Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không” – Nhất Tuấn & Trần Thiện Thanh

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không” của Thi sĩ Nhất TuấnNhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

Thi sĩ Nhất Tuấn tên thật là Phạm Hậu. Quê ở Ninh Bình nhưng sinh trưởng tại Nam Định.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam và định cư tại Đà Lạt. Ông gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1955. Sau khi tốt nghiệp ra trường ông phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam cho đến 30/4/1975.

Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng:

– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Đông Hà & Huế (1962)
– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Nha Trang (1966)
– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Sài Gòn (1968)
– Giám đốc Nha Nghiên Cứu Kế Hoạch (1970)
– Giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (1971)
– Tổng Giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã (1974)

Thi sĩ Nhất Tuấn.
Thi sĩ Nhất Tuấn.

Các tác phẩm của ông đã xuất bản:

– “Truyện Chúng Mình” (gồm ba tập thơ, tự xuất bản 1959-1963)
– “Truyện Chúng Mình” (tái bản trọn bộ năm tập, Khai Trí, 1964)
– “Đời Lính I, II” (tập truyện, Khai Trí, 1965)

Hơn 40 bài thơ trong tập thơ “Truyện Chúng Mình” đã được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc từ trước 1975 cho đến nay.

Hiện ông đang định cư tại Thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một trong những nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng nhất giai đoạn trước 1975. Một số bút hiệu khác của ông là Anh Chương (tên con trai ông), Trần Thiện Thanh Toàn (em trai ông, đã tử trận), Thanh Trân Trần Thị. Ông còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường và được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng (“tứ trụ nhạc vàng”), ba người còn lại là: Hùng Cường, Duy Khánh, Chế Linh.

Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958, sau khi học xong thì làm giáo viên trung học. Sau đó, ông tốt nghiệp trường Hạ sĩ Quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Ông cũng làm việc tại Ðài Phát Thanh và Truyền Hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của đài và sau năm 1968 còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.

Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm ông và 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi (“nữ hoàng” của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn). Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thu băng tên là “Tiếng Hát Đôi Mươi”.

Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh VTVN và Đài Truyền Hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay diễn chung với ca sĩ Thanh Lan.

Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Đây là một tiết mục thu hút nhiều khán giả xem TV thời kỳ đó và loạt nhạc cảnh này đã được chuyển thành phim với tên “Trên Đỉnh Mùa Đông”.

Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị nhà nước đương thời cấm hoạt động. Năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại. Nhưng ông từ chối làm việc dưới chế độ mới mặc dù ông vẫn soạn nhạc.

Năm 1993, ông di cư sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, ODP. Sau một thời gian sống tại Mỹ thì ông kết hôn với nữ ca sĩ Mỹ Lan.

Tại Mỹ ông lập hãng đĩa riêng “Nhật Trường Productions” và đồng thời cộng tác với Trung Tâm Asia, Trung Tâm Làng Văn, Mây Productions, Hoàn Mỹ Productions…

Hai chủ đề lớn trong sáng tác của Trần Thiện Thanh là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông không có thù hận, gay gắt, kích động hoặc u uất, bi thảm mà thường là trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh qua đời ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam do bệnh ung thư phổi.

nhattuan2

Thi phẩm “ ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không” (Thi sĩ Nhất Tuấn)

Chỉ tại anh, nên hôm qua về trễ
Cứ “phim hay, tài tử trứ danh hoài
Anh quảng cáo và ‘tô mầu’ giỏi thế”
Hỏi ai còn nỡ khất hẹn ngày mai

Chỉ tại anh nên trờì thu đổi gió
Mimosa … phủ kín mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ dùm đi đứng cười mãi… ô kìa

Chỉ tại anh, em về nhà không ngủ
Trằn trọc hoài, thao thức suốt một đêm
Và bỗng thấy hình như là thoáng nhớ
Đến một người không biết lạ hay quen

Chỉ tại anh nên hôm nay dậy muộn
Sáng thứ hai bỏ mất một giờ đầu
Bốn consigne (cô giáo già ác gớm
Còn bắt em chép phạt mấy trăm câu!)

Ngày thứ tám, em vào ngồi chép phạt
Mấy trăm câu mà viết mãi không xong
Bà giám thị cầm giấy xem chỉ thấy
Chúa nhật này “Trẫm”… nhớ… Ái khanh không
(Truyện Chúng Mình II. 1964)

nhattuan_CNNTNAKK

Thi khúc “Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không” (Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh)

Chỉ tại anh nên hôm qua về trể
Cứ phim hay tài tử trứ danh hoài
Anh quảng cáo mà tô màu giỏi thế
Hỏi ai còn đành khất hẹn ngày mai

Chỉ tại anh nên trời thu đổi gió
Mimosa phủ kính mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ giùm đi đừng cười mãi ô kìa

Chỉ tại anh nên hôm nay về muộn
Cứ bắt em gặp mãi cứ hẹn hoài
Sáng hôm mai em có giờ lý hoá
Còn có thêm một giờ triết khô khan

“Hoàng Đế” hỡi nghe giùm lời rất thật
“Thiếp” yêu “Vua” và “thiếp” rất ngu ngơ
Nên lỡ mà tuần tới nơi hẽm vắng
Chúa nhật này “trẫm” nhớ “ái khanh” không?

Chỉ tại anh nên hôm nay dậy muộn
Sáng thứ hai bỏ mất một giờ đầu
Bốn công-xin cô giáo đẹp ác thế
Còn bắt em chép phạt mấy trăm câu

Ngày thứ tám em vào ngồi chép phạt
Mấy trăm câu mà viết không xong
Ông giám thị cầm giấy xem chỉ thấy
Chúa nhật này “trẩm” nhớ “ái khanh” không?

Chủ nhật này “trẩm” nhớ “ái khanh” thôi!
Chủ nhật này “trẩm” nhớ “ái khanh” thôi!

Dưới đây mình có các bài:

– Đọc thơ Nhất Tuấn nhớ tuổi học trò
– Nhớ Về Trần Thiện Thanh
– Trần Thiện Thanh và Tuổi Trẻ VN – Suy nghĩ của một du học sinh Việt Nam

Cùng với 3 clips tổng hợp thi khúc “Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không” do các ca sĩ đương thời diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nhattuan_ĐB

Đọc thơ Nhất Tuấn nhớ tuổi học trò

(Nguyễn Cang)

Lần dỡ lại những dòng thơ cũ trước 75, tôi bắt gặp những bài thơ của Nhất Tuấn, gợi lại biết bao kỷ niệm của tuổi học trò. Nói tới Nhất Tuấn là nói tới mùa hè, mùa chia tay, ly biệt trước cổng trường với bao lưu luyến nói sao cho vừa! Ai cũng có một thời để mơ để nhớ, nhớ cái tuổì vụng dại thơ ngây của tuổi học trò mà NT gọi là “hoa học trò”, tuổi vừa chớm yệu, với vẻ rụt rè muốn nói tiếng yệu mà sao e ngại, rồi gói tâm tình vào lá thư viết trên giấy mỏng pelure , đem ép vào vở không biết ngày nào mới đủ can đảm trao cho em! Tình đầu làm ta xao xuyến thẫn thờ như ngây như dại với bao mộng ước chứa đầy ắp trong tim:

Bây giờ còn nhớ hay không
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa

Nhắc tới mủa hè là nhắc tới chia tay,lòng bâng khuâng không biết có còn gặp lại, hay đó là giây phút ly biệt, nhứt là các bạn trai tới tuổi quân dịch phải xếp bút nghiêng theo việc đao cung, cho nên cảnh nầy thật bịn rịn luyến lưu không sao kể xiết. Bên cạnh đó còn có những âm thanh tạo thành điệu nhạc làm cảnh chia ly thêm ảo não, đó là tiếng ve sầu rên rĩ như cứa miết vào không gian vô tận của buổi trưa hè oi ả.Nhất Tuấn đã khéo léo diễn tả tâm trạng nầy qua những vần thơ trác tuyệt:

Bây giờ còn nhớ hay không
Anh đem cánh phựơng bôi hồng má em
Để cho em đẹp như tiên
Em không chịu, sợ phải lên trên trời

———————————

Hôm nay phượng nở huy hoàng
Nhưng từ hai đứa lỡ làng duyên nhau

Rưng rưng phượng nở trên đầu
Tìm em anh biết tìm đâu bây giờ
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa
Gửi vào đây một bài thơ cuối cùng

Bây giờ còn nhớ hay không
Đến người em nhận làm chồng? mà thôi.
———————————
(Nhất Tuấn- Hoa học trò)

Câu “Bây giờ còn nhớ hay không” diễn tả tâm trạng hoài cổ, nhắc cho người xưa nhớ lại… ta đang chờ đợi tác giả đưa ra câu trả lời, thì đây câu tiếp theo là “Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa” ta nhận ra ngay đó chính là câu trả lời, nhắc cho người yêu nhớ kỷ niệm hai đứa hẹn hò ngày xưa cũng là nhắc chung cho những ai đã từng có những kỷ niệm đáng yêu đáng nhớ của tuổi học trò. Hoa phượng đã nở rộ trên sân trường làm ta nhớ lại mùa thi, mùa chia tay nghỉ hè, của cái thuở xa xưa ngày ấy…

Lời thơ giản dị, từ ngữ chọn lọc, kích thích sự hồi tưởng trong lòng mỗi người chúng ta. Từ ngữ “rưng rưng” đọc lên nghe lòng xúc động mãnh liệt, làm xao xuyến bâng khuâng.

Ai ngờ tình yêu dang dở làm hai đứa xa nhau, bây giờ em ở đâu? Tím em nơi nào? Tác giả cất tiếng than trong tuyệt vọng khi mà hoa phượng đã nở rộ, báo hiệu mùa hè đã đến mà người xưa sao không thấy về.Tác giả chỉ còn cách làm bài thơ cuối cùng bày tỏ tâm sự, gởi đến cho em đọc mà chắc gì em đọc, có lẽ em đã quên rồi chuyện chúng mình, giờ em chỉ còn biết chồng em và niềm hạnh phúc riêng tư mà thôi?

Đời học sinh có biết bao vui buồn nói sao cho hết, ngày nào còn cấp sách đến trường là ngày ấy còn lo học và trái tim còn thổn thức, bâng khuâng. Đôi khi chờ em trước cổng trường, nép vào tường vôi bên kia cổng hoặc đứng xa bên kia đường đợi em, hẹn em đi chơi ngày chủ nhật.Đôi khi người yêu đến chậm, chàng trách móc giận hờn, đến khi gặp nhau thì lòng nghe rộn rả lâng lâng:

Chúa nhật tuần nào anh cũng đợi
Âm thầm như những tháng năm dài
Chờ em nhiều lúc anh thẩm hỏi
Mình đứng hoài cổng để đón ai?

—————————-

Hai đứa sánh vai đi bẽn lẽn
Người xoắn tay, kẻ cắn khăn thêu
Sợ thiên hạ thấy nên thèn thẹn
Ngớ ngẫn làm sao lúc mới yêu.
(Nhất Tuấn-Kỷ niệm buồn)

Thơ Nhắt Tuấn, thập niên 60, được nhiều người ưa chuộng nhất là trong học sinh sinh viên. Thời ấy không phải không có người làm thơ tình, trái lại có rất nhiều người đã nổi danh từ lâu như Xuân Diệu, Nguyễn Bính,Lưu trọng Lư, Vũ hàng Chương, Đinh Hùng… nhưng Nhất Tuấn lại được các bạn trẻ thời đó ái mô một cách đặc biệt. Hầu hết các cô cậu đang tuổi học trò đều chuyền tay nhau chép nhừng bài thơ yêu của Nhất Tuấn bỏ vào trang sách để đọc cho bạn bè nghe, dần dần trở thành một phong trào nghe và đọc thơ NT. Bên cạnh đó ta còn gặp Nguyên Sa cũng được học sinh và sinh viên ngưỡng mộ với những bài thơ tình thật lãng mạn.

Tập hợp những bài thơ hay của Nhất Tuấn được in thành sách “Truyện Chúng Mình”, tổng cộng 5 quyển, và còn tiếp tục ở hải ngoại. Trong những bài thơ nói về tình yêu tuổi học trò, tôi xin hân hạnh giới thiệu quí bạn đọc bài “Chủ nhật nầy trẫm có nhớ ái khanh không?” thật lãng mạn

Chủ Nhật Này Trẩm Nhớ Ái Khanh Không

(thơ Nhất Tuấn)

Chỉ tại anh, nên hôm qua về trễ
Cứ “phim hay, tài tử trứ danh” hoài
Anh quảng cáo và tô mầu giỏi thế
Hỏi ai còn đành khất hẹn ngày mai

Chỉ tại anh nên trời thu đổi gió
Mimosa phủ kín mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ dùm đi đứng cười mãi ô kìa

Chỉ tại anh nên hôm nay dậy muộn
Sáng thứ hai bỏ mất một giờ đầu
Bốn “con sin” (cô giáo già ác gớm
Còn bắt em chép phạt mấy trăm câu!)

Ngày thứ tám, em vào ngồi chép phạt
Mấy trăm câu mà viết mãi không xong
Ông giám thị cầm giấy xem chỉ thấy
Chúa nhật này trẫm nhớ ái khanh không?

Chúa nhật này anh có nhớ em không?
Chúa nhật này trẫm nhớ ái khanh không?

Bài thơ thật bình dị dễ thương, tả mối tình học trò chơn chất pha một chút lãng mạn. Tình yêu thể hiện thật tế nhị diễn tả hết niềm vui và hạnh phúc của hai tâm hồn ngây thơ trong sáng.Hai trẻ đi xem phim về khuya, lá mimosa rơi nhẹ trên làn tóc rối em thơ, nên em bắt đền vì anh không chịu gỡ dùm mà chỉ biết nhìn cười. Từ ngữ “bắt đền” thật dễ thương, cò ý trách móc vừa tỏ dấu yêu thương một cách kín đáo mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu hết ý nghĩa thầm kín đó.

Hai từ ngữ “trẫm” và “ái khanh” được sử dụng một cách khéo léo, tác giả sử dụng phép ẩn dụ bằng cách thay thế ý nghĩa từ ngữ “vua” và “ái khanh” bằng nghĩa của từ “anh” và “em”. (rồi so sánh tương đồng). Tới đây xin mở dấu ngoặc để tra cứu tự điển về cách gọi những từ nầy để làm rõ ý tác giả muốn diễn tả.

[Trước hết là định nghĩa cùa học giả Đào duy Anh; thì “ái khanh”: chỉ người yêu thương (xưa, trai gái gọi nhau là ái khanh, sau chỉ dùng cho con trai gọi con gái). Câu định nghĩa của Đào duy Anh có 2 phần: phần 1 nói hồi xưa, phần 2 nói bây giờ. Tôi rất đồng ý ở phần 2, còn phần 1, tôi có thắc mắc nhỏ là có chắc rằng hồi xưa trai gái gọi nhau bằng “ái khanh” không? Bây giờ tôi chỉ thấy trai gọi gái bằng tiếng “ái khanh” mà không nghe gái gọi trai bằng ái khanh. Như vậy Nhất Tuấn dùng từ chính xác vì người con gái gọi người mình yêu là “trẫm” và xưng mình là “ái khanh”. (phép ẩn dụ được sử dụng ở đây, “trẫm” không phải là vua thiệt, “ái khanh” không phải là vợ yêu quí của “vua”. Trẫm và ái khanh chỉ “anh” và “em” mà thôi)). Tác gả Đào duy Anh xác nhận: nay thì chỉ còn một cách gọi (trai gọi gái bằng ái khanh). Người, đồng thời và ngang tài với ông Đào Duy Anh, là gs. Bửu Kế và gs. Bửu Cầm, cả 2 ông nầy đều là những bậc thâm nho từng giảng đạy cho con cháu quan triều đình nhà Nguyễn.

Ông Bửu Kế định nghĩa ái khanh khác với Đào duy Anh, ái: là yêu; khanh là tiếng dùng để gọi nhau. – Từ đời Tần Hán về sau vua gọi tôi là khanh,hai người ngang hàng gọi nhau là khanh. Đời Tuỳ ,đời Đường về sau chữ khanh dùng để gọi kẻ có tước vị thấp hơn. Vợ chồng đều có thể gọi nhau là ái khanh.( từ điển Hán Việt từ nguyên, Bửu Kế, trang 19). Tác giả Bửu Kế chỉ nói ” vợ chồng có thể gọi nhau là ái khanh” mà không xác định thời điểm xưa, nay.Định nghĩa nầy cũng còn thiếu một ý là:ngày nay con trai gọi con gái mình yêu bằng 2 tiếng “ái khanh” thật lãng mạn.. Còn” tự điển tầm nguyên” của gs. Bửu Cầm thì xuất bản sau 1975, lúc thầy về hưu, thầy để hết tâm sức để hoàn thành cuốn nầy để lại cho hậu thế.Rất tiếc tôi không có trong tay cuốn nầy nên không rõ thầy định nghiã như thế nào ..

Còn giáo sư Nguyễn Lâm thì định nghĩa “ái khanh” (“Tự điển từ và ngữ VN” trang 20,nhà xuất bản tổng hợp, năm 1998) như sau,ái :yêu; khanh: quan to.Từ vua dùng để gọi các phi tần (cũ). Người thủ vai vua trong vở tuồng thiết tha gọi ” Ái khanh ơi!”. Định nghĩa nầy thì quá đơn sơ và thiếu sót.

Theo suy nghĩ của tôi thì “ái khanh”: có nguồn gốc từ trong phủ chúa của triều đại vua quan nước ta, cũng bắt chước cách tuyển chọn cung nữ làm vợ vua bên Trung Hoa. Biết bao cô gái đẹp được tuyển chọn để làm vợ vua, có người chỉ “làm vợ” được 1, 2 lần trong cả đời ở phủ chúa. Với hàng trăm người đẹp như thế mà muốn được vua “ân ái” là cả một vấn đề, bắt đầu từ “địa vị” nhỏ lần lần lên tới “vợ chánh” phải trải qua biết bao gian nan khổ ải. Ví trí thấp nhất là tài nhân, kế đó là chiêu nghi, hoàng phi,hoàng hậu, khi già thì thành mẫu hậu, hoàng thái hậu. Ở cung đình Việt nam thì ta tạm xếp vào 3 loại chính cho những bà vợ vua: hoàng hậu, cung tần (bao gồm các loại cung phi), tài nhân. Nhưng xếp theo thứ tự yêu quí thì bà có địa vị thấp nhất thường đựoc vua sủng ái nhiều nhất.Sau một lần nhà vua được thoả mãn ái ân, thì lập tức ngày hôm sau có quyết định “thăng chức” nàng tài nhân lên hàng “phi”, rồi có thể trở thành quý phi (người yêu quý của vua, vợ chánh của vua). Từ cao xuống thấp, theo địa vị, có tên gọi tình tứ khác nhau: ái hậu, ái phi, ái khanh. Từ “ái khanh” nghe nó lãng mạn hơn ái hậu hay ái phi. Tất cả các nàng kể trên đều là vợ của vua cả, nhưng một bà là chính còn các bà còn lại là bình thứ, rồi thứ, vì vậy mà có tên gọi khác nhau cho từng vị trí của các bà.

Ngày nay chế độ vua chúa đã cáo chung, thiên hạ tự do gọi em nào mình yêu quí bằng từ “ái khanh” thôi!]

Trong bài thơ “Chúa nhựt nầy trẫm có nhớ ái khanh không?” nhà thơ NT ngầm so sánh “anh” như ông vua còn “em” như cung nữ, làm câu chuyện tình trở nên lãng mạn dễ yêu một cách kín đáo, tế nhị Phép ẩn dụ đã được áp dụng một cách triệt để. Kết cấu nầy làm tăng thêm ý nghĩa của tình yêu, thăng hoa như chuyện tình nơi cung cấm triều đình của vua chúa ngày xưa. Qua bài thơ nầy làm ta nhớ lại cảnh ngày xưa thầy cô giáo trường công thường phạt học trò bằng còng-sin (cấm túc), buộc học trò phải vào trường ngày chúa nhật để học bài hoặc chép bài phạt. Chỉ một số ít học trò phạm lỗi nặng mới bị cách phạt nầy mà thôi. Ở đây ta bắt gặp một ý khá ngộ nghĩnh là cô bé vì chỉ nghĩ tới người yêu nên bài phạt không chép mà chép một câu duy nhất “Chúa nhật nầy trẫm có nhớ ái khanh không”. Nghĩ mà tức cười cho tuổi trẻ khi mới bước chân vào tình yêu!!

Vì lãng mạn và dễ yêu quá ở những trang thơ của NT nên học sinh thời bấy giờ mê thơ của ông là vậy. Thơ của NT được các nhạc sĩ trong nước và hải ngoại phổ nhạc một cách rộng rãi nhờ đó độc giả còn thưởng thức những vần thơ hay của ông qua các bản nhạc trữ tình thật ấm áp, mộng mơ.

Song song với NT còn một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng, cũng làm thơ tình lãng mạn không kém gì NT đó là giáo sư triết học Nguyên Sa/Trần bích Lan. Nguyên Sa nguyên là giáo sư dạy triết lớp 12, ông vừa là nhà giáo vừa là nhà thơ . Những bài thơ nổi tiếng một thời là: Tháng sáu trời mưa,Paris có gì lạ không em, Tuổi 13, Áo lụa Hà Đông,v.v. Thơ của ông tuy lãng mạn nhưng không nóng bỏng, suồng sã, đam mê, khắng khít như Xuân Diệu.

Mời các bạn thưởng thức vài trích đoạn sau đây:

Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt
Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan
Hãy biến cuộc đời bằng những tối tân hôn
Nếu em sợ thời gian dài vô tận
Tháng sáu trời mưa,em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa?
Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa dầu mây ảm đạm
——————————
(Nguyên Sa/ Tháng sáu trời mưa)

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em còn có ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim
Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?
————————
(Nguyên Sa/Paris có gì lạ không em?)

Giáo sư Nguyên Sa đã sáng tác nhiều bài thơ tình thật lãng mạn, đọc thơ ông ta nghe như có từng giọt lệ tình đọng lại trong tim, sức truyền cảm thật mạnh khiền bao nhiêu học sinh trong lứa tuổi luyện thi tú tài mê mệt những bài thơ tình nầy. Thỉnh thoảng trong giờ triết ở lớp 12, ông ngâm nga vài câu thơ trữ tình lồng trong bài giảng triết học khiến học sinh vừa thích thú vừa thán phục thầy, cho nên các “cua” riêng của thầy lúc nào cũng đầy ấp học sinh luyện triết để thi tú tài 2. Thật ra thì Ngưyên Sa có khiếu dạy triết. Ông biết tóm tắt ý bài học gọn nhẹ, dễ hiểu chớ không giảng bài tràn lan như một số giáo sư triết khác. Thơ ông đậm nét trữ tình và lãng mạn nên học sinh lớp lớn và sinh viên thích thơ ông nhiều hơn thơ người khác.

Sau nầy khi ra hải ngoại, Nguyên Sa vẫn còn làm thơ nhưng đổi đề tài và chuyên về thơ lục bát, lại rất hay ở thể loại nầy. (Ông mất năm 1998, ở Nam Cali).

Thơ của Nguyên Sa cũng được các nhạc sĩ trong nước và hải ngoại phổ nhạc một cách rộng rãi nhờ đó độc giả còn thưởng thức những vần thơ hay của ông qua các bản nhạc trữ tình được các ca sĩ trình bày bằng giọng điệu thật truyền cảm, xúc động.

Trở lại những bài thơ “Tuổi học trò” của Nhất Tuấn, ta còn thấy, về sau, khi xa Đà Lạt mây mù, tác giả, trong một buổi chiều của tết tha huơng có mưa bay, ông nhớ về kỷ niệm xưa, nhớ người yêu thuở còn đi học, ông sáng tác một bài thơ tựa đề “Mưa trong kỷ niệm”, trong đó ông nhắc lại kỷ niệm xưa mà lòng bùi ngùi nuối tiếc cho một cái gì đã mất, đã vĩnh viễn qua đi. Ông vẫn thích gọi người mình yêu bằng từ “ái khanh” thật êm dịu, tình tứ như thuở nào:

Chiều mưa đó tưởng không còn gặp lại
Lần cuối cùng hai đứa lặng nhìn nhau
Có bao giờ em hiểu được anh đâu
Tình ngang trái và những lời gian dối
Trong tay nhau nhiều lần anh tự hỏi
Ái Khanh ơi ! Em còn nhớ chăng em
Bình minh hồng và những buổi chiều êm
Truyện Chúng Mình với bao nhiêu kỷ niệm
——————————————
(Nhật Tuấn/Mưa trong kỷ niệm)

Qua những dòng chữ gởi đến bạn đọc, tôi hy vọng đã cung cấp cho quí bạn đôi nét về tuổi học trong nhiều đề tài mà Nhất Tuấn đã ghi lại trong những tâp thơ Truyện Chúng Mình, những kỷ niệm chúng ta đã bỏ lại sau lưng cả chục năm rồi. Ký ức về tuổi thơ được nhà thơ Nhất Tuấn ghi lại như một món quà tinh thần đáng trân trọng, giúp chúng ta như được gặp lại hình ảnh của chính mình của những ngày còn cấp sách đến trường. Trong thời gian đi học ai cũng bận rộn học hành thi cử mong đỗ đạt cho cha mẹ vui lòng vừa tạo tương lai cho mình mai sau, và chính trong htời gian nầy phát sinh nhiều mối tình thơ mộng, có bạn được tròn duyên ước có bạn dang dỡ tình đầu bây giờ nhắc tới còn nghe bùi ngùi luyến tiếc. Trong cái luyến tiếc ấy còn đọng trong tim của những người một thời đưa đón em trước cổng trường mà nay chỉ còn là kỷ niệm…

Vài hàng về nhà thơ Nhất Tuấn: Tên thật là Phạm Hậu, sinh năm 1935 tại Nam Định Hà Nội. Năm 1954 di cư vô Nam, định cư tại Đà lạt. Ông gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1955 khoá 12. Ra trườnhg phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, giữ nhiều chức vụ như Quản Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Đông Hà- Huế (1962) rồi Đài Phát thanh Quân Đội Sài Gòn (1968),… Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã ( 1974). Công chức Tiểu Bang Hoa Kỳ (1976-1994).

Các tác phẩm đã xuất bản:

– Truyện Chúng Mình (gồm 3 tập thơ, tự xuất bản năm 1963)
– Truyện Chúng Mình tái bản toàn bộ 5 tập, (Khai Trí 1964)
– Đời Lính tập I, II (Khai Trí 1965)

Và hơn 40 bài thơ trong tập Truyện Chúng Mình được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc.

(Nguyễn Cang)

Nhạc sĩ Trân Thiện Thanh.
Nhạc sĩ Trân Thiện Thanh.

Nhớ về Trần Thiện Thanh

(Nguyễn Ngọc Ngạn)

Nói đến những sáng tác của Trần Thiện Thanh, người ta thường nghĩ ngay tới hai dòng nhạc: nhạc tình và nhạc lính. Thật ra hai dòng nhạc ấy vẫn là một, bởi cũng giống như Lam Phương hay Anh Bằng, nhạc lính của Trần Thiện Thanh chỉ là nhạc tình trong thời chiến. Anh chia sẻ tâm sự người quân nhân xa nhà, anh cảm thông nỗi niềm người tình hay người vợ đợi chờ ở hậu phương. Thế hệ mai sau sẽ thấy nhạc Trần Thiện Thanh là những trang sử viết gọn, ghi dấu một thời khói lửa trên quê hương Việt Nam.

Tôi gặp Nhật Trường Trần Thiện Thanh lần đầu tiên ở Las Vegas khi anh mới ra hải ngoại. Vì chưa quen, chưa biết tính tình anh thế nào, nên tôi chỉ bắt tay xã giao, chúc mừng anh vừa sang Mỹ định cư. Ngày ấy tôi mới lên sân khấu Thúy Nga được hơn 2 năm, nên vẫn còn là khuôn mặt mới trong làng văn nghệ. Nhưng dĩ nhiên anh vẫn coi tôi ở Sài Gòn vì băng lậu tràn ngập trong nước. Nghe tôi gợi chuyện, Trần Thiện Thanh lắc đầu cười buồn rồi bùi ngùi nói:

– Anh Ngạn ở cải tạo về mà đi được ngay, hên quá!

Tôi hiểu trong lòng anh đang mang nỗi sầu “trâu chậm uống nước đục”! Mất miền Nam, anh đang ở lứa tuổi ngoài 30. Tiếng hát Nhật Trường và dòng nhạc Trần Thiện Thanh đang độ sung mãn như dòng suối tuôn chảy chan hòa thì bất ngờ bị đứt đoạn. Rồi anh kẹt lại đến 20 năm mới có người bảo lãnh ra hải ngoại. Khoảng thời gian hai thập niên ấy là một phí phạm lớn, rất thiệt thòi cho sinh hoạt văn nghệ của anh và của những người yêu nhạc Trần Thiện Thanh. Cho nên giờ này anh ngồi trầm ngâm ưu tư cũng là phải! Trên chuyến xe đón nghệ sĩ từ phi trường vào khách sạn, anh không nói chuyện với ai, khác hẳn những nghệ sĩ chung quanh lúc nào cũng ồn ào vui đùa thoải mái. Đó cũng là live show duy nhất tôi đứng cùng anh trên một sân khấu, rồi suốt 20 năm làm văn nghệ, chẳng bao giờ tôi diễn chung với anh một lần nào nữa!

Cuối tháng 4 năm 2009, tôi nhận được lá thư của một khán giả, bà Vũ Vân Nga ở Sugar Land, Texas, có đoạn viết như sau:

“Cả gia đình và bạn bè Nga có một thắc mắc từ lâu lắm mà đợi hoài không thấy nên đành viết thư hỏi sau 25 năm đợi chờ: Lý do gì Thúy Nga không làm chủ đề Trần Thiện Thanh (Nhật Trường)? Thiết nghĩ đây cũng là thắc mắc chung của rất nhiều người Việt Nam, vậy xin trả lời trên show Paris By Night cho vui lòng mọi người.
Cám ơn chú Ngạn…”
(trích thư viết ngày 21 tháng 4 năm 2009)

Tôi không trả lời thắc mắc này trên Paris By Night là vì có một chút tế nhị giữa Trần Thiện Thanh với trung tâm Thúy Nga. Từ khi tôi cộng tác với Paris By Night, Thúy Nga đã thực hiện băng chủ đề giới thiệu sự nghiệp của hầu hết tất cả mọi nhạc sĩ miền Nam, như Phạm Duy, Lam Phương, Ngô Thụy Miên, Văn Phụng, Đức Huy, Nguyễn Hiền, Song Ngọc, Hoàng Thi Thơ, Huỳnh Anh, Cung Tiến, Tuấn Khanh, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Lê Dinh, Trường Sa, Phạm Mạnh Cương, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Xuân Tiên, Thanh Sơn, Châu Kỳ, Nguyễn Ánh 9, Quốc Dũng và Tùng Giang. Chỉ có Phạm Đình Chương không may mất sớm khi Thúy Nga chưa bắt đầu loạt video chủ đề này. Và người thứ hai là Hoàng Trọng, Thúy Nga đang chuẩn bị mời thì ông qua đời.

Ông Tô Văn Lai, chủ nhân trung tâm Thúy Nga, thường nói với mọi người:

“Giáo sư Dương Quảng Hàm viết cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu, để ghi lại đôi nét về sự nghiệp các nhà văn, nhà thơ. Thúy Nga cũng muốn làm điều này với các nhạc sĩ sáng tác, để lưu lại chút tài liệu nhạc sử cho thế hệ mai sau.”

Với chủ trương ấy, Thúy Nga đã lần lượt mời tất cả các nhạc sĩ lên sân khấu Paris By Night, mặc dầu băng chủ đề một nhạc sĩ đôi khi khó bán hơn các chương trình đại nhạc hội tổng hợp.

Mời mọi nhạc sĩ lên sân khấu Paris By Night mà thiếu Trần Thiện Thanh thì phải có lý do!

Cái lý do ấy là hai bên đã gặp nhau khoảng 4 lần, ngay từ những ngày đầu khi Trần Thiện Thanh vừa đặt chân đến Mỹ, nhưng đôi bên không đạt được thỏa thuận vì Trần Thiện Thanh đòi nhiều điều kiện khó khăn quá. Ngoài tiền tác quyền anh tính quá cao so với các nhạc sĩ khác, anh còn muốn can dự cả vào việc chọn bài bản và mời ca sĩ trình diễn.

Sau những lần gặp gỡ bất thành ấy, giao tình giữa Thúy Nga và Trần Thiện Thanh ngày càng xa cách. Nói đúng ra thì không phải riêng với Thúy Nga, mà với bất cứ trung tâm băng nhạc nào, Trần Thiện Thanh cũng chẳng thân thiện bởi bản tính anh vốn lạnh lùng, khiến nghệ sĩ gặp anh đều ngần ngại, ít dám kết thân. Cũng nên nhớ ngày ấy, chỉ có Thúy Nga là trung tâm duy nhất thực hiện băng chủ đề về các nhạc sĩ. Anh không đạt được thỏa thuận với Thúy Nga thì đâu còn trung tâm nào thực hiện cho anh!

Những năm sau này, anh ít đi show, trừ các show Hội Đoàn hay Hội Chợ Tết, mặc dầu tiếng hát Nhật Trường vẫn còn nguyên vẹn như trước năm 1975. Có ba trung tâm băng nhạc hoạt động đều đặn là Asia, Thúy Nga và Hollywood Night thì không may, anh lại cộng tác với Hollywood Night là trung tâm yểu tử đầu tiên! Anh lập trung tâm Nhật Trường, tự thực hiện vài chương trình thu hình chính những ca khúc hay nhất của mình, nhưng kết quả tài chánh thu nhập rất èo uột bởi anh đầu tư kỹ thuật sơ sài quá.

Một lần, tôi sang Cali, đi với ông Tô Văn Lai đến thăm nhạc sĩ Lam Phương sau khi ông bị tai biến mạch máu não phải ngồi xe lăn. Tình cờ tôi gặp Nhật Trường Trần Thiện Thanh và Mỹ Lan cũng vừa từ trong nhà Lam Phương bước ra. Gặp Nhật Trường thì tôi không thấy thoải mái lắm mặc dù tôi rất phục tài anh: viết nhạc hay mà hát cũng hay. Chỉ có điều vì chưa thân nên tôi vẫn giữ một khoảng cách.

Mỹ Lan vốn trước đây ở Montreal, lại gia nhập Thúy Nga cùng thời với tôi, hay gặp nhau bên Paris trong những cuốn băng đầu tiên, nên cũng khá thân. Đã lâu mới gặp lại, tôi niềm nở tiếp chuyện Mỹ Lan và hỏi:

– Lâu rồi Mỹ Lan có về lại Canada không?

Trần Thiện Thanh từ bên kia đường đi nhanh qua, tươi cười bảo tôi:

– Ý đồ gì mà anh cứ rủ vợ tôi về Canada?

Thái độ thân thiện và cởi mở của anh làm tôi rất ngạc nhiên. Anh bắt tay và nhìn tôi, trang nghiêm tiếp:

– Nguyễn Ngọc Ngạn, người gây sóng gió!

Tôi hiểu anh muốn nhắc đến một số bài báo đả kích tôi nên tôi trả lời:

– Sóng gió tìm tôi chứ tôi đâu có bao giờ gây sóng gió!

Rồi tôi từ giã anh và Mỹ Lan để vào gặp nhạc sĩ Lam Phương trong căn nhà mobile home.

Năm sau, tôi lại gặp Nhật Trường ở San Jose nhân dịp đầu Xuân. Anh hát cho đoàn xe hoa diễu hành ban ngày, tôi diễn trong show văn nghệ buổi tối. Tình cờ ở chung khách sạn, tôi xuống lobby lấy ly cà phê lên phòng thì thấy anh ngồi một mình ngoài hành lang và giơ tay ngoắc tôi. Tôi bưng tách cà phê Starbucks lại ngồi với anh. Gặp anh, tôi luôn giữ thái độ dè dặt thì chính anh lại liên tục đùa giỡn, chọc ghẹo tôi, có lẽ vì anh biết tính tôi qua những cuốn Paris By Night bên cạnh Kỳ Duyên. Anh hỏi thăm tôi thời còn đi dạy học ở Sài Gòn bởi anh cũng là nhà giáo trước khi tình nguyện vào quân đội trước tôi. Lan man qua nhiều mẩu chuyện, tôi vẫn thấy nét buồn trong ánh mắt anh. Anh là người mang bản tính tự tôn, vừa là nhạc sĩ giỏi vừa là ca sĩ hay, anh nghĩ mình phải thành công lớn tại hải ngoại mới đúng, thế mà tiếc rằng con đường văn nghệ không trải thảm đỏ đón anh! Biết vậy, nhưng tôi không đả động gì đến việc mời anh trở lại nói chuyện với Thúy Nga, mà anh vốn là người tự ái nên dù muốn, anh cũng không bao giờ ngỏ lời trước! Người làm nghệ thuật, bất cứ ngành nào, cũng đều muốn tác phẩm của mình được phổ biến càng rộng càng tốt. Nhu cầu ấy lớn hơn cả tiền bạc. Tôi nhớ một lần gặp nhạc sĩ Phạm Duy gần 20 năm về trước, lúc tôi vừa vào Paris By Night. Ngồi ở tiệm ăn, bên cạnh một người bạn trẻ vừa từ Việt Nam qua, nhạc sĩ Phạm Duy hỏi:

– Cậu về bên ấy, có thấy chúng nó hát nhạc của tôi không?

Người bạn trẻ lắc đầu. Tôi thấy Phạm Duy buồn lắm. Sau đó ông rủ tôi về nhà, chỉ cho tôi thấy, ông đang đưa hết tất cả các tác phẩm của ông vào computer để lưu trữ và phổ biến. Tôi vốn mù tịt về lãnh vực này. Ông bảo tôi:

– Trong nước không cho phổ biến nhạc Phạm Duy thì chính Phạm Duy phải tự lo phổ biến lấy!

Chỉ một lời tâm sự ấy, tôi hiểu nỗi khắc khoải của những nhạc sĩ không đưa được tác phẩm của mình đi xa. Paris By Night dù sao cũng là diễn đàn rộng lớn nhất của người Việt từ hải ngoại đến trong nước, anh Trần Thiện Thanh không thể không có lúc nghĩ đến việc góp mặt trên diễn đàn này, giống như bao nhiêu nhạc sĩ khác. Nhưng một chút tự ái đã giữ chân anh lại!

Mãi đến khi anh lâm trọng bệnh, nữ ca sĩ Hoàng Oanh mới gợi ý khuyên anh nên hợp tác với Thúy Nga thực hiện một cuốn Paris By Night về sự nghiệp sáng tác của anh để lưu lại cho đời như các nhạc sĩ khác. Nếu anh đồng ý thì Hoàng Oanh sẽ là nhịp cầu liên lạc với Thúy Nga và Nguyễn Ngọc Ngạn.

Trong cuộc đời mấy chục năm văn nghệ, Hoàng Oanh là người mà Trần Thiện Thanh nể nang nhất, hay nói đúng hơn, đã có một thời anh “thầm yêu trộm nhớ” người nữ ca sĩ trang nghiêm này. Anh đã sáng tác ít nhất hai bản nhạc cho Hoàng Oanh, là: Người Yêu Của Lính và Một Đời Yêu Em.

Trước đề nghị tha thiết của Hoàng Oanh, Nhật Trường xiêu lòng bảo:

– Cám ơn madam. Tôi về bàn lại rồi sẽ phone cho madam.

Cuối tuần đó, Trần Thiện Thanh gọi cho Hoàng Oanh để xúc tiến, vì bệnh anh đột ngột trở nặng. Nhưng Hoàng Oanh bận đi show, không gặp.

Như thế thì rõ ràng Nhật Trường Trần Thiện Thanh và Thúy Nga không có duyên làm việc với nhau. Bao nhiêu năm khỏe mạnh, ở bên cạnh nhau, anh không hợp tác vì tự ái. Đến khi đổi ý thì đã quá muộn!

Anh mất rồi, trung tâm Asia thực hiện cho anh cuốn băng rất thành công. Nhưng tiếc rằng, anh không còn nữa, không có mặt trên băng để khán giả được nghe những lời tâm sự, những xuất xứ, những động cơ sáng tác của từng ca khúc nổi tiếng mà anh đã để lại cho đời.

Ngày trước, chúng ta có nhạc sĩ Lê Thương sở trường về “chuyện ca”, nghĩa là dùng một bài hát để kể một câu chuyện, chẳng hạn “Bà Tư Bán Hàng” hoặc trường ca “Hòn Vọng Phu”. Gần chúng ta hơn, Trần Thiện Thanh cũng có biệt tài về thể loại này: dùng một ca khúc ngắn ngủi mà kể được một câu chuyện minh bạch, không gò bó, không gượng ép, làm sống lại hình ảnh của những người lính trong cuộc chiến, như Tình Thư Của Lính, Người Ở Lại Charlie, Anh Không Chết Đâu Anh, Góa Phụ Ngây Thơ, Chân Trời Tím, Chiều Trên Phá Tam Giang, Lâu Đài Tình Ái, Bảy Ngày Đợi Mong, Tình Đầu Tình Cuối, v.v…

Mãi mãi, người ta sẽ nhớ Trần Thiện Thanh là dòng nhạc tình ghi dấu tích của mùa chinh chiến.

(Nguyễn Ngọc Ngạn)

DVD vinh danh Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh của Trung Tâm Asia.
DVD vinh danh Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh của Trung Tâm Asia.

Trần Thiện Thanh và Tuổi Trẻ VN – Suy nghĩ của một du học sinh Việt Nam

(Phan Nguyên – Theo Diễn Đàn Thế Kỷ -10 Aug 2014)

Là một người khách bất chợt, vô tình xem được chương trình Asia 50 “Anh Không Chết Ðâu Anh”/Nhật Trường-Trần Thiện Thanh. Có những điều chợt nghĩ tràn về, cũng như có những điều muốn nói chợt phủ tuôn trên mặt giấy, mà tôi cũng không ngờ.

Chìm đắm trong không gian âm nhạc với 25 bài hát của tác giả Trần Thiện Thanh, có lẽ đâu đó, những khán giả đầu tiên của bộ DVD này đều có những tâm trạng khác nhau. Người thì im lặng về quá khứ xuân xanh của đời mình, người thì ứa nước mắt với những kỷ niệm riêng vẫn còn lẩn khuất dày vò mình cho đến tận giờ… và với ai thưởng thức âm nhạc thì vẫn ngộp thở bởi sự bất ngờ mới mẻ đến từ điều hết sức quen thuộc: Không ai nghĩ rằng một tác giả đầy chất bình dị, đại chúng như Trần Thiện Thanh lại đồ sộ, sâu sắc và nhân bản như vậy.

Thế giới đã đổi thay lắm rồi. Bên ngoài không còn súng nổ. Không còn những tiếng trực thăng vội vã trên đầu và những lần gói ghém hành trang để ra đi… nhưng quá khứ vẫn làm người ta nhói tim trước những điều còn dở dang của cuộc đời riêng, của lịch sử chung mỗi khi chạm đến.

Và khi đó là sự thật. Sự thật đó là bên ngoài lý thuyết của một cuộc chiến, được đánh giá là một trong những cuộc chiến đẫm máu và khốc liệt nhất của thời cận đại, là những thân phận bị nghịch cảnh biến họ thành những người hùng, những thân phận chỉ muốn sống bình thường, yêu thương đột nhiên trở thành huyền thoại đau thương của một dân tộc. Và đôi khi, nhìn lại, những giọt nước mắt giờ đây rơi xuống dường như không chỉ vì số phận một ai đó mà là những giọt nước mắt dành cho tổ quốc đã quá đỗi điêu linh.

Là một người sinh ra ở cuối thập niên 70, cuộc chiến tranh Việt Nam với tôi là một điều xa lạ. Nhưng âm nhạc của Trần Thiện Thanh thì lại rất quen thuộc. Mỗi ngày, giữa thời khốn khó sau chiến cuộc, âm nhạc Trần Thiện Thanh vẫn vang lên ở mọi nhà. Trong những con hẻm sâu khúc khuỷu, chú xích lô nghỉ trưa úp chiếc nón trên mặt nằm nghe “Lâu Ðài Tình Ái” bên chiếc máy cassette con con. Rồi đêm về, giữa canh khuya, trong căn nhà ọp ẹp, đâu đó văng vẳng buồn buồn nghe tiếng nhạc “Rừng Lá Thấp” thấp thoáng trong giấc mộng đêm hè. Một Trần Thiện Thanh, một Nhật Trường vẫn có sức sống bền bỉ, len lỏi ngụ cư trong dòng đời, không hề bị lãng quên theo năm tháng.

Người ta có thể nói Nhật Trường-Trần Thiện Thanh là kẻ cơ hội khi biết lợi dụng những câu chuyện vô danh để biến nó thành những tượng đài của thời cuộc. Rất có thể như vậy. Nào là Mộng Thường, nào là chuyện người đại úy tên Ðương… nhưng nếu không có những bài hát của ông, có lẽ những người đó cũng lặng lẽ ở cõi riêng của mình như hơn 58,000 cái tên người lính Mỹ lặng câm trên bức tường đá hoa cương tại Washington DC.

Thế nhưng họ đã trở thành những điều mà hàng triệu người Việt thuộc lòng, ghi nhớ qua nhiều thế hệ – và ở đây sự phản biện chỉ có thể bắt nguồn từ trái tim: Nếu Trần Thiện Thanh không thật sự cảm tác nên, thì đó chỉ là những bài hát tâm lý chiến chống Cộng thô thiển, chỉ đủ sức rên rỉ qua một lần xuất hiện. Và giờ đây, nhiều năm nữa, người yêu âm nhạc Việt Nam vẫn tiếp tục lắng nghe những bài hát của ông về cuộc đời, về tình yêu, về thân phận. Chiến tranh đã bộc phát nên những tài năng lớn. Nếu Trịnh Công Sơn đau thương và tượng hình qua tập Ca khúc Da Vàng, Phạm Duy khắc khoải và huyền ảo với những tình ca chiến trường, thì Nhật Trường dịu dàng và mộc mạc chia sẻ qua những nhạc khúc về chiến tranh thông qua những gương mặt người, có thể là một anh lính chiến, có thể đó là một cô gái, có thể đó là chuyện một giấc mộng…

Ông chú của bạn tôi, là một chiến binh Bắc Việt, từng nhiều tháng liền tập kích, nằm trong rừng miền Nam có lần kể rằng những đêm nghe trực thăng hay đồn trú của lính Nam Việt phát những bài như “Rừng Lá Thấp” hay “Anh Không Chết Ðâu Anh”… ông đã ứa nước mắt, giấu mặt khóc vì những bài hát ấy dường như không viết cho riêng ai, mà cho tất cả những người đang đối diện vào một cuộc chiến kỳ quặc, xé nát trái tim một dân tộc. Ai lại không có một người mẹ già? Ai lại không có một miền quê chờ ngày trở về, và ai lại không mơ một cuộc sống thanh bình như Nhật Trường-Trần Thiện Thanh đã hát?

Tôi không muốn nói nhiều về các bài hát. Vì nó đã quá quen thuộc như tiếng chuông nhà thờ mỗi buổi chiều nhưng mỗi khi gióng lên, vẫn làm người nghe xao xuyến. Ở đây, điều tôi nhìn thấy là Trung Tâm Asia đã làm được ước mơ của âm nhạc người Việt Nam: Vinh danh, làm huy hoàng và hoàn thiện những gì của một sân khấu ca nhạc mà hơn 20 năm ngay tại quê nhà Việt Nam, trước khi tôi rời khỏi nước du học, vẫn không sao làm được.

Tôi không biết mình chống Cộng hay không nhưng tôi hãnh diện vì những gì có được. Thật tráng lệ cho một nhạc sĩ, cho những nhạc khúc của người Việt được vinh danh như vậy. Bên cạnh đó, có lẽ dù không muốn, nhưng Trần Thiện Thanh lại vô tình trở thành một người chép sử đô thị nghiệp dư. Tất cả những người ông viết nên, được chú dẫn một cách cụ thể từ ý nghĩa đến sự kiện. Tôi lắng nghe những gì MC Nam Lộc, Việt Dũng kể lại, thậm chí cả những điều mà nhà văn Phan Nhật Nam nói như chực khóc trong ấn phẩm này. Tôi chia sẻ với quá khứ và kỷ niệm của mỗi người.

Như đã nói ở phần trên, cuộc chiến VN với tôi vẫn xa lạ lắm, nhưng tôi trân trọng lịch sử và ký ức của riêng mỗi người, bất luận ở chiến tuyến nào. Như nhà văn Nga Abutaliv có nói: “Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác…”Tôi chợt nhận ra rằng đã mấy chục năm rồi, bất chợt từ một chương trình ca nhạc của người Việt hải ngoại, rằng dù không còn chiến tranh, nhưng đất nước tôi, dân tộc tôi vẫn chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm của một quá khứ đổ vỡ, phân chia.

(Phan Nguyên – Theo Diễn Đàn Thế Kỷ -10 Aug 2014)

oOOo

Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không – Ca sĩ NT, Mỹ Lan:

 

Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không – Ca sĩ Ánh Minh & Justin Nguyễn:

 

Chủ Nhật Này ‘Trẫm’ Nhớ Ái Khanh Không – The Eucharistic Youth Goup:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s