Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Bài Nhã Ca Thứ Nhất” – Nhã Ca & Trầm Tử Thiêng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Bài Nhã Ca Thứ Nhất” của Thi sĩ Nhã CaNhạc sĩ Trầm Tử Thiêng.

Thi sĩ Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (sinh 1939), là một nữ văn sĩ với nhiều tác phẩm thời Việt Nam Cộng Hoà, hiện bà đang định cư tại Hoa Kỳ.

Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960 – 1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tác phẩm của bà lấy xứ Huế làm trọng điểm.

Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị nhà nước miền Bắc bắt đi tù hai năm vì tội “Biệt Kích Văn Hóa”. Trong tù, bà bị biệt giam. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, cũng bị tù 12 năm, cùng một tội.

Vợ chồng Nhã Ca và Trần Dạ Từ.
Vợ chồng Nhã Ca và Trần Dạ Từ.
Nhã Ca và năm con gái tại Hoa Kỳ.
Nhã Ca và năm con gái tại Hoa Kỳ.

Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc Tế phối hợp với hội Ân Xá Quốc Tế và Thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, vợ chồng bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 gia đình ông bà chuyển sang California, USA định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Orange County.

Phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, đã một phần dựa theo cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế và Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, do bà viết đối thoại.

Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như:

1. Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng
2. Đường Tự Do Sài Gòn (2006).

Các tác phẩm của bà được dịch ra ngoại ngữ:

1. Đêm Nghe Tiếng Đại Bác đã được Liêu Trương dịch sang tiếng Pháp với tựa Le Cannon Tonnent La Nuit.

2. Đoàn Nữ Binh Mùa Thu được Barry Hilton dịch sang tiếng Anh với tựa The Short Timers

3. Giải Khăn Sô Cho Huế được Giáo sư Sử Học Đại Học Texas A&M, Olga Dror, dịch sang tiếng Anh với tựa Mourning Headband For Hue (2014)

4. Phim Đất Khổ được hãng Remis phát hành với tên Land of Sorrows.

nhaca_GKSCH1

nhaca_GKSCH

25/2/15, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của Đại học California Berkeley đã có buổi giới thiệu bản dịch tiếng Anh của Olga Dror, Giáo sư Sử Học Đại Học này, Peter Zinoman nhận định: “ ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ là tài liệu lịch sử quan trọng nhất về biến cố Tết Mậu Thân ở Huế và khi tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam cần đọc nó bên cạnh ‘All Quiet In The Western Front’ và những tác phẩm khác”.

Trong sách Văn Học Miền Nam (quyển “Thơ Miền Nam”), nhà văn Võ Phiến đã nhận định về Nhã Ca như sau:

“Sống giữa một thời không còn cấm kỵ, mà sôi nổi, mà cực đoan, Nhã Ca mạnh dạn tự mình chọn lựa tình yêu của mình, con đường hạnh phúc của mình, con đường đời của mình. Bà không ngần ngại bỏ nhà ra đi, đổi họ thay tên, phiêu lưu trong cái nghề viết văn làm báo. Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình…

“Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975”.

tramtuthieng1

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937 – 2000) tên thật là Nguyễn Văn Lợi, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1937 tại Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng trên giấy tờ ghi ông sinh năm 1940. Lớn lên ở miền Nam, Trầm Tử Thiêng bắt đầu ca hát từ năm lên 10 ở các thôn quê miền Nam Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 đến 1949. Sau đó ông lên Sài Gòn tiếp tục học và tham gia các hoạt động âm nhạc ở các học đường và các đoàn thể trẻ.

Năm 1958 ông tốt nghiệp trường Sư Phạm và bắt đầu dạy học.

Năm 1966 ông nhập ngũ, thuộc Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra, ông cũng tham gia vào phong trào Du Ca Việt Nam.

Từ năm 1970, ông làm việc trong ngành Phát Thanh Học Đường cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Các sáng tác của ông khá đa dạng nhiều thể loại, từ âm hưởng dân ca đến tình ca. Một số ca khúc nổi tiếng từ trước 1975 như: “Kinh Khổ”, “Chợt Nghĩ Về Hai Nơi”, “Mười Năm Yêu Em”, “Tình Ca Mùa Đông”, “Mây Hạ”…

Sau nhiều lần vượt biên không thành, ông bị tù cải tạo một thời gian. Sau đó, ông đến Hoa Kỳ và định cư tại Little Saigon, tiểu bang California năm 1985. Ông là cố vấn Ban Chấp Hành Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại 2 nhiệm kỳ1996 – 2000. Cuối năm 1999, ông cùng các bạn văn nghệ sĩ sáng tác lập Thư Viện Việt Nam tại Little Saigon.

Tại Hoa Kỳ, cộng tác với Mây Productions, Hollywood Night và trung tâm Asia, NS Trầm Tử Thiêng đã cùng NS Trúc Hồ sáng tác nhiều ca khúc thể loại nhạc đồng ca như: “Bước Chân Việt Nam”, “Việt Nam Niềm Nhớ”, “Một Ngày Việt Nam”, “Tình Đầu Thời Áo Trắng”, “Cám Ơn Anh”… và những tình khúc như “Cơn Mưa Hạ”, “Đêm”, “Đã Qua Thời Mong Chờ”. Một bài hát khác của ông là “Đêm Nhớ Về Sài Gòn” viết 1987 cũng được nhiều người biết đến.

Ngày 25 tháng 1 năm 2000, NS Trầm Tử Thiêng mất tại trung tâm y tế Anaheim Tây. Trong chương trình Paris By Night tưởng niệm ông do trung tâm nhạc Thúy Nga tổ chức, Khánh Ly đã hát lại ca khúc “Mây Hạ” cùng tiếng hát của ông được ghi âm trước đó.

Năm 2007, Trung tâm Asia thực hiện cuốn “Bước Chân Việt Nam” để vinh danh ông và NS Trúc Hồ.

nhaca2

Thi phẩm “Bài Nhã Ca Thứ Nhất” (Thi sĩ Nhã Ca)

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày

Tôi làm con gái
Một lần qua đây
Rồi không trở lại
Ôi mùa xuân này

Tôi làm con gái
Đời như heo may
Tình bằng cỏ dại
Giận hờn không khuây

Tôi làm con gái
Một lần yêu người
Một lần mãi mãi
Bao giờ cho nguôi

Tôi làm con gái
Bao nhiêu tuổi đời
Bấy lần thơ dại
Buồn không ai hay

nhaca_ĐB

Thi khúc “Bài Nhã Ca Thứ Nhất” (Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày
Một lần qua đây
Rồi không trở lại
Ôi mùa xuân này

Tôi làm con gái
Đời như heo may
Tình bằng cỏ dại
Giận hờn không khoây

Tôi làm con gái
Một lần yêu người
Một lần mãi mãi
Bao giờ cho nguôi
Bao nhiêu tuổi đời
Bấy lần thơ dại
Buồn không ai hay

Dưới đây mình có các bài:

– Nhã Ca, một xuất hiện rực rỡ của văn học miền Nam
– Nhã Ca, khả năng bật sáng những ngọn đèn tâm thức
– Nhân cách văn chương và, nhân cách đời thường, Nhã Ca, (Tiếp theo và Hết)

Cùng với 3 clips tổng hợp thi khúc “Bài Nhã Ca Thứ Nhất” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện viện tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Nhã Ca.
Thi sĩ Nhã Ca.

Nhã Ca, một xuất hiện rực rỡ của văn học miền Nam

(Du Tử Lê)

Nói tới bối cảnh của hai mươi năm văn học, nghệ thuật miền Nam, người ta không thể không ghi nhận sự hiện diện có tính cách khởi công, vỡ đất của những tạp chí văn học. Mặc dù không phải tạp chí nào, xuất hiện trong khoảng thời gian từ phôi thai, tức trước điểm mốc 1960 tới giai đoạn chín mùi, sung mãn sau 1960 cũng đều có những đóng góp tích cực cho nỗ lực thay da, đổi thịt của dòng văn học này.

Tuy thế, người ta vẫn cần ghi lại những diễn đàn văn học chính trong giai đoạn vừa kể. Như tạp chí Sáng Tạo, ra đời năm 1956; Bách Khoa, 1957; Hiện Ðại, đầu năm 1960; Thế Kỷ 20, giữa 1960 và, Văn Nghệ 1961…

Ở hai thời điểm trước và sau 1960, một số người cho rằng, chúng ta cũng không nên gạt bỏ phần đóng góp của hai đài phát thanh chính là Ðài Phát Thanh Quốc Gia, tức Ðài Phát Thanh Saigon, và đài Quân Ðội. Hai cơ quan truyền thông này không chỉ là nỗ lực chính đưa…

… dòng tân nhạc của miền Nam tới với quảng đại quần chúng, mà còn góp phần quảng bá sáng tác thơ văn của một số nhà thơ nhà văn miền Nam nữa.

Ở Ðài Phát Thanh Saigon, ngoài chương trình Tao Ðàn nổi tiếng của cố thi sĩ Ðinh Hùng, những nhà văn, nhà thơ như Mai Thảo, Nguyễn Ðình Toàn, Phan Lạc Phúc, Trần Dạ Từ,… hàng tuần cũng có những chương trình phát thanh nhằm giới thiệu sinh hoạt văn nghệ và, sáng tác mới của bằng hữu.

Tôi gọi giai đoạn đầu từ 1955 tới 1960 là giai đoạn khởi công, vỡ đất mà tiêu biểu là tạp chí Sáng Tạo. Tạp chí cổ suý dòng văn chương mới. Một dòng văn chương chủ trương đoạn tuyệt hẳn dòng văn chương tiền chiến.

Nhưng ngoài những lời lẽ, đi kèm những lên tiếng chung một cách mạnh mẽ, của những thành viên nhóm Sáng Tạo, người đọc vẫn không thấy nhóm này đưa ra những tiêu chí, hay những chuẩn mực để có được sự phân biệt cụ thể giữa “văn chương tiền chiến” và “văn chương hôm nay” (theo cách gọi của nhóm Sáng Tạo).

Nhóm Sáng Tạo không vạch rõ đâu là đặc tính của dòng nền văn chương cũ và, đâu là đặc tính của dòng văn chương mới.

Về văn xuôi, ngoài một Mai Thảo làm mới hình thức câu văn, bằng chủ tâm không đặt nặng nhu cầu tuân thủ văn phạm như vai trò chủ từ, động từ, bổ túc từ một mệnh đề, mà ông lại chú trọng tới phần hình ảnh, sử dụng nhiều tính từ để tạo làm thành một câu văn óng ả, đối xứng, nhịp nhàng… Nó có thể chảy dài lướt thướt hay ngắn ngủn. Cách viết của ông, sớm được một số người trẻ bắt chước.

Trong khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một trụ cột khác của nhóm Sáng Tạo vẫn trung thành với lối viết cũ. Truyện của ông vẫn được xây dựng trên những yếu tố căn bản như cốt truyện, tâm lý nhân vật. Thí dụ truyện dài “Dòng Sông Ðịnh Mệnh.”

Người thực sự bước cả hai chân vào thế giới văn chương mới lại là họa sĩ DuyThanh với những truyện ngắn của ông. Mặc dù nỗ lực của ông không được dư luận thời đó chú ý đúng mức.

Về thơ, ngoài những bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, những tác giả khác vẫn tiếp tục dòng thơ tiền chiến hiểu theo nghĩa vẫn áp dụng âm luật một cách chặt chẽ, vững chắc cho những bài thơ bảy, tám hay, năm chữ của họ. Ðiển hình như đa số thơ của Tô Thùy Yên.

Ngay cả những bài thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, từng gây xôn xao văn giới một thời, khi ông đem nhiều hình ảnh đậm tính chất tây phương vào thơ. Nhưng lục bát Cung Trầm Tưởng vẫn tạo dựng trên nhịp chẵn hay nhịp đều và, căn bản là khai triển, đi nốt con đường lục bát do Huy Cận, Hồ Dzếnh khai phá từ thập 1940.

Ðó là khuynh hướng đoạn tuyệt loại lục bát được dùng như một phương tiện kể chuyện dễ dàng nhất. Hoặc hình thức chuyển tải tâm sự riêng của tác giả, dễ tìm được sự đồng cảm nơi người đọc.

Lục bát thời Huy Cận, Hồ Dzếnh là loại lục bất tiêu trừ chủ thể “tôi.” Chí ít cũng đẩy lui chủ thể “tôi” xuống hàng thứ yếu – Ðể tự thân hình ảnh, ngôn ngữ, không gian của bài thơ chiếm giữ ngôi vị hàng đầu. Tự thân bài thơ là xương sống, là máu huyết, là sức sống rực rỡ, chói lòa của chính nó.

Sự xuất hiện của lục bát Cung Trầm Tưởng trên Sáng Tạo, từng được cố nhà văn Mai Thảo gọi một cách thân yêu là “Bà Huyện Thanh Quan… Mới”!

Chưa một lần tôi hỏi tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội” nguyên nhân sâu xa của ví von này. Nhưng hiển nhiên, theo tôi, khó có thể có một biểu lộ nào khác về lòng yêu mến lục bát Cung Trầm Tưởng nồng nàn hơn thế.

Tới đây, tôi cũng thấy cần ghi lại một sự kiện mang tính văn học miền Nam, 20 năm. Ðó là sự xuất hiện của dòng thơ Nguyên Sa, từ đầu mùa Sáng Tạo. Tiếc rằng, sự cộng tác của tác giả này, với Sáng Tạo không được dài lâu vì sự ngộ nhận hay xung khắc giữa Nguyên Sa và Thanh Tâm Tuyền. (Tương lai, có thể tôi sẽ có một bài viết riêng về ngộ nhận đáng tiếc giữa hai nhà thơ tên tuổi đó.)

Ngay tự những số đầu tiên của Sáng Tạo, thơ Nguyên Sa dù là thơ vần điệu, thơ tự do hay, thơ xuôi, đã như cơn địa chấn, có sức quyến rũ dữ dội, đẩy xô những người làm thơ đang/còn ngập ngừng, e ngại trước phong trào thơ Tự Do, lao mình vào phong trào thơ tự do với niềm tin và, lòng hăm hở phơi phới.

Thí dụ “Tiễn Biệt” một trong những bài thơ của Nguyên Sa, in trong Sáng Tạo, có những câu như:

“…Sao người không đi vào không gian trong – Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông – Và sao lòng tôi không là vô tận – Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song…” (1)

Hay bài “Paris,” hình dung những phản ứng của tác giả, sau khi rời bỏ nơi chốn này. Ông viết:

“…và có lẽ tôi sẽ kể chuyện Paris – để khói thuốc xám trên môi dăm người bạn – và trên môi tôi – điếu thuốc sẽ run trên những đường cong lận đận – điếu thuốc sẽ run như chân người vũ nữ vừa quen – đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên – còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc…” (1)

Hay bài “Tôi Sẽ Sang Thăm Em”:

“Tôi sẽ sang thăm em – Ðể những mớ tóc màu củi chưa đun – Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền – Lùa vào nhau nhóm lửa…” (1)

Hoặc nữa, một bài thơ xuôi nhan đề “Mời”:

“…Tôi mời em vứt bỏ lại đàng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ tú tài.

“Tôi muốn mời em đi ngay. Không cần lấy vé. Không phải đợi chờ vì điều kiện du hành là những ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đơn chiếc.

“Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé. Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu để không ai được dự phần vào câu chuyện đôi ta…” (1)

Ðó là một số bài thơ Nguyên Sa, xuất hiện trên Sáng Tạo. Lùi lại thời điểm trước 1960, tôi chưa thấy ai đem vào trong thơ, những hình ảnh, những liên tưởng, ẩn dụ… như thế.

Một số người có thể không thích thơ Nguyên Sa, vì nó không đáp ứng được những thắc mắc, những đòi hỏi siêu hình; hoặc vì thơ Nguyên Sa không thỏa mãn những tư duy triết lý trầm trọng của họ. Nhưng khó ai có thể phủ nhận những cái mới của thơ Nguyên Sa.

Trở lại với nhóm Sáng Tạo (không có Nguyên Sa), sự kiện trên diễn đàn này đã có cùng lúc hai dòng chảy cũ và mới. Tôi cho, cũng dễ hiểu. Thời gian đó, đa phần các nhà văn, nhà thơ của miền Nam vẫn tiếp tục đi tiếp con đường của dòng văn chương tiền chiến. Khác chăng, họ đào sâu hơn, tâm lý nhân vật. Những bối cảnh xã hội cũng mở rộng hơn và, không nhất thiết phải quy kết, tập chú vào một chủ đề. Chẳng hạn chủ đề giầu nghèo, chủ đề đả phá nếp phong kiến, ao tù hủ tục v.v…

Nói cách khác, ngay trên diễn đàn Sáng Tạo và, qua những bài lai cảo, được chọn đăng, người đọc thấy dường có song song, hai dòng chảy: Dòng thơ văn nỗ lực hướng về cái mới và, dòng thơ văn tiền chiến nối tiếp.

Với những nhận định trên, tôi muốn được gọi giai đoạn này là giai đoạn “dò đường” hay “mở đường.”

Phải đợi tới đầu thập niên 1960, khi lớp người mới, những cây bút sung mãn khát khao đi tới, thực sự nhập cuộc, lúc đó dòng văn chương miền Nam mới thực sự tách thoát và, từ đó, định hình.

Ðó là giai đoạn xuất hiện những tên tuổi như Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Dạ Từ, Mai Trung Tĩnh, Ðỗ Quý Toàn, Sao Trên Rừng (Nguyễn Ðức Sơn), Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng, Diễm Châu v.v… Hàng ngũ đông đảo những cây bút tiêu biểu này, dứt khoát tiến về phía trước, đã giúp cho con tầu văn học, nghệ thuật miền Nam vừa rời bến, còn dùng giằng, lưu luyến bờ cũ, thẳng ra biển khơi.

Trong bối cảnh này, thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện.

Chú thích:

(1) Theo “Thơ Nguyên Sa Toàn Tập”, (Tập 1). Ðời Xb. California, 2000.

(Du Tử Lê – Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010 – kỳ 2: “Thơ Nhã Ca, những ngọn đèn rọi sâu tâm thức người nữ)

nhaca2

Nhã Ca, khả năng bật sáng những ngọn đèn tâm thức

(Du Tử Lê)

Với bút hiệu Trần Thy Nhã Ca, thơ Nhã Ca xuất hiện lần đầu trên tạp chí Hiện Ðại, số ra mắt, của nhà thơ Nguyên Sa chủ trương. Cũng ở số ra mắt đó, tác giả “Áo Lụa Hà Ðông” đã dành cho thơ Trần Thy Nhã Ca vị trí trang trọng nhất.

Người đọc cũng như một số anh chị em văn giới thuở đó, xao xác hỏi nhau:

“Trần Thy Nhã Ca là ai?
“Ai là Trần Thy Nhã Ca?”

Những câu hỏi được cất lên nhiều thêm nữa, khi những bài thơ kế tiếp của bà, càng lúc càng dội vang xa hơn.

Nhà thơ Thành Tôn, người hiện có trong tay tạp chí Hiện Ðại số 1, cho biết, ba bài thơ đầu tiên của Trần Thy Nhã Ca là: “Bài Nhã Ca thứ nhất”, “Ngày Tháng Trôi Ði” và, “Thanh Xuân.”
“Bài Nhã Ca Thứ Nhất” là một bài thơ 4 chữ, có những đoạn như:

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày
Tôi làm con gái
Một lần yêu người
Một lần mãi mãi
Bao giờ cho nguôi
Tôi làm con gái
Bao nhiêu tuổi đời
Bấy lần thơ dại
Buồn không ai…

… hay. (1)

“Ngày tháng trôi đi” là một bài thơ 7 chữ:

Ngày cũng vừa xanh dáng tịch liêu
Ðường xa sầu tiếp với mây chiều
Bày chim én cũ qua thành phố
Về gọi thời gian vỗ cánh theo
Thôi trả cho dòng sông tối đen
Trả cho người đó nỗi ưu phiền
Còn đây chút tủi hờn thơ dại
Rồi cũng xa vời trong lãng quên
Mắt dõi theo vừa ngút bóng cây
Ðời chia dăm bảy dấu chân bày
Tôi hồn vẫn đứng im như tượng
Trông tháng ngày đi trên cánh tay.
(Trọn bài) (1)

Và đây, trích đoạn bài “Thanh Xuân”:

Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây
Người đi chưa dạt dấu chân bày
Bày tay nằm đó không ngày tháng
Tình ái xin về với cỏ cây
Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài
Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian lỡ nụ cười
Ðời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ.” (1)

Tính tới đầu đầu thập niên 1960, trong sinh hoạt văn học miền Nam, chúng ta có rất ít nhà thơ nữ. Ðã thế, họ lại thường không nói về phía khuất lấp của thân, tâm mình.

Tình yêu, nếu được họ đề cập đến, dẫu thừa thãi những tính từ chỉ tính chất cô đơn, sầu muộn, hoặc những hình ảnh lãng mạn đã sáo mòn thì, chúng cũng vẫn giống như thể họ đang nói xa xôi, mơ hồ, quanh co về một phần số hẩm hiu, một thất lỡ, vay mượn chuyện tình từ một nữ lưu nào đó, trong đời thường!

Trần Thy Nhã Ca không vậy! Thơ bà xuất hiện, như tiếng nổ lớn của một khối thuốc nổ TNT.

Ngay tự những dòng thứ nhất của bài thơ thứ nhất, tác giả đã tự giới thiệu, không chỉ giới tính mà còn là “tiểu sử” đời mình một cách trực khởi. Tự tin. Không mặc cảm:

“Tôi làm con gái
Bao nhiêu tuổi đời
Bấy lần thơ dại
Buồn không ai hay.”

Với số chữ ít oi của thể thơ 4 chữ (bằng nửa số chữ thể thơ 8 chữ,) nhưng mỗi con chữ trong đoạn thơ tôi vừa lập lại của Trần Thy Nhã Ca lại có khả năng tự bào phân ở cấp số nhân, để cái hình hữu hạn này khơi dẫn tới tượng mênh mang của những chân trời nắng, gió lênh đênh cảm thức hiu quạnh, mới.

Cũng thế, ở bài thơ thứ hai, trừ một hai câu mang âm hưởng thơ Huy Cận (như câu “đường xa sầu tiếp với mây chiều”,) thấp thoáng trong bài thơ là những nhát chém không hình tích của những lát dao chữ nghĩa và, hình ảnh xẻ dọc toàn cảnh:

“Bầy chim én cũ qua thành phố
Về gọi thời gian vỗ cánh theo.”

Hoặc:

“Tôi hồn vẫn đứng im như tượng
trông tháng ngày đi trên cánh tay”…

Với tôi, là những cánh cửa hé mở cho thi ca miền Nam thời kỳ đó, một chân trời khác.

Bước vào bài thứ ba, bài cuối cùng trong loạt bài đầu tiên của Trần Thy Nhã Ca, với những câu như:

“Bàn tay nằm đó không ngày tháng
Tình ái xin về với cỏ cây.”

Hoặc phỏng, rát hơn với hai câu mà, mỗi chữ tựa một hòn than vừa bén lửa:

“Khi về tay nhỏ che trời rét
nghe giá băng mòn hết tuổi thơ.”

Với tôi, chừng đó ngôn ngữ, chừng đó hình ảnh và sự điêu luyện trong nghệ thuật diễn tả, đã đủ khẳng định, đủ định hình chỗ đứng của tài hoa thi ca này.

Tôi không biết trước khi có cho mình bút hiệu Trần Thy Nhã Ca, tác giả đã có cho mình bao nhiêu bút hiệu?

Tôi cũng không biết tác giả làm quen với thi ca từ năm nào? Bao nhiêu tuổi? (2)

Chỉ biết tôi đã lặng, điếng như một nạn nhân bất lực, chới với giữa hai đối cực:

Cực tiểu là hình ảnh bàn tay quá mức nhỏ bé của con người, theo phản ứng tự nhiên, tuyệt vọng như chống trả cái cực đại là thời tiết (cái rét,) hay thiên nhiên.

Với 14 chữ, Trần Thy Nhã Ca tự thú (một cách buồn bã , bản chất “con tin,” tính thất lạc của thân phận con người trước thiên nhiên, trong dòng chảy thời gian, bất tận.

Tôi vẫn cho rằng, thời tiết (hay thiên nhiên,) nơi chốn… tự nó vốn trung tính, hoặc vô ký. Nếu chúng có mang một linh hồn, một ý nghĩa nào đó, thì phần linh hồn, phần ý nghĩa kia, do con người, do chúng ta mặc, khoác cho chúng.

Từ đó, với tôi, cái rét (thời tiết) trong thơ Trần Thy Nhã Ca, không chỉ là một ẩn dụ (metaphor) hay một hoán dụ (metonymy) cho một trạng thái tình yêu mà, nó còn là một thực chứng bơ vơ, thất lạc của bà trước thiên nhiên.

Nói cách khác, đó là thân phận không thể chối bỏ của định phận người nữ, với kết cuộc vốn là bôi xóa, lãng quên trong dòng chảy nhân quần!

Hiểu như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng hơn, có được cho mình câu trả lời:

– Tại sao thơ Nhã Ca, lại đầy rẫy những đối kháng dữ-dội-buồn-thảm, khi bà luôn tự nói về mình, như một sinh vật có khả năng bật sáng những ngọn đèn tâm thức nghìn nến, để soi thấu đáy tầng vô thức thân phận mình?

Những bài thơ kế tiếp của Trần Thy Nhã Ca, càng thêm xác tín cho sự hiện hiện rực rỡ của bà trong dòng văn học 20 năm miền Nam Việt Nam. Chúng mở ra và, đi đến những chân trời chưa một người làm thơ nữ nào thời đó, bước tới.

Một trong những bài thơ kế tiếp của Trần Thy Nhã Ca được nhiều người nói tới, là bài “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Bài thơ ghi lại “biến cố” bà bỏ nhà ra đi năm bà mới 19 tuổi.

Có người cho rằng, thơ Nhã Ca mà bài “Tiếng Chuông Thiên Mụ” là một thí dụ; ra đời trong bối cảnh miền Nam Việt Nam thập niên 1960 đã được “giải phóng,” không còn bị truyền thống đạo lý, xã hội khắt khe cấm kỵ. (Vì thế) bà mới dám mạnh mẽ tự chọn tình yêu, chọn sống cuộc đời cho riêng mình…

Nhận định này, tuy chỉ để đưa tới những ngợi ca sự can đảm của Trần Thy Nhã Ca; Nhưng với tôi, nó lại không chỉ là một nhận định hời hợt vì chưa hay, không hề đọc kỹ thơ Nhã Ca mà nó còn làm giảm rất nhiều tính cương cường, lẫm liệt, đối đầu xã hội và, luôn cả những nghĩ lại chua chát, thất vọng, ê chề… trong đôi phút nào đó, nơi thẳm sâu tâm hồn người nữ, thi sĩ này nữa.

Bài thơ vừa kể, mở vào bằng những câu vẫn mang tính tự giới thiệu (hay tự khẳng định) thân thế mình:

“Tôi lớn lên bên này sông Hương
– Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ
– Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ
– Cửa từ bi vồn vã bước chân sông
– Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng
– Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn
– Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn
– Những sáng chim chiều dế canh gà
– Tiếng chuông buồn vui dợn thấu trong da
– Người với chuông như chiều với tối.”

Từ bối cảnh “Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ” với “Cửa từ bi vồn vã bước chân sông,” bà đi tới một chọn lựa gây ái ngại hay hoảng hốt, lo lắng cho bất cứ bậc phụ huynh nào, thậm chí, cả những người trẻ, ở tuổi bà, thuở ấy nữa.

Nhưng với bà thì, dường như đó là sự chấp nhận một hò hẹn bất trắc với trăm năm hay, một thách đố với định mệnh:

“Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi – Ðêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông – Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn – Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy – Tiếng chuông đến chỉ một mình tôi thấy – Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan – Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em – Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền – Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố.”

Và đây là phần ê chề, thất vọng của tác giả, như tôi mới viết ở trên:

“Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời – Ðổi họ thay tên viết văn làm báo – Cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo – Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư – Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sa mù – Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục – Con đường cũ nghe trong hồn cỏ mọc – Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da (…)Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay – Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay – Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ – Cho con trở về đứng mê sảng ngó.” (1)

Nhưng với tôi, hai câu thơ trong bài “Bài Tháng Sáu,” không được nhiều người nhắc “Tôi đã biết tội thân làm con gái – Ðời không thương tất cả héo khô dần” (1) – Mới thực sự cho thấy tài năng ngoại khổ của tiếng thơ này.

Tôi không nghĩ khi viết xuống hai câu thơ trên, Trần Thy Nhã Ca muốn khai triển hoặc, ứng dụng cái tương quan hữu cơ giữa tâm và, sinh lý.

Tôi cũng không nghĩ một nhà thơ phái nam, dù tài hoa nhất mực, có thể cảm nghiệm được sự héo hon, đưa lần tới héo khô những cơ phận trên thân thể người nữ! Một khi nâng niu, săn sóc, thương yêu, ân cần rời bỏ họ. Như những con sóng cấp bảy, cấp tám thình lình rút xa, rất xa bờ cát.

Cảm thức bị lãng quên, bị vất lại, bị bỏ xó… luôn là cảm thức sâu kín, trầm trọng nhất của bản năng người nữ. Nó thường dẫn dắt thân, tâm người nữ tới những kết luận hay chọn lựa cực đoan.

Tận. Tuyệt.

Tôi nghĩ, bà viết như một thốt kêu tự nhiên, của con chim thương tích. Lẻ bạn.

Tôi cho, đó là một thứ cảm-tính-chỉ-riêng-thi-sĩ.

Và, vì thế, câu thơ lớn lao. Nó như ngọn núi sừng sững (nhiều phần chênh vênh), giữa biển khơi và, vực thẳm.

Chú thích:

(1) Theo “Nhã Ca Thơ” Vietbook, USA, Calif. xuất bản, 1999.
(2) Gần đây, khi sưu tầm tài liệu cho bài viết của mình, tôi tình cờ đọc được một trích dẫn, ghi lại lời kể của Nhã Ca. Bà cho biết, với bút hiệu khác, bà đã cho đăng thơ, văn rất sớm, trên tờ Văn Nghệ Học Sinh của Lê Bá Thảng, khoảng giữa thập niên 1950.

Khi đó, nhà thơ Trần Dạ Từ, người bạn đời của bà sau này, phụ trách phần bài vở.

(Du Tử Lê)

Thi sĩ Nhã Ca.
Thi sĩ Nhã Ca.

Nhân cách văn chương và, nhân cách đời thường, Nhã Ca, (Tiếp theo và Hết)

(Du Tử Lê)

Nói về nhân cách một nhà văn (tiếng chỉ chung: nhà văn và nhà thơ,) tôi luôn nghĩ họ có nhiều hơn một nhân cách.

Nhân cách thứ nhất: Nhân cách văn chương (chỉ tài năng nhà văn).

Và, nhân cách thứ hai: Nhân cách đời thường.

Về nhân cách văn chương của Nhã Ca thi sĩ, Nhã Ca nhà văn, thì nó đã là một nhân cách rực rỡ. Ðã định hình. Bất khả chuyển.

Riêng nhân cách đời thường, nơi Nhã Ca, với tôi, cũng là một nhân cách đáng trân trọng.

Kinh nghiệm trong đời thường cho chúng ta rất nhiều thí dụ cụ thể về những cá nhân tạo, đạt được những thành tựu đáng kể trong văn chương. Nhưng nhân cách đời thường ở họ, lại là con đường nghịch chiều. Một hướng đi, một ngã rẽ khác.

Ngay với những tài năng lớn, được thực chứng bởi những sản phẩm nghệ thuật giá trị, nhưng trong đời thường, họ lại có một nhân cách khác.
Ðó là thứ nhân cách phản ảnh cái tâm đố kỵ. Ganh ghét. Thủ đoạn… Hoặc đó là cái tâm chật hẹp với…

…tinh thần phe phái. Cục bộ. Ðịa phương. Khoanh vùng. Một thứ nhân cách ấp, xã với tinh thần Lý trưởng hoặc Chánh tổng…

Trước thực trạng này, sinh thời, cố Thi sĩ Nguyên Sa từng chỉ danh đó là cái tinh thần “phe ta”. “Ðảng ta”. “Vùng đất ta”. Hoặc “quần thần, đàn em ta”… hiển hách. Ngoại giả là cỏ rác. Phải dẹp bỏ. Chặt đầu!

Nói về nhân cách Nhã Ca đời thường, tôi mãi nhớ hình ảnh một “buổi họp kín.” Diễn ra trong phòng âm u trong ngôi nhà sau cùng trên đường Tự Do, Saigòn, của cặp vợ chồng nhà thơ, nhà văn Nhã Ca/Trần Dạ Từ.

Nhà văn Mai Thảo kể, đó là “buổi họp” đầu tiên và cũng là cuối cùng (?)cực kỳ nghiêm trọng giữa nhà văn Nhã Ca với 5 người con của bà.

Buổi họp nhằm đi tới “biểu quyết”:

– Có đồng ý cho bác Mai Thảo tạm trú một thời gian, giữa lúc bác đang bị săn lùng ráo riết bởi chính quyền Cộng Sản?

Mỗi lần nhớ lại hình ảnh 5 bàn tay nhỏ xíu cùng hăng hái, dứt khoát dơ lên trong tình cảnh tai họa có thể ập xuống bất cứ lúc nào, trên mái đầu những trẻ thơ này, tôi không khỏi bùi ngùi. Cảm phục.

Tôi vẫn nghĩ không thể khi không, không thể tự nhiên có được cùng lúc, 5 bàn tay bé xíu dơ lên, trong một quyết định đầy nguy nan như vậy.

Tôi nghĩ đến ảnh hưởng hay giáo dục của bà mẹ. Người sinh ra những đứa trẻ đồng lòng dơ tay “biểu quyết” cho bác Mai Thảo được trốn trong nhà mình (khi mà người cha của chúng là nhà thơ Trần Dạ Từ, còn đang dật dờ trôi từ nhà tù này tới nhà tù khác. Khi mà chính người mẹ của chúng, cũng từng chịu cảnh từ đầy hơn một năm bởi chế độ mới, hiện còn bị theo dõi ngày đêm…).

Dù một nách 5 con nhỏ, nhưng tác giả “Yêu một nhà văn” vẫn chưa bao giờ bỏ qua một kỳ phép được thăm nuôi chồng.

Về những chuyến đi thăm nuôi nhà thơ Trần Dạ Từ, cố nhà văn Mai Thảo, trong tác phẩm “Chân Dung 15 nhà văn, nhà thơ Việt Nam”, do nhà sách Văn Khoa, Calif., xuất bản năm 1985, viết lại theo lời kể của một người từng đi chung với Nhã Ca, như sau:

“…Chuyến đi cho nhìn thấy tất cả những vất vả dọc đường. Cho nhìn thấy cuộc sống điêu đứng hiện giờ của Nhã Ca ở Saigòn sau đại nạn 1975. Cho nhìn thấy sự can trường lạ lùng của bà, một mình giữa cơn hồng thủy (…)”

“Một chiếc xe nhỏ ọp ẹp, khởi hành lúc 5 giờ sáng ở bên xe Petrus Ký. Ðồ thăm nuôi chất đầy. Mọi người ngồi chen chúc, ngộp thở. Ai nấy đều mệt mỏi, ủ rũ, riêng chị Nhã là người mạnh mẽ nhất. Chị đùa cợt cho vui dọc đường, săn sóc tất cả mọi người. Xe tới rừng lá Phan Thiết đã bể bánh. Phải ngưng lại một đêm. Mọi người xuống xe nằm ngủ ngay bên vệ đường với đêm rừng lạnh buốt. Riêng Nhã Ca thức, bó gối ngồi tới sáng. Chiều hôm sau mới tới Nha Trang. Lại một màn gối đất nằm sương ở bến xe, khiến mọi người mệt lả cơ hồ không chịu đựng nổi nữa. Lượt đi tưởng độ hai ngày kéo dài tới bốn ngày ở dọc đường. Ngày hôm sau ra Qui Nhơn, từ Qui Nhơn đi Pleiku, xe lại hư máy nữa ở chân đèo Cả. Tài xế dở chứng đòi quay về Saigòn, chị Nhã năn nỉ mãi. Chị hò mọi người cùng đẩy xe lên con đèo cao ngất. Ðẩy năm bảy cây số tới ngang trại giam trên đường 19, đã xế chiều. Mọi người cùng phải khiêng vác nặng, đi lê lết qua ba cây số đường rừng mới tới trại. Thời gian cho gặp thân nhân chỉ có nửa giờ. Thấy chồng, chị Nhã xúc động ôm lấy và bị bọn cán bộ la lối chửi mắng là đã có cử chỉ sàm sỡ đồi trụy. Chị nín thinh, chịu đựng, ra khỏi trại mới chảy nước mắt (…)”

“Từ chỗ ẩn lánh của mình, nghe chuyện về Nhã Ca, Nhã Ca trong đổi đời, trong giông bão, về những ngày tù đầy của Nhã Ca ở Phan Ðăng Lưu, về những chuyến thăm nuôi Trần Dạ Từ, tấm lòng son sắt thủy chung, tôi không sao kìm giữ được xúc động…”

Chỉ trong cương vị người nghe kể lại, không thực sự trông thấy, càng không là người tham dự chuyến đi nuôi chồng của Nhã Ca, nhưng tác giả “Chuyến tàu sông Hồng” đã không thể không thú nhận rằng, ông “không sao kìm giữ được xúc động”!

Nói về nhân cách Nhã Ca đời thường, tôi cho rằng, tôi cũng sẽ rất không phải, nếu không nhắc tới sự kiện nhà văn này, đã dùng tiền tác quyền, một tác phẩm của mình, làm giải thưởng cho những luận án tiến sĩ y khoa. Mặc dù, điều này, tôi cũng chỉ mới được biết gần đây, qua bài viết của ký giả Tường Vi:

Trên những đặc san cuối năm do Ðại Học Y Khoa Huế xuất bản, trong phần tin tức, thường có loan báo “luận án tiến sỹ y khoa đoạt ‘giải thưởng Nhã Ca’ hàng năm. Ðây là một giải thưởng được thiết lập từ năm 1969 và do chính nữ văn sỹ Nhã Ca bảo trợ. Khoản tiền dùng cho giải thưởng này chính là tác quyền cuốn ‘Giải khăn sô cho Huế’ một bút kỳ nổi tiếng của nhà văn nữ này, viết về biến cố Mật Thân tại Huế.”

Ngày 23 tháng chạp năm Mùi (1967) đang sống ở Sàigòn, Nhã Ca nhận được điện tín của gia đình từ Huế gọi về chịu tang thân phụ của bà vừa từ trần. Bảy ngày sau, cuộc tổng công kích Tết Mật Thân bùng nổ, và nhà văn nữ này, ngoài cái tang gia đình, đã phải chịu cái tang chung cho cả thành phố bị tàn phá.

“Những điều tai nghe mắt thấy trong hơn hai tháng lưu lạc trong biến cố tết Mậu Thân tại Huế được Nhã Ca viết lại thành tác phẩm ‘Giải khăn sô cho Huế’ và toàn bộ tác quyền đầu tiên của cuốn sách nổi tiếng này được dành tặng cho Huế. Một phần góp vào việc cho trường nữ trung học Ðồng Khánh. Một phần được trao tặng cho Ðại Học Y Khoa Huế, và vị khoa trưởng y khoa Huế thời đó là bác sỹ Bùi Duy Tâm đã dùng khoảng tiền này để thiết lập một giải thưởng mệnh danh là ‘giải thưởng Nhã Ca’ dành cho luận án tiến sỹ y khoa xuất sắc nhất hàng năm.”

Ðến đây, tôi không thấy cần thiết phải kể thêm, dẫn chứng thêm về nhân cách đời thường của tác giả “Ðoàn nữ binh mùa thu”.

Tự thân đời sống bà, những năm tháng nắng, mưa những thời gian huy hoàng và, bão tố… đã nói đủ, nói hơn những gì chữ nghĩa tôi, có thể vươn tới.

Cạnh đó, tôi nghĩ, dù muốn hay không, đã 35 năm trôi qua. Thời gian với bản chất cần mẫn (đôi khi đáng nguyền rủa của nó, vẫn lặng lẽ làm công việc không ai khiến, chẳng ai nhờ!

Ðó là sự khép miệng những vết chém. Chà mỏng những đường sẹo. Lấp đi những phần khuyết…

Nhưng điều nó không làm được, theo tôi, dù cho nó có thêm bao nhiêu cái 35 năm nữa, đó là:

– Nhân cách đời thường của nhà văn Nhã Ca.

Nhân cách này cũng tựa một dòng chảy khác. Một dòng chảy song song với nhân cách văn chương rực rỡ của bà. Một người làm thơ, viết văn tên là Nhã Ca/Trần Thị Thu Vân.

(Du Tử Lê)

oOo

Bài Nhã Ca Thứ Nhất – Ca sĩ Khánh Ly:

 

Bài Nhã Ca Thứ Nhất – Ca sĩ Phương Nghi:

 

Bài Nhã Ca Thứ Nhất – Ca sĩ Kimjormi:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s