Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Tiễn Đưa” – Nguyên Sa & Song Ngọc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Tiễn Đưa” (Tiễn Biệt”) của Thi sĩ Nguyên SaNhạc sĩ Song Ngọc.

Thi sĩ Nguyên Sa tên thật là Trần Bích Lan sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998, ngoài ra ông còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ tình lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris Có Gì Lạ Không Em”, “Tuổi Mười Ba”, “Tháng Sáu Trời Mưa” (“Tình Khúc Tháng Sáu”), Tiễn Đưa.. v.v.

Tổ tiên ông gốc ở Thuận Hóa (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp Tá Đại Học Sĩ trong triều đình nhà Nguyễn thời Vua Tự Đức, đến đời nội tổ của ông mới dời ra Hà Nội.

Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị nhóm Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949.

Năm 1953, ông đậu tú tài Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại Học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này.

thi sĩ Nguyên Sa & phu nhân Trịnh Thúy Nga - thời sinh viên du học tại Paris (Pháp).
Thi sĩ Nguyên Sa & hiền thê Trịnh Thúy Nga – thời sinh viên du học tại Paris (Pháp).

Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, gia đình ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông cùng gia đình sang định cư tại California, Hoa Kỳ, từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

Khi còn ở Sài Gòn, thi sĩ Nguyên Sa dạy triết tại trường Trung Học Chu Văn An, đồng thời mở lớp tại nhà dạy triết cho học sinh chuẩn bị thi tú tài 2. Ông cũng có thời gian dạy triết tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Ông mở hai trường tư thục là Văn Học và Văn Khôi.

Ngoài hai trường nhà, ông còn cộng tác với nhiều trường khác ở Sài Gòn như: Văn Lang, Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, Thủ Khoa, Thượng Hiền.

Thi sĩ Nguyên Sa.
Thi sĩ Nguyên Sa.

Tại Việt Nam, ông chủ trương tạp chí Hiện Đại. Tạp chí này được xem là một trong ba tạp chí sáng tác hàng đầu của Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ, cùng với Sáng Tạo và Thế Kỷ 20.

Qua Hoa Kỳ, ông chủ trương Tạp chí “Đời”, Trung Tâm Băng Nhạc “Đời” và Nhà Xuất Bản “Đời”.

Về phương pháp làm thơ, thi sĩ Nguyên Sa có thuyết cho rằng vần thơ nếu luôn luôn thật sát thì sẽ nhàm chán. Vần không sát hẳn, thậm chí lạc vận, nếu sử dụng đúng cách, đúng chỗ, vẫn ra một bài thơ hay. Ông nói nhiều về thuyết này trong “Nguyên Sa – Hồi Ký”. (Trích: “Vần thơ có vần chỉnh, vần thông, vần cưỡng áp và lạc vận. Vần chỉnh không cần sự hỗ trợ, không cần sự phối âm, nhưng sự sử dụng những nền âm thanh khác biệt có khả năng làm cho vần thông trở thành vần chỉnh, vần cưỡng và ngay cả vần lạc cũng được nắm tay giữ được trong khoảng không gian giữa trời, giữa đất mênh mông.”)

Thi sĩ Nguyên Sa qua đời ngày thứ Bảy, 17 tháng 4 năm 1998 tại Hoa Kỳ. Ông thọ được 66 tuổi.

Ca/Nhạc sĩ Song Ngọc.
Ca/Nhạc sĩ Song Ngọc.

Nhạc sĩ Song Ngọc tên thật Nguyễn Ngọc Thương, sinh năm 1943 ở Long Xuyên, An Giang. Ông nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 tại Miền Nam Việt Nam với những ca khúc viết về tình yêu.

Ông chẳng những là một nhạc sĩ mà ông còn là một ca sĩ chuyên ngiệp và là anh trai của ca sĩ Kiều Oanh. Ông viết nhạc từ năm 1957 với sáng tác đầu tiên “Mưa Chiều”, nổi tiếng từ năm 1960 với bài “Tiễn Đưa” (phổ thơ Nguyên Sa), cho đến nay ông đã có trên 300 ca khúc.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ông sang định cư tại Hoa Kỳ, trở thành một thương nhân thành đạt, bên cạnh đó ông vẫn tiếp tục sáng tác.

Nhạc sĩ Song Ngọc là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng phổ biến trước năm 1975 như:

“Tiễn Đưa”
“Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân”
“Chiều Thương Đô Thị”
“Tình Yêu Như Bóng Mây”
“Mưa Ướt”
“Giờ Tý Canh Ba”
“Tuổi Mùa Xuân”…,

và sau 1975 như:

“Đàn Bà”
“Hà Nội Ngày Tháng Cũ”
“Hương Đồng Gió Nội”…

Ngoài nghệ danh Song Ngọc, ông còn dùng các bút hiệu khác: Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến.

Năm 2004, Trung tâm Thúy Nga có thực hiện chương trình “Paris By Night 75” vinh danh ông và hai nhạc sĩ Huỳnh Anh, Nguyễn Hiền.

Trước năm 1975, ông có thực hiện 5 cuốn băng nhạc mang tên ông:

-Song Ngọc 1: Chuyện Tình & Kỷ Niệm
-Song Ngọc 2: Những Ngày Xưa Yêu Dấu
-Song Ngọc 3: Hoa Bướm Ngày Xưa
-Song Ngọc 4: Tình Yêu & Xa Cách
-Song Ngọc Xuân 1974: Mùa Xuân Hạnh Phúc

Hiện nay ông đang định cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Thi sĩ Nguyên Sa thời trẻ.
Thi sĩ Nguyên Sa thời trẻ.

Thi phẩm “Tiễn Biệt” (Thi sĩ Nguyên Sa)

Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi
Muôn vị hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi

Người về trên một giòng sông xanh
Trên một con tàu hay một ga mông mênh
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh

Sao người đi sâu vào không gian trong
Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông
Và sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song

Người về chiều nắng hay đêm sương
Người về đò dọc hay đò ngang
Câu thơ sẽ là lời hò hẹn
Nhưng nói làm gì tôi xin khoan

Nhưng người về đâu, người về đâu
Để nước sông Seine bỡ ngỡ chảy quanh cầu
Sao người không là vì sao nhỏ
Để cho tôi nhìn trong đêm thâu

Sao người không là một cung đàn
Cho lòng tôi mềm trong tiếng than
Khi trăng chảy lạnh từng chân tóc
Khi gió se trùng muôn không gian

Sao người không là một con đường
Sao tôi không là một ga nhỏ
Mà cũng có những giờ gặp gỡ
Cũng có những giờ chia tan?

Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui
Áo không có màu nên áo cũng chưa phai
Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ:
Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?
(Paris, 1954)

songngoc_Tiển Đưa1

songngoc_Tiển Đưa2

Thi khúc “Tiễn Đưa” (Nhạc sĩ Song Ngọc)

Người về chiều mai hay đêm nay
Người sắp đi hay đã đi rồi
Muôn vị hành tinh rung rung
Lung linh thềm ga vắng
Hay rượu tàn rung trên môi
Người về nhặt sao rơi đêm nay
Đường sắt kia trên những con tàu bùi ngùi
Sao đường tàu không đi quanh
Cho con tàu xuôi bến
Tay người lại trong tay tôi

Đêm vẫn trôi canh dài bồi hồi
Ai tiễn ai nên hẹn nhiều lời
Biết bao điều thương yêu
Tàn đêm bên quán nhỏ
Sân ga vời vợi nhớ
Chuyện tâm tư thành thơ

Mà người về nơi đâu nơi đâu
Tàu vẫn đi nên vẫn có người đợi chờ
Sương lạnh nhẹ rơi trên vai
Trăm con tàu trăm lối
Tôi đưa người hay đưa tôi

Dưới đây mình có các bài:

– Vị trí và ảnh hưởng thơ Nguyên Sa trong Văn học Việt Nam (kỳ 1 & 2)
– Song Ngọc và một đời sáng tác

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Tiễn Đưa” do các hai ca sĩ Thái Châu và Ý Lan diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nguyensa_Tập Thơ4

Vị trí và ảnh hưởng thơ Nguyên Sa trong Văn học Việt Nam (kỳ 1 & 2)

(Du Tử Lê)

Kỳ 1

Bối cảnh xuất hiện thơ Nguyên Sa

Trong sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam có một số hiện tượng xấu cũng như tốt, thật cũng như giả, nổi bật, được ghi nhận.

Tùy trình độ học vấn, tư duy, cảm thức, góc đứng của mỗi cá nhân,…

… những hiện tượng ấy được lượng giá.

Một trong những hiện tượng văn chương nổi bật, còn vang dội tới ngày hôm nay, ở khía cạnh tốt đẹp nhất của sự kiện, theo tôi, là sự xuất hiện, ở lại sâu, rộng của tiếng thơ Nguyên Sa. Khi sử dụng hai tính từ “sâu và, rộng,” tôi muốn nhấn mạnh tới khía cạnh quảng đại quần chúng.

Tôi nghiệm thấy, trong môi trường văn học, nghệ thuật của miền Nam 20 năm, có những tác giả được người cùng giới nhìn nhận, đánh giá cao. Nhưng lại là khuôn mặt mờ nhạt, hay xa lạ với đám đông. Ngược lại, cũng có những tác giả được quần chúng đón nhận một cách nồng nhiệt, nhưng lại không được văn giới nhìn nhận, vì thiếu tính văn chương, sáng tạo.

Do đấy, theo tôi, một tác giả chỉ thực sự được gọi là tác giả lớn, khi tác giả ấy có được cả hai yếu tố vừa kể.

Trong số không nhiều, những thi sĩ của miền Nam, hội đủ cả hai yếu tố nêu trên, là nhà thơ Nguyên Sa.
Trước khi đi sâu vào cái mà tôi muốn gọi là “hiện tượng thơ Nguyên Sa,” có lẽ chúng ta nên lược qua bối cảnh của nền văn học, nghệ thuật miền Nam, tính từ điểm mốc Hiệp Ðịnh Geneva, ngày 20 tháng 7 năm 1954.

Hiệp định cắt đôi Việt Nam thành hai phần với hai chính thể hoàn toàn đối nghịch nhau, là đầu mối dẫn đến cuộc di cư của trên 1 triệu đồng bào miền Bắc, vào Nam.

Trước khi có cuộc di cư vĩ đại ấy, xã hội, đời sống, tâm tình của người miền Nam được kể là rất mực hiền hòa, dung dị. Phải chăng, cũng vì đặc tính này mà, sinh hoạt văn học, nghệ thuật miền Nam được coi là tương đối êm đềm. Không dằn xóc.

Tính tới cuối năm 1954, nhìn chung văn chương miền Nam, nhiều tác giả còn mang tính kể chuyện. Thi ca cũng vậy, nhiều nhà thơ vẫn nghiêng nặng trong phạm trù ngâm vịnh, xướng họa, thù tạc. Những tác giả thuộc thành phần này, tương đối xa lạ với quần chúng.

Trước bức tranh toàn cảnh này thì, con số hơn triệu đồng bào di cư từ miền Bắc, ít nhiều, đã khuấy động không chỉ sinh hoạt xã hội mà còn ở tất cả các lãnh vực khác. Trong đó, có sinh hoạt văn học, nghệ thuật nữa. Cùng những tên tuổi đã định hình, có chỗ đứng riêng biệt trong lịch sử thi ca Việt, như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Bàng Bá Lân, v.v… là lớp cầm bút trẻ cũng lần lượt xuất hiện.

Sự xuất hiện của lớp văn, thi sĩ này (gồm luôn cả những người đã cầm bút mà không nổi tiếng, chưa được ai biết tới), thật đông đảo. Họ như cá gặp nước, hiểu theo nghĩa, sân chơi văn học nghệ thuật của miền Nam giữa thập niên (19)50 là một sân chơi còn trống vắng! Những nhà thơ miền Nam nổi tiếng như Ðông Hồ, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội… vẫn dành nhiều tâm trí cho việc xướng, họa, ngâm vịnh thi ca với các thi hữu của mình. Vì thế, những cây bút trẻ từ miền Bắc vào, hợp với những cây bút trẻ của miền Nam, đã xông vào sân chơi chữ nghĩa, với tất cả hăm hở, tự tin như xông vào chốn không người.

Những thể tài được coi là mới mẻ vào thời điểm đó, như:

– Hướng về miền Bắc.

– Khẳng định sẽ trở về Hà Nội, giải phóng quê hương.

– Phóng lớn những tình cảm biệt ly, ngăn cách Nam-Bắc…

Những thể tài đó, một thời gian được coi là ăn khách tới độ, nhiều cây bút, di cư vào Nam, còn rất trẻ, kỷ niệm sống ở miền Bắc không nhiều… Nhưng thơ, văn của họ, lại nói toàn về Hà Nội. Về tình yêu đổ vỡ. Ðoạn lìa! Thậm chí có những người trẻ không biết một chút gì về Hà Nội, cũng đề cập tới Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Hồ Gươm. Hồ Tây. Ðường Cổ Ngư. Ðê Yên Phụ… Như thể Hà Nội là tình yêu thắm thiết nhất đời mình.

Dẫu sao thì sự chia đôi đất nước, khiến cho miền Nam đứt lìa hẳn miền Bắc, cũng đã giúp cho những cây bút trẻ sau này, múa những đường gươm tự do trong một sân chơi văn chương và, thi ca miền Nam hoang vắng. Tôi muốn nói, trước mặt họ, không một bức tường cản, chắn. Không một bóng cây lớn dẫn tới nguy cơ làm cớm đám cây non.

Nhà thơ Nguyên Sa và vợ - Trịnh Thúy Nga.
Nhà thơ Nguyên Sa và vợ – Trịnh Thúy Nga.

Thế hệ của những người trẻ mới cầm bút, là một thế hệ gần như không đàn anh. Họ cũng chẳng bị ràng buộc, nể trọng hay, kiêng dè tác giả nào. Họ nghĩ, họ đang cống hiến cho văn học miền Nam một dòng thơ độc lập. Không chằng rễ. Không liên hệ gì, với quá khứ.

Những tuyên bố ồn ào, những kêu gọi chôn sống nền văn học cũ, bởi những người viết mới, theo nhau xuất hiện. Như nấm sau mưa.

Tại miền Nam, những ngôi sao bắc đẩu của trời thơ tiền chiến, chỉ mỉm cười. Ngao ngán. Không một ai lên tiếng. Chẳng một ai trả lời. Những Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Ðinh Hùng… tách lìa khỏi sinh hoạt của lớp người trẻ vừa kể. Sự im lặng của lớp đàn anh từng chiếm giữ những địa vị chói lọi trong dòng thi ca Việt, càng khiến cho nhóm cầm bút mới, thấy họ là những cao thủ không có đối trọng. Niềm tin hay hãnh tiến vô căn cứ, không nền tảng này, đã đưa họ tới những chân trời bất cập. Vấn đề của họ không nằm nơi nỗ lực sáng tạo. Giá trị tự thân của tác phẩm. Mà, là những tuyên ngôn ngông cuồng. Những gào thét mê sảng. Những bắt chước, biểu dương lố bịch, ngớ ngẩn, khôi hài.

Trước sự hỗn loạn, không phương hướng của sinh hoạt văn học, nghệ thuật miền Nam, những năm tháng đầu, sau 1954, người ta ghi nhận được sự có mặt của một vài diễn đàn văn chương đứng đắn – Với chủ tâm làm mới nền văn học miền Nam. Các diễn đàn này hiện ra, như những hứa hẹn đáng tin cậy. Trong số ít oi này, có tạp chí Sáng Tạo.

Sáng Tạo quy tụ được một số trí thức trẻ. Ðứng đầu là Mai Thảo. Những thành viên nòng cốt có Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và Ngọc Dũng. Họ cũng có thêm sự cộng tác ngay tự những số đầu của Nguyễn Văn Trung và, Nguyên Sa, Nguyễn Văn Trung du học ở Bỉ về trước; Nguyên Sa du học ở Pháp, về nước, trễ muộn hơn.
Sau Sáng Tạo, người ta thường kể tới tạp chí Hiện Ðại do nhà thơ Nguyên Sa chủ trương – Có được sự hợp tác chặt chẽ của Thái Thủy, Trịnh Viết Thành, Ðinh Hùng, Nguyễn Văn Trung…

Kế tới là tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi của Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, tức nhà thơ Trần Hồng Châu và; tạp chí Văn Nghệ do nhà văn Lý Hoàng Phong chủ trương.

Trong bài viết này, tôi xin chỉ đề cập tới tạp chí Sáng Tạo. Như là một trong vài diễn đàn văn chương điển hình, cho giai đoạn ấy.

Nhóm Sáng Tạo với hoa tiêu là nhà văn Mai Thảo, ngay tự bước khởi hành, đã cho thấy rõ quyết tâm làm mới sinh hoạt văn chương miền Nam, từ văn xuôi tới thi ca. Tuy nhiên, ở lãnh vực thi ca, Sáng Tạo có những nỗ lực cụ thể hơn, nếu so sánh với văn xuôi. Ðó là chủ trương khai triển và phát huy phong trào thơ tự do một cách triệt để.

Chính trong bối cảnh này, tiếng thơ Nguyên Sa hiện ra. Tự thân tiếng thơ này đã mang trong nó một lực hút mạnh mẽ. Một từ trường hình ảnh, ý tưởng, ngôn ngữ mới mẻ. Gây chấn động không chỉ giới cầm bút mà, luôn cả độc giả nữa.

(Du Tử Lê – Thứ Năm, ngày 18 tháng 8 năm 2011: “Ði cùng thơ Nguyên Sa tới những chân trời mới.”)

Vị trí và, ảnh hưởng thơ Nguyên Sa trong văn học Việt

(Du Tử Lê – Wednesday, August 17, 2011 3:36:56 PM)

Kỳ 2

Quan niệm về thơ Tự Do của tác giả “Thơ Nguyên Sa”

Tôi viết “Nhóm Sáng Tạo khai triển và, phát động phong trào thơ Tự Do…” vì không phải đợi tới lúc tạp chí Sáng Tạo ra đời, thơ tự do mới được du nhập vào Việt Nam! Sự thực thơ Tự Do đã được các tác giả thời tiền chiến, cũng như kháng chiến sử dụng, như một phương tiện diễn đạt cảm xúc mới. Sau đó, thơ Tự Do còn được các tác giả như Phan Lạc Tuyên, và Mạc Ly Châu khai thác triệt để. Thậm chí, Mạc Ly Châu còn viết nguyên một tác phẩm bàn về nghệ thuật làm thơ Tự Do. Xa hơn, bắt đầu từ những năm (19)40, một số tác giả Việt du học tại Pháp đã làm quen và, thao tác với thể thơ này. Nhưng vì sự hạn chế của phương tiện truyền thông thời đó, khiến ít người trong nước được biết.

Dẫn đầu cuộc khai phá thể thơ Tự Do ở Pháp, những năm (19)40 có thể kể tới một số tên tuổi quen thuộc như Lê Trạch Lựu, Hoàng Anh Tuấn, Nguyên Sa, v.v…

(Nhiều người chỉ biết Lê Trạch Lựu trong cương vị nhạc sĩ qua ca khúc nổi tiếng, bài “Em Tôi” mà, không hề biết rằng, ông còn là một nhà thơ chuyên làm thơ Tự Do nữa.)

Vì chủ trương đưa thể thơ Tự Do trở thành một hiện tượng hay, một cuộc lột xác mang tính dấu ấn cho giai đoạn của mình, nên những người chủ trương tạp chí Sáng Tạo đã chú trọng nhiều tới việc làm mới thi ca từ hình thức tới nội dung. Nhu cầu làm một cuộc cách mạng quyết liệt, để phân biệt giữa thơ Tự Do và thơ Mới (có vần điệu), đã đem lại cho độc giả nhiều bài thơ tự do khó hiểu. Xa lạ.

Người đọc ở vị trí giới hạn, khiêm tốn, chẳng những không thể lại gần thơ Tự Do mà, còn bị đẩy đi xa hơn vì thế. Sự xa cách đó làm cho những người không thể tiêu hóa nổi thơ tự do của nhóm Sáng Tạo, đã ở lại với thơ cũ một cách thoải mái. Tự nhiên. Những người này cảm thấy thơ Mới vẫn là thơ dành cho họ!

Giữa lúc người đọc cảm thấy choáng váng, ngơ ngác với cảm giác bị xua đuổi khỏi lãnh địa thơ Tự Do của nhóm Sáng Tạo thì, cũng trên Sáng Tạo, một dòng thơ mới xuất hiện. Dòng thơ này, tuy cũng là thơ Tự Do, nhưng lại hàm chứa trong nó nhiều quyến rũ. Dòng thơ ấy, nhanh chóng thắp lên trong cảm nhận của nhiều độc giả niềm tin đối với thơ Tự Do.

Ðó là sự xuất hiện của những bài thơ tự do mang tên Nguyên Sa. Thoạt tiên trên Sáng Tạo. Sau đấy, trên tạp chí Hiện Ðại và, một vài diễn đàn khác.

Sự xuất hiện những bài thơ Tự Do, ký tên Nguyên Sa, vào những năm giữa thập niên (19)50, là một chấn động lớn. Chúng không chỉ gây choáng váng cho người đọc mà, còn là một kích động bất ngờ cho văn giới.

Tính thuyết phục của những bài thơ Tự Do ký tên Nguyên Sa, một mặt nào khác, cũng khiến cho một số những người làm thơ trẻ thời đó, tin tưởng và, ném mình vào cuộc thử thách với thơ Tự Do một cách say sưa, tin tưởng hơn.

Sự kiện này, làm nhiều người nhớ lại rằng, khi phong trào thơ Mới, ra đời vào những năm đầu thập niên (19)30.

Cũng giống như phong trào thơ Tự Do, khởi đầu thơ Mới không gây được niềm tin đáng kể nơi người đọc. Bên cạnh đó, sự khích bác, mỉa mai của những tên tuổi chọn thủy chung với thể thơ Ðường Luật, cũng gây tổn thương, làm chậm đường bay của loại thơ này.

Phải đợi tới lúc những tên tuổi như Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư rồi Huy Cận v.v… tập trung quanh ngọn cờ Phong Hóa-Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, hợp cùng những thi sĩ ở ngoài nhóm, như Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, v.v… Thơ Mới lần hồi mới có được cho nó một chỗ đứng xứng đáng.

Nói cách khác, theo một số nhà phân tích văn học thì, ở thời điểm vừa kể, nếu không có những kiện tướng như Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Huy Cận… nhiều người e rằng, không biết tới khi nào, phong trào thơ Mới, mới có được địa vị vững vàng, kéo dài tới ngày hôm nay (?).

Từ thành kiến thơ tự do do nhóm Sáng Tạo cổ võ mà, một số người quá khích, cực đoan, đã dán nhãn cho thể thơ này là “bí hiểm,” “hũ nút!” Hoặc đó là một cuộc “xóc chữ, xin xâm” – Thì, thơ Tự Do của Nguyên Sa và, những bằng hữu của ông, như Thái Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Trần Dạ Từ, Nhã Ca,… đã mở ra những chân trời khác. Những chân trời tươi rói nhiều lượng máu canh tân, luân lưu trong cơ thể thi ca Việt Nam trì trệ mấy chục năm.

Ðiểm đầu tiên, nổi bật trong cõi giới thơ Nguyên Sa, về phương diện hình thức là không câu nệ, không trói buộc mình vào một số chữ cố định cho một bài thơ. Một câu thơ có thể chỉ vài chữ, đi liền với những câu thơ hằng chục chữ. Nhưng, cùng lúc, Nguyên Sa cũng không triệt tiêu hoàn toàn phần âm vận, để toàn bộ bài thơ không chỉ như một khung nhà thiếu mái che, chẳng tường vách. Hay, một thân thể không máu, thịt.

Thí dụ bài “Nga,” (một trong những thờ thơ rất nổi tiếng của Nguyên Sa) sáng tác tháng 12 năm 1954 ở Áo, in lại sau đó, để “Thay giấy báo hỷ, in tại Paris ngày 10 tháng 12 năm 1955” trước khi tác giả về nước, 1956.

Về bài thơ vừa kể, sinh thời, nhà văn Mai Thảo viết:

“…Ðó là bài thơ Nga với tiểu đề ‘Thay cho thiệp báo hỷ’, cũng là bài thơ đầu tiên Nguyên Sa làm từ Paris mang về và trao cho chúng tôi. Báo hỷ thiệt. Báo hỷ không chỉ về sắp sống chung hòa bình với một vị hôn thê mà thơ ngộ nghĩnh tả lúc như ‘một con chó ốm’ lúc như ‘một con mèo ngái ngủ.’ Mà còn báo hỷ cho thơ. Rằng thơ vừa có tin vui. Rằng trời thơ Việt vừa có một vì sao mới. Bài thơ Nga, tôi nhớ Thanh Tâm Tuyền rất thích. Ðăng ngay trên tờ Người Việt, tiền thân của tờ Sáng Tạo và là diễn đàn của bọn chúng tôi lúc bấy giờ, với mấy lời giới thiệu trang trọng chào mừng tài thơ Nguyên Sa từ Pháp mới về, bởi vì ‘một dòng máu không chảy ngoài huyết quản.’” (Mai Thảo, Màu Lụa Hà Ðông trong thơ Nguyên Sa, “Nguyên Sa, Tác Giả và Tác Phẩm,” trang 58, 59. Ðời, California, XB năm 1991.)

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
“Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
“Ðôi mắt cá ươn sắp sửa se mình
“Ðể anh giận sao chả là nước biển!…

(……)

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau
“nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay
“Anh sẽ hôn đền em
“Và anh sẽ bảo em soi gương
“Nhìn vết môi anh trên má
“Môi anh tròn lắm cơ
“Tròn hơn cả chữ O
“Tròn hơn cả chiếc nhẫn
“Tròn hơn cả hai chiếc nhẫn đeo tay!…

(……)

“Em sẽ cười phải không em
“Vì không ai cấm được chúng mình yêu nhau!…
“Không ai cấm được anh làm những câu thơ anh thích
“Không ai cấm được anh làm cả bài thơ
“Với chữ N
“Với chữ G
“Với chữ A
“Người ta có thể đọc một câu, hai câu, hay cả ba
“Người ta có thể không thích
“(thì người ta không thích một mình)
“Nhưng người ta không thể cấm được anh yêu bài thơ của anh…”

(Nga, “Thơ Nguyên Sa Toàn Tập,” tr. 63, 64, 66, 67. Ðời, California, XB năm 2000.)

Tác giả “Nga” cũng có một quan niệm rất minh bạch về Thơ Xuôi.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho ba nhà báo là Thượng Sỹ, Phan Kim Thịnh và Vũ Bằng,vào những năm đầu thập niên (19)60, nhà thơ Nguyên Sa nói:

“…Thơ Tự Do cũng như thơ Văn Xuôi, không bó buộc vần và khác hẳn thơ Mới, số lượng câu gieo vần trắc quan trọng bằng vần bằng, mà thơ Mới thì nghiêng về vần bằng nhiều hơn. Số chữ của thơ Tự Do hay thơ Văn Xuôi không cố định, tám chữ, mười hai, hai mươi bốn chữ hay một chữ hai chữ tùy hứng của nhà thơ.

“Thí dụ thơ Văn Xuôi câu nhiều chữ:

“Suốt cả đời người anh đã chờ đợi tin yêu: lửa đến từ những cửa ngỏ cuộc đời đã đốt cháy mười đầu ngón tay bằng những khối nhựa đường nóng bỏng.”

“Về vần, không bó buộc, có khi gần nhau:

“Còn nếu như em không đến? Em không đến, tôi cũng chẳng dám giận hờn em. Em hãy ở lại nhà. Ðóng chặt cửa sổ kẻo mưa hiu hắt. Kéo chăn chùm kín cổ kẻo gió lùa về lạnh như những giấc mơ êm.”

“Hoặc (vần) xa nhau rất nhiều:

“Tôi cũng không phải hỏi rừng để rừng bảo hỏi cây. Cây khuyên hỏi lá. Lá bảo hỏi chim muông. Tôi nhìn quanh tôi những cánh quạ đen cười riễu cợt…” (Sđd. Tr. 49, 50.)

Cũng trong cuộc phỏng vấn đó, trả lời một câu hỏi khác của nhà báo Thượng Sỹ, về “thực chất” và “ưu điểm” của thơ tự do, “Tác giả ‘Thơ Nguyên Sa’ ” cho biết:

“Không có loại thơ nào ưu điểm hơn loại thơ nào; thơ Lục Bát không ưu điểm hơn thơ Ðường, thơ Ðường không ưu điểm hơn thơ Mới, thơ Mới không ưu điểm hơn thơ Tự Do. Riêng tôi, tới khi nào tôi cảm hứng và thích loại thơ nào thì tôi làm loại thơ đó. Thí dụ cuốn thơ của tôi vừa tái bản (Thơ Nguyên Sa, tập 1,) tôi chia làm ba loại: thơ Mới, thơ Tự Do, thơ Văn Xuôi. Tôi nhắc lại rằng theo tôi, nếu ấn định phải làm thơ theo một số đề tài, hình thức nào tức là mình giáo điều, do đó chính mình làm cho mình tê liệt xúc động. (Sđd. Tr. 51)

Phát biểu này của thi sĩ Nguyên Sa, khiến những người chủ trương “tính độc tôn” của thơ Tự Do, thuở đó, khó chịu!

(Du Tử Lê – Thứ Năm 25 tháng 8, 2011: “Liên hệ giữa Nguyên Sa, Sáng Tạo và, những ngộ nhận!”)

Ca/Nhạc sĩ Song Ngọc.
Ca/Nhạc sĩ Song Ngọc.

Song Ngọc và một đời sáng tác

(Cát Linh, phóng viên RFA)

“Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn Đưa’ ”. (Nhạc sĩ Song Ngọc)

“Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn Bà”. (Nhạc sĩ Song Ngọc)

Để tạo ra một nét riêng, mỗi một người nghệ sĩ hay thường dành cho mình một nghệ danh. Thế nhưng, cũng có nhiều nhạc sĩ, với những lý do riêng, họ có rất nhiều bút danh/nghệ danh. Chính vì vậy, mà không ít người nghe đã ngạc nhiên khi biết tác giả của một tác phẩm nổi tiếng này cũng chính là tác giả của một tác phẩm nổi tiếng khác, với hai bút danh khác nhau.

Một trong những người đó, là nhạc sĩ Song Ngọc, hay được biết đến như nhạc sĩ Hàn Sinh của ‘Xin gọi nhau là cố nhân’, hay Hoàng Ngọc Ân của ‘Định mệnh’, cũng chính là Song Ngọc của ‘Tiễn đưa’, người đầu tiên phổ thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa.

“Người về chiều nay hay đêm mai
Người sắp đi hay đã đi rồi
Muôn vì hành tinh rung rung
Lunh linh thềm ga vắng
Hay rượu tàn rung trên môi…”
(Tiễn Đưa)

“Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn đưa’. Về sau, nếu tôi không lầm, có thể tôi là người đầu tiên phổ thơ Nguyên Sa năm đó.”

Năm đó, nhạc sĩ Song Ngọc 19 tuổi, và bài thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa có tên là ‘Tiễn biệt’.

Một điều thú vị là khi ấy, cố thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Song Ngọc có thể nói là ở hai thế hệ, một thầy, một trò, nhưng họ đã gặp nhau qua một tác phẩm, và cùng tạo ra một tác phẩm khác.

Đối với chàng nhạc sĩ Song Ngọc lúc bấy giờ, ca khúc ‘Tiễn đưa’ là sự khởi đầu, để sau đó, những bản nhạc trữ tình được tiếp nối ra đời, đánh dấu cho dòng nhạc Song Ngọc đa dạng, phong phú về giai điệu lẫn thể loại.
“Bản nhạc này với bản nhạc kia nó khác, vì tính của tôi nó… kỳ kỳ. Tôi không thích một chỗ, tôi thích cái gì nó lạ hơn. Có những bản nhạc như Xin gọi nhau cố nhân khác hẳn với Định mệnh…”

“Tôi trở về đây lúc đêm vừa lên
Giăng mắc trời mưa phố xưa buồn tênh…”
(Xin gọi nhau là cố nhân)

Tuy khác nhau, và tuy là mỗi ca khúc ông dùng một bút danh khác nhau, thế nhưng tất cả những nhạc phẩm của Song Ngọc đều có một điểm chung, đó là mỗi một bản nhạc là một kỷ niệm của riêng ông. Mỗi lời ca, giai điệu đều có liên hệ đến những nơi ông đã đi qua, những người ông đã gặp trong cuộc đời mình. Tất cả những điều ấy ông gọi là “kỷ niệm của dĩ vãng”.

Một trong những kỷ niệm ấy là câu chuyện ông gửi vào ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’.

“Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
Thành phố này xin trả lại cho anh
Ngàn thông buồn chiều nay im tiếng
Ngôi giáo đường lặng đứng suy tư…”
(Tình yêu như bóng mây)

Đà Lạt năm đó theo ký ức của Song Ngọc là vào năm 1971, 1972, khi ông đang thụ huấn khoá chiến tranh chính trị. Ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’ được ra đời tại thành phố sương mù, một thành phố mà ông nói rằng ông đã yêu và để lại một tình yêu không nhỏ.

“Khi đó tôi đi học và ở trọ nhà của thiếu tá, thi sĩ Tô Kiều Ngân. Tôi viết hai bài, ‘Tình yêu như bóng mây’, và ‘Chẳng làm sao’, phổ thơ của Phan Khôi. ‘Tình như bóng mây’ có những chi tiết là thật. Ví dụ như cái nhà thờ mà ‘tôi cuối đầu từ giã Đà lạt ơi’ là nhà thờ Con gà tại Đà Lạt. Bài này thật sự có nước mắt của Song Ngọc.”

Đà Lạt từ ngàn xưa đã được gọi là thành phố mộng mơ, với thông reo, với sương giăng mờ những con dốc nhỏ. Nếu Đà Lạt trong ca khúc của Lê Uyên Phương là nơi bắt đầu cho những cuộc tình thì hình ảnh Đà Lạt trong ‘Tình yêu như bóng mây’ của Song Ngọc là nơi mà chỉ một ngày mai nữa thôi, sẽ là một cuộc chia xa.

Rồi cũng như bao thanh niên thế hệ thời ấy, nhạc sĩ Song Ngọc lên đường tòng quân, khoác lên mình chiếc áo trận. Và đó cũng là thời gian mà ông cho ra đời các ca khúc viết về đời lính, về nỗi nhớ của người trai xa đô thành, xa cố nhân, “vào đời manh áo chiến lúc tuổi còn xanh”

“Khi đi lính tôi 19 tuổi, thì anh Hoài Linh có viết thêm cho tôi lời của một bài nữa là ‘Chiều thương đô thị’ để tiễn Song Ngọc đi lính.”

“Hôm xưa tay nắm tay nhau… anh hỏi tôi rằng:
“Những gì trong đời… ta ghi sâu vào tâm tư
Không tan theo cùng hư vô
Không theo tháng năm phai mờ
Tình nào tha thiết anh ơi?”
Tình quê hương gợi sâu
Tình tôi anh bền lâu…”
(Chiều thương đô thị)

“Năm đó khoảng chừng năm 1961, ngày đó trước ngày tôi đi lính. Thời gian đó cũng là thời gian chiến tranh, anh Hoài Linh đặt lời cho ‘Chúng mình ba đứa’. Sau đó tôi có viết một bài nữa là bài ‘Một chuyến bay đêm’.”

Dù là ở dòng nhạc trữ tình hay dòng nhạc lính, thì trong những sáng tác của Song Ngọc đều toát lên một nét đẹp vừa hào phóng, vừa lãng mạn. Hiện lên trong những ca khúc ấy, là hình ảnh của người nghệ sĩ lãng mạn mang khí chất oai hùng của một người lính. Ông đã bày tỏ hầu như trọn vẹn tinh thần của người trai đang ở lứa tuổi đẹp nhất đời người.

Người trai trả nợ tang bồng với núi sông bằng ước mơ bay cao, bay xa bên dãy Ngân Hà, xem chuyện đời nhẹ như những chuyến bay.

“Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền
Người trai đi viết câu chuyện Một Chuyến Bay Đêm
Cánh Bằng nhẹ mơn trên làn gió
Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ
Nhìn trời cao mà reo mà mơ ước như diều để níu áo Hằng Nga ngồi bên dãy Ngân Hà…”
(Một chuyến bay đêm)

Thế rồi, nợ tang bồng của Song Ngọc và của bao người trẻ thời đó gác lại sau một ngày cuối tháng Tư. Ông rời quê hương, xa hẳn những chuyến bay đêm và màu áo xanh. Lần từ giã này lâu và xa hơn rất nhiều so với ngày ông “cúi đầu từ giã Đà Lạt mơ”.

Nhưng có lẽ đã là nghệ sĩ, thì ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời điểm, họ vẫn phải sáng tác. Tình yêu âm nhạc và sáng tác vẫn luôn đong đầy trong cuộc sống của nhạc sĩ Song Ngọc. Chỉ có rằng, theo thời gian và những xoay chuyển của cuộc sống, sáng tác của ông có thêm chỗ đứng cho sự mất mát và thất vọng. Cũng là xa cách, nhưng trong sự chia ly này giờ đây mang màu sắc của cô độc.

“Khi tôi qua Mỹ năm 75, khoảng thời gian năm 1983, 1984, người Việt Nam bên đây nam nhiều hơn nữ, nên những chuyện oan kiên trong tình yêu đầy dẫy. Tôi nhìn thấy nhiều chuyện mất hạnh phúc gia đình hoặc tan vỡ của các cặp tình nhân. Có lẽ những chuyện đó nó chạy vào tiềm thức của người sáng tác.”

Ca khúc ‘Đàn bà’ nổi tiếng ra đời từ câu chuyện đời của một người bạn của ông, với lời nói:

“Ảnh ngồi buồn và tâm sự với tôi, Song Ngọc à, làm cho tôi một bài không có đàn bà trong đời tôi. Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà.”

“Đã từ lâu tôi vẫn thường trong bóng đêm.
Mang nỗi buồn không biết tên.
Tôi đã thầm thề mây hẹn gió.
Tôi muốn lánh xa chuyện đời.
Tôi muốn quên đi loài người.
Tôi ước mơ trong cuộc đời không có đàn bà…”
(Đàn bà)

Song Ngọc, người nhạc sĩ tự nhận rằng từ những năm 13 tuổi, ông đã đam mê những áng văn của Nhất Linh, Khái Hưng. Từ đó mà kỹ thuật dùng từ và âm hỏi, ngã trong nhạc phẩm của ông ảnh hưởng nhiều của Tự lực văn đoàn.

Và có lẽ cũng do sự ảnh hưởng ấy mà nhạc của ông vừa có giai điệu bay bổng, lãng mạn, vừa có ca từ đơn giản, không trưởng giả. Dù là ông viết về tình ca hay viết cho người lính, các ca khúc đều mang màu sắc riêng của một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng.

(Cát Linh)

oOo

Tiễn Đưa – Ca sĩ Thái Châu:

 

Tiễn Đưa – Ca sĩ Ý Lan:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s