Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Mùa Thu Paris”, “Chiều Đông”, “Bên Ni Bên Nớ”, “Tiễn Em” – Cung Trầm Tưởng & Phạm Duy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các thi khúc “Mùa Thu Paris”, “Chiều Đông”, “Bên Ni Bên Nớ” (“Tương Phản”), “Tiễn Em” (“Chưa Bao Giờ Buồn Thế”) của Thi sĩ Cung Trầm TưởngNhạc sĩ Phạm Duy.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thức Cần, là một nhà thơ hiện đại Việt Nam đang định cư ở Hoa Kỳ.

Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi (1947) ông bắt đầu làm thơ, và có tập thơ đầu tay tên là Sóng Đầu Dòng (chưa in).

Năm 1949, ông rời Hà Nội vào Sài Gòn, học tiếp trung học tại trường Chasseloup Laubat (nay là Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Sài Gòn).

Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học tại Trường Kỹ Sư Không Quân ở Salon-de-Provence.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.

Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước làm trong ngành không quân của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa. Trong năm này, hai bài thơ của ông là “Mùa Thu Paris”“Vô Đề” (thơ trường thiên) xuất hiện trong tuyển tập “Đất Đứng” của nhóm Quan Điểm (gồm Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng), và đã làm người đọc chú ý.

Năm 1958, ông đứng ra chủ trương tờ Văn Nghệ Mới và cộng tác thường xuyên cho các tạp chí Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành…

Trong khoảng thời gian này, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc một số bài thơ của ông, đó là những bài “Mùa Thu Paris”, “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” (Phạm Duy gộp lại và lấy tên là “Tiễn em”), “Bên Ni Bên Nớ”, “Chiều Đông”, “Kiếp Sau”, “Về Đây”… Tổng cộng trong 13 bài thơ trong tập “Tình Ca” của ông thì 6 bài Phạm Duy chọn phổ nhạc.

Năm 1962, ông sang Hoa Kỳ học về khí tượng, đậu Tiến sĩ Khí Tượng học tại Đại học Saint Louis. Sau đó, ông trở về Sài Gòn tiếp tục làm việc trong binh chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa với cấp bực cuối cùng là Trung Tá (1975). Dưới chế độ cộng sản, ông bị bắt đưa đi cải tạo 10 năm trong 8 trại giam và thả về với thêm 3 năm quản chế.

Năm 1993, ông sang Hoa Kỳ định cư.

Tác phẩm của ông đã xuất bản:

– Tình Ca (Nxb. Công Đàn, Sài Gòn, 1959)
– Lục Bát Cung Trầm Tưởng (Nxb. Con Đuông, Sài Gòn, 1970)
– Lời Viết Hai Tay (Nxb. Imn, Bonn, 1994)
– Bài Ca Níu Quan Tài (tác giả tự xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ, 2001)
– Một Hành Trình Thơ (Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương, Falls Church, Virginia, Hoa Kỳ, 2012)

cungtramtuong_Mùa Thu Paris

cungtramtuong_Mùa Thu Paris1

cungtramtuong_Mùa Thu Paris2

Thi phẩm “Mùa Thu Paris” (Thi sĩ Cung Trầm Tưởng)

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Thi khúc “Mùa Thu Paris” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn chề
Mùa Thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công viên lá đổ
Công viên lá đổ
Chờ mong em gắng khổ từng giờ
Mùa Thu âm thầm
Bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá
Ngồi quen ghế đá
Không em ôi buốt giá từ tâm
Mùa Thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu
Mùa Thu Paris
Tràn lấp đôi mi
Người em gác trọ
Người em gác trọ
Phòng anh đôi gót nhỏ thầm thì
Mùa Thu im hơi
Son nhạt đôi môi
Ngày em trở lại
Ngày em trở lại
Hờn căm em hối cải cuộc đời
Mùa Thu ơi Thu
Trời mây âm u
Yêu người độ lượng
Yêu người độ lượng
Và trong em tâm tưởng giam tù
Mùa Thu Paris
Mùa Thu Paris
Với tình Thu…

cungtramtuong_Chiều Đông1

cungtramtuong_Chiều Đông2

Thi phẩm “Chiều Đông” (Thi sĩ Cung Trầm Tưởng)

Chiều đông tuyết lũng âm u
Bâng khuâng chiều tới tiếp thu chiều buồn
Ngày đi tàu cũng đi luôn
Ga thôn trơ nỗi băng nguồn héo hon
Đường xa nhịp sắt bon bon
Tàu như dưới tỉnh núi non vọng ầm
Nhà ga dột mái lâm râm
Máu đi có nhớ hồi tâm chiều nào…

Thi khúc “Chiều Đông” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Chiều Đông tuyết lũng âm u
Bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn
Ngày đi tầu cũng đi luôn
Ga thôn trơ nỗi băng nguồn héo hon.
Phường xa nhịp sắt bon bon
Tầu như dưới tỉnh núi non vọng ầm
Nhà ga dột mái lâm râm
Máu đi có nhớ hồi tâm chiều nào.

Một mình tôi với tuyết non cao
Với cồn phố tịnh buốt vào thịt da
Với mây trôi nhợt trăng tà
Với đèn xóm Hạ cũng là tịch liêu
Chiều Đông tuyết lũng âm u
Bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn
Mình tôi nhịp bước đăm đăm
Tâm tư khoác kín chiều căm lạnh nhiều.

cungtramtuong_Bên Ni Bên Nớ1

Thi phẩm “Tương Phản” (Thi sĩ Cung Trầm Tưởng)

Đêm chớm ngày tàn
Theo tiếng xe lăn về viễn phố
Em ơi !
Sương rơi
Ngoài song đêm hạ
Ôi buồn phố xá…
Hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc : người xa vắng người
Em có nghe dồn giã
Bước ai vất vả
Bóng ai chập chờn
Hồn ai cô đơn
Say sưa tìm về ấm cúng
Em có nghe bi ai
Tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài
Ăn mày sáng lạn một ngày mai

Đêm nay say đất lở
Em có nghe rạn vỡ
Ra muôn mảnh ly rơi
Pha lê vạn chuỗi cười
Bên nớ dạ thành khoe tráng lệ
Trơ trẽn giai nhân phô lõa thể
Bên ni phố vắng lòng ngoại ô
Em có nghe mơ hồ
Bước ai thao thức
Gõ nhịp hẹn hò
In dài ngõ cụt
Bóng ai giang hồ
Bên nớ bên ni đêm lạnh cả
Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng

Em ơi bên trong
Dù chia ly đôi phút
Đồng mang nhớ đèo mong
Hai tâm hồn giam kín
Bốn mắt xanh bịn rịn
Anh ngồi làm thơ
Anh ngồi bấm đốt con thơ ra đời

Bên ngoài liếp ngỏ sương rơi
Bên trong kín gió ấm ơi là tình!

Nhạc sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy.

Thi khúc “Bên Ni Bên Nớ” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

1.
Đêm chớm ngày tàn
Theo tiếng xe về
Lăn về viễn xứ
Em hỡi sương rơi ngoài song đêm hạ
Ôi buồn… phố xá hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc xa xa
Người xa vắng người
Người xa vắng người

Em có nghe rộn rã bước chân vất vả, bóng ai chập chờn
Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúng
Em có nghe bi ai tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài
Ăn mày xán lạn ngày mai
Đêm nay ai say đất lở
Em ơi có nghe rạn vỡ
Vạn mảnh li tan theo chuỗi cười
Bên tê thành phố tráng lệ
Giai nhân nằm khoe loã thể
Bên ni phố vắng ôi lòng ngoại ô

2.
Đêm chớm ngày tàn
Theo tiếng xe về
Lăn về viễn xứ
Em hỡi sương rơi ngoài song đêm hạ
Ôi buồn… phố xá hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc xa xa
Người xa vắng người
Người xa vắng người

Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp, bóng ai giang hồ
Hẹn ai bên ni dài nhìn ngõ cũ
Em có nghe bên ni lạnh hơn bên nớ
Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong
Hai tâm linh giam kín lại
Bấm đốt ngón tay chờ đợi
Chờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời
Em ơi ngoài kia liếp ngỏ
Sương rơi ngoài song khép hờ
Bên trong kín gió ấm ơi là tình

cungtramtuong_Tiễn Em1

cungtramtuong_Tiễn Em2

Thi phẩm “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” (Thi sĩ Cung Trầm Tưởng)

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng
Hôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em, khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…

Thi khúc “Tiễn Em” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Hôn nhau phút này
Chia tay tức thì
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em
Sao rơi rớt rụng
Vai em ướt mềm
Em ơi khóc đi em, khóc đi em, khóc đi em.

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Hỡi em người xóm học
Sương thấm hè phố đêm
Trên con đường anh đi
Lệ em buồn vương vấn.

Tuyết rơi phủ con tầu
Trong toa em lạnh đầy
Làm sao em không rét
Cho ấm mộng đêm nay?

Nơi em có trăng soi
Anh một mình ở lại
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời thèm trăng soi

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly

Dưới đây mình có bài:

– Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học

Cùng với 14 clips tổng hợp các thi khúc “Mùa Thu Paris”, “Chiều Đông”, “Bên Ni Bên Nớ”, “Tiễn Em” do các ca sĩ lừng danh xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện tham khảo cùng thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Từ trái qua: Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy, Ngy Cao Uyên. (Hình phamduy.com)
Từ trái qua: Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy, Ngy Cao Uyên. (Hình phamduy.com)

Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học

(Du Tử Lê)

Giữa thập niên (19)90, trong một buổi ra mắt sách ở quán café Tao Nhân, nằm trên đường Westminster, thành phố Garden Grove, miền Nam tiểu bang California, mở đầu phần phát biểu của mình, cố nhà văn Mai Thảo đã làm một so sánh chói gắt về sự xuất hiện của tác giả thi phẩm được giới thiệu trong đêm, với sự xuất hiện của hai tác giả nổi tiếng rất sớm, trong sinh hoạt văn chương miền Nam, trước tháng 4, 1975.

Ðại ý tác giả “Ta thấy hình ta những miếu đền” nói rằng, vào những năm cuối thập niên (19)50, có hai tiếng thơ đã tạo chấn động vang dội, ngay khi những bài thơ thứ nhất.

Trừ những người trẻ, tham dự buổi giới thiệu tác phẩm vừa kể, vốn không có cơ hội biết nhiều về sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam những năm (19)50, (19)60; kỳ dư, các tân khách còn lại, khi nghe nhắc tới Cung Trầm Tưởng, đa số đã liên tưởng tới thơ bốn chữ, năm chữ và, lục bát của họ Cung. (1)

Liên tưởng tức thì này, không có nghĩa tất cả những vị đó đều đọc, nhớ thơ Cung Trầm Tưởng qua tạp chí Sáng Tạo. Họ biết, nhớ, thuộc và, yêu mến tiếng thơ này, qua một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ thơ Cung Trầm Tưởng. Thí dụ, ca khúc “Mùa thu Paris,” hay “Tiễn em” (Phạm Duy đổi từ nhan đề gốc “Chưa bao giờ buồn thế”…

Nếu ký ức chưa tệ hại đến mức phản bội tôi thì, tôi nhớ đó là năm 1959, giữa bối cảnh hiu hắt, “thiếu niềm tin” của độc giả trong lãnh vực thi ca, thi phẩm “Tình Ca” của Cung Trầm Tưởng ra đời.

“Tình Ca” của Cung Trầm Tưởng chỉ có tổng cộng 13 bài mà, hết 6 bài được nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc; với bìa, phụ bản rực rỡ, mới lạ của họa sĩ Ngy Cao Uyên (cũng về từ Pháp, như Cung Trầm Tưởng,) đã là một xuất hiện “lộng lẫy,” như khi lục bát Cung Trầm Tưởng xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo vậy. (2)

“Tình ca” Cung Trầm Tưởng còn “lộng lẫy” hơn nữa trong đêm ra mắt ở nhà hàng Anh Vũ. Với con số 3+1 là Cung Trầm Tưởng, Ngy Cao Uyên, Phạm Duy và, tiếng hát Thái Thanh, buổi ra mắt tựa dự báo một bình minh khác, cho sinh hoạt thi ca miền Nam, thời đó.

Không biết tôi có quá lời chăng, khi nói rằng, đó là thời điểm họ Cung “đánh cắp” tất cả mọi ngọn đèn rực rỡ nhất của tiền trường sân khấu sinh hoạt thi ca miền Nam. Tất cả mọi ngợi ca đổ dồn về ông, như nước chảy về chỗ trũng. Những vòng nguyệt quế tìm đến ông, tựa đó là điều gì không thể tự nhiên hơn…

Cùng lúc, hiện tượng hay phong trào khát khao có được một lần được thấy “mùa thu Paris” (như trong thơ Cung Trầm Tưởng,) trở thành cơn sốt trên 40 độ C. trong tâm tưởng của nhiều người trẻ thành phố:

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu…
(Trích “Mùa Thu Paris, CTT)

Hay ước nguyện cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ mà, của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là, một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng của ga Lyon! Ðược thấy sông Seine (qua thơ Nguyên Sa,) hay được đặt chân vào một quán rượu ở Paris. Khi Paris qua thơ của hai nhà thơ này trở thành những mơ ước khôn cùng…

Paris càng trở nên quyến rũ hơn nữa, khi ca khúc “Tiễn em” phổ cập quần chúng:

Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa Ðông Paris
suốt đời làm chia ly

(……)

Ga Lyon đèn vàng
tuyết rơi buồn mênh mang
cầm tay em muốn khóc
nói chi cũng muộn màng

(……)

khóc đi em. khóc đi em
hỡi người yêu xóm học
để sương thấm bờ đêm…”

(Trích “Chưa bao giờ buồn thế,” CTT)

Những hình ảnh lãng mạn, mới mẻ như những khối thuốc nổ cực mạnh, gây chấn thương nặng nề tâm thức người nghe/đọc, như “Người em mắt nâu/Tóc vàng sợi nhỏ,” hay “Ga Lyon đèn vàng/tuyết rơi buồn mênh mang”… đã nhức nhối “bám trụ” trong sâu, kín tâm tư của nhiều người.

Hoặc chỉ với bốn chữ “người em xóm học,” lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Việt Nam, tự thân cũng đã đủ làm thành cơn bão mang tên những mơ ước nghìn trùng, hạnh ngộ hãn hữu, của những người một đời chưa bước khỏi biên cương đất nước.

Nhưng với văn giới miền Nam thời đó, đỉnh điểm tài hoa thi ca Cung Trầm Tưởng vẫn là những bài thơ lục bát của ông.

Nói tới lục bát Cung Trầm Tưởng, tôi không rõ họ Cung có biết, những người bạn một thời Sáng Tạo, đã gọi ông một cách yêu mến là …“Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới”?

Người kể lại chuyện này là cố nhà văn Mai Thảo. Sinh thời, trong những cuộc họp mặt văn nghệ giới hạn tại nhà riêng một vài thân hữu, dù không ai hỏi, chủ nhiệm Sáng Tạo vẫn thường nhắc tới những bằng hữu trong nhóm Sáng Tạo của mình. Nhất là những người bạn còn trong tù. Hơn một lần, ông kể:

“…Anh em Sáng Tạo thích lục bát Cung Trầm Tưởng lắm. Dù nó chỉ làm được ít bài rồi thôi. Chúng tôi từng gọi nó là ‘Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới’…”

Mọi người lắng nghe. Bất ngờ. Thích thú. Cũng trong bất ngờ, tôi hỏi tác giả “Ðêm giã từ Hà Nội,” khi anh em Sáng Tạo “sắc phong” cho Cung Trầm Tưởng là một thứ “Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới” thì họ y cứ trên những tương đồng nào, giữa hai cõi giới thi ca đó?

Vẫn nụ cười móm mém hóm hỉnh và, cái nheo mắt tinh quái, cố nhà văn Mai Thảo lúc lắc đầu, trước khi trả lời:

“…Ờ… thì anh em thấy lục bát của nó mượt mà, óng ả như nhung lụa vậy mà…”

Có thể tác giả “Mười đêm nhà ngọc” không chờ đợi nơi tôi một câu hỏi, như thế! Như số anh em có mặt buổi tối vừa kể, cũng không chờ đợi nhà văn Mai Thảo trả lời, như vậy!

Tôi không biết số bằng hữu hiện diện trong họp mặt kia, cảm nhận ra sao về lục bát Cung Trầm Tưởng. Tuy nhiên, tôi nghĩ, ai đó, nếu có một kiến thức căn bản về thể thơ lục bát, cùng sự hiểu biết thấu đáo về những biến chuyển, vận hành trải qua nhiều giai đoạn của thể thơ truyền thống này, sẽ phải nhìn nhận rằng, đóng góp vào sự đổi mới lục bát của Cung Trầm Tưởng, những năm (19)50 là một đóng góp lớn cho văn học miền Nam, nói riêng, Việt Nam, nói chung.

Chú thích:

1. Theo tuyển tập “Cung Trầm Tưởng một hành trình thơ (1948-2008)” do nhà Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ, ấn hành 2012 thì, nhà thơ Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thúc Cần, sinh ngày 28 tháng 2, 1932 tại Hà Nội. Ông là cựu sĩ quan cấp tá của quân chủng Không Quân VNCH cũ. Sau 10 năm tù cải tạo và 3 năm bị quản chế, ông cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1993.

2. Họa sĩ Ngy Cao Uyên, tên thật Nguyễn Cao Nguyên, tốt nghiệp ngành Cơ Khí Không Quân tại Pháp, như Cung Trầm Tưởng. Ông là chủ tịch đầu tiên của Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, Saigon, 1966. Ngy Cao Uyên hiện cư ngụ tại tiểu bang Virgina, Hoa Kỳ.

oOo

Mùa Thu Paris – Danh ca Thái Thanh:

 

Mùa Thu Paris – Ca sĩ Sĩ Phú:

 

Mùa Thu Paris – Ca sĩ Ý Lan:

 

Mùa Thu Paris – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Mùa Thu Paris – Ca sĩ Khánh Hà:

 

Mùa Thu Paris – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Chiều Đông – Danh ca Thái Thanh:

 

Chiều Đông – Ca sĩ Ý Lan:

 

Bên Ni Bên Nớ – Danh ca Thái Thanh và Anh Ngọc:

 

Bên Ni Bên Nớ – Ca sĩ Khánh Ly:

 

Bên Ni Bên Nớ – Ca sĩ Quang Tuấn:

 

Bên Ni Bên Nớ – Ca sĩ Thái Hiền:

 

Tiễn Em – Ca sĩ Duy Trác, Mộc Lan, Tuyết Hằng:

 

Tiễn Em – Ca sĩ Thiên Tôn:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s