Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đường Vào Tình Sử” – Đinh Hùng & Trọng Khương

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đường Vào Tình Sử” (“Gặp Nhau Lần Cuối”) của Thi sĩ Đinh HùngNhạc sĩ Trọng Khương.

Thi sĩ Đinh Hùng (1920-1967) là một nhà thơ tình nổi tiếng thời tiền chiến. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Ông sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông (nay thuộc Thủ đô Hà Nội), là con út của cụ Hàn Phụng. Thuở nhỏ ông theo học bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường Bưởi (Hà Nội).

Sau khi đậu “cao đẳng tiểu học” hạng bình thứ và được học bổng theo ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì “thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn trên” (theo lời kể của ông Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang đi viết văn, làm thơ.

Thi sĩ Đinh Hùng.
Thi sĩ Đinh Hùng.

Năm 1943, ông theo sống với chị là bà Thục Oanh. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi “Đám Ma Tôi” và đăng thơ trên Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan, Giai Phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn… Nhưng ông thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” mà Thế Lữ chọn in trong truyện “Trại Bồ Tùng Linh”.

Năm 1944, ông Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh rồi về Nam Định, thi sĩ Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm “Dạ Đài”, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch,…Cũng trong năm này, Đinh Hùng tản cư theo báo Cứu Quốc. Sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới, Nguyễn Thị Thanh. Khi ấy, ông Vũ Hoàng Chương và vợ cũng đang tản cư về ở nơi đó.

Năm 1949, ông cùng vợ con trở lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm “Kinh Đô Văn Nghệ” (1952) và tập thơ “Mê Hồn Ca” (1954).

Tháng 8 năm 1954, ông cùng vợ con vào Sài Gòn, lập ra tờ nhật báo “Tự Do”, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong,…

dinhhung2

Năm 1955, nhật báo trên đình bản, ông cộng tác với Đài Phát Thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời.

Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử “Cô Gái Gò Ôn Khâu”, “Người Đao Phủ Thành Đại La” và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, ông cho in tập “Đường Vào Tình Sử” – tác phẩm này được trao giải thưởng Văn Chương Thi Ca năm 1962.

Năm 1962, ông cho ra tuần báo Tao Đàn Thi Nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư gan.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao Điểm cho phát hành tác phẩm “Ngày Đó Có Em” vào ngày 16 tháng 10 năm 1967.

Ngoài những tác phẩm vừa kể trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: “Tiếng Ca Bộ Lạc” (thơ), “Tiếng Ca Đầu Súng” (hồi ký), “Dạ Lan Hương” (văn xuôi), “Sử Giả” (tùy bút), “Vần Điệu Giao Tình” (cảo luận) và 3 kịch thơ: “Lạc Lối Trần Gian”, “Phan Thanh Giản”, “Cánh Tay Hào Kiệt”.

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương (????-1977) là một trong những nhạc sĩ tiên phong trong nền Tân Nhạc Việt Nam. Ông cũng là tác giả của ca khúc nổi tiếng “Bánh Xe Lãng Tử”.

Trước năm 1975 ông làm việc trong ban kiểm soát kỹ thuật Đài Phát Thanh Sài Gòn từ trước 1953. Ông mất năm 1977 trong tình cảnh thật thương tâm.

Theo nhạc sĩ Châu Kỳ thì ông gặp nhạc sĩ Trọng Khương “đang đi lang thang buồn bã trên đường với quần áo nhàu nát, tóc tai bù rối.” Sau những giây phút đứng tâm sự về cảnh đời hai bên giai đoạn này, NS Châu Kỳ khuyên NS Trọng Khương về nhà ông nghỉ ngơi chứ đừng đi lang thang nữa nhưng NS Trọng Khương nằng nặc chối từ.

NS Trọng Khương cầm cây đàn guitar chào tạm biệt NS Châu Kỳ rồi đi, sau khi kể cho NS Châu Kỳ nghe về nỗi buồn cay đắng khi hôm nay ghé qua nhà của một danh ca ở Sài Gòn vào thập niên 60 – người từng được nổi tiếng với những ca khúc của ông. Khi đến nhà danh ca này để cầu cạnh sự giúp đỡ, ông đã bị thẳng thắn chối từ và nói nhiều lời đau lòng xúc phạm.

Qua ngày hôm sau thì người dân ở ga xe lửa Hòa Hưng đều biết tin Trọng Khương nằm chết co ro hoang lạnh trên hè ga, tay còn cầm cây đàn guitar của mình và mặt ông lúc chết như còn vương bao điều xót xa chưa được bày tỏ hết.

Các tác phẩm nổi tiếng của Nhạc sĩ Trọng Khương:

• Bánh Xe Lãng Tử (1954)
• Duyên Thắm (1953)
• Đôi Guốc Mới (1953)
• Đường Vào Tình Sử (thơ Đinh Hùng)
• Đường Về Nhà Tôi (1956)
• Ghen (thơ Nguyễn Bính – 1955)
• Lòng Cô Phụ (1955)
• Màu Tím Hoa Sim (viết với Duy Khánh)
• Nhớ Rừng Hoang (1953)
• Sầu Nhân Thế (1953)
• Tình Vương Biên Giới (1953)
• Về Miền Nam (1954)
• Vó Câu Muôn Dặm (1956)

dinhhung_ĐB1

Thi phẩm “Gặp Nhau Lần Cuối” (Thi sĩ Đinh Hùng)

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,
Giở tập thư xưa đọc trước đèn.
Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,
Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Gần nhau, còn lạ nét môi cười,
Em đến như người bạn cũ thôi.
Trận gió năm nào chưa ngớt thổi,
Mà nghe hồn gió lạc xa khơi.

Em hãy ngồi im – khuya đã lâu,
Phút giây tâm niệm tưởng như sầu.
Ngón tay não nuột tàn nhung bướm,
Gỡ cánh hoa phai lả mái đầu.

Đèn nhỏ, sương pha lạnh mặt người,
Lạnh vương từ sợi tóc buông lơi.
Lìa vai, kỷ niệm bay mùi phấn,
Nép mặt hờn nghiêng lá hổ ngươi.

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh màu áo nhớ thương xưa.
Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa.

Từng nhớ, từng thương, từng chụm đầu,
Từng chung dòng lệ thấm vai nhau.
Mà trong mắt liếc ngờ non ải,
Nhịp thở ân tình cũng biến đâu.

Sương xuống nhiều thêm, thôi biệt ly!
Nhìn em lần cuối, tiễn em về.
Mưa buồn nỡ để đường thu lạnh?
– Đây áo quàng vai, em hãy che.

dinhhung_ĐB

Thi khúc “Đường Vào Tình Sử” (Nhạc sĩ Trọng Khương)

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,
Giở tập thư xưa đọc trước đèn,
Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,
Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Gần nhau còn lạ nét môi cười,
Em đến như người bạn cũ thôi.
Trận gió năm nào chưa ngớt thổi,
Mà nghe hồn lạc gió xa khơi.

Em hãy ngồi im – khuya đã lâu.
Phút giây tâm niệm tưởng như sầu.
Ngón tay não nuột tàn nhung bướm,
Đây cánh thư, lá thư màu xanh lơ,
Đã gieo vào tâm tư những u hoài,
Gỡ cánh hoa phai lả mái đầu.

Nhìn nhau ngập ngừng, tiễn em về.
Đây áo vai choàng, em hãy che.
Đường vắng mưa buồn hơi gió lạnh,
Lệ ơi đừng buồn ướt đôi mi.

Dưới đây mình có các bài:

– Đinh Hùng, Những Bài Thơ Không Tuổi
– Cuộc Đời Đinh Hùng – Người Thi Sĩ Yểu Mệnh
– Tựa Đoàn Thêm “In Trong ‘Đường Vào Tình Sử’ Đinh Hùng”
– Nhạc sĩ Trọng Khương

Cùng với 3 clips tổng hợp thi khúc “Đường Vào Tình Sử” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dinhhung_bìa MHC

Đinh Hùng, Những Bài Thơ Không Tuổi

(Nguyễn Mạnh Trinh)

Thơ, ở cực độ truyền cảm nhất là những câu “nhập thần”. Những câu là châu báu trời cho, những từ là những kho tàng lộ diện, những vần là điệu nhac vô biên. Ngày xưa Nghiêm Vũ đời Tống trong Thương Lang Thi Thoại đã viết đại ý “Điểm tuyệt diệu nhất của thơ chỉ có một, đó là nhập thần. Thơ mà đạt tới mức nhập thần thì tận thiện tận mỹ. Và không thể thêm tht được bất cứ điều gì. Duy chỉ có Lý Bạch, Đỗ Phủ đạt được thôi còn những người khác hiếm hoi lắm…”

Với riêng tôi, Đinh Hùng có những câu thơ hoặc bài thơ “nhập thần” như Nghiêm Vũ diễn tả. Không biết tôi có chủ quan quá độ hay không, nhưng có nhiều bài thơ khi tôi đọc xong như bị lạc vào một thế giới của không gian thời gian nào và ngôn từ không đủ sức để giải thích những cảm giác huyền nhiệm ấy. Đọc thơ Đinh Hùng, cảm được…

… những biểu tượng riêng, và nghe và thấy được những ngôn ngữ riêng của bản sắc độc đáo không bị trộn lẫn.

Đọc, để thấy cảnh và người, ngôn ngữ và ý tưởng hòa đồng cùng nhau. Bản sắc của cảnh và nội tâm của người như có một tương quan mật thiết, cảnh gợi nên ý, ý gợi nên lời, lời gợi nên cảm… Đọc bài Đường Trưa, để thấy một phác họa người qua cảnh, của nỗi buồn mênh mang, đầy cảm xúc:

“Lá xanh che khuất đường trưa
bóng thêu hoa nắng, lưa thưa điểm vàng
trời cao lắng xuống trường giang
hững hờ thay! Áng mây hàng trôi qua
Mây kia còn mải nghĩ xa
Hồ lim dim ngủ chói lào ánh gương
Nhạc buồn một điệu thê lương
Kèn ve nổi tiếng xót thương mấy hồi
Buổi trưa ngừng giữa lòng tôi
Aùi tình đỏ sắc hoa rơi đầu cành
Chừng nghe qua bóng lá xanh
Có chân ai lặng bước nhanh trong sầu?”

Thơ Đinh Hùng đầy những khát vọng, của những giấc mơ, của tuổi hoa niên mới lớn, của những bước chân hăm hở vào đời. Thơ xôn xao giấy mực, thơ như tấm lòng trải rộng theo chiều bát ngát đất trời.

Khi tuổi trẻ, tấm lòng thường rộng mở với những mơ mộng trăng sao. Có một chút không bằng lòng với hiện tại, trí tưởng tượng mở ra đến tận những phương trời. Lúc ấy, thi ca góp vào những cánh tay mở toang khung cửa để mây lồng lộng trời cao và gió phiêu du muôn bến.

“Khi mới lớn tuổi mười lăm mười bẩy
làm học trò mắt sáng với môi tươi
ta bước lên chân vẫn dạo bên người
ngoài cặp sách trần ai coi cũng nhẹ
đời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
phố phường vui cuộc sống mới lên hoa
Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa
Hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lờp
Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp
Ta nhìn cao mới rõ bị giam cầm
Ôi tiếng nào vang mấy bức tường câm?
không khí nặng mơ hồ thầy với bạn
Ta nhớn lên bước đường không giới hạn
Có lẽ đâu kìm giữ bởi tay người
Tuổi hoa hồng – kiêu hãnh của ta ơi
Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới…”

Đọc những câu thơ như thế làm sao mà không xôn xao trong lòng. Thế giới mở ra, ôi sao mênh mông quá! Mê nhất là nhìn theo những cánh chim để trí tưởng tượng vút lên, cao rất cao lên đến đỉnh trời. Ô tuổi trẻ hơn hớn xanh mầu mắt và bồng bềnh bờ tóc bay. Đọc thơ, để mường tượng một chân dung thi sĩ, nhà thơ Đinh Hùng. Và cũng để hồi tưởng lại một thời của mình, ở thành phố Sài Gòn tràn đầy kỷ niệm. Những buổi trưa trốn học, nằm lăn trên bãi cỏ xanh, nhìn theo những sợi mây bay lãng đãng trên những ngọn cây dầu cao vút để hồn lơ mơ với giấc mơ, với những tà áo bay bay trong tưởng tượng, của những mắt liếc hẹn hò, của tâm tình xôn xao muốn ngỏ. Đọc thơ để thấy mình là một chú gà trống ngu ngơ nhưng tưởng như một anh hùng vô địch oai hùng trong cuộc đời và lãng mạn trong cuộc tình. Đọc thơ, để vô vàn những khao khát nổ bùng, của tưởng tượng về ngày mai, của tràn đầy hoa gấm và nồng hương tình ái…

Cuộc đời Đinh Hùng như có một phận số riêng và thi ca cũng có một số phận khác. Cái thể chất ẻo lả cộng thêm tàn phá của nàng tiên nâu làm ông không có tuổi thọ. Thơ của ông, ngược lại, như không có tuổi và với lớp người đọc sau, luôn luôn có sinh động riêng và có đời sống văn chương dài hôn nhiều tuổi thọ.

Ngày 24 tháng 8 là ngày giỗ Đinh Hùng. Ông mất năm 1967, thọ 47 tuổi. Một đời thi sĩ có lẽ khá ngắn nhưng tác phẩm đã có đời sống dài hơn gấp bội. Hai tập thơ “Mê hồn ca” và “Đường vào tình sử” có những bài thơ được coi như là tuyệt tác của một thời kỳ văn chương nở rộ. Chương trình ngâm thơ “Tao Đàn” do ông chủ trương với tiếng nói mở đầu truyền cảm đã bao nhiêu năm trở thành một biểu tượng thi ca của miền Nam tự do.

Với những người làm thơ, Đinh Hùng có vị trí của một vì sao Bắc Đẩu. Khi miền Nam bị Cộng Sản miền Bắc xâm chiếm, nhà thơ Trần Dần đã nhắn vào cho gia đình nhà thơ Vũ Hoàng Chương “Anh yên tâm, với chúng tôi, thơ của anh và Đinh Hùng vẫn có giá trị để được trọng vọng như thời tiền chiến…”

Cũng như về sau, trong cuộc mạn đàm với các văn nghệ sĩ ở Huế, Trần Dần đã xác nhận một lần nữa tấm lòng trân trọng với thơ Đinh Hùng trong khi Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chê rằng thơ “lòe loẹt ghê ghê mùi son phấn thế nào ấy”. Khi được hỏi trong các nhà cầm bút thời tiền chiến thích ai nhất thì Trần Dần trả lời ngay: Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Và ông khẳng định: Đinh Hùng là thi sĩ Tượng trưng đầu tiên của Việt Nam với tập “Mê Hồn Ca”.

Đinh Hùng thi sĩ và Đinh Hùng nghệ sĩ đã có người tri kỷ là nhà văn Thạch Lam, một người cũng có tuổi thọ khá ngắn nhưng văn chương tài hoa. Đinh Hùng đã làm bài thơ Gửi Hương Hồn Thạch Lam như muốn sẻ chia tâm sự với người chung mang nỗi niềm tâm sự:

“Nhớ xưa cùng bóng dạ lan hương
Anh với tôi nằm mộng canh trường
Giường kế bên cửa, hoa kề gối
Anh truyện sầu, tôi truyện mến thương
Tôi với anh giường chung mộng chung
Vì duyên thơ mới có duyên lòng
Anh buồn tự thuở trăng lên núi
Ấy độ tôi hoài ước lại mong
Ai biết lòng anh thương nhớ đâu
Gần nhau không nói, nói không sầu
Cầm tay hỏi mộng, buồn như tủi
Thầm hiểu anh htôi, lặng cúi đầu
Tôi cảm thương vì hai chúng ta
Tuôpỉ đang xuân mà bóng sang già
Đêm nào tôi mộng buồn riêng gối
Anh đã nằm yên dưới mộ hoa
Anh lánh mưa xuân nép cửa sầu
Đêm nằm ghê gió lạnh canh thâu
Gặp nhau nắm chặt tay lần cuối
Anh khép hàng mi chẳng nguyện cầu…”

Thời tiền chiến, giai phẩm Dạ Đài với sự góp mặt của Trần Dần, Đinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch,…đã tỏ lộ một khuynh hướng thi ca mới của thơ tượng trưng. Và khuynh hướng này là một khuynh hướng nổi bật của thi ca Việt Nam với các tầm vóc như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Chế Lan Viên thời trước 1945,…

Võ văn Ái, trong tác phẩm “Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam/1945-1985” đã viết về Đinh Hùng như sau:

“…Ám ảnh vì cái chết từ lúc bé, Đinh Hùng hướng về nguồn thơ Tượng trưng.. Vì Tượng Trưng là âm bản của thực tại. Như chết là âm bản của sống. Thơ Tượng Trưng thoát mình, rời xa thực tại đang sống, đi tìm cái khuôn âm bản để xem thực tại ấy có là mặt-mày- xưa- nay vốn được đúc nặn từ đầu. Hay chỉ là những tam sao thất bổn? Thơ dựng lên khuôn mặt giai nhân, hoặc dựng lên cái tiền cảm bao quanh, tượng trưng cho khuôn mặt ấy, thì vẫn là niềm Thơ như thật của muôn thuở. Đó là giải thích theo tâm cảnh thơ Việt Nam. Trong thực tế, hầu như tất cả các nhà thơ tiền chiến đều chịu ảnh hưởng của các thi sĩ Pháp, đặc biệt là Beaudelaire, Mallarmé, Rimbaud. Cũng như sau nay thi ca miền Bắc chịu ảnh hưởng của các nhà thơ Nga, và miền Nam lại tiếp tục chịu ảnh hưởng các nhà thơ Pháp với những Eluard, Aragon, Jacques Prevert…

Năm Đinh Hùng lên 11, chị Tuyết Hồng, hoa khôi Hà Nội, đã tự tử trên hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau thân phụ chàng đau nặng rồi thất lộc. Chị Loan, một người chị khác lại mất ba năm sau. Qua năm 18 tuổi chớm mối tình đầu, Đinh Hùng yêu một người có họ xa, nhưng người con gái măng tơ và Liêu trai này cũng chết. Tập thơ Truyện Lòng in trong Đường Vào Tình Sử năm 1961 chính là tập thơ đã sáng tác từ năm 1938. Tiếp đến người bạn thân yêu nhất của đời chàng là Thạch Lam cũng bỏ chàng đi năm 42 tuổi vì bịnh lao…

Bây giờ ta hiểu nỗi chết đã ám ảnh đeo đuổi Đinh Hùng như hình với bóng, đốt thắp tâm tư chàng. Đinh Hùng không chạy trốn, chàng hàm dưỡng ngọn lửa ấy cho nguồn thơ Tượng Trưng…”

Lúc còn sống, nhà văn Mai Thảo và nhà thơ Nguyên Sa cũng đặc biệt yêu mến thơ Đinh Hùng. Nhiều lần, nhà văn Mai Thảo đã đọc hầu như gần hết tập thơ Mê Hồn Ca trong những buổi họp mặt văn nghệ. Chắc phải yêu mến lắm nên mới thuộc lòng như vậy. Với phong cách đặc biệt, kèm theo những nhận xét dí dỏm nhưng chính xác, ông đã làm thơ Đinh Hùng thành một không gian thơ đặc biệt mà mọi người tham dự mãi năm tháng dài về sau không thể quên…

Nhà thơ Nguyên Sa cũng vậy. Ông thường nói về thơ Đinh Hùng với tất cả những lời khen tặng. Khi tôi và ông cùng thực hiện tủ sách Tác Giả Tác Phẩm của nhà xuất bản Đời, cuốn đầu tiên là viết về Đinh Hùng…

Nhà văn Tạ Tỵ trong cuốn “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi” cũng đã phác họa chân dung Đinh Hùng qua từng thời kỳ, khi trai trẻ đến lúc tham gia dòng thơ tiền chiến, từ lúc kháng chiến rồi hồi cư về Hà Nội, dến khi di cư vào Nam, làm chương trình thi ca Tao Đàn,…

“… Đinh Hùng nhìn tôi nhếch mép cười, cái cười ngạo mạn vì lúc gặp Đinh Hùng lần đầu, tôi là tên ‘mặt trắng’ còn Đinh hùng tuy chưa có tác phẩm nhưng đã được nhiều người biết tiếng. Đây là trường hợp duy nhất của người làm thơ nổi tiếng trước khi có tác phẩm hoặc có nhiều bài đăng tải trên báo chí! Có lẽ thơ của Đinh Hùng mới quá đi trước thời đại chăng?

Tôi mỉm cười xã giao bắt tay Đinh Hùng. Ôi chao bàn tay gì bé và mềm thế, như tay đàn bà! Về sau này tôi được một người bạn cho biết, khi còn học ở trường Bưởi, Hùng cũng rất đẹp trai và ham tập thể thao lắm, đã bơi ngang Hồ Tây, tuy nhỏ nhưng thân hình cân đối và thi sĩ Huyền Kiêu, người bạn cùng lớp học đã mê Hùng như mê người tình, giống như trường hợp Xuân Diệu Huy Cận vậy. Ngoài tài làm thơ, Đinh Hùng còn chơi nhạc, đánh đàn mandoline, những khúc nhạc của Mozart, Beethoven, và Beach rất hay. Hùng cũng biết vẽ lăng nhăng và chữ viết rất bay bướm. Khi học trường Bưởi, Đinh Hùng phụ trách báo tay cùng với thi sĩ Huyền Kiêu. Đinh Hùng ở một căn gác nhỏ trên đê Yên Phụ gần Ngọc Hà và bài thơ “Xin hãy yêu tôi” có những câu: “…Tôi mở sẵn một phòng sầu bé nhỏ. Riêng một đèn, một gối một tình yêu…” là chính căn gác này đã tạo cho thi nhân nguồn cảm hứng đó. Từ đầu đê Yên phụ, buổi tối nào “đi xóm” (tức đi hát cô đầu) thì thôi, còn không Đinh Hùng cuốc bộ từ đó đến tiệm hút sau đền Bà Kiệu, phía bên hồ Hoàn kiếm, để họp bạn cùng vui thú yên hà. Đinh Hùng năm ấy (1940-1941) hãy còn trẻ lắm, mới trên dưới 20 tuổi mà đã đam mê gắn bó với Phù Dung tiên nữ, Dưới ánh đèn, mặt Hùng tái xanh, riêng đôi mắt sáng long lanh biểu lộ sự thông minh tuyệt vời.”

Riêng tôi, đọc hai tập thơ Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử, đời sống có phảng phất của sương khói mơ hồ của kiếp khác. Thơ, là những bước chân đi trong những ảo tượng để trí tưởng tượng như những vỗ cánh khởi hành vào cõi mênh mang của kiếp nhân sinh.

Thơ Đinh Hùng là bước chân về nguyên thủy. Ở đó, trời đất hoang vu, kiếp người quạnh quẽ.
Sống hờ hững đôi khi trải theo tâm sự Từ Thức về trần, đi tìm lại quá khứ trong tiềm thức xôn xao cảm giác. Ngôn ngữ, là vang vọng của tấm lòng yếm thế, của lòng rời rã tự tình, để thoảng vẽ ra, những đôi mắt nhìn sang cõi bờ khác lạ, của một chân trời mà thực và mộng chen lẫn vào nhau.

Thi ảnh của Mê hồn ca, của tiếng ca bộ lạc, đầy những biểu tượng của núi non, của gió tuyết, của cỏ hoa tịch mịch, là hình dáng của mơ hồ, của sự liên tưởng nâng lên cao độ. Thi ảnh của Đường Vào Tình Sử tương đối gần cận cuộc sống hơn, có thêm sinh khí của tình yêu thiết tha, của những tấm lòng mở ra và ngỏ với mọi người. Ngôn ngữ thơ có nhiều ảnh tượng có lẽ quen thuộc với cảm quan mà vẫn có sức lôi kéo từ những vị trí đắc địa cũng như những cánh cửa mở ra những chân trời và những phận người. Thơ, như những nét bút vờn. Thơ, là thi sĩ miệt mài đi trên con đường tìm kiếm lại chính mình, cái bản ngã có nét bàng bạc trong bức tranh nhân sinh mờ tỏ, có lúc rờn rợn mầu trắng mênh mông, của trang giấy trinh bạch, của nỗi niềm mù khơi đến tận vô cùng.

Đọc những câu thơ như:

“rồi những đêm sâu bỗng hiện về
vượn lâm tuyền khóc rộn sương khuya
đâu đây u uất hồn sơ cổ.
Từng bóng ma rừng theo bước đi…”

Chúng ta sẽ cảm thấy gì? cũng những ngôn ngữ có hơi quen thuộc đến có thể hơi sáo mòn. Nhưng kỳ lạ, có sức lôi kéo của những ý tưởng nảy từ bùa chú linh thiêng. Con đường đi, chập chùng thực mộng. Trí tưởng bỗng man mác, mênh mông..

“Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ
và chân bước nghe chuyển rung đồi suối
lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối
Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng…”

Có phải thơ là phần ăn cách riêng của những người quen đơn độc, của những góc tối mà con người nương náu vào đó cho hết một kiếp người. Trong nỗi buồn có niềm kiêu hãnh, trong ngày nắng có lẫn những canh khuya.

Có người nói thơ Đinh Hùng có những đóa hoa vô hình vô ảnh nhưng lại mường tượng được từ những phác họa tài tình. Người đẹp, có khi chỉ là nét trầm khuất xa xôi. Những mối tình, là thiên cổ không phai, là giấc miên viễn hiu hắt cùng trời và đất. Lời tình tự như ngỏ vào hư không.

Mây gió cuộn một thời phong vũ.

“Khuya sớm tìm sang lối tuyết trinh.
Lầu xuân hoa dựng ngọc liên thành
Lệ in bóng núi mờ nhân ảnh
Mây đó về đâu có gặp mình?
Thương nước vô danh người mộng ảo
Ta cười một nét vẽ hư linh
Áo xiêm đã ố màu tang hải
Em thoát xiêm đi, hiện dáng tình…”

Em, có phải là hình bóng của yêu tinh, của đam mê đã lan cả đến cỏ cây hoa lá? Em, có phải là giọt máu loang huyết lệ, của những mối tình thiên cổ không phai?

“… Hỡi kỹ nữ, em có lòng tàn ác
ta vẫn gần, ôi, sắc đẹp yêu ma
lúc cuồng si, ta nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn..”

Em, có phải là thần tượng lên ngôi? Em, có phài ta đã biến hình thành tên nô lệ? Rong thi ca, là định mệnh trái oan, là ngôn ngữ của người lạc lõng trên con đường tháng năm của thời gian biền biệt:

“… Ta run sợ cho yêu là mệnh số
mặc tay em định hộ kiếp ngàn sau
vì người em có bao pháp nhiệm mầu
một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc
Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết…”

Mê Hồn Ca, là:

“yểu điệu phương đông lướt dưới đèn
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên
Dáng xuân nghiêng mắt cười không tiếng
Lửa hạ lên rồi- ôi Ý Liên…”
Mê Hồn Ca, là: “qua xứ ma sầu ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! Trời ơi! Làn tử khí
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên…”

Mê Hồn Ca, là khuôn trời Liêu Trai, là những đêm âm phần trộn lẫn với trưa dương thế. Thì Đường Vào Tình Sử khác hơn, là những bài thơ tình của miên viễn chiêm bao, của những môi hôn trong mộng, của man mác hương trinh. Mộng vẫn còn, mê ảo nhưng thực đã có da có thịt trong ngôn ngữ tình yêu:

“Khi tóc mùa xuân buông dài trước cửa
Khi nắng chiêm bao khẽ chớp làn mi
Khi những con thuyền chở mộng ra đi
Giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu
Kỷ niệm trở về nắm tay nhau hiền dịu
Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình
Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh
Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo…”
Êm đềm hơn, bài hát mùa thu:
“Hôm nay có phải là thu
Mây năm xưa đã phiêu du trở về
Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn
Ai về xa mãi cô thôn
Một mình trong khói hoàng hôn nhớ nhà
Ngày em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt lòng ta không sầu
Nắng trôi- vàng chảy về đâu
Hôm nay mới thực bắt đầu vào thu…”

Thơ Tình, đã từ mênh mang khói sương của Mê hồn Ca đã trở về thực tại trong Đường vào Tình Sử. Tâm hồn, mỗi lúc mỗi khác trong lộ trình tìm cái vĩnh cửu. Thơ ấp ủ ước muốn bất tử, để sau xưa trùng hợp, và nỗi niềm mang nặng từ lúc hoang sơ chuyển hóa lại thành thời khắc bây giờ. Có lúc “xoay nhỡn tiền lại ngắm hiện thân” nhưng cũng có lúc “ta, suốt đời ngư phủ thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh.” Làm thơ cho Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Hương, Hoài Điêp,… có người còn kiếp dương trần nhưng có người là phảng phất hồn ma bóng quế, là huyền ảo ẩn ức thành ngôn ngữ thi ca, để lẫn lộn mộng thực. Nếu có chữ Thần Tượng viết hoa, thì có lẽ Đinh Hùng là người tột cùng nâng niu cho từ ngữ ấy. Đọc thơ ông, để tâm trí bềnh bồng, ký ức phiêu du trên những nẻo đường mơ hồ. Có khi, trăng sao là hiện thân của giọt máu hồng tinh huyết để tình yêu chuyển đổi từ vùng cảm giác của bộ xương khô đến vóc dáng của một làn da, một mái tóc…

Thơ tượng trưng, sao từ sương khói quay ngoặt về thực tại, có phải vì trái tim đã đánh thức dậy những cảm quan từ bộ óc mơ màng không cân phân thực mộng? Nếu nói thơ là biểu hiện của niềm si đắm thì Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử là những phiến kinh xưng tụng để đời!!…!!!

(Nguyễn Mạnh Trinh)

Thi sĩ Đinh Hùng.
Thi sĩ Đinh Hùng.

Cuộc Đời Đinh Hùng – Người Thi Sĩ Yểu Mệnh

(Nguyễn Việt – 15/12/2015 – 9:08:33 – SA)

Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, thuộc người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông là con của cụHàn Phụng, một gia đình trung lưu, từ lâu đã ra lập nghiệp ở Hà Nội. Khi còn sống thi sĩ Đinh Hùng cho biết, ông được hoài thai vào năm 1919 trên đất xứ người là Phi Luật Tân (Philippines) nhưng lại ra đời ở Việt Nam ngay trại Trung Phụng gần toà Khâm Thiên Giám cũ, Hà Nội.

Đinh Hùng là con út gồm sáu anh chị em : anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lớn hơn Đinh Hùng một tuổi sau lấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thuở nhỏ thi sĩ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ ông được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì “thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ.

Và hình như gia đình thi sĩ Đinh Hùng đa số mọi người đều yểu mệnh, chưa ai bước qua khỏi tuổi 60. Năm 1931, người chị thứ ba của thi sĩ tên Tuyết Hồngtự tử tại hồ Trúc Bạch vì một mối tình duyên trắc trở. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng qua đời. Còn nếu tính đến ông khi mất vào ngày 24/8/1967, thì cũng chỉ mới hưởng dương có 48 tuổi !

Nói về thân thế sự nghiệp của thi sĩ Đinh Hùng. Năm 1943, ông theo sống với chị là bà Thục Oanh và thi sĩ Vũ Hoàng Chương tức anh rể của ông. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và thơ đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn… Nhưng thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ”mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Năm 1944, sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu… Cùng năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ đang ở đó.

Năm 1949, ông lại cùng gia đình trở lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).

Tháng 8 năm 1954, thi sĩ Đinh Hùng và gia đình di cư vào Nam, cộng tác với tờ nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong… Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông về cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. (Ban thi ca tao đàn từng đưa những tên tuổi ca sĩ như Hồng Vân, Hoàng Oanh thành những người đọc và ngâm thơ hay nhất lúc bấy giờ).

Ngoài việc làm thơ ký bút hiệu Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăngkhi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang lúc viết tiểu thuyết. Ông viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng đăng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, Đinh Hùng cho in tập Đường vào tình sử (đoạt giải Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1967, cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư gan.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967. Ngoài những tác phẩm kể trên, thi sĩ Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

Mặc dù Đinh Hùng có viết văn, viết kịch, nhưng ông nổi tiếng là nhờ thơ. Các thi phẩm như Mê Hồn ca, Đường vào tình sử là hai thi phẩm nổi trội.

Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau:

“Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử.

“Ở phần đầu Mê hồn ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác cô độc đặc biệt đến bi thiết: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên…Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác của thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia: Gửi người dưới mộ, Cầu hôn, Tìm bóng tử thần…

Hiện tượng này hẳn liên quan đến nhiều chuyện tang tóc bất bình thường, trong thời gian ngắn, liên tục đổ ập xuống đời sống của tác giả thưở thanh thiếu niên.

“Thơ Đinh Hùng hàm súc, lối thao tác “tụ” và “tán” nhanh chóng, những “từ” và “tứ” đột xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”. (bộ mới, NXB Thế giới, 2004)

Tình thơ trong thi phẩm Đinh Hùng

Nhà thơ, nhà văn thường có tính tình lãng mạn, trữ tình, như ở thuở thanh niên thi sĩ Đinh Hùng đang được cấp học bổng để theo học ban chuyên khoa. Nhưng vào một ngày đẹp trời thì “tiếng sét ái tình” bỗng nhiên đánh trúng tim ông:

Có chàng mang lòng thương
Đi dạo muôn con đường.
Một hôm dừng trước mộng,
Yêu nàng tên Tần Hương.
(Tần Hương – Đường vào tình sử)

Người đẹp ấy tên là Kiều Hương, nhưng ông sợ gây rắc rối cho nàng khi đi lấy chồng nên sửa tên là Tần Hương. Mối tình ấy của Đinh Hùng tuy là mối tình đầu nhưng không sâu sắc, vì chỉ là tình yêu đơn phương. Nên khi nàng Kiều Hương đi lấy chồng, ông không buồn như nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hàtừng thất tình khi nghe người yêu đi lấy chồng để có một thi phẩm bất hủ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Còn ông chỉ có 2 bài thơ mang tên “Tần Hương” và “Bài hát mùa thu” đăng trong tập thơ Đường vào tình sử.

Mối tình thứ hai mới thực sự mãnh liệt và ghi dấu suốt đời trong tâm khảm của nhà thơ. Nàng là một cô bé họ xa, tên Bích Liên, thỉnh thoảng đến chơi nơi trại Trung Phụng của ba ông, nên thi sĩ Đinh Hùng có dịp quen thân. Thuở ấy nàng còn bé nhưng xinh đẹp tuyệt vời, và vì tên nàng là Liên nên Đinh Hùng viết :

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
Lén bước trang đài tới gặp ta.
(Liên tưởng – ĐVTS)

Hai người mỗi ngày một lớn, tình yêu cũng cùng với tháng năm mà lớn dần theo, cô bé Liên càng ngày càng đẹp. Hai người yêu nhau nhưng trong mối tình hoàn toàn trong trắng. Không may nàng Liên bị bệnh phổi nặng, sắc đẹp ngày càng kỳ ảo và huyền hoặc khiến ông cứ ngất ngây, trong khi đó sức khỏe của nàng cứ hao mòn rồi từ giã cõi đời vào khoảng năm 1940. Đó là cái chết thứ tư của người thân yêu mà Đinh Hùng chứng kiến trong khoảng thời gian chưa tới mười năm.

Mất Liên, thi sĩ Đinh Hùng đau đớn như điên dại :

Qua xứ ma sầu, ta mất trí,
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền.
Trời ơi ! Trời ơi ! Làn tử khí,
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên.
(Cầu hồn – Mê Hồn Ca)

Từ đó Đinh Hùng thường làm những bài thơ “Chiêu niệm”, tên Liên được thay thế bằng những tên khác, nào Diệu Hương, Diệu Thư, nào Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Liên, nào Em Buồn, Em Đau Thương, Sầu Hoài Thương Nữ, nào Thần Nữ, Kỳ Nữ v.v… nhưng thực ra cũng chỉ có một nàng Bích Liênthôi. Khi nàng chết, Đinh Hùng bỏ trường đi sống lang bạt kỳ hồ, khi dạy học ở Hà Đông, lúc gia nhập một ban nhạc tài tử đi trình diễn ở vùng Bắc Cạn. Đi đâuĐinh Hùng cũng mang theo tấm di ảnh của nàng Bích Liên.

Nhà văn Mai Thảo thuật:

“Tôi được biết là sau ngày người con gái mang tên Liên từ trần, Đinh Hùng bỏ đi đến Hải Dương… Vượt Hồng Hà, bỏ Hà Nội, chàng tuổi trẻ khóc ngất, không mang theo gì hết ngoài nỗi đau đớn và một tấm hình. Đó là di vật cuối cùng của Liên…”

Nhà thơ có cá tính

Ai đã gặp thi sĩ Đinh Hùng một lần thì khó lòng quên được. Thân hình mảnh mai, nước da xanh như tàu lá, đôi chân ngắn, bàn tay đẹp như bàn tay con gái mềm mại thon thon, và rất đẹp khi “vân vê” điếu thuốc lào hay khi lướt nhẹ trên chiếc vĩ cầm. Đôi mắt mơ hồ và huyền hoặc dường như luôn luôn in bóng một trời thơ diệu kỳ và mộng ảo. Giọng nói Đinh Hùng rất đặc biệt, nó “vang vang mà nhừa nhựa, nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói” (Hoàng Hương Trang).

Ngay lúc nằm trên giường bệnh, giọng nói ấy cũng vẫn còn nồng nàn nỗi yêu đời và niềm lưu luyến tình người. Còn vẻ bề ngoài, ông bao giờ cũng chải chuốt, tứ thời bát tiết lúc nào cũng diện complet thắt cravate cho dù là mùa hè đỏ lửa, đầu chải láng, miệng ngậm pipe, đôi vai nghiêng bởi chiếc cặp dày và nặng trĩu. Gặp bạn thơ thì mừng rỡ, chèo kéo bắt uống cho bằng được một vài ly để rồi say sưa nói về chuyện văn thơ không dứt.

Tạ Tỵ gợi lại một vài kỷ niệm :“Có những đêm đông Hà Nội tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm, vì thế Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời”. Và cũng vì thế mà bạn bè không ai cảm thấy bất ngờ khi hay tin Hùng bị ung thư gan ở tuổi 48.

Những tác phẩm thi ca của Đinh Hùng

Thi sĩ Đinh Hùng có hai thi phẩm lớn là Mê Hồn ca và Đường vào tình sử là nổi bật hơn hết. Cho nên các nhà thơ tên tuổi vào những năm 60, 70 thế kỷ trước từng tranh cãi về giá trị của hai tập thơ này. Theo nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt chọn Đường Vào Tình Sử, thì nhà văn Trần Phong Giao lại chọn Mê Hồn Ca. Trần Tuấn Kiệt nói: “Mê Hồn Ca tuy đặc biệt nhưng thua xa tiếng thơ của tập Đường Vào Tình Sử”. Còn Trần Phong Giao nói: “Ai cũng bảo Mê Hồn Ca là tuyệt tác, chỉ có ́mình cậu là khác”. Rồi Trần Phong Giao khẳng định: “Trong tất cả những tác phẩm của Đinh Hùng, gặp trường hợp chỉ được quyền cất giữ một cuốn thì tôi sẽ không ngần ngại gì trong việc chọn lựa Mê Hồn Ca. Vì đó là tất cả vũ trụ thơ anh. Vì đó là tất cả anh”.

Nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca, nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền cho rằng “thi phẩm này thuộc loại thơ nói ít hiểu nhiều, cái hay cốt ở chỗ sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mác, điều mà Đinh Hùng chắc đã chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire, Rimbaud. Thế giới Mê Hồn Ca là thế giới của đắm đuối say mê, của hoang sơ man dại, của chết chóc lạnh lùng, của nhiệm mầu huyền bí. Tình yêu trong Mê Hồn Ca thiết tha, mănh liệt và kinh khủng. Có nhà thơ nào đã xây dựng được cả một khu nghĩa trang huyền ảo như những bài Tìm bóng tử thần, Màu sương linh giác, Cầu hồn, Thoát duyên trần cấu, Gửi người dưới mộ… như Đinh Hùng?”

Còn nhà thơ nhà giáo Bàng Bá Lân cũng thích Mê Hồn Ca hơn Đường Vào Tình Sử, thích nhất Bài Ca Man Rợ vì bài thơ này rất giàu vần điệu và gợi hình, nhạc thơ toàn bài hùng mạnh một cách man rợ hợp với nhan đề..

Những ngày cuối cùng của Đinh Hùng

Vào trưa ngày 23/8/1967 – trước ngày Đinh Hùng mất – các bạn thơ và văn nghệ sĩ họp mặt trong một quán nhỏ, nhà văn Thanh Nam bộc bạch đọc bốn câu thơ mà ông rất thích:

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,
Giở tập thư xưa đọc trước đèn.
Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,
Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà ở đó, tấm tắt khen thơ hay quá, nhưng khi hỏi xuất xứ thì nhà văn Thanh Nam không nhớ, chỉ biết đó là thơ Đinh Hùngtrong cuốn Đường Vào Tình Sử. Về đến nhà nhà thơ Kiên Giang vội tìm cuốnĐường Vào Tình Sử để đọc bài thơ có bốn câu ấy. Đó là bài Gặp nhau lần cuối.

Tháng 7 năm 1967 khi bệnh tình của thi sĩ Đinh Hùng bỗng trở nặng, các thân hữu liền đưa ông vào bệnh viện Bình Dân để cứu chữa, nhưng bệnh ung thư chỉ có thầy tiên thuốc thánh mới cứu nổi.

Khi nhà thơ Tô Kiều Ngân vào thăm thì “trước mắt tôi không phải là chàng thơ phong vận từng bơi qua Hồ Tây, từng đánh đàn mandoline trong các phòng trà, nói chuyện có duyên, làm thơ tình ái rất hay. Người nằm đó chỉ là một bệnh nhân, mắt rất buồn, hơi thở mệt nhọc, đang chờ mổ mà tin tưởng thì rất mong manh… Người thơ của chúng ta trầm mình trong nỗi cô đơn giữa bốn bức tường bệnh viện lạnh lùng, đôi vai gầy, gầy thêm, khuôn mặt nhỏ, nhỏ thêm. Cuộc sống ở đây hoàn toàn bị lùi xa, bị tách rời”.

Có những người “vô danh” tình nguyện cho ông máu để đủ sức chịu đựng khi giải phẫu, nhưng đến nơi thì ông đã đuối quá ra đi rồi.

Tô Kiều Ngân viết tiếp: “Trước giờ liệm Hùng, tôi giở tấm vải trắng nhìn anh lần chót. Mớ tóc xõa ra, đôi mắt nhắm nghiền, da mặt trắng xanh. Buồn quá, không ngờ Hùng chết nhanh như vậy. 48 năm, thôi thế cũng được, 48 năm miệt mài với thơ, với nhạc, với Bộ lạc, Hải tần, Kỳ nữ, với “mây trắng bay đầy gối”, với “hiu hắt tiếng dương cầm”, đời anh toàn gắn liền với thơ, với rượu, kể ra đã thừa chất đẹp”.

Hôm đưa tang Đinh Hùng vào chủ nhật 27-8-1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi – là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm. Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh.

“Bên chiếc huyệt đào sẵn, Vũ Hoàng Chương gọi lớn : “Đinh Hùng ! Đinh Hùng !” nhưng người thơ phong vận không bao giờ lên tiếng nữa. Bậc đàn anh Vi Huyền Đắc ngậm ngùi bên bờ huyệt, Vũ Khắc Khoan lặng lẽ ném một hòn đất xuống quan tài. Thanh Nam bỏ ra ngoài lặng lẽ đưa khăn lau mắt, Hoàng Anh Tuấn khóc lăn bên nấm mộ… Khi ra về, đi bên cạnh Tuấn, tôi mới hỏi “Toa hôm nay xúc động quá nhỉ !”Tuấn nói “Đâu mình có khóc Đinh Hùng, khóc cho mình đấy chứ !” (Ký giả Lô-Răng).

Và như lời tiên tri, thi sĩ Đinh Hùng từng có bài thơ “Cung đàn tưởng niệm” để khi ông chết như một di chúc để lại cho mọi người, đọc khi đến viếng mộ ông, một thi sĩ tài danh yểu mệnh:

Cung đàn tưởng niệm

Khi anh chết, các Em về đây nhé,
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa.
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ,
Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ.

Em lả lướt, Em là Buồn cố kết,
Tự ngày anh ra sống kiếp trần ai.
Em khóc cho anh mối hận tình dài,
Em nói cho anh tấm lòng cô lữ.

Và em nữa, ôi Sầu-Hoài-Thương-Nữ !
Anh thường mê tiếng hát của Em xưa.
Những ngày vui, bóng mộng mất không ngờ,
Em thân ái vẫn cùng anh tưởng nhớ.

Anh quên đấy: còn người em duyên số,
Em đã về chưa nhỉ ? Hỡi Đau Thương !
Nhớ cùng Em đối bóng mấy canh trường,
Tự đêm ấy cầm tay nhau không nói…

Anh tưởng niệm các Em về một buổi,
Ở bên mồ, cỏ úa sắc chiều rơi.
Ngược Sông Mê, bàng bạc nẻo luân hồi,
Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt.

Anh đã thấy dáng Em Buồn cúi mặt,
Anh cảm lòng vì lệ của Thương đau.
Các Em sang vĩnh biệt tấm thân sầu,
Các Em khóc các Em buồn lắm nhỉ?

Phải xa anh, từ đây đường nhân thế,
Các Em đi, phiêu bạt giữa thời gian.
Và từ đây trong khe núi, bên ngàn,
Các Em dạo, làm những hồn oan khổ.

Anh bơ vơ lạc trên đường thiên cổ,
Lạnh tâm tư, mờ tỏ ánh tinh cầu.
Mất anh rồi, Các Em sẽ về đâu ?

“Đinh Hùng chết để sự nghiệp thơ ông trở thành bất tử” (Văn học hiện đại).

(Nguyễn Việt)

dinhhung_bìa thơ

Tựa Đoàn Thêm “In Trong ‘Đường Vào Tình Sử’ Đinh Hùng”

(Thế Phong)

Kính gửi thi sĩ Đinh Hùng,

Ông bạn có cho xem bản thảo tập thơ ‘Đường vào tình sử’ và tôi đã trình bày qua thiên kiến. Song ông bạn còn muốn tôi ghi rõ ra, để tiện bề ngẫm lại.

Tôi nghĩ thế khác nào phê bình, mà phê bình theo tôi, cần dành cho những nhà văn chuyên trách nghiên cứu, chớ không phải là công việc của những người cùng sáng tác, nhất là khi hai đường lối làm thơ không giống nhau, rất e nhiều phần chủ quan bất tiện.

Vả chăng, tôi đã đọc kỹ, ngay trên các trang đánh máy, khuyên tròn, sổ ngang, hay gạch bằng bút chì đỏ xanh để lưu ý tác giả, như vậy tưởng đã đủ phận sự một bạn đọc với tất cả sự thận trọng cần thiết để xét một tác phẩm.

Nhưng ông bạn còn bảo: chính vì thấy đọc kỹ nên mới đòi hỏi, và mặc dầu đã như trên, chỉ có nhận định về chi tiết, còn thiếu về đại cương toàn thể; vả lại, có chịu viết ra hộ, thì mới cân nhắc cẩn thận từng ý, chớ không hời hợt gọi là, như khi nói chuyện qua loa.

Từ chối làm sao bây giờ? Thôi thì đành hạ bút, với sự dè dặt của người hằng quan niệm phê bình như một ngành văn học rất cao, chứ không thể là sự phán đoán táo bạo của bất cứ ai cầm sách đọc. Dù sao, nhìn rõ được đến mức nào, với tư cách một độc giả, cũng xin trình bày để tùy ý ông bạn xét.

Tôi còn nhớ khi trao tay cho tôi tập thơ này, ông bạn vừa cười vừa bảo”: Đây là loại thơ tình, có xem thì xem…”. Xem lắm chứ, nhưng vì sao tác giả đã thốt ra câu đó? Ngụ ý, là e ngại rằng tôi coi thơ tình không hợp thời, hoặc không hợp với sở thích của tôi, bởi vì khi tôi làm thơ, bạn biết tôi thường tránh nói thẳng về tình ái. Ông bạn đã xác nhận, thì tôi phải đính chính.

Lỗi thời, hợp thời ? Một vấn đề làm nhức óc kẻ sáng tác. Song đối với riêng tôi, và như có dịp trình bày trên một tạp chí, hợp thì càng lợi cho tác giả, không hợp thì chưa chắc đã hại gì đến giá trị tác phẩm. Nhiều tranh vẽ của Monet, của Cézanne, của Matisse, của Picasso, khi mới trưng ra, đã bị công chúng và các nhà phê bình mạt sát đả kích: nhưng cách đó một vài năm hay một vài chục năm, các vị trên lại được ca ngợi và họa phẩm được đấu giá hàng mấy trăm triệu quan mỗi bức. Ngược lại, có nhiều tác phẩm, tưởng là bị loại bỏ rồi, mà vẫn được các giới trí thức ưa chuộng, tỉ như kịch của Shakespeare. Vậy ông bạn không nên băn khoăn, chúng ta chỉ biết sáng tác bằng tất cả tâm hồn ta, giá thử tâm hồn đó đã được đào luyện theo nếp bị coi là cũ, thì đổi đề tài hay kỹ thuật cũng chỉ gượng gạo; và ngược lại, nếu tâm hồn ta được đào luyện theo các phương pháp mà có người cho là tân tiến, thì ý và lời ta muốn có vẻ khác, cũng chẳng thể dối ai. Tằm nhả tơ hay ong kéo mật, có biết là hợp thời hay lỗi thời đâu? Ta có mật, tuy đã có từ mấy ngàn năm nay, nhưng điều tốt đẹp, vẫn không thiếu người ưa.

Còn tình yêu mà ông bạn ca hát, đâu có lỗi thời ? Chất sống của con người mất làm sao được ? Có lẽ ông bạn ngại vì có người bảo: đương ở giai đoạn tranh đấu cho cuộc sống còn của dân tộc và nhân loại giữa lúc cần” nói lên” những thắc mắc và giải quyết những vấn đề con người thời đại “ vv… sao vẫn yêu đương vớ vẩn và say sưa mộng đẹp? Không bàn cãi vì ngại lạc đề, tôi chỉ nhìn nhận khách quan một sự hiển nhiên: hiện nay vẫn chẳng có tiểu thuyết nào hay, phim điện ảnh nào hay, mà hoặc không có tình hay không có người đẹp. Bỏ tình đi, đuổi hết người đẹp đi, vô số nhà xuất bản và các rạp điện ảnh sẽ đóng cửa: chẳng lẽ cho vỡ nợ cả. Tôi cũng tự hỏi vì sao hôm nay có phim ái tình ly kỳ thì hàng ngàn người gìa trẻ trai gái chen chúc lấy vé, ngay ở những thời kỳ bom đạn 1942-1945 .

Vậy tôi thiết nghĩ ông bạn cứ tùy ý chọn đề tài, hay đúng hơn cho nhà thơ, thì cứ theo cảm xúc riêng đưa đẩy tới những điệu vần hòa hợp với đời sống nội tâm, nếu tình yêu là chất đẹp dồi dào mạnh mẽ nhất của đời sống đó: chẳng lẽ tôi lầm, khi đã theo dõi dòng thơ của ông bạn chan chứa qua hàng trăm bài, nhất là từ” Mê hồn ca “? Tôi vẫn biết hiện nay một số nhà thơ đã tìm nguồn mới, ở cảnh vật nhìn theo những đường lối mới của nhỡn quan; hoặc những khu vực khác của linh hồn, trong thâm tâm u uẩn, hoặc những xúc động của thời đại, và tôi cũng không mong gì hơn là nhà thơ Việtnam dấn bước đến những miền bao la đó, thì tứ thơ của ta mới phong phú như của thi nhân Âu châu. Song chính ở Pháp, tôi thấy nhà thơ, tuy đã ngao du ở nhiều non nước lạ, cũng vẫn thiết tha với người đẹp, hoặc chưa dứt được yêu đương. Trong hai cuốn hợp tuyển toàn những thơ tình vừa xuất bản năm 1955 “ Anthologie de la Poésie amoureuse” của Georges Pillement có cả những nhớ nhung thao thức của Paul Valéry, Paul Claudel hay Marie-Noel là những thi nhân thiên về triết lý hoặc tín ngưỡng cao siêu, chớ không kể xiết những người như Aragon thất thanh kêu gọi nàng Elsa ?

Cho nên tất cả vấn đề ở đây, không phải là cứ làm thơ tình hay không nên làm nữa, nhưng là diễn tả thứ tình chi, với lời lẽ như thế nào, và làm sao rung động được, sau khi mặc khách tao nhân từ mấy ngàn năm nay đã cho chảy bao nhiêu suối mực, tràn bao nhiêu lớp sóng nước mắt vì mỹ nhân và tung ra bốn phương trời bao nhiêu luồng gió “ phong tình”? Vậy thì tình của ông bạn có những đặc tính gỉ ? Tôi không dám đòi hỏi những sự tân kỳ, vì đã yêu thì con người nào chẳng nhớ nhung, thương tiếc, sầu, ghen, giận, tủi, khóc, cười… Tôi cũng không dám đòi hỏi như nhiều bạn khác, rằng thi nhân phải nói hộ bằng lời đẹp hơn của tôi, những tình cảm mà tôi không diễn tả nổi. Vì tôi trọng tự do của mỗi con người, xin để cho mỗi người sáng tác cảm xúc theo cá tính và hoàn cảnh riêng biệt của người ta trước hết; rồi nếu hợp với tôi, thì càng tốt cho tôi; nhược bằng không nói hộ gì cho tôi, thì cũng chẳng sao. Cần nhất là họ hãy nói ra cho đẹp những gì của họ đã. Nếu không thế, thì tôi sẽ mắc lỗi độc đóan, kiêu căng ép buộc người ta phải hợp với tôi hay sao Nhưng tôi lại xin đặt vấn đề nội dung và văn thể như sau, vì tôi muốn đòi hỏi gắt gao hơn ở một thi nhân có tên tuổi: thi nhân yêu với ánh sắc chỉ mang bóng dáng Đinh Hùng, với lời lẽ gì gợi ra được những ánh sắc đó?

Thường khi đọc thơ tình, cũng như nhiều bạn, tôi hay tò mò tự hỏi : người đẹp ở đây là ai, đã có chuyện với tác giả trong trường hợp nào ? Thi sĩ Lamartine có nàng Elvire, Hugo có Drouet, Vigny có Marie Dorval là nữ tài tử kịch trường đi lại lâu năm… Vậy thì giai nhân của Đinh Hùng người ở đâu ta, gặp gỡ bao giờ, hay ít ra tên ho là chi ?

Phải chăng là cô Tần Hương mặc áo hoa vẽ bướm, đã khiến thi nhân tơ tưởng, khiến:

Chàng nhặt từng cánh hoa
Giữ từng con bướm ép ?

Không, đó chỉ là hình ảnh lơ mơ trong đầu óc người thiếu niên đương tuổi bừng xuân, áp ủ “Giấc mộng ban đầu” cũng như bóng dáng phơ phất qua đường với:

Cặp má nào phơn phớt ánh phù dung
Đâu lả lướt mái tóc dài sóng gợn ?
(trong bài “Khi mới lớn”)

Hay là cô nhỏ ngây thơ còn trèo cây khế, vin hái quả xanh bên tường ? Không thể vì lại thấy em khác trong cảnh “Da hội” tưng bừng cho say mê chốc lát, để rồi thi sĩ thở than..

Ta chọn nhầm hoa, lẫn ái tình

Nếu cứ dò la như vậy thì đọc hết hàng mấy trăm câu cũng chưa tìm ra ái với dung nhan và tính tình rõ rệt. Khó lắm, chúng ta có kiên tâm thì cũng chẳng hài lòng, chỉ như Lưu Thần, Nguyễn Triệu trở lại tìm tiên mà chỉ thấy khói mây nghi ngút .

Tôi đọc nữa và ngẫm lại. Thôi phải rồi. Người đẹp của Đinh Hùng không phải là con nhà họ Trần ở Hà Nội hay họ Lưu ở Saigon. Đâu phải người cõi này ? Nàng là “Em Huyền Diệu”, là “Nữ Chúa Sầu”, là “Công Chúa Si Mê”, là “Sầu Hoài Thương Nữ”, nàng

…tự ngàn xưa chuyển bước về
Thuyền trao sóng mắt dán trăng đi

Dĩ nhiên nàng đẹp, nhưng với những dáng vẻ thấp thoáng của con người xứ mộng. Nàng ẩn hiện biến hóa khôn lường. Có lúc nàng mượn hình ở “Lam tuyền viễn mộng”..

Nép mặt hoa rừng mưa giấc ngủ
Ngàn thương mái tóc xõa như mây
Có khi, nàng là thiếu nữ chờ yêu nũng nịu
Hồng lên má phấn hoa bừng tỉnh
Xuân với em vừa lá tóc xanh

Buổi khác, nàng nhập vào mỹ nhân bên hàng xóm, gió hiu quạnh rung phím dương cầm:

ôi mắt xanh, mày lặng, áng mi dài
người khuê nữ tóc buồn như suối chảy

Những đêm trăng, khi lòng chàng thao thức nàng rón rén đến gần bên:

Tuyết rợn làn da bóng nguyệt trôi

Lại có lần như người kiếp trước, nàng lặng lẽ đến trong giấc ngủ canh khuya:

Em đến mong manh góc ngọc chìm
Tàn canh hồn nhập bóng trăng im

Rồi chán làm cô gái nhỏ leo cây khế, hoặc cô vũ nữ một đêm vui, hay cô Tần Nương nào đó, nàng hóa thân ra tất cả các cô em xinh xắn ngây thơ..

Các em đi tha tướt áo màu hoa

hoặc:

những nàng như liễu mắt xa xôi
để thi sĩ ngẩn ngơ say tỉnh

Chàng đã sống với nàng ra sao ? Rất thiết tha, đằm thắm: lúc “kể chuyện lòng” hay “tư tình dưới hoa”, lúc “gắn chặt lời thề trên gối” hoặc cùng hòa nhịp ân tình dạ khúc… Chàng kêu gọi “xin hãy yêu tôi”, say sưa chỉ vì một tiếng em, có bận “hờn giận nhau rồi tình lại mới”, chàng đã từng được hưởng cảnh ấm cúng, trong buổi “xuân ấm hương rừng”, ở giờ phút mở lòng đón “hy vọng chiều xuân”. Nhưng rồi cũng như bao khách si tình khác, phải chia phôi thương nhớ “gặp nhau lần cuối” trải qua đêm chớp bể mưa nguồn, bơ vơ trên đường khuya trơ bước, dù sao cũng “lạc hướng Mây Tần” (*). (*:- những chữ “trong ngoặc” lấy ở đầu đề các bài thơ của Đinh Hùng”- Đoàn Thêm chú thích.)

Điều rất đáng chú ý, là tuy họ yêu nhau, chàng thiết tha vô cùng, mà nàng thì ngay trong những giờ phút gần gũi, xem chừng không đủ đằm thắm để đáp lại mối tình sâu xa, sôi nổi, day dứt của chàng.

Chàng đón chờ từng nụ cười, khóe mắt, làn hương trên tóc, một lời êm ái, một bước đi..

Chừng nghe qua bóng lá xanh
Có chân ai lặng bước nhanh trong sầu
(Thủy mặc)

Chàng băn khoăn thăm dò từng ý nghĩ, từng rung động của nàng và mỗi khi gần nhau, mong muốn nàng cũng xao xuyến như về mọi cảnh mọi sự để” hai linh hồn vào chung một mộng / hai bóng người làm một bóng thôi” ( Sâm Thương sầu nhạc). Cho nên, chàng phải gạn hỏi rất nhiều

– Em đã cho lòng thương nhớ chưa?
Khi chiều sương bạc ánh saot hưa
– Em có vì thu gieo lệ không ?
(Lạnh mùa đông cũ)

hoặc:

– Em hiểu rằng tôi yêu đến đâu
Khi trăng sơ ý xế ngang đầu
Hồn đêm chợt thoáng qua làn mắt
Tôi ngẩng nhìn em một thoáng mau

hoặc:

– Em muốn đôi ta mộng chốn nào ?
Ước nguyện đã có gác trăng sao…
(Tự tình dưới hoa)

Lúc vui cùng hỏi, lúc buồn cũng muốn biết, nghĩ sao:

– Em trở về đây để nắng hồng
Hồn xưa còn đẹp ý xưa không ?
(Buồn xưa)

Thu về em đã gặp thu chưa?
Giải nước trường giang lạnh mấy bờ ?
(Nụ cười thương nhớ)

Nhưng Nàng cứ im lặng, đôi khi nở nụ cười, nhiều lúc ngả bóng mi sầu, chẳng thấy trả lời một câu, dầu chàng năn nỉ hết lời: muốn biết dĩ nhiên cần nghe nói, và cứ lặng thinh thì thông cảm làm sao ?

– Nói đi em, từng ý nhỏ mà say
Từng rạo rực cánh lòng hoa đương mở
– Nói đi em cho từng mảnh sao rơi
Từng vũ trụ tắt dần trong lồng ngực

Hay là chẳng lên tiếng, thì ít ra cũng biểu lộ tâm tình bằng cách khác:

– Em hãy cười như thuở mới quen
Trời xanh trao khóe mắt như thuyền
Em hãy nhìn như thuở mới say
Màu xuân tô nét nắng đôi mày
(Hy vọng chiều xuân)

Van lơn mãi, cũng vậy thôi, “anh nhìn em như chiêm ngưỡng một hành tinh,” ( Đường vào tình sử) song “Em nhìn lơ đãng biết bao nhiêu !” (Truyện lòng). Kết cục, là anh đau khổ vì không thỏa dạ:

Khát vọng còn nguyên lửa cháy rừng
(Lời thề trên gối)

Trước tình trạng đó, ai có thể hành động khác thi nhân, nghĩa là chẳng ôm hận ra đi, mặc dầu vẫn yêu:

Từ buổi ấy, mê một làn hương quý
Tôi ra đi chưa biết sẽ về đâu ?
(Giáp mặt phù dung)

Mà có muốn tìm an ủi chốn khác, cũng vô ích, và chỉ:

thấy quanh đây toàn xác thịt âu sầu
toàn những dáng hoa phai buồn ủ rũ

Vì khát vọng của nhà thơ đâu phải là những xác thịt, nhưng là một tâm hồn bạn, một tâm hồn vừa chan chứa yêu thương, lại vừa cảm thấy được tất cả nỗi lòng thi sĩ vói bao nhiêu hoài mênh mang trước những bóng vang huyền ảo của tạo vật, những uẩn khúc vui buồn nhớ tiếc từ dĩ vãng tha về con người hiu quạnh trong hiện tại và âm thầm chờ đợi tương lai. Lạc bước đi tìm lại hạnh phúc của những ngày vui không còn nữa:

Dòng sông bơ vơ tìm dĩ vãng
Thuyền trôi bang khuâng về tương lai
(Hờn giận)

Và lời gió cùng run cùng cánh bướm
Em không thấy u hoài như sóng gợn
Tự lòng anh rung lại mấy thanh âm
(Tiếng dương cầm)

Ngày xưa bướm trắng mây vàng
Ta sống trong vườn tiên giới
Bây giờ lạc xuống trần gian
Tôi đi tìm Bồng lai mới
(Linh hồn Hoài Điệp)

Nỗi cô đơn trước cuộc đời và vũ trụ đã giải nghĩa khát vọng yêu đương kia, và được diễn tả qua những điệu vần đượm sầu man mác:

Giữa đêm lòng bỗng hoang vu
Gối chăn nghe cũng tình cờ quan san
(Vào thu)

Mây bay ánh mắt trăng tà
Nắng hương cỏ dại, sương pha áo ngàn
Người đi vào giấc mơ tan
Ta soi dòng suối đêm tàn tìm nhau
(Xuân ấm hương rừng)

Đêm tàn, núi đổ, ra đi một mình
(Hoài niệm)

Hồn rừng động tiếng nai kêu
Con thuyền độc mộc trôi theo nỗi buồn
(Sóng hồ Ba Bể)

Nhịp bước nắm cung đàn ảo tưởng
Buông chìm tâm sự nửa đêm say
(Một tiếng em)

Nhưng khách tình si còn nặng nợ với giai nhân, nên tuy lòng tự nhủ lòng, mà vẫn thiết tha kêu gọi, không phải để van lơn cho riêng mình, nhưng tin rằng tình yêu của mình rất cần thiết cho tất cả những ai là hiện thân của sắc đẹp muôn đời muôn vẻ, vì thi nhân sinh ra đời để ca tụng Đẹp của Hóa công, hoặc dùng thơ mà điểm tô Đẹp đó:

– Xin hãy yêu tôi, những lòng thiếu nữ
Tôi chép thơ ca tụng miệng hoa cười
– Tôi không yêu sao có má em hồng ?
Tôi không buồn sao có mắt em trong ?
Tôi không mộng sao có lòng em đẹp ?
– Yêu tôi với, tôi làm thơ ân ái
Để yêu người và cũng để người yêu
Để các em qua từng bước diễm kiều
Trong cánh nước non tình tôi xếp đặt.
(Xin hãy yêu tôi)

Như thế, nghĩa là thi sĩ vẫn yêu, không phải là yêu một người, nhưng yêu đời, yêu sắc đẹp. Cứ như thế mãi, hoa vẫn nở vẫn tàn, nước vẫn chảy, sông núi vẫn im lìm, giai nhân vẫn lặng tiếng; nhưng Đinh Hùng vẫn yêu như đã yêu từ muôn kiếp trước rồi “hóa thân vào nét chữ cuồng si”.

Chẳng biết sau khi nhận xét như trên, tôi đã thấu đáo hồn thơ của ông bạn chưa ? Dù sao, tôi đã hết lòng tìm hiểu đươc phần nào xin trình bày ra phần ấy.

Chắc ông bạn còn muốn biết ý kiến tôi về lời thơ.

Như tôi thường thưa chuyện với ông bạn, thiết nghĩ lời thơ phải tùy tứ thơ, chất thơ, là phần cốt yếu. Đã là tình yêu, thì không cần gọt rũa như khi khách quan tả cảnh, hoặc dùng những chữ mới lạ như khi muốn gợi những thắc mắc hoang mang; nhưng trái lại, lời phải thốt ra từ đáy lòng, càng sát bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, thành thực của ý hiện ra bình dị của lời.

Về điểm đó, tôi nhận thấy ông bạn đã thành công ở nhiều bài nhiều đoạn và những câu mà tôi đã trích ra không những có tính cách dẫn chứng về nội dung, còn bộc lộ được tình cảm, có khi với âm hưởng hồn nhiên của lời ca dao thôn dã, nhưng luôn luôn có giọng đơn sơ thân mật của câu tâm sự hai người. Kể ra thì còn nhiều đoạn khác nữa, để khiến cho độc giả nhập tâm, chính tôi đã thuộc lòng những câu như:

Tôi hết thơ hoa, mộng bướm rồi
Bây giờ lòng kể truyện lòng thôi
Bởi em mơ dáng sầu đôi chút
Tôi mới bâng khuâng ngỏ mấy lời.
(Truyện lòng)

Tả tình như vậy, tả cảnh cũng có một đặc sắc: cảnh ngắm qua tình, tình hợp với cảnh, hay chỉ mượn cảnh tả tình ? không thể phân biệt rõ, nhưng chính vì thế mà cảnh không bao giờ khó khăn, lúc nào cũng đượm vui buồn; nghĩa là cảnh có hồn vậy

…Còn nhớ tới bây giờ
Những buổi trưa hè, tiếng võng xưa
Câu chuyện đêm trường bên giếng nước
Tiếng buồn, ai hát giọng đò đưa ?
(Lạc hướng Mây Tần)

Nhưng đơn giản không phải là thiêu thú vị, và những thi ảnh gợi ra bằng vài nét, nhiều khi thấp thoáng như bóng vang hay những cảm giác êm dịu, vì ngả về sầu, và được buông theo những vần điệu nhẹ nhàng:

Em về rũ tóc mưa sa
Năm canh chuốt ngón Tỳ bà khói sương
(Vào thu)

Lá xanh che khuất đường trưa
Bóng thêu hoa nắng lưa thưa điểm vàng
(Thủy mặc)

Bỗng nghe lạc trận mưa ngàn đổ
Cả một mùa thu đã quá giang
(Sóng nước đồng chiều)

Song theo tôi, đó chỉ là những vẻ đẹp rất thường gặp ở một nhà thơ nhiều năm tên tuổi.

Kính bút,

Saigon, ngày 25 – 12 – 1960
(ĐOÀN THÊM – trích “Chiêu niệm 4 nhà văn Saigon” / Thế Phong / NXB Đồng Nai 1999 [từ trang 35- 44])

(Thế Phong)

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

Bánh Xe Lãng Tử là một tuyệt tác của nhạc sĩ Trọng Khương.

Bài hát hay nhưng có đặc biệt ở một kiểu cười.

Trong bài hát, có lẽ người nghệ sĩ bị thất tình thành bỏ đi giang hồ. Anh chàng lãng tử giận người mắt… xanh, đã cười “a ha ha!” Tuy cũng chỉ là cười, nhưng thật ra kiểu cười này vừa có vẻ ngạo nghễ, vừa có vẻ cay đắng. Chưa thấy ai và chắc chả bao giờ có người nào đem được cái nét cười này vào âm nhạc Việt Nam như ông Trọng Khương. Chàng nghệ sĩ đã cười ra nước mắt và khi cười chán chê, đâm ra đau đớn, giận đập vỡ cây đàn kỷ niệm ở bên bờ suối trong một đêm vắng. Rồi chàng uống rượu, ngà ngà say và lại lên xe ngựa già để… “lắc lư con tầu đi” dưới ánh trăng vàng, tiếp tục vừa đi vừa hát, sống cuộc đời lang bạt.

BÁNH XE LÃNG TỬ

(nhạc và lời Trọng Khương)

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt

Hình xe mờ khuất trong mênh mông
Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng tràn máu vô tư

A ha ha!
Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn
Giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh
Trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt lướt lên trời xanh lam

Ghen là một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trọng Khương. Bài hát viết nguyên thủy theo điệu Fox, thật vui và dễ … yêu. Đây là bài tình ca do Trọng Khương phổ nhạc vào thơ Nguyễn Bính. Nhạc của Trọng Khương đã diễn tả được đúng ý vui nhộn của thi sĩ Nguyễn Bính, diễn tả một chàng si tình và… ghen.

Vì “yêu quá mất rồi”, thành ghen. Người ghen không muốn cô em nghĩ đến bất cứ ai cả, không muốn cô tắm biển để người khác ngắm, không muốn thấy cô xức nước hoa làm người khác ngây ngất…
Ghen tuy không đến nỗi “ghen lồng ghen lộn” nhưng cũng khá “vô lý” khi muốn người yêu bé nhỏ chỉ làm những chuyện cho mình thôi, dù là những chuyện bình thường khó tránh được như nhìn, mỉm cười.

Và cũng chỉ vì “ghen đấy quá mà thôi”, không những anh ta chỉ ghen với người mà chàng còn ghen với cả cây cỏ, đồ vật. Phải nói là anh chàng ghen một cách “kỳ la” nữa, khi không muốn người đẹp hôn một đóa hoa xinh tươi, hay căn dặn người tình lúc nằm ngủ không được ôm… gối:

GHEN

(thơ Nguyễn Bính, nhạc Trọng Khương)

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
dầu chỉ qua rồi khách lại qua

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

Ngoài Bánh Xe Lãng Tử và Ghen, một tác phẩm hay khác của nhạc sĩ Trọng Khương, rất đáng nhắc đến, là nhạc phẩm Về Miền Nam. Bài hát này có một thời được hát rất nhiều trên các đài phát thanh. Lúc đó vào thời điểm ngay sau Hiệp Định Genève 1954, đất nước thân yêu Việt Nam bị chia đôi ở dòng sông Bến Hải và kết quả làn sóng hàng triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam.

Trọng Khương dẫn dắt thính giả, từ tang thương chia cắt đất nước và đau đớn của hận ly hương, đến sự hy vọng trong đời sống mới với đầy hy vọng, trong nắng ấm yêu thương của miền Nam Việt Nam.
Sau đây là lời bản nhạc Về Miền Nam, bản nhạc ngày đó thực sự đã làm xúc động người nghe và cả người hát:

VỀ MIỀN NAM

(nhạc và lời Trọng Khương)

Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền Nam thân yêu nắng ấm
Theo bước chân người xưa, ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi

Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu
Việt Nam ơi!

Sông buồn khóc nước tang thương
Sông gầm thét khúc bi thương
Sông sầu nước mắt ly hương
Việt Nam ơi!

Đi về miền Nam
Miền thân yêu hương lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam
Miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống

Vang lừng khúc hát hoan ca
Say đời sống ngát hương hoa
Ta cười đón gió phương Nam
Miền Nam ơi!

Đây miền đất nước xinh tươi
Đây miền nắng ấm reo vui
Đây miền sống phắp muôn phương
Việt Nam ơi!

Ngoài ra Trọng Khương còn sáng tác những bản tân nhạc nữa như Đường Về Nhà Tôi, Nhớ Rừng Hoang, Men Rượu Lên Hương, Duyên Thắm, Hai Kẻ Giang Hồ, Đôi Guốc Mới, Cai Thuốc Lá… và những tác phẩm này không mấy nguời biết đến.

Nhưng phải nói, chỉ cần ba bản nhạc tuyệt tác như Bánh Xe Lãng Tử, Ghen và Về Miền Nam, Trọng Khương cũng đã thành danh mãi mãi…

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

oOo

Đường Vào Tình Sử – Ca sĩ Nhật Trường:

 

Đường Vào Tình Sử – Ca sĩ Tuấn Vũ:

 

Đường Vào Tình Sử – Ca sĩ Hà Thanh:

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đường Vào Tình Sử” – Đinh Hùng & Trọng Khương”

  1. Chi Phuong oi! Bay gio em moi biet tac gia Hoai Diep Thu Lang chinh la Thi Si Dinh Hung day, that la thu vi. Em cam on chi nhieu.
    Them nua, em cung rat thich bai tho pho nhac ” Ghen ” cua thi si Nguyen Binh, truoc gio em van nghi bai hat nay la cua nhac si Pham Duy.

    Em chuc chi va anh Hoanh luon khoe manh, binh an trong phuc lanh cua Thien Chua.

    Em-QNhu.XOXO

    Số lượt thích

  2. Hi Quỳnh Như,

    Better late than never Như nhỉ? 🙂

    Rất nhiều người tưởng lầm bài “Ghen” là của NS Phạm Duy chứ không riêng gì em đâu. NS Trọng Khương là một trong những nhạc sĩ tài hoa của VN mình. Rất tiếc ông mất quá sớm trong một hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã thương tâm.

    Cám ơn em chúc lành cho anh chị. Luôn đầy ân phúc trong Thiên Chúa Như nghe.

    Chị Phượng XOXO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s