là ngoại lệ. Trong cuộc sống hàng ngày, bộn bề với công việc đủ loại: việc công, việc tư, chuyện cơ quan, chuyện gia đình con cái… với đủ áp lực, chúng ta đi đâu, ngồi ở đâu, với ai vẫn không thoát ra khỏi những gì đang đè nặng lên tâm trí của chúng ta. Những ý tưởng, kế hoạch, các hợp đồng kinh doanh, hay chuyến đi nghỉ lễ sắp tới, quà sinh nhật cho người yêu,…. là những rào cản che mất khiến ta không thực sự nhìn thấy người khác, hoặc thấy rõ họ dù họ đang ngồi cạnh ta. Ta có tập trung lắng nghe người khác chăng? Ta có hiểu người ấy muốn gì ở ta?

Chẳng hạn chúng ta có một người bạn bị ốm, hay đang gặp chuyện không hay, cần giúp đỡ. Tùy theo mức độ thân tình mà ta quan tâm và giúp đỡ theo khả năng của mình. Ta có thể giúp được rất nhiều từ vật chất đến tinh thần cho người bạn thân thiết ấy. Nhưng với một người lạ qua đường xin ta giúp đỡ, có bao nhiêu người trong chúng ta nghi ngại và do dự?

Và thử suy nghĩ xem có bao nhiêu phần trăm trong cách đáp ứng của chúng ta là do ý muốn giúp đỡ, gỡ rối, điều chỉnh sự khó khăn ấy theo cách của riêng ta? Hoặc giả ta làm việc gì đó chỉ để làm giảm bớt nỗi lo âu và buồn phiền của ta khi nhìn thấy người ta đau đớn hay bất hạnh? Cũng có thể ta đang tỏ ra tốt đẹp như chân dung tự họa của mình là một người tốt bụng, nhân ái, và sẵn sàng giúp đỡ. Có hay chăng việc ghi điểm với hi vọng rằng nếu ta giúp người lúc này, mai mốt họ sẽ đền đáp cho ta? Những động cơ rất vị kỷ để giúp đỡ ai đó được khoác tên lòng vị tha. Mà nếu ta thực sự có một ước muốn chân thành giúp người, hầu như không tránh khỏi những động cơ lẫn lộn ấy len lỏi ít nhiều vào suy nghĩ và hành động của ta.

Với những trợ giúp đến do nghề nghiệp, lại có thêm mức độ phức tạp. Nếu chúng ta quá chú trọng đến hình ảnh của chính mình với vai trò chuyên môn, ta có thể đang liên hệ với người khác qua lớp mặt nạ của nghề nghiệp. Thực sự chính ta với tư cách là một con người đang có mặt, hay chỉ là một y tá, bác sĩ., luật sư, giáo viên đang lên tiếng một cách máy móc theo chức trách nghề nghiệp?

Có khi sự giao tiếp giữa người với người trong lĩnh vực này còn tệ hơn Các bạn đã bao giờ chứng kiến một vị bác sĩ không buồn nghe bệnh nhân khai bệnh, và rất tiết kiệm lời han hỏi dù mới đầu buổi khám bệnh? Tôi đã không ít lần chứng kiến những cảnh này trong bệnh viện công và cả trong phòng khám tư. Một buổi chiều nọ tôi đi cùng một người bạn là bác sĩ ở tỉnh lẻ đưa một người thân, mắc một căn bệnh tim mạch nghiêm trọng đến phòng khám của một vị bác sĩ giáo sư chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn. Vì ở xa, chúng tôi vào muộn hơn nên có số phiếu hẹn khám cuối cùng của ngày hôm ấy. Sau khi chờ rất lâu mới đến lượt, người bạn là bác sĩ (vốn là học trò cũ từ xưa, chắc thầy không nhớ) đưa người thân của tôi vào khám. Tôi ngồi ở ngoài và có lẽ đến khi ấy vị bác sĩ đã quá mệt mỏi nên rất tiết kiệm lời. Ông ta nghe khai bệnh và hỏi không quá 3 câu với vẻ gắt gỏng, rồi lập tức ghi đơn cho thuốc, không thèm liếc mắt đến những hồ sơ kết luận bệnh án trước đó. Ra về người thân của tôi rất buồn rầu. Không phải vì tiền khám bệnh và thuốc mua tại đó rất đắt, nhưng thực sự người bệnh cảm thấy mình bị coi thường, không được giúp đỡ, trấn an khi vị bác sĩ ấy đang có mặt, và mất cả niềm tin vào cái gọi là “lương y như từ mẫu” của vị giáo sư bác sĩ đó.

sadness
Phải chăng ta đang sử dụng vai trò nghề nghiệp của minh như một cách tránh giao tiếp liên hệ với người khác theo nghĩa từ trái tim đến trái tim?

Một tình huống khó khăn khác là khi ai đó đang làm gì sai quấy, phạm pháp hay thiếu đạo đức, họ đang làm một điều gì khiến người khác bị tổn hại và đau khổ hay chính họ cũng đau khổ. Khi chúng ta tin rằng ta đúng và người khác sai, chúng ta sẽ phân hóa, phân cực, và rơi ngay vào cái bẫy của thói quen tự cho mình là chính trực, là đạo đức. Chính cách suy nghĩ này đã ngăn trở ta đặt mình vào hoàn cảnh của người và cảm thông với họ. Ví dụ, một người ăn cắp một số tiền của ta, ta có tìm hiểu lý do nào thúc đẩy anh ta làm như thế? Để tiêu xài thỏa thích, hay để mua thuốc cho đứa con bị ốm nặng…?

Thế thì chánh niệm có nghĩa là thụ động và để cho người khác tiếp tục đớn đau, hay tiếp tục gây ra rắc rối khó khăn trong cuộc đời họ? Tất nhiên là không!

Chánh niệm có vai trò vô cùng quan trọng vì chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại.. Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại. Trong số các đặc tính của chánh niệm, xin nêu ra ở đây:

Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã
Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi. (Thích Nhất Hạnh)

Theo Sunada, chánh niệm phải bắt đầu bằng sự tôn trọng nhân phẩm và lý luận của người khác. Như thế có nghĩa dù cho ta rất không đồng tình với việc làm của họ, ta vẫn phải cố gắng để hiểu xem tại sao họ làm như thế và hoàn cảnh nào đưa đẩy họ đến đó. Có nghĩa là tạm dừng quan điểm của mình và thực sự hiểu hoàn cảnh của người ta- không chỉ bằng trí óc mà bằng trái tim.

Có mặt trong chánh niệm cũng có nghĩa là loại bỏ những động cơ vị kỷ của ta đi. Hay nếu ta không thể làm được như thế, ít nhất ta có thể cố gắng tránh không dùng đến chúng như những tấm kính lọc qua đó chúng ta nhìn vào và xem xét hoàn cảnh, vấn đề của một người khác. Như thế cũng dẹp bỏ những nỗi sợ hãi của chúng ta. Cái gì đã ngăn cản ta mở lòng ra với người khác? Ta sợ mình bị tổn thương chăng? Hay ta sợ mắc phải sai lầm về nghề nghiệp? Thực sự, cái gì dựng lên một bức tường ngăn cách ta và người mà cơ bản rất giống ta?
giadinh

Tất nhiên có những lúc điều tốt nhất ta phải làm là bắt tay hành động trước khi có thêm những tổn hại nặng nề hơn. Ta cần làm việc này theo cách nào gây ra ít tổn hại nhất cho người trong cuộc, có liên quan. Và có lẽ ta cần hành động mạnh đối với người đó để ngăn cản họ không gây thêm điều xấu tổn hại nào hơn. Nhưng trước hết ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh, thân phận của người ấy trong chốc lát, để suy nghĩ và hiểu người ta hơn.

Và trên hết, chánh niệm là kiên nhẫn. Phải thừa nhận rằng mọi thay đổi đều cần thời gian, và ta không thể bắt sự việc vận hành theo thời gian biểu của ta. Và có một số sự việc xảy ra vượt quá dự kiến và khả năng thay đổi của ta như thường thấy. Chẳng hạn, ta không thể bắt hoa nở theo ý muốn; có khi hoa chẳng nở mà còn héo úa. Nhưng chúng ta có thể vun xới tạo điều kiện tốt cho cây tốt và hoa nở thắm tươi. Như thế ta nên bón phân cho đất, cho cây hoa có nước và ánh sáng, dưỡng chất… Rồi ta kiên nhẫn chờ đợi…

Trở lại với sự có mặt như một tặng phẩm mà Thiền sư Nhất Hạnh đã nói. Phải chăng ta hãy luôn chánh niệm về sự có mặt thực sự của mình bên người khác trong từng giây phút, trong mỗi hoàn cảnh và vị trí. Ta cho đi sự có mặt trọn vẹn của ta khi đang đứng, ngồi ở đâu, làm việc gì với một hay nhiều người khác. Ta ngồi ở bàn, ăn một bữa cơm bình thường của gia đình. Ta đang chăm chú nghe một người thân giải bày tâm sự. Ta đang đứng trong lớp học giảng bài cho học sinh, hay đang bên giường bệnh nhân… Dẫu trong vai trò nào, ta cũng có thể dâng tặng sự có mặt của ta theo cách vun xới cây hoa, cho ánh sáng, nước và dưỡng chất… Và tiền đề quan trọng hơn cả, ấy là hãy rộng mở lòng mình, dẹp bỏ những thành kiến, nghi kỵ và trao tặng trái tim chân thực dễ bị tổn thương của chính ta cho người khác.

Huỳnh Huệ

Bagan – Myanmar

Kinh đô cổ đại Bagan
Kinh đô cổ đại Bagan

Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa. 

Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi. 

Chùa Shwezigon
Chùa Shwezigon

Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.

Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.

Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu. 

Đền Anada
Đền Anada

Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…

Loan Sabaru

Chào Mừng Ngày Thánh Patrick

st-patrick1

st-patrick2

Chào các bạn,

Cuối tuần lễ vừa rồi rất nhiều nơi trên thế giới có nhiều cuộc diễn hành và lễ hội, ở khuôn viên các trường đại học lớn, các công viên công cộng, tại Mỹ, Canada, Úc, Anh và New Zealand, để chào mừng Ngày Thánh Patrick, mà ngày chính thức là hôm nay, 17 tháng 3, 2009.

Đây là một vài hình ảnh của ngày thánh Patrick tại New Haven Green, trường đại học Yale, Connecticut, USA. Chúng ta cùng tìm hiểu về ngày thánh Patrick nhé.

Ngày Thánh Patrick

Ngày Thánh Patrick vào 17 tháng 3, hay thường được gọi bông đùa là ngày Anh chàng Ailen, là lễ hội hàng năm tưởng nhớ thánh Patrick, thánh hộ mệnh của xứ Ailen (Ireland) và người Ailen. Đây là ngày quốc khánh của Ailen. Ở các nơi khác trên thể giới, ngày 17 tháng 3 là ngày nghỉ lể chính thức ở Montserrat, và là ngày lễ tôn giáo ở Anh, Mỹ, Úc và New Zealand.

st-patrick3

st-patrick4

Lịch sử Ngày Thánh Patrick

Thánh Patrick sinh năm 385 và mất năm 461. Là người gốc Anh, ông bị bắt làm nô lệ ở Ailen khi mới 16 tuổi, ông trốn thoát, trở về Anh với gia đình, và sau đó quay lại Ailen để truyền giáo, và cải hóa Ailen thành một nước theo đạo Thiên Chúa. Tới thế kỷ thứ 8, ông thành vị thánh hộ mệnh của Ailen.

Tới thế kỷ mười bảy, ngày 17 tháng 3 được chọn làm ngày lễ chính thức để tưởng nhớ thánh Patrick trong giáo hội Công giáo La-mã. Ngày lễ này thường rơi vào mùa chay (Lent) là mùa lễ cầu nguyện, ăn chay và sám hối, chuẩn bị cho lễ phục sinh của chúa Giê- su. Nếu ngày Patrick rơi vào ngày thứ sáu, việc cấm ăn thịt là bắt buộc và chỉ có giám mục mới có quyền cho phép ngoại lệ. Tùy theo năm, ngày lễ Patrick thực tế đôi khi cũng có sự thay đổi nếu ngày này trùng với các ngày lễ thánh khác trong luật Công giáo La-mã.

st-patrick5

Màu xanh Ailen

Rất dễ nhận thấy màu xanh Ailen tràn ngập trên con người Ailen và đất nước Ailen trong các dịp lễ hội– quần áo, cờ, tóc giả, giải bóng đá, thể hiện niềm tin, hy vọng. Nhưng không phải ai cũng biết rằng tất cả màu xanh đó bắt đầu từ ngày lễ thánh Patrick.

st-patrick61

Ngày xưa, thánh Patrick đã dùng cây “cỏ ba lá” để giải thích ý nghĩa của Chúa Ba Ngôi (Cha, Con và Thánh thần) cho những người Ailen khi ông truyền đạo. Dọc theo lịch sử Ailen, cụm từ “Mặc màu xanh” đã trở nên rất phổ biến, có nghĩa là mặc, trang điểm “màu xanh Ailen”, “cỏ ba lá” (Shamrock) trên quần áo đầu tóc, thể hiện tình yêu dân tộc hay niềm tin tôn giáo trong người Ailen. Sự tràn ngập “cỏ ba lá”, màu xanh Ailen, và các nét văn hóa Ailen, là điểm nhấn rõ nét trong lễ thánh Patrick trên toàn thế giới.

Chúc các bạn một ngày xanh Ailen. 🙂

Nguyễn Minh Hiển

Lễ hội Té nước

Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan
Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan

Khác với Tết Nguyên Đán của Việt Nam rơi vào tháng giêng âm lịch, Tết Nguyên Đán của một số quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á, gọi là Chol Chnam Thmay ở Campuchia, Songkran ở  Thái Lan, và Bunpimay ở Lào, rơi vào tháng 4 Dương Lịch hàng năm, kéo dài 3 ngày–từ 13/4 đến 15/4. Đây là Tết theo Phật Lịch do ở Campuchia, Thái Lan, Lào, Đạo Phật từ lâu đã trở thành quốc đạo.

Trong ngày Tết cổ truyền này, người ta tổ chức lễ hội té nước để cầu may, bình yên cho cả năm. Lễ hội này mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc, thanh khiết hóa cuộc sống của con người.

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức dội nước lên người nhau. 

Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau
Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau

Tết té nước Songkran của Thái Lan mang nhiều tính chất cộng đồng. Mọi người dùng tất cả vật dụng chứa được nước thi nhau té nước vào nhau. Bất kể là ai đều có thể té nước mà không sợ bị mắng và té nước càng nhiều, năm mới càng gặp may mắn, thành đạt. Ngoài té nước, người Thái còn bôi bột mì lên mặt, lên đồ vật để trừ tà ma, xua đi rủi ro trong cuộc sống. Hoàng cung Thái và chùa Vàng những ngày này càng thêm lộng lẫy, đông vui bởi người dân sẽ lên chùa dự lễ cầu bình an cho năm mới, hoa tươi được treo khắp nơi. 

Bên cạnh đó, không khí đón Tết cổ truyền của Campuchia tưng bừng và náo nhiệt không kém. Không khí vui nhộn, đèn hoa sáng rực ở các chùa và khắp các ngả đường dẫn đến Hoàng Cung. Thủ đô Phnôm Pênh, nhà nhà treo đèn kết hoa lộng lẫy, người dân tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố lễ té nước, bôi bột màu…Trước những ngôi chùa, mọi người đắp những núi cát nhỏ với mong muốn xây dựng những điều tốt đẹp.

Một cảnh té nước trong Tết Lào tại Luông Pra Băng
Một cảnh té nước trong Tết Lào

Ở Lào, vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để sức vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa. Để tỏ lòng tôn kính, người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất. Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Tục lệ té nước trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành.

Loan Subaru

Brunei

Brunei

Negara Brunei Darussalam, thường được gọi là Vương quốc Hồi giáo Brunei hay đơn giản là Brunei, là một nước nằm trên đảo Borneo, ở Đông Nam Á. Nước Brunei giàu dầu lửa và khí gas, một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh. Về mặt chính trị và chính phủ: người đứng đầu nhà nước và chính phủ Brunei là Vua Hassanal Bolkiah.

Theo tiếng Malay, Brunei Darussalam có nghĩa là Nơi ở của hoà bình. Diện tích toàn đất nước là 5.765 km2, dân số khoảng 380.000 người, được hình thành cuối thế kỷ 14. Nằm lọt thỏm giữa đảo Borneo của Malaysia và nhìn ra biển Đông, Brunei có trên 75% diện tích là rừng cây nên thành phố và rừng gần gũi, hài hòa. Người ta có lý khi ví Brunei là “hòn ngọc xanh” của Đông Nam Á. Không có những tòa nhà chọc trời, không có những quán cóc bên đường, không có bóng một chiếc xe máy hay xe đạp nào, rất ít thấy người rảo bộ trên đường phố… Brunei Darussalam thật yên bình đúng với tên gọi của nó.

Một trong những ấn tượng đầu tiên ở Brunei là giao thông. Thành phố toàn xe hơi (thống kê: mỗi gia đình bình quân sở hữu ba xe hơi!). Tuy nhiều xe hơi và chạy với tốc độ khá cao, chủ nhân của những chiếc xe không bao giờ tranh cướp đường, không một tiếng còi xe, và họ kiên nhẫn chờ đợi để đến lượt rẽ vào phần đường của mình. Khi bạn muốn qua đường, họ sẵn sàng dừng lại, cười rất thân thiện, ra hiệu rất lịch sự và nhường đường cho bạn.

Tuy nhiên, vì quá nhiều xe hơi, nên rất ít xe bus và taxi (trung bình chỉ có 50,000 chiếc taxi trong toàn Brunei). Do đó, rất khó để bạn có thể đón một chiếc taxi khi cần. Tôi may mắn có dịp đến Brunei vào kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán năm 2008. Ngày đầu tiên, loay hoay mãi không bắt được taxi, chờ mãi mới gặp được và hỏi một người đi đường: “Làm thế nào để bắt được taxi?” (How can I catch a taxi?), thì ông ấy cười và trả lời rất hóm hỉnh: “Bạn phải chạy theo để bắt được taxi” (You have to run to catch it!!!). Và sau đó…ông ấy dùng điện thoại công cộng để gọi taxi giúp tôi! 🙂

Thánh đường Hồi giáo
Thánh đường Hồi giáo

 Vì Đạo Hồi là tôn giáo chính thức của Brunei, Brunei có rất nhiều thánh đường Hồi giáo (với hơn 100 thánh đường), với kiến trúc đặc trưng là mái hình chóp với hai màu trắng – vàng. Các thánh đường rất lộng lẫy, các chóp mái dát vàng – đỉnh chóp thường bằng vàng ròng.

Nhiều người biết rõ là trong tháng Ramadhan những người theo đạo Hồi không ăn, không uống từ khi mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Vì thế nếu bạn là người nước ngoài có mặt ở đây vào tháng này, để tôn trọng họ, bạn nên tránh ăn uống trước mặt họ. Kết thúc tháng Ramadhan là bắt đầu bốn ngày lễ truyền thống được tổ chức hàng năm của Brunei gọi là Hari Raya Aidilfitri. Ngày đầu tiên của Hari Raya là sự xum họp của con cháu trong gia đình, họ hàng. Sang ngày thứ hai gọi là ngày Mở cửa (Open house), mỗi gia đình đều chuẩn bị các món ăn dân tộc để thết đãi khách và bạn bè đến “xông nhà”. Tuy nhiên khi đến nơi bạn nhớ quan sát xem đâu là bàn ăn dành cho phái nữ, đâu là bàn ăn dành cho phái nam, vì theo luật Hồi giáo, trong các bữa tiệc công cộng nam nữ không được ngồi ăn chung cùng bàn (kể cả trong tiệc cưới cũng vậy). Cũng trong ngày thứ hai của lễ này, Hoàng cung Brunei bắt đầu mở cửa trong ba ngày để đón tất cả mọi người vào thăm. Khách thăm có vinh dự được bắt tay Quốc vương, Hoàng hậu cùng các thành viên trong gia đình Hoàng gia…

Kampong Ayer
Kampong Ayer

Nếu đến Brunei mà không đến thăm Kampong Ayer (Water Village: Làng nổi) – nơi được mệnh danh là “Venice của Phương Đông” – thì có nghĩa bạn chưa bao giờ đến Brunei. Chỉ 10 phút đi bằng thuyền máy từ bất cứ bến thuyền nào trên sông, bạn sẽ tới một ngôi làng trên mặt nước khá rộng và nổi tiếng thế giới, nơi có 600 năm tuổi với gần 500 căn hộ , khoảng 30.000 cư dân sinh sống. Trường học, thánh đường, bệnh viện, cơ quan hành chính… cũng là những nhà nổi. Trước mỗi nhà đều có cầu tàu cho thuyền cập. Đây thực sự là biểu tượng của truyền thống văn hóa lâu đời và là niềm tự hào của người dân Brunei.

Loan Subaru