Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Thuở Làm Thơ Yêu Em” – Trần Dạ Từ & Cung Tiến

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thuở Làm Thơ Yêu Em” của Thi sĩ Trần Dạ TừNhạc sĩ Cung Tiến.

Thi sĩ Trần Dạ Từ sinh năm 1940, tên thật là Lê Hạ Vĩnh, sinh tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 khi đất nước chia cắt, định cư tại Sài Gòn, nơi ông bắt đầu làm thơ và viết báo, trở thành một thi sĩ được yêu thích trong giới văn nghệ miền Nam. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với thi sĩ Nguyên Sa làm tờ “Gió Mới”.

Năm 1963 ông bị chính quyền ông Ngô Đình Diệm bắt giam vì bất đồng chính kiến.

Sau biến cố 30/4/1975, ông cùng vợ là nhà văn Nhã Ca, bị nhà nước miền Bắc bắt giữ và bị buộc tội là “biệt kích văn hóa”. Ông bị giam cầm từ năm 1976 đến 1988. Thời gian này ông cho ra đời hàng loạt bài thơ, nổi tiếng nhất là bài “Hòn Đá Làm Ra Lửa” dài hơn 4000 câu.

trandatu_TDT-NC

Năm 1989, dưới sự bảo trợ của chính phủ Thụy Ðiển, gia đình ông được sang nước này định cư. Đến năm 1992 gia đình ông di cư sang Orange County, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tại đây cùng với bà Nhã Ca, vợ chồng ông xuất bản tờ Việt Báo.

Các tác phẩm của ông:

– Thuở Làm Thơ Yêu Em (Sài Gòn, 1960)
– Tỏ Tình Trong Đêm (Sài Gòn, 1965)
– Nụ Cười Trăm Năm (viết tại Mỹ, chưa xuất bản)

Nhạc sĩ Cung Tiến.
Nhạc sĩ Cung Tiến.

Nhạc sĩ Cung Tiến (sinh 27 tháng 11 năm 1938) là một nhạc sĩ nổi tiếng theo dòng nhạc tiền chiến. Ông được xem như nhạc sĩ trẻ nhất có sáng tác được phổ biến rộng với bài “Hoài Cảm” năm 14 tuổi. Mặc dù NS Cung Tiến chỉ xem âm nhạc như một thú tiêu khiển nhưng ông đã để lại những nhạc phẩm rất giá trị trong kho tàng âm nhạc Việt Nam như “Thu Vàng”, “Hương Xưa”, “Hoài Cảm”.

Ông tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, NS Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng NS Chung Quân và NS Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, NS Cung Tiến du học ở Úc ngành kinh tế và ông có theo tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại Âm Nhạc Viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Về ca khúc, NS Cung Tiến sáng tác rất ít và phần lớn các tác phẩm của ông đều sau 1954, trừ bài “Thu Vàng”, “Hoài Cảm” được ông viết năm 1953 khi mới 14-15 tuổi, nhưng chúng thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến bởi cùng phong cách trữ tình lãng mạn. Tự nhận mình là một người nghiệp dư trong âm nhạc, viết nhạc như một thú tiêu khiển, NS Cung Tiến không chú ý tác quyền và lăng xê tên tuổi mình trong lĩnh vực âm nhạc. Các nhạc phẩm “Hoài Cảm”, “Hương Xưa” của ông được xếp vào những ca khúc bất hủ của Tân Nhạc Việt Nam.

Ra hải ngoại NS Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh Phụ Ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose, California, Hoa Kỳ, với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh 1988.

Năm 1992, NS Cung Tiến hoàn thành tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, dẫn đọc, ngâm thơ và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 1993, với tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc Quan Họ Bắc Ninh và các thể loại dân ca Việt Nam khác, ông đã soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng. Năm 1997, ca đoàn Dale Warland Singers, đã đặt ông một bản hợp ca nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn nổi tiếng quốc tế này. Năm 2003, NS Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại “Lơ Thơ Tơ liễu Buông Mành” dựa trên một điệu dân ca Quan Họ. Ông là hội viên của Hội Nhạc Sĩ Sáng Tác ở Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ.

Ngoài sáng tác, NS Cung Tiến còn đóng góp nhiều khảo luận và nhận định về nhạc dân gian Việt Nam cũng như nhạc Hiện đại Tây phương. Trong lãnh vực văn học, những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, NS Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký viết dưới hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông có viết cho một số báo với bút danh Đăng Hoàng.

trandatu_TLTYE3

Thi khúc “Thuở Làm Thơ Yêu Em” (Thi sĩ Trần Dạ Từ và Nhạc sĩ Cung Tiến)

Thuở làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng bền thềm
Nắng hanh lưng bờ dậu
là thuở làm thơ anh yêu em,
ôi thuở làm thơ yêu em
Chiều sương dầy bốn phía
Lòng anh mấy ngã ba
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên nhịp sầu lên thiết tha
ôi thuở làm thơ yêu em

Thuở làm thơ yêu em,
Cả dòng sông dài thương nhớ
Nửa vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố
Thuở làm thơ yêu em
Đâu thưở làm thơ yêu em

Cả dòng sông dài thương nhớ
Anh đi rồi lại đến
Bài thơ chưa hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi
Anh đi rồi lại đến
Bài thơ chưa hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều. Sớm chiều, ôi xa xôi

Mười bảy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ

Dưới đây mình có bài:

– Ca khúc Trần Dạ Từ, một bất-ngờ-hạnh-phúc

Cùng với clip thi khúc “Thuở Làm Thơ Yêu Em” do ca sĩ Camille Huyền diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Trần Dạ Từ.
Thi sĩ Trần Dạ Từ.

Ca khúc Trần Dạ Từ, một bất-ngờ-hạnh-phúc

(Du Tử Lê)

Trong sinh hoạt thi ca 21 năm miền Nam (1954-1975) những đóng góp của nhà thơ Trần Dạ Từ ở lãnh vực này, đã được khẳng định rất sớm.

Trước 1975, thi tập đầu tiên của Trần Dạ Từ là “Tỏ Tình Trong Ðêm” xuất bản năm 1966 tại Sài Gòn, gồm những bài thơ về chiến tranh. Ngay từ cuối thập niên 60′, nhiều bài trong tập thơ thời chiến này nhanh chóng được chọn dịch sang Anh ngữ, phổ biến và có ảnh hưởng tại Hoa Kỳ (1). Riêng tại Việt Nam, thi tập “Thủa Làm Thơ Yêu Em,” gồm những bài thơ tình đầu của Trần Dạ Từ, xuất bản năm 1970, được trao tặng giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1971.

Ðóng góp lớn lao của tác giả “Tỏ Tình Trong Ðêm” ở lãnh vực thi ca, không dừng lại sau biến cố tháng 4, 1975.

Mà, sau hơn 12 năm tù đày, ông đã tặng hiến cho thi ca Việt Nam trường khúc “Hòn đá làm ra lửa” dài hơn 4000 câu.

Ðó cũng là bài thơ đầu tiên, duy nhất tính tới hôm nay, đã khiến một thi sĩ gốc Việt, được mời đọc thơ trong một họp mặt trang trọng tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4, 1992. (2)

Với tôi, vinh dự đó, không chỉ dành riêng cho tác giả mà, còn cho cả dòng thơ miền Nam sau tháng 4, 1975. Nhưng, một Trần Dạ Từ nhạc sĩ, một Trần Dạ Từ của những ca khúc gần như chưa từng xuất hiện trong dòng chảy tân nhạc Việt Nam gần một thế kỷ, thì, với tôi lại là một bất-ngờ-hạnh-phúc, khác.

Hạnh phúc bất ngờ này, mãi tới thập niên thứ hai của thế kỷ 21, tôi mới có dịp biết, khi nghe CD đầu tiên của nhà thơ do Khánh Ly thực hiện. Tôi không nhớ được mình đã nghe đĩa nhạc đầu tay của thi sĩ Trần Dạ Từ vào lúc nào? Ở đâu? Chỉ biết đó là một hạnh phúc bất ngờ.

Mới đây, khi đọc lại bài viết của Ngọc Lan, tường thuật buổi ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” trên nhật báo Người Việt thì, tôi lại được hít thở một lần nữa cái không gian đầm đầm những bất ngờ và hạnh phúc, khác ấy.

Ngọc Lan viết:

“Tôi đến với đêm ra mắt CD ‘Trần Dạ Từ-Khánh Ly’ và ‘Nụ Cười Trăm Năm’ khi miệng tôi đã có thể nghêu ngao những câu hát ‘Chiều mưa. Mưa cho ta nhớ. Ta nhớ ôi ngày thơ. Thành phố xưa, hai đứa ta. Nơi hẹn hò, quán nhỏ chiều mưa lũ…’ cũng bằng cảm xúc của những miên man, se sắt, và thấm đẫm những nhớ nhung đến nao lòng.

“Nghĩa là, ‘Nụ Cười Trăm Năm’ đủ sức níu tôi nghe, nghe, và lại tiếp tục nghe để càng lúc càng nhận ra những điều thật lạ qua những ca từ, những thanh âm vừa mới vừa quen của nhạc sĩ/thi sĩ Trần Dạ Từ, cùng giọng ca có ma lực của Khánh Ly.

“Khán phòng sang trọng của The Turnip Rose nằm ở thành phố Costa Mesa chiều tối Chủ Nhật qua đầy nghẹt người. Họ là những người thân, những bằng hữu, những khán giả, những người cùng thế hệ, đến để gặp gỡ, để lắng nghe, để chúc mừng Trần Dạ Từ và Khánh Ly lần đầu tiên ra mắt CD.

“‘Nụ Cười Trăm Năm’ CD đầu tiên của nhà thơ, nhạc sĩ và người ca sĩ đã hiện diện trong dòng thơ nhạc Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua, đáng để người ta phải nghe và phải có lắm chứ!

“Tôi thuộc loại người thường không nhớ và không hay tìm hiểu về tác giả của những bài thơ, những tình khúc. Tôi chỉ mê nghe, và nhẩn nha theo những giai điệu có thể khiến lòng mình chùng lại, dịu đi, để rồi sau đó lại chùng chình, xốn xang, rưng rức những nỗi niềm, những kỷ niệm buồn vui, của mình, và cả của người.

“Thế nên, tôi đã cảm thấy ngạc nhiên đến bất ngờ thích thú khi nhận ra điều mà có lẽ nhiều người đã nhận ra từ lâu: Tác giả của lời thơ trong các bài hát ‘Người đi qua đời tôi’ (nhạc Phạm Ðình Chương), ‘Thuở làm thơ yêu em’ (nhạc Cung Tiến), ‘Nụ hôn đầu’ (nhạc Phạm Duy)… không ai khác hơn chính là Trần Dạ Từ, người nhạc sĩ của ‘Nụ Cười Trăm Năm.’”

Bài viết của Ngọc Lan đã giúp tôi nhớ ra điều chính mình từng phát biểu trong buổi ra mắt CD của người bạn thi sĩ:

“Nhà thơ Du Tử Lê, trong lời phát biểu của mình tại buổi ra mắt CD ‘Nụ Cười Trăm Năm’ đã cho rằng, ‘Vẫn là thành phố, vầng trăng, con sông, và tình yêu, nhưng đất trời nhân gian trong nhạc (cũng như trong thơ Trần Dạ Từ) là một đất trời, một nhân gian khác, không phải là cái mà chúng ta thường thấy trong tình khúc của chúng ta trong quá khứ.’”

Cám ơn Ngọc Lan. Nhớ lại, vẫn thấy đúng là một hạnh phúc bất ngờ.

Loạt bài này viết thêm về hạnh phúc ấy, từ một Trần Dạ Từ nhạc sĩ.

1- Trần Dạ Từ, từ thơ tới nhạc

Từ những năm giữa thập niên 1950s, trong một loạt bài 3 kỳ, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong thời đó, cố thi sĩ Hồ Ðình Phương đã không ngần ngại gọi ông là “Thần đồng thi ca.” Theo bài viết, đầu năm 1956, thi sĩ họ Hồ là thành viên hội đồng giám khảo của cuộc thi thơ xuân mừng tết nguyên đán do đài phát thanh Pháp Á tại Sài Gòn tổ chức, với giải thưởng trị giá bạc ngàn, khá lớn thời ấy. Sau khi kết quả được công bố, người đến đòi nhận giải nhất thơ chỉ là một cậu bé di cư chưa đầy 16 tuổi, cũng chẳng có giấy tờ. Giám đốc chương trình đài Pháp Á thời ấy là ông Hoàng Cao Tăng phải yêu cầu hội đồng giám khảo mở phiên họp truy xét cậu bé đủ cách để chứng thực. Sau khi đã duyệt xét bản thảo cả trăm bài thơ do cậu bé mang tới và thử thách đủ kiểu, chính thi sĩ Hồ Ðình Phương, với tư cách thư ký hội đồng giám khảo, phải ký tên bảo lãnh cho “thần đồng thi ca” có thể nhận tiền thưởng. Cậu bé di cư năm ấy sau này chính là Trần Dạ Từ. Nhận định của họ Hồ được thời gian thực chứng, với những đường bay thi ca tân kỳ qua những thi phẩm sau đó của Trần Dạ Từ.

Bộ sách hai tập “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại” của Trần Tuấn Kiệt do Khai Trí xuất bản trong những năm 60′ tại Sài Gòn phần về Trần Dạ Từ, viết nguyên văn như sau:

“Từ lúc phong trào thơ tự do xuất hiện, những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa… viết nhiều bài nói đến một ý thức mới của thi ca thời hậu chiến, thì Trần Dạ Từ âm thầm sáng tác và gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, sinh viên học sinh và giới trí thức hôm nay. Chẳng khác nào một Xuân Diệu của thời tiền chiến, thời nay người ta đua nhau đọc thơ của Trần Dạ Từ. Phải nói là sau thời chiến tranh (Việt Pháp) những tiếng thơ cũ không gây say sưa trong giới đọc thơ nữa. Người duy nhất làm cho chúng ta ngây ngất là Trần Dạ Từ với tiếng thơ của ông.”

Trần Tuấn Kiệt là người làm thơ. Sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại” của ông có thể chỉ là những cảm nghĩ chủ quan của một thi sĩ thời tuổi trẻ, như chính Trần Dạ Từ từng có lần nhận xét khi được hỏi. Nhưng tôi từng biết, “Thủa Làm Thơ Yêu Em” của Trần Dạ Từ là một trong dăm ba thi tập được tái bản nhiều lần trước 1975.

Từ đó tới nay, suốt 40 năm, dù đã an cư tại California, Trần Dạ Từ không in lại thơ cũ, cũng không phổ biến thơ mới, cho tới khi Khánh Ly Productions cho ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” ngày Chủ Nhật 13 Tháng Giêng năm 2011.

Câu chuyện về CD này được Khánh Ly, người hát, đồng thời cũng là nhà sản xuất, kể lại như sau:

“Mùa Hè 1959, ông Mặc Thu, sếp chương trình Tiếng Thơ, Ðài Phát Thanh Saigon, trịnh trọng bảo một anh nhóc tì, ‘Thi sĩ coi cháu Mai (4) tập bài này, điệu ru con miền Bắc.’ Tức cười. Năm ấy tôi 14. Thi sĩ bất quá chỉ hơn dăm ba tuổi. Hai anh em cùng dân bà cả đọi, đi xin ngâm thơ để kiếm cơm. Biết nhau từ đó.

“Ba mươi năm sau, tháng Chín 1989, mừng đón Trần Dạ Từ lần đầu tới Mỹ, một số bạn thân gồm các anh Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Trầm Tử Thiêng, chị Kiều Chinh và chúng tôi họp nhau ở Cerritos. Ngồi vòng tròn trên sàn nhà, tới phiên anh Từ, thay vì đọc thơ, anh cầm đàn. ‘Một mùa hè chết oan bên trời…’ Anh hát và nói, chỉ là loại bài hát lầm bầm cho qua trong tù thôi, chẳng để làm gì.

“Từ đó về sau, không thấy anh nhắc gì đến việc ca hát nữa.

“Mùa Hè 2009, bỗng nhớ bài hát cũ, tôi đi tìm anh Từ, bảo anh ngó quanh coi còn ai. Các ông ấy chết rồi. Anh cũng sắp chết. Những bài hát 13 năm tù đâu, đưa ngay chúng cho em.

“Nhờ vậy, có Nụ Cười Trăm Năm.”

(Trích sách nhỏ kèm CD Nụ Cười Trăm Năm)

Dù câu chuyện đã được Khánh Ly kể lại, việc một nhà thơ bỗng dưng thành nhạc sĩ vẫn gây nhiều thắc mắc. Trong mục “Trò chuyện với tác giả” trên trang nhà Du Tử Lê, chính nhà thơ Trần Dạ Từ từng trực tiếp trả lời với độc giả, thính giả. Xin trích nguyên văn phần hỏi đáp:

– Ðỗ Lê (San Francisco)

..Tôi đã đọc bài nhà thơ Du Tử Lê viết về Trần Dạ Từ, đã nghe Khánh Ly hát Chuông và Mưa, nghe Quang Tuấn hát Sinh Nhật Ca và đang theo dõi mục “Trò chuyện với nhà thơ.” Trong kỳ 3 vừa rồi, có câu hỏi của ông Quý Trần, về sự gần gụi và khác biệt giữa thơ và nhạc. Câu hỏi rất hay. Ðúng là điều chính tôi từng thắc mắc. Nhưng câu trả lời của nhà thơ thì quá vắn tắt, không trả lời gì cả, nên câu hỏi còn nguyên. Và tôi cũng còn nguyên thắc mắc. Xin cho biết theo ông, thơ và nhạc gần gũi và khác biệt ra sao.

– Nhà thơ Trần Dạ Từ trả lời:

..Ðể cám ơn sự nhắc nhở của ông Ðỗ Lê và tạ lỗi với câu hỏi rất hay của ông Quí Trần, thật khó vắn tắt. Ðành xin phép dài dòng.

Về sự gần gụi giữa thơ và nhạc, tôi đã thưa gọn rằng ông Quý Trần đúng, quan hệ thơ nhạc vốn tuy hai mà một.

Theo sự nhắc nhở của ông Ðỗ Lê, xin phụ họa thêm: Chỉ riêng các từ ngữ thi ca hoặc kinh thi, đã cho thấy chính thi dẫn đến ca hoặc kinh. Ấy là vì thơ vốn là cách nói, mà loài người thì biết nói trước khi biết hát, sau đó mới biết tới kinh sách hay trống kèn đàn địch.

Như chúng ta đều biết, chính thơ dân gian – đồng dao, ca dao – là gốc của mọi loại dân ca, dân nhạc, thánh ca. Bên Tàu, từ cả ngàn năm trước Tây lịch, ca dao 15 nước thời Xuân Thu đã là gốc của bộ “Kinh Thi” do Khổng Tử san định. Bên ta, ca dao là gốc mọi điệu ru, điệu hò, điệu hát. Cùng vậy, tại Trung Ðông, thơ dân gian Do Thái là gốc của thi thiên hay thánh vịnh trong Cựu Ước; Tại vùng thung lũng sông Hằng ở Ấn Ðộ, thơ dân gian Aryans là gốc của thánh ca Veda/Vệ Ðà.

Chúng ta cũng biết, như sử sách cho thấy, tài ba âm nhạc ít được kể tới trong lãnh vực sáng tạo: Lý Bạch viết Thanh Bình Ðiệu, Tô Ðông Pha làm mới Tống từ; Fujiwara no Teika khai sinh những bài ca vùng Yamato của nước Nhật cổ; Trần Nhân Tôn, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, viết đạo ca, ca trù, hát nói bằng chữ nôm… Tại Pháp, Guillaume de Machaut hoàn chỉnh các thể điệu tây phương ballade, rondeau, virelai. Vậy mà tất cả đều là thi sĩ, không thấy vị nào được gọi là nhạc sĩ. Rõ ràng về “danh phận” khi hai hợp thành một, tài thơ là chính, tài nhạc là phụ, giống như các bà vợ phải mang tên họ của ông chồng. Thậm chí, không thấy một nhạc sĩ nào được ghi lại tiểu sử, nếu nhạc sĩ không chịu làm thi sĩ, hệt như các cô không chồng thì xin miễn danh phận, chẳng có gì đáng kể.

Tình trạng “bất công” này kéo dài đã nhiều thiên niên kỷ, mãi tới thế kỷ 18 mới chịu kết thúc tại Âu Châu, nhờ thành quả của thời kỳ Baroque (mở đầu cho thời kỳ khai sáng, phát động bởi nhà thờ Ý, từ 1600 tới 1760, được thị dân hưởng ứng, lan khắp Âu Mỹ, mãi tới thế kỷ 20 mới tới Việt Nam do ảnh hưởng văn hóa Pháp.) Phong cách Baroque – từ ngữ gốc Bồ Ðào Nha có nghĩa là xù xì, thô ráp – coi mọi khuôn mẫu nghệ thuật cũ là ngọc đã mài xong, chẳng còn gì để làm. Muốn sáng tạo cái mới, phải coi mọi loại nghệ thuật là thứ ngọc còn xù xì thô ráp để mài lại từ đầu: Thơ nhạc phải phá bỏ mọi mẫu mực cố định (formes mixex/fixed forms) ví dụ: thể rondeau gồm 15 câu, ballade, Virelai từ 10 tới 13 câu, tương tự thể cố định của thơ Ðường luật là thất ngôn bát cú.

Từ đây, thơ và nhạc tách biệt và tự chuyên biệt hóa: thi (và) ca mỗi bài tự tạo thể điệu riêng, âm nhạc tự tạo thêm hòa điệu, nhịp điệu, không chỉ là thanh nhạc ca hát véo von, mà còn là khí nhạc hòa tấu không lời… cứ thế mà sinh sôi biến hóa cho đến ngày nay, đưa đến “những khác biệt quan trọng” giữa thơ và nhạc mà ông Quý và ông Ðỗ thắc mắc.

Về yêu cầu phân tích, tôi đã thưa thật với ông Quý là “không quen.” Xin mượn kiểu phân tích “bài hát-câu thơ” trong kinh Veda, phân khúc Atharva Veda:

Anh là chàng, em là nàng/Anh là bài hát, em là câu thơ/Anh là bầu trời, em là mặt đất
Ðôi ta cùng ăn ở tại đây,/cùng tạo ra con trẻ.

Veda/vệ đà, có nghĩa “tri thức,” bộ kinh gốc của Ấn Ðộ Giáo. Atharva Veda, có nghĩa “Tri thức theo các thầy tư tế ghi lại.” Trích theo bản anh ngữ:

I am he; you are she./I am song; you are verse. I am heaven; you are earth.
Let us two dwell together here;/ let us generate children. (Atharva Veda 3:29:3)

Từ thời Veda đến nay đã là 3000 năm. Cuộc hôn phối “bài hát-câu thơ” đã sản sinh nhiều thế hệ con trẻ. Biến dạng của chúng là vô cùng. Thú thật tôi không đủ khả năng phân tích, nên đành tự an ủi, rằng thơ nhạc cũng giống như tình yêu, vẻ đẹp hoặc món ăn, thay vì phân tích, ta có thể thưởng thức. Ðề nghị hai ông Quý-Ðỗ thưởng thức hát nói Nguyễn Công Trứ, từ khúc Tản Ðà, thơ Du Tử Lê, nghe hò Huế hay hát quan họ, hòa tấu khúc của J. S. Bach, và cả ca khúc… Lady Gaga. Hy vọng sẽ thanh thản “cảm nhận” như từ ngữ ông Quý đã dùng, thay vì nhức đầu đọc phân tích dài dòng.

(http://www.dutule.com/D_1-2_2-128_4-3736_5-10_6-12_17-173_14-2_15-2/tro-truyen-voi-nha-tho-tran-da-tu-ky-6.html)

Khi phát hành CD đầu tiên năm 2011, Trần Dạ Từ nói “Cám ơn Khánh Ly, người đã đánh thức những bài hát ngủ quên.” Bốn năm sau, trong Tháng Năm 2015, Trần Dạ Từ và Khánh Ly sẽ tiếp tục ra mắt thêm 2 CD mới, gồm 23 ca khúc. Bên cạnh các bài hát từ thời nhà tù, còn thêm nhiều bài hát mới viết. Như vậy, không chỉ “những bài hát ngủ quên,” mà cả người nhạc sĩ ngủ quên nhiều thập niên cũng đã được đánh thức, như tên gọi của hai CD này cho thấy. Trong thơ nhạc Việt, “Gội Ðầu/Bay” là thứ chưa từng thấy. “Gọi Tên Dòng Sông” là niệm khúc đầu tiên – một “requiem” hướng về các nghệ sĩ. Tôi rúng động khi nghe. Tưởng như thấy thời đại mình thở. Hơi thở ấy ra sao?

(Kỳ sau tiếp)
________________________________________

Chú thích:

(1) Sách “A Gift of Barbed Wire,” của Dr. Robert S. McKelvey/University of Washington Press. Tựa đề đặt theo bài thơ “Tặng Vật Tỏ Tình” được trích trang trọng trang đầu sách: “I give you a barbe wire / some creeping vine of this new age. Tran Da Tu.”

(2) Bản dịch Anh ngữ của “Hòn Ðá Làm Ra Lửa” do GS Nguyễn Tự Cường, Hoa Thịnh Ðốn. Người tổ chức và giới thiệu Trần Dạ Từ trong buổi đọc thơ là ông Jim (James) Webb, nhà văn cựu chiến binh, nhà làm phim, từng là thứ trưởng Quốc Phòng, bộ trưởng Hải Quân và thượng nghị sĩ liên bang, hiện đang thăm dò việc làm ứng viên tổng thống Hoa Kỳ 2016.

(3) Sách “Thi Ca Hiện Ðại” của Trần Tuấn Kiệt cũng như nhiều tư liệu khác ghi nhà thơ Trần Dạ Từ, tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh ở Hải Dương. Nhưng họ Lê đã chính thức xác nhận rằng tên thật của ông là Lê Hạ Vĩnh, tức làng Hạ Vĩnh huyện Thanh Hà, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Ðây là nơi có cây “vải tổ” của Hải Dương-Hưng Yên, vùng đất trồng vải thiều nổi tiếng khắp miền Bắc. Vụ án lịch sử đời nhà Lê, liên quan tới Nguyễn Trãi và Thị Lộ được sử sách ghi là “Vụ án Lệ Chi Viên,” có nghĩa vụ án vườn vải (thiều).

(3b) Trích từ trang 955, sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại,” tập II, bản in lại tại Hoa Kỳ theo kiểu photocopy.

(3) “Cháu Mai” là gọi theo tên thật của Khánh Ly, Nguyễn thị Lệ Mai.

(Du Tử Lê)

oOo

“Thuở Làm Thơ Yêu Em” – Ca sĩ Camille Huyền:

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Thuở Làm Thơ Yêu Em” – Trần Dạ Từ & Cung Tiến”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s