Tân Nhạc Việt Nam – Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Nhạc Trào Phúng AVT”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Quái Kiệt Trần Văn Trạch” – “Người Nghệ Sĩ Của Thế Kỷ” trong Tân Nhạc Việt Nam.

Nghệ sĩ Trần Văn Trạch (1924- 1994), tên thật là Trần Quang Trạch, là nhạc sĩ, ca sĩ, tài tử điện ảnh Việt Nam. Trần Văn Trạch sinh tại làng Đông Hòa, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), trong gia đình có truyền thống nhạc cổ và sân khấu tuồng.

Với mái tóc dài cùng giọng ca trầm ấm, cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo… ông được khán giả, báo chí trước 1975, phong tặng danh hiệu “Quái Kiệt”.

Năm 1993 ông được NS Ngọc Chánh và các nhạc sĩ đồng nghiệp vinh danh ông là “Người Nghệ Sĩ Của Thế Kỷ” vì cho đến nay vẫn chưa có người thay thế được ông.

Ông cố của ông tên Trần Quang Thọ, vốn là một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế. Khoảng năm 1860, ông Thọ xin từ nhiệm và di cư vào Nam. Ông nội ông là nhạc sĩ Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925). Cha ông là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông sáng chế ra.

GS Trần Văn Khê và hai em Trần Văn Trạch, Diệu Sương.
GS Trần Văn Khê và hai em Trần Văn Trạch, Trần Ngọc Sương.

Ông Trạch có người cô thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944). Bà biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tỳ bà. Bà chính là người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban vào khoảng năm 1927, với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên đều là nữ, một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử hát cải lương miền Nam. Và bà cũng là người nuôi dạy ba người con của ông Triều, khi vợ ông Triều là bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) mất sớm. Sau, cả ba người cháu này đều thành danh, đó là GSTS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ Trần Ngọc Sương.

Phía bên ngoại, ông Trạch có cậu thứ năm tên là Nguyễn Tri Khương (1890-1962), tục gọi Năm Khương. Ông là cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương) và là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ. Cho nên khi bà Ba Viện lập gánh hát Đồng Nữ Ban, ông Khương trở thành soạn giả của gánh. Để phong phú thêm làn điệu, ông sáng tác ra những bài hát như: Thất trĩ bi hùng, Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Bắc Cung Ai… Và con của người cậu thứ tư (Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn My Ca (tên thật là Nguyễn Mỹ Ca), mất vào năm 1944 trong lúc kháng Pháp, người nhạc phẩm Dạ khúc, được nhiều người yêu âm nhạc buổi ấy biết đến.

Trần Văn Trạch là con trai thứ trong 3 người con của ông Trần Quang Triều. Ông có người anh là Trần Văn Khê và em gái út là Trần Ngọc Sương.

Thuở nhỏ, Trần Văn Trạch theo học chữ ở Collège de Mỹ Tho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường.

Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương ở Sài Gòn năm 1949.
Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương ở Sài Gòn năm 1949.

Ngay từ lúc nhỏ ông đã có năng khiếu về âm nhạc. Do vậy, ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Tuy biết nhiều về cổ nhạc và có giọng hát ấm, nhưng ông lại thích tân nhạc hơn. Vì vậy, ông học đàn mandoline với anh là Trần Văn Khê và học đàn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu, và biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Ngoài niềm đam mê về âm nhạc, ông Trạch cũng thích việc kinh doanh, nên có thời gian ông lập ra lò làm chén ở Vĩnh Kim. Nhưng sau một vài năm làm ăn không khá, ông bỏ nghề lên Sài Gòn kiếm sống.

Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà được phép mở cửa trở lại. Bắng tài năng của mình, buổi đầu Trần Văn Trạch xin vào làm hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau khi có được một số vốn, ông xin mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, Sài Gòn).

Trong thời gian này anh sống với người vợ Pháp và có một đứa con. Vì thế anh bị những người theo Việt Minh kết tội là Việt gian. May mắn được anh trai Trần Văn Khê kịp nhờ người bảo lãnh, nên ông Trạch mới được tha nhưng phải gia nhập vào Ban nhạc quân đội của Việt Minh, rồi cùng với anh, đi lưu diễn khắp miền Tây. Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch không theo ban nhạc nữa, về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TP. HCM) Nhằm câu khách, đôi khi ông Trạch hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho anh một cái tên rất “Tây” là Tracco.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch.
Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch.

Trong thời gian đi theo Ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996). Phát hiện được khả năng hài tiềm ẩn trong con người ông Trạch, nên lần đầu tiên Lê Thương viết thử nghiệm một bài ca hài cho ông trình diễn. Ðó là bài Hòa bình 48 (1948) hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom…

Được người nghe hoan nghênh, Lê Thương viết tiếp bài Liên Hiệp Quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu, bài Làng báo Sài Gòn phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp…và cũng do ông Trạch hát. Chính vì vậy, Lê Thương, Trần Văn Trạch… đã bị cảnh sát mời vào bót Catinat ở mấy ngày.

Đến năm 1949, nhận thấy tân nhạc bắt đầu thịnh hành, Trần Văn Trạch nảy ra ý nghĩ mở Đại nhạc hội, là một chương trình văn nghệ bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật…Với cách làm này, Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền. Và kể từ đó cái tên đại nhạc hội bỗng trở nên phổ biến.

Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ “chương trình văn nghệ phụ diễn” cũng ra đời từ đó. Cũng năm này, vì nhu cầu trình diễn, ông Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh phu xích lô là sáng tác đầu tiên của ông:

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
Ê tôi xin mời lại đây.
Chiếc xe này có bảo kiết thật chắc
Bánh xe thì tốt thùng có bọc sắt
Nếu khi mà có đụng phải xe jeep
Quý ngài chẳng hề hấn gì…

tranvantrach3

Thành công, kể từ đó cho tới ngày ký hiệp định Genève (1954) ông viết tiếp Cái tê lê phôn, Cái đồng hồ tay, Cây bút máy, Anh chàng thất nghiệp, Sở vòi rồng, Đừng có lo, Tôi đóng xi nê, Chiếc ô tô cũ, Chiến xa Việt Nam.. Và bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước, đôi khi trong nhạc cũng pha lẫn chút triết lý, như bài Khi người ta yêu nhau:

Khi người ta yêu nhau
Yêu trong lúc bảy mươi tuổi đầu
Thì không phải vì tiền đâu
Nhưng mà chẳng còn bao lâu…

Hoặc pha lẫn chút bi như bản Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), kể lại chuyện đi thăm mẹ của một chàng trai. Lúc đầu, là những đoạn nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, của xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc bi ca, khi chàng trai ấy về đến nhà mới biết mẹ mình đã qua đời…

Cũng trong năm này, ông đã sáng tác và hát bài “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia”. Nhờ bài hát này, tên tuổi ông càng được nhiều người biết đến. Mức độ phổ thông của bài “Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia” phải bằng bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa thời đó.

(Trích: “Xổ số kiến thiết quốc gia”)

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Được nên cửa nhà
Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng
Triệu phú đến nơi
Chỉ mười đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi…

Từ trái sang phải Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, nhạc sĩ Trần Văn Trạch.
Từ trái sang phải Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, nhạc sĩ Trần Văn Trạch.

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm (1956-1963), nhạc sĩ Trần Văn Trạch sáng tác rất ít. Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời. Đó là bài Ba chàng đi hỏi vợ.

Ngoài nghiệp ca và sáng tác, Trần Văn Trạch còn đảm ban nhạc Sầm Giang trên đài phát thanh Pháp Á từ năm 1950 tới năm 1954.

Ban Sầm Giang quy tụ một số nhạc sĩ có tên tuổi như cố nhạc sĩ Võ Đức Thu, Kháng Băng, Nghiêm Phú Phi, các ca sĩ có tiếng thời 1950, như: Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn… Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, Duy Trác, Tùng Lâm, ban Thăng Long và bé Bạch Yến.

Trần Văn Trạch cũng đã cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam ở trong giai đoạn phôi thai.
Năm 1955, cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là Lòng nhân đạo (1955) và phim Giọt máu rơi (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương.

Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là phim Thoại Khanh Châu Tuấn (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và Trương Chi Mỵ Nương (1956, đóng chung Trang Thiên Kim – La Thoại Tân).

Năm 1957, lâm bệnh nặng suốt cả năm nên ông phải từ giã nghề điện ảnh.

Năm 1960, Trần Văn Trạch sang Paris (Pháp) và thường xuyên hát tại nhà hàng La Table du Mandarin, Paris, quận 1.

Nghệ sĩ Trần Văn Trạch và chị dâu ca sĩ Bạch Yến.
Nghệ sĩ Trần Văn Trạch và chị dâu ca sĩ Bạch Yến.

Lưu diễn khoảng sáu tháng, năm 1961, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là trò múa rối học được ở Pháp, hát thành công bản Chiều mưa biên giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa).

Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ phục vụ trong những night clubs dành cho lính Mỹ. Trong khoảng thời gian trên, ông có sáng tác một vài bản nhạc, nhưng không được thành công, như bài Highway 19 đặt theo điệu Long Hổ Hội, nhạc cổ nhưng lời bằng tiếng Anh và theo nhịp swing.

Kể từ 30 tháng 4 năm 1975 và mấy năm sau đó, Trần Văn Trạch tạm sống một cuộc đời bình thường, thi thoảng cũng đi lưu diễn cùng với một số nghệ sĩ khác.

Tháng 12 năm 1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp). Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần, Trần Văn Trạch, từng nổi tiếng là quái kiệt, gần như tạm dừng công việc nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống.

Ở hải ngoại, ông chỉ sáng tác được một vài bài. Về sinh hoạt văn nghệ, ông cũng chỉ có bốn cuốn băng là: “Hài Hước Trần Văn Trạch” (Thúy Nga, Paris, 1982) “Con Đường Hạnh Phúc” (Thanh Lan, 1983), và “Allô Paris” (Giáng Ngọc, Paris 1986).

tranvantrach4

Về phía phim video, ông cũng có làm một cuốn kỷ niệm Hài Hước Trần Văn Trạch (quận Cam, California, Hoa kỳ, 1983) và trong cuốn “Thi Ca Nhạc Kịch Việt Nam (Hà Phong thực hiện, Paris, 1984)

Ngoài ra ông cũng có đi diễn cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984… Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Trần Văn Trạch thường đi sang Hoa kỳ làm nghề quảng cáo trên đài Truyền hình Việt Nam ở Quận Cam.

Tháng 2 năm 1994, do bị ung thư gan, ông trở về Paris và nằm chữa bệnh tại bệnh viên Thenon ở Paris. Trần Văn Trạch mất ngày 12 tháng 4 năm 1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris của Pháp.

Ông tự thuật: “Trong một đêm Noel, sau khi đã “chạy sô” khắp các sân khấu, hộp đêm ở Sài Gòn, người nghệ sĩ hài đi lang thang vô định trên đường phố bởi không biết về đâu. Nhà ai cũng sáng choang đèn nến và bữa ăn reveillon rộn rã chuỗi cười duy chỉ có người nghệ sĩ là… đứng dựa cột đèn, lắng nghe giọng hát hài hước, vui nhộn của chính mình phát ra từ một đĩa pick-up của ngôi nhà đang có tiệc tùng mà thấm thía nỗi tủi cực ở phía sau ánh đèn màu hào nhoáng…”

tranvantrach2

Một số sáng tác tiêu biểu của ông:

• Chiếc đồng hồ tay
• Tai nạn téléphone
• Chuyến xe lửa mồng năm
• Ba chàng đi hỏi vợ
• Chồng đĩa hát cũ
• Anh chàng thất nghiệp
• Chiếc xe ô tô cũ
• Ngày thể thao quốc tế
• Bản nhạc tò ti
• Đi xem hội chợ Sài Gòn

Ông không để lại chiến công nên ông không có tượng đồng bia đá. Ông chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương trong lòng của bao người ái mộ suốt nhiều thập kỷ qua.

Như câu nói của một danh nhân nào đó: “Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi.”

Ðó chính là cái còn và cái mất của “Người Nghệ Sĩ Của Thế Kỷ – Trần Văn Trạch” cũng như bao nghệ sĩ tài danh khác của Việt Nam chúng ta.

Dưới đây mình có bài:

– Trần Văn Trạch, nhạc sĩ hài hước của làng tân nhạc Việt Nam (1924-1994)
– Quái Kiệt Trần Văn Trạch (1924-1994)
– “Quái kiệt Trần Văn Trạch”, người làm náo động cả Sài Gòn

Cùng với 6 clips trường phái “Quái Kiệt Trần Văn Trạch” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

tranvantrach1

Trần Văn Trạch, nhạc sĩ hài hước của làng tân nhạc Việt Nam (1924-1994)

(NS Trần Quang Hải)

Viết về cuộc đời của một nghệ sĩ danh tiếng là khó rồi. Viết về một nghệ sĩ “lập dị” đã chinh phục cảm tình của khán giả qua ba thế hệ mà người đó lại là chú ruột của kẻ viết bài này thì lại khó khăn hơn nữa. Làm sao có thể viết một bài phê bình, nói gần nói xa như”mèo khen mèo dài đuôi” ?

Cái khó của tôi là không biết nhiều về ông chú của tôi đứng về mặt gia đình. Có thể nói là suốt thời gian tôi sống ở Việt Nam, tôi chỉ gặp chú tôi tổng cộng độ 10 lần mà thôi, gặp chú ít khi nói chuyện vì lúc đó tôi hãy còn nhỏ quá đi. Tôi chỉ nhớ được xem chú Ba Trạch trình diễn ba lần tại Saigon. Một lần vào khoảng năm 1948 ở tại Dancing Théophile, vùng Dakao. Lúc đó tôi mới có 4 tuổi. Một lần khác chú tôi từ Pháp về năm 1961 hát bài “Chiều mưa biên giới” (nhạc và lời: Nguyễn Văn Đông) với dàn nhạc Pháp thu vào băng sẵn để hát kèm theo kiểu hát playback và được xem chú tôi biểu diễn trò múa rối học được ở Pháp mang về. Lần chót trước khi tôi rời Việt Nam vào khoảng cuối năm 1961 tại một rạp hát ở Phú Nhuận với các màn bắn súng, nhái các thú vật như chú đã thường trình diễn.

Hình ảnh người chú tóc dài, chạy xe Mercedes cũ xì, được báo chí tặng cho danh hiệu “Quái kiệt” vẫn còn in rõ trong trí nhớ của tôi.

Cái khó thứ hai là tôi không ở trong nghề, không biết được bộ mặt thật sự của hậu trường sân khấu, cũng như không có “sống”, “nếm mùi” ngọt, bùi, đắng, cay của nghề bán giọng hát đổi lấy chén cơm. Do đó, tôi không có một kỷ niệm nào để kể cho các bạn như đa số các nghệ sĩ Việt Nam mà tôi may mắn được gặp và nghe họ kể những bước thăng trầm của cuộc đời rày đây mai đó trên những đường mòn Việt Nam từ thành thị đến thôn quê.

Vài dòng về thời thơ ấu ở Sầm Giang

Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm Giáp Tý (1924), tại làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Trong gia đình có rất nhiều người biết về nhạc, nhất là nhạc cổ. Ông sơ tôi, Trần Quang Thọ, nhạc sĩ triều đình Huế. Ông cố tôi, Trần Quang Diệm, ngày xưa được gởi ra Huế để học đàn tỳ bà trong thành nội và nổi tiếng về đàn tỳ bà trong Nam cùng với sự chế cách viết bài bản cho đàn tỳ bà. Ông nội tôi, Trần Quang Triều, tự Bảy Triều, nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông nội tôi sáng chế ra. Dây Tố Lan của đàn kìm khác với cách lên dây thường của đàn kìm. Bình thường đàn kìm có hai dây được lên dây cách nhau một quãng 5 (do – sol). Còn lên dây Tố Lan thì hai dây phải cách nhau một quãng 7 thứ (do – sib). Gia đình bên phía ông nội tôi còn có bà cô Ba tên là Trần Ngọc Viện, người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ vào khoảng năm 1927 với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên trong gánh hát Đồng Nữ, một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử hát cải lương miền Nam.

Bên phía bà nội tôi thì có ông Cậu Năm tên là Nguyễn Tri Khương (cháu nội của ông Nguyễn Tri Phương, một vị quan nổi tiếng dưới thới triều Nguyễn), từ trần vào năm 1962, là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ, đã giúp cho Ba tôi là GS Trần Văn Khê khi viết luận án tiền sĩ về nhạc Việt. Ông Nguyễn Tri Khương còn là thầy tuồng của gánh hát Đồng Nữ và là tác giả của những bài hát mới mà ngày nay rất ít người biết như các bài “Thất trĩ bi hung”, “Yến tước tranh ngôn”, “Phong xuy trịch liễu”, “Bắc Cung Ai”, vv… Ông Cậu Tư, anh của ông Nguyễn Tri Khương, có một người con rất giỏi về. Đó là cố nhạc sĩ Nguyễn My Ca (tên thật là Nguyễn Mỹ Ca) mất vào năm 1944 trong lúc chống Pháp. Bác My Ca là anh em cô cậu với Ba tôi và chú tôi, chỉ được người Việt biết qua nhạc phẩm”Dạ Khúc”

Những dòng trên đây được viết ra với mục đích là giúp cho các bạn hiểu rõ trong bối cảnh nào chú Trần Văn Trạch đã sống và hấp thụ nhiều khía cạnh âm nhạc trong khoảng thời ấu thơ tại làng Vĩnh Kim, làng Đông Hòa, làng Bình Hòa Đông của tỉnh Mỹ Tho miền Nam Việt Nam.

Ông Nội tôi có ba người con. Người con cả là Trần Văn Khê (sinh năm 1921, từng là giáo sư dân tộc nhạc học tại đại học đường Sorbonne, Paris, hưu trí năm 1987, và hiện giờ để hết thì giờ để viết các quyển hồi ký về cuộc đời của mình – đã xuất bản được 6 quyển tại Việt Nam từ năm 1998, sang Pháp năm 1949 và hiện sinh sống tại thành phố Vitry sur Seine, ngoại ô Paris). Kế đến là Trần Văn Trạch, sinh năm 1924, nổi danh là Quái kiệt trong làng tân nhạc Việt, từ trần năm 1994 tại Paris. Người con gái út, tên là Trần Ngọc Sương, sinh năm 1925, từng là ca sĩ nổi tiếng lấy biệt hiệu là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948-50, và hiện sống tại Montreal, Canada.

Chú Trạch lúc nhỏ rất có khiếu về nhạc. Học đánh đàn kìm và đàn tỳ bà rất sành. Lại có giọng hát ấm êm, ca “vọng cổ” mùi không thua gì Năm Nghĩa thời thập niên 30. Tuy biết nhiều về cổ nhạc, nhưng lại thích tân nhạc hơn. Lúc khoảng thời đó (1937-39), nhạc sĩ My Ca rất giỏi về đàn violon, và Ba tôi thiên về đàn mandoline. Hai người thường hợp tấu để đàn các bản nhạc Pháp nổi tiếng thời đó như “J’ai deux amours”, “Marinella”. Phong trào phát động nhạc mới được giới trẻ theo một cách mạnh mẽ. Chú tôi theo học chữ ở Collège de Mỹ Tho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm 1942 thì rời ghế nhà trường.

Tuy ở trong gia đình nhạc sĩ, nhưng lại là người thích buôn bán làm ăn, nên chú Trạch mới lập ra lò làm chén ở Vĩnh Kim. Sau một vài năm buôn bán, coi bộ không khá lắm, nên bỏ nghề lên Saigon tìm việc sinh sồng. Khoảng năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà nho nhỏ mở cửa trở lại. Chú tôi mới bắt đầu kiếm được một phòng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường Lagrandière.

Danh từ “Đại Nhạc Hội” xuất hiện

Có lẽ rất ít người biết từ đâu xuất phát danh từ “đại nhạc hội”. Chú Trần Văn Trạch hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao từ năm 1947-48. Các bản nhạc hài hước đầu tiên không phải do Trần Văn Trạch sáng tác mà là do nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996) viết ra đầu tiên. Nhạc sĩ Lê Thương được nhiều người biết qua các bản “Thằng Cuội”, “Hòn Vọng Phu 1, 2, 3”. Chính nhạc sĩ Lê Thương đã chính thức khơi mào một loại nhạc hài hước như bản nhạc “Hòa Bình 48” (Lê Thương, 1948) đã do Ba tôi hát trong dĩa 78 vòng của hãng ORIA thu bên Pháp năm 1949, và Chú tôi hát ở Saigon với những màn bắn súng, máy bay dội bom phát sinh từ đó. Bản nhạc “Liên Hiệp Quốc” (Lê Thương, 1949) cũng được Ba tôi và chú tôi tung ra thị trường với những màn hài hước bắt chước các thứ tiếng Anh, Nga, Tàu, vv… Nhạc sĩ Lê Thương có viết năm 1948 một bản nhạc tựa là “Làng báo Saigon” do Trần Văn Trạch hát vài lần trên sân khấu nhưng bị chánh phủ cấm. Lời bài hát “Làng Báo Saigon” do nhạc sĩ Lê Thương viết như sau:

Báo Sài Thành từ suốt ba năm nay
Sống một cuộc đời bất bình, mập mờ cũng hay
Nếu mai sau mà anh muốn nói láo
Cứ nghe tôi mà anh cứ viết báo
Công chúng đang buồn, nghe nói một hồi
Như thác nhớ nguồn, nên
cũng đành thôi.

Đoạn giữa có câu:

Nào xin kính chào này
Mừng tân thủ tướng mới
Chừng coi gió chiều nào
Là xoay đổi hướng ….vv…

Viết lời nhạc có tính cách chính trị, nên sau đó, Lê Thương, Trần Văn Trạch, Phạm Duy, Đức Quỳnh, đã “bị mời” vào bót Catinat mấy ngày. Đến năm 1949, Trần Văn Trạch thấy rằng tân nhạc bắt đầu thịnh hành. Các ca sĩ như Minh Trang, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tâm Vấn góp mặt trên đài phát thanh Pháp Á, trên các sân khấu trình diễn tân nhạc. Trần Văn Trạch mới có ý nghĩ “lăng xê” (từ tiếng Pháp là động từ “lancer”) danh từ “Đại nhạc hội” để chỉ định những buổi hát bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch trong một chương trình văn nghệ. Từ đó trở đi, “đại nhạc hội” được thông dụng cho tới ngày nay.

Sau đó, chú Trần Văn Trạch thấy rằng muốn khuếch trương khía cạnh tân nhạc, chỉ có cách là mang tân nhạc xen kẽ với những màn ảo thuật, xiệc, vào những buổi chiếu phim hát bóng vì lúc đó phim hát bóng rất thịnh hành, người đi coi hát bóng rất đông, thuận tiện cho việc phổ biến tân nhạc Việt hãy còn phội thai trong giai đoạn này.

Phụ diễn tân nhạc trên sân khấu

Sau thế chiến thứ hai, cuộc sống trên thế giới trở lại bình thường. Nền kinh tế bắt đầu tìm lại thế quân bình. Dân chúng bắt đầu đi xem hát, nghe nhạc, có nhiều cách giải trí hơn. Lúc bấy giờ, xứ Việt Nam hãy còn là thuộc địa của Pháp. Mà ở xứ Pháp, vào thời buổi đó, bắt đầu có chuyện phụ diễn tân hạc hay những màn hát thuật giữa phim thời sự, quảng cáo, và phim chánh. Trần Văn Trạch thấy hình thức đó hay nên mới tìm cách phổ biến hiện tượng đó tại Saigon. Nhạc sĩ Đức Quỳnh và chú tôi hợp tác với nhau, và lựa rạp hát bóng Nam Việt làm nơi thử thách đầu tiên.

Lúc đó là vào khoảng năm 1951. Được dân chúng thích và đòi hỏi. Trần Văn Trạch mới lần lượt phổ biến chuyện phụ diễn tân nhạc tới những rạp hát khác và lần lần làm thành “hệ thống dây chuyền”. Tân nhạc thiếu bài mới để hát. Các nhạc sĩ mới đua nhau sáng tác những nhạc phẩm phù hợp với nhu cầu của dân chúng trong thành phố. Các ca sĩ không thể đem lên sân khấu những ca khúc hùng mạnh đầy màu sắc đấu tranh, giặc giã. Nhờ đó mà mới nẩy sanh ra phong trào sáng tác nhạc rất mạnh. Trần Văn Trạch bắt đầu nổi tiếng về tài hài hước và kể chuyện, rồi sang hát một vài bản nhạc diễu để chọc cười khán giả. Bài bản lại thiếu, nên chú tôi bắt buộc phải sáng tác những bản nhạc đúng “ni tấc”. Nhờ đó mà một số bản nhạc “diễu” được ra đời và đi sâu vào lòng dân chúng mãi cho tới ngày hôm nay nhứt là khán giả vào lứa tuổi 50 – 80 tuổi.

Những nhạc phẩm hài hước của Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch có một lối hát mộc mạc, đúng giọng miền Nam. Chú tôi là một trong số rất ít ca sĩ chuyên hát với giọng miền Nam, phát âm không màu mè, dùng lời lẽ đơn giản, không cầu kỳ, những tữ ngữ được nghe trong đời sống hàng ngày, nhưng chủ đề lấy từ cuộc sống người dân nghèo nên rất dễ làm xúc động người nghe.

Bài hát hài hước đầu tiên được Chú tôi sáng tác là “Anh phu xích lô” (1951). Về nhạc thì sử dụng âm giai thất cung với những câu nhạc dễ nhớ được lập đi lập lại. Về tiết tấu thì sử dụng nhiều nhịp ngoại, hát mau và phải”giựt” theo kiểu swing để tạo sự vui nhộn. Tôi chỉ nhớ đoạn đầu của bài hát “anh phu xích lô” như sau:

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
Ê Tôi xin mời lại đây

Chiếc xe này có bảo kiết thật chắc
Bánh xe thì tốt thùng có bọc sắt
Nếu khi mà có đụng phải xe jeep
Quý ngài chẳng hề hấn gì.

Khi thấy loại nhạc này “hấp dẫn” người nghe, Chú Ba Trạch mới tiếp tục viết thêm một số nhạc phẩm hài hước khác như “Chuyến xe lửa mùng 5” (1952) kể lại chuyện một anh chàng lấy xe lửa về thăm mẹ. Trên xe lửa, để cho qua thì giờ, ngồi đếm cột đèn mà bị người bên cạnh hỏi tới hỏi lui. Đến khi về nhà mới hay mẹ mình đã từ trần. Câu chuyện lúc đầu thì thấy cười. Nhưng kết cuộc là “cười ra nước mắt”.

Cho tới ngày ký hiệp định Genève (1954), Trần Văn Trạch viết khá nhiều bài như “Cái tê – lê – phôn”, “Cái đồng hồ tay”, “Anh chàng thất nghiệp”, “Cây bút máy”, “Đừng có lo”.

Để cho các bạn biết sơ qua một số bài với âm điệu, tôi xin tạm ghi lại một đoạn nhỏ của một vài bài điển hình như “cái tê – lê – phôn” được bắt đầu như sau:

Từ đâu nạn đưa tới
Gắn chi cái tê lê phôn
Bởi tôi muốn làm tài khôn
Khiến tôi muốn thành ra ma
Không vào Chợ Quán cũng đi Biên Hòa

vv…..

Trong năm 1952, tôi muốn nói tới hai bản nhạc của Trần Văn Trạch đã được nhiều người biết tới mà không phải là nhạc hài hước. Đó là bài “Chiến xa Việt Nam” vả một bản nhạc khác mà hầu hết những người Việt miền Nam đều đã có nghe qua rất thường. Đó là bài “Xổ số kiến thiết quốc gia”. Trong vòng 23 năm, từ 1952 tới 1975, mỗi tuần tại rạp Norodom (sau đổi lại thành rạp Thống Nhất), đều có nghe hát bản nhạc này trước khi xổ số.

Tôi ghi lại đây bản nhạc này mà tôi không thấy trong những tập nhạc được xuất bản tại hải ngoại sau 1975.

Kiến thiết quốc gia (nhạc và lời : Trần Văn Trạch, 1952)

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi
Chỉ mười đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi

Mua số quốc gia
Giúp đồng bào ta
Ấy là thiên chức
Của người Việt Nam

Mua số mau lên
Xổ số gần đến
Mua số mau lên
Xổ số gần đến

Bài “Chiến xa Việt Nam” (1952) đã được nghe nhiều lần thời đệ nhất cộng hòa. Nữ ca sĩ Bạch Yến lúc hãy còn là em bé Bạch Yến đã hát bài này khi dự thi tuyển lựa tài tử ở Đài Pháp Á khoảng 1953. Trong những kỳ đi diễn binh nhân ngày Quốc khánh, chúng ta cũng có nghe nữa. Thời gian trôi qua, những bản nhạc hùng mạnh như Thúc Quân, Xuất Quân, Hờn Sông Gianh, Chiến Xa Việt Nam, vv…. đã mờ dần trong trí nhớ người Việt hải ngoại và trong nước. Tôi chỉ ghi lại hai câu đầu của bài Chiến Xa Việt Nam.

Khi miền Nam trở thành một quốc gia cộng hòa dưới thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm (1956-1963), nhạc sĩ Trần Văn Trạch sáng tác rất ít. Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời. Đó là bài “Ba chàng đi hỏi vợ”.

Ban Sầm Giang Trên Đài Phát Thanh

Những ai ở vào tuổi lục tuần đều có dịp nghe ban Sầm Giang do Trần Văn Trạch đảm trách trên đài phát thanh Pháp Á từ năm 1950 tới năm 1954. Con sông Sầm Giang ghi nhiều kỷ niệm trong cuộc đời thơ ấu của Chú tôi nên khi lập một ban nhạc hay một đoàn hát, Chú tôi mới lấy tên con sông này để “dựng bảng hiệu”. Bản nhạc được nghe báo hiệu chương trình ban Sầm Gian trên đài là một bản nhạc do cố nhạc sĩ Nguyễn My Ca sáng tác cho một tiệm mới khai trương tại Vĩnh Kim khoảng 1940 và Chú tôi lấy điệu nhạc này và đặt lới mới vào.

Ban Sầm Giang quy tụ một số nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Võ Đức Thu, Kháng Băng. Về sau có nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (ở Mỹ hiện nay), các ca sĩ nổi tiếng thời 50 như Trần Văn Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn. Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm, và … em bé Bạch Yến.

Với một chương trình hàng tuần về ca, nhạc, kịch, Trần Văn Trạch đã chinh phục thính giả và nhờ đó những chương trình “đại nhạc hội” được nối tiếp và phát triển trên toàn xứ.

Năm 1953, Trần Văn Trạch diễn tại Hà Nội và rất được hoan nghinh, vì bộ môn hài hước không có trên đất Bắc. Chú tôi phải dời ngày về Saigon mấy lượt khiến cho những bạn bè đi đón “hụt” mấy lần ví Chú tôi “không chịu về”. Sau chuyến đi thành công này, Trần Văn Trạch dự định đưa một đoàn văn nghệ miền Nam ra diễn ngoài Bắc lấy tên là “Đoàn Gió Nam”. Việc tổ chức đang tiến hành thì hiệp định Genève (1954) đã chia xứ Việt Nam ra làm hai, nên chuyến đi Bắc của đoàn nghệ sĩ miền Nam không bao giờ được thực hiện.

Trần Văn Trạch với Điện Ảnh

Nền điện ảnh Việt Nam ở trong giai đoạn phôi thai. Khoảng 1955, Chú tôi mới cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp do bà Mỹ Phương (vợ ông Trần Văn Trai, chủ nhà hàng Âu Cơ ở Paris), làm giám đốc sản xuất với sự phụ lực của Phùng thị Nghiệp và Eric Lê Hùng (từng làm đạo diễn nổi tiếng ở Pháp). Hai cuốn phim được quay là “Lòng Nhân Đạo” (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà Minh Tây (anh Tây lúc trước làm việc cho đài truyền hình Pháp, giờ về hưu) thủ vai chánh, và phim “Giọt Máu Rơi” (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương. Tuy rằng hai cuốn phim này chưa đạt được đúng mức trình độ diễn xuất, nhưng rất được sự ủng hộ của khán giả Việt Nam lần đầu thấy người Việt đóng phim.

Trần Văn Trạch sau đó mới rời hãng phim Mỹ Phương để cộng tác với người Tàu ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về chuyện cổ tích Việt Nam. Đó là hai cuốn phim “Thoại Khanh Châu Tuấn” (1956) với Kim Cương, Vân Hùng thủ vai chánh, và “Trương Chi Mỵ Nương” (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại Tân. Năm 1957, Chú tôi bị đau thập tử nhứt sanh suốt cả năm. May nhờ có bác sĩ Phan Văn Đệ cứu sống. Rồi Chú tôi từ giã nghề điện ảnh Việt Nam lúc đó bắt đầu bành trướng và phát triển mạnh với những nhà đạo diễn chuyên nghiệp và những tài tử điện ảnh như Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Kiều Hạnh.

Tuy Chú tôi không có tiếp tục ngành điện ảnh, nhưng cũng có đóng góp khá nhiều cho sự hình thành nền điện ảnh Việt Nam tại miền Nam Việt Nam.

Giai đoạn tổ chức đại nhạc hội

Không một nghệ sĩ Việt Nam nào mà không biết Trần Văn Trạch. Đa số đã có dịp làm việc chung với Chú tôi ít nhất là một lần trong đời. Có người gọi Chú tôi là “Anh Ba”, có người trong lớp nghệ sĩ trẻ gọi Chú tôi là “Chú Ba”. Với những chương trình “đại nhạc hội”, Chú Trạch đã có dịp đi khắp các tỉnh, các làng ở miền Nam. Trong thời Đệ Nhứt Cộng Hòa (1956-1963), Trần Văn Trạch đã thực hiện nhiều chương trình ca, vũ, nhạc, kịch ngày càng vĩ đại với một thành phần nghệ sĩ càng ngày càng đông. Rồi Kim Cương, ban Dân Nam, Hoàng Thi Thơ… nhảy vào làng tổ chức nhạc hội cho tới Saigon thất thủ (tháng 4, 1975)

Năm 1960, Chú tôi mới đi sang Paris tìm những ý kiến mới. Ở Paris, Chú tôi thường xuyên hát tại nhà hàng “La Table du Mandarin”, Paris, quận 1, nơi duy nhứt ở Paris có chương trình văn nghệ Á châu mỗi đêm cho khách Tây phương. Cũng nơi này do ông Phạm Văn Mười (từ trần vào thập niên 80) làm chủ, đã được những ca sĩ Việt nổi tiếng thời đó như Thiên Hương (Tini Yong) rồi Bạch Yến (lúc sang Pháp từ 1961-63), và Bích Chiêu (1962-64), kế đến tới nữ nghệ sĩ Phùng Há và Kim Cương (1964-65) đến hát. Sau một thời gian lưu tại Pháp khoảng 6 tháng, Chú tôi trở về Saigon với một tiết mục mới là trò múa rối (marionnettes / puppet show) và bản “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn Văn Đông được hát theo kiểu sound track, có nghĩa là hát thật sự trên sân khấu với dàn nhạc của Pháp thâu sẵn trên băng nhựa. Tôi có dịp đi xem Chú tôi diễn lần đó tại một rạp hát ở Saigon (dường như là rạp Hưng Đạo, tôi không nhớ rõ lắm)

Từ khi có quân đội Mỹ vào miền Nam ngày càng đông, những night clubs dành cho lính Mỹ mọc lên như nấm. Các ca sĩ hát nhạc trẻ càng thấy nhiều hơn. Chú tôi đóng vai “ông bầu” để tổ chức những chương trình nhạc trẻ cho lính Mỹ từ năm 1965 trở đi. Trong thời gian này, Chú tôi có sáng tác một vài bản nhạc không được phổ biến cho lắm như bài “Highway 19” đặt theo điệu Long Hổ Hội, nhạc cổ nhưng trên lời Anh và theo nhịp swing.

Trần Văn Trạch sau năm 1975

Khi cộng sản vào “chiếm đóng” miền Nam từ 30 tháng 4, 1975, Trần Văn Trạch không còn giữ chức vụ “quản lý” các nghệ sĩ miền Nam nữa. Chú tôi tạm sống một cuộc đời bình thường, với những chuyến lưu diễn địa phương cùng với một số nghệ sĩ miền Nam còn bị “kẹt” lại như Nguyễn Long (tự Long Đất, hiện ở Cali, Hoa Kỳ, làm nghề báo chuyên về văn nghệ, điện ảnh và sinh hoạt các nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại, chụp ảnh, Quốc Anh (sang Pháp và sau đó định cư tại Hoa kỳ từ thập niên 90)

Cho tới tháng 12, 1977, Trần Văn Trạch rời Saigon sang Paris. Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần (12 tháng 4, 1994) nghệ sĩ Trần Văn Trạch, từng nổi tiếng là “Quái Kiệt” vẫn âm thầm hoạt động trong văn nghệ. Có một dạo đi đóng kịch với một đoàn hát Pháp, lưu diễn khắp các tỉnh ở Pháp. Rồi thỉnh thoảng đi đóng một vài vai phụ trong các phim của Pháp. Chú tôi tạm ngưng làm việc cho Pháp để xoay ra làm nghề khác để sinh nhai.

Sáng tác âm nhạc dường như bị “nghẹn” đi. Suốt gần 18 năm sống ở Pháp, chú chỉ sáng tác một vài bài thôi, vì lẽ cuộc sống ở hải ngoại thúc hối con người ta phải luôn luôn chạy với nhịp sống quá ồ ạt, khiến cho Chú tôi lớp phải lo việc đem vợ con sang Pháp, rồi lại phải lo kiếm việc làm độ nhựt.

Tuy nhiên Chú tôi cũng có góp mặt trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại qua ba cuốn băng “Hài hước Trần Văn Trạch” (Thúy Nga Paris, 1982), “Con đường hạnh phúc” (Thanh Lan, 1983), và “Allô Paris” (Giáng Ngọc, Paris 1986). Về phía phim video, Trần Văn Trạch cũng có làm một cuốn kỷ niệm “Hài hước Trần Văn Trạch” do ông Cử ở quận Cam, Cali, Hoa kỳ thực hiện năm 1983. Chú tôi cũng có góp mặt trong cuốn thi ca nhạc kịch “Việt Nam” do Hà Phong thực hiện tại Paris năm 1984 với nữ nghệ sĩ Bích Thuận (vần còn sống tại Paris), Trần Văn Trạch, Trần Quang Hải, Bạch Yến và Hùng Tiến (từ trần tại Paris, 2002)

Chú tôi cũng có đi diễn cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984, và thường trực có mặt trong những buổi hát giúp lấy tiền cho những con tàu vớt người di tản. Ở Âu châu từ Anh sang Đức, từ Bắc Âu sang Thụy Sĩ, Chú tôi vẫn còn tạo những trận cười qua những màn diễu ăn khách ngày xưa. Tôi có dịp diễn chung với Chú tôi tại Luân Đôn và tại Marseille vài năm trưóc khi Chú tôi mất. Đó là những dịp duy nhứt hai chú cháu tôi hàn huyên với nhau và nhờ đó tôi mới ghi lại đuợc một số dữ kiện chính xác về cuộc đời của chú Trần Văn Trạch.

Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Chú tôi thường đi sang Hoa kỳ làm nghề quảng cáo trên đài Truyền hình Việt Nam ở Quận Cam. Cơn ung thư gan hoành hành vào cuối tháng giêng 1994 đã đưa Chú tôi trở về Paris, và nằm trị bịnh tại nhà thương Thenon ở Paris, quận 20 từ đầu tháng 2 cho tới ngày từ trần (12 tháng 4, 1994). Vợ chồng chúng tôi thường vào thăm Chú tôi và tôi tìm cách chọc Chú tôi cười. Lúc đó chú tôi chỉ thều thào nói không ra tiếng vì sức quá yếu sau mấy lần mổ gan mà không cứu chửa được. Chú tôi nhắm mắt ra đi ngày 12 tháng 4, 1994 trong khi tôi đang ở Toronto (Canada).

Rất đông nghệ sĩ đã đi đưa tiễn một nhạc sĩ thiên tài đến nơi yên nghĩ cuối cùng. Có cha tôi GS Trần Văn Khê, cô tôi Trần Ngọc Sương từ Montreal sang. Nhạc sĩ Phạm Duy từ Hoa kỳ tới cùng với Duy Quang. Ở Pháp hầu hết các nghệ sĩ đều có mặt như Hữu Phước (từ trần), Ngọc Lưu (từ trần), Cao Thái, Bạch Yến và tôi từ Canada bay về Paris, Mỹ Hòa, Thiên Nga, Minh Đức, Thu Hương, Hoàng Long, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Minh Thanh, Kim Chi, Tài Lương, Minh Tâm, Thanh Phong, vv… Di hài được chôn tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris.

Với trên 40 năm trong nghề, từng là người tiên phong trong việc tổ chức nhạc hội, người đã đặt ra danh từ “đại nhạc hội”, người đã góp công vào nền điện ảnh Việt, người duy nhứt của Việt Nam đã viết những bản nhạc hài hước lấy từ những đề tài tả cảnh khổ của người dân nghèo, Trần Văn Trạch ngày nay không còn nữa.

Tôi nghĩ rằng, đối với những người làm văn nghệ, Trần Văn Trạch đã đi vào lịch sử Tân Nhạc Việt Nam như một số nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Lê Thương, Hùng Lân, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lưu Hữu Phước, Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn Từ Linh, Nguyễn Văn Thương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, vv…

Có người sáng tác gợi hứng từ dân ca (Phạm Duy), hùng tráng có tính cách tranh đấu (Lưu Hữu Phước), hay mang tính cách địa phương (Lam Phương ), và cũng có người thích khôi hài (Lê Thương, Trần Văn Trạch, Lữ Liên). Sự đóng góp của biết bao nhạc sĩ có tài của miền Nam Việt Nam cần phải được duy trì qua những bài viết, hay những quyển sách ghi lại những tài năng âm nhạc của miền Nam trong giai đoạn 1954-75. Chỗ đứng của Trần Văn Trạch hoàn toàn riêng biệt trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam và sự đóng góp của Chú tôi cho nền Tân Nhạc Việt sẽ để lại cho thế hệ mai sau một hình ảnh khó kiếm giữa rừng nhạc Việt đầy hoa thơm cỏ lạ.

tranvantrach5

Quái Kiệt Trần Văn Trạch (1924-1994)

(BS Lê Trung Ngân)

Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn.

Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.

Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…

Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.

Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn.

Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ.

Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy.

Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch:

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
Ê! Tôi xin mời lại đây…

Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn:

Từ đâu nạn đưa tới
Gắn chi cái tê-lê-phôn
Bởi tôi muốn làm tài khôn
Khiến tôi muốn thành ra ma
Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước.
Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.

Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:

Khi người ta yêu nhau
Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu
Thì không phải vì tiền đâu
Nhưng mà chẳng được bao lâu…

Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:

Khi người ta yêu nhau
Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu
Thì không phải vì tiền đâu
Nhưng mà chẳng còn bao lâu.

Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát:

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi
Năm muời đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Ấy là thiên chức
Của người Việt Nam

Mua số mau lên
Xổ số gần đến
Mua số mau lên
Xổ số… gần… đến…

Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).

Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…

Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.

Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.

Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.

Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.

Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch ở Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.

Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…

tranvantrach6

“Quái kiệt Trần Văn Trạch”, người làm náo động cả Sài Gòn

Như đã biết, Trần Văn Khê là anh cả trong gia đình có 3 anh em, hai người còn lại là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương. Giống như người anh cả Trần Văn Khê, hai người em cũng lớn lên trong môi trường âm nhạc của gia đình, về sau đều thành danh. Đặc biệt là người em kế Trần Văn Trạch, tuy kém anh mình ở học hàm, học vị, nhưng cũng đủ sức làm náo động cả Sài Gòn suốt thời gian dài bằng tài năng nghệ thuật của mình.
“Khê anh” và”Khê em”.

Trần Văn Trạch sinh năm 1924, nhỏ hơn Trần Văn Khê 3 tuổi. Thuở nhỏ, cũng giống như anh mình, Trần Văn Trạch theo học tiểu học ở Collège de Mỹ Tho (Trường Trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã có năng khiếu về âm nhạc, lại được người cô ruột là cô Ba Viện chỉ dạy, nên ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Ông còn học đàn mandoline với anh ruột Trần Văn Khê và học đàn violon với người anh họ Nguyễn Mỹ Ca. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Kể về đứa em kế của mình, GS.TS Trần Văn Khê viết:”Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi “Trạch ơi!” là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà”. Từ đó, dù trong sổ bộ vẫn tên Trần Văn Trạch, nhưng cậu bé Trạch được gọi cái tên mới là”Khê em”, còn Trần Văn Khê là”Khê anh”. Trong gia đình và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi 2 anh em là”Khê anh” và”Khê em”.

GS.TS Trần Văn Khê kể tiếp:”Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm, chúng tôi không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, môt gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc”.

Sau khi Trần Văn Khê lên Sài Gòn học Trường Petrus Ký rồi ra Hà Nội học ngành y, Trần Văn Trạch cũng rời quê hương lên Sài Gòn đi theo nghiệp âm nhạc. Nhưng chỉ hơn năm sau, tại quê nhà, cô Ba Viện (như là mẹ ruột của 3 anh em Trần Văn Khê) lâm trọng bệnh. Vì chữ hiếu,”Khê em” phải bỏ giữa chừng mọi dự tính, trở về quê lo tròn chữ hiếu. GS.TS Trần Văn Khê kể:”Khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch. Cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm. Nhưng Trạch, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngã ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn 1 cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió…”.

Lúc đó, ở Mỹ Tho, có một gia đình người Pháp làm công chức. Người Pháp này có cảm tình với cậu học sinh đàn hay, hát giỏi Trần Văn Trạch. Lúc Nhật đảo chính Pháp năm 1945, ông người Pháp bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp và trai tài gái sắc đã gặp nhau, cuộc tình dẫn đến sự ra đời của một đứa bé. Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, Trần Văn Khê gia nhập Thanh niên cứu quốc. Trần Văn Trạch dắt cô vợ Pháp và đứa con nhỏ vào vùng kháng chiến tìm anh. Để rồi sau khi gặp anh ở Cần Thơ, Trần Văn Trạch được vào Ðội quân nhạc Nam bộ và hai anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch. Người khai sinh nhạc hài hước.

Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế chiến 2, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà ở Sài Gòn được phép mở cửa trở lại. Trần Văn Trạch trở về Sài Gòn xin vào làm hoạt náo và hát tại Dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau đó, ông mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, Sài Gòn).

Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán ca nhạc tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TPHCM). Nhằm câu khách, ông Trạch thường hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho một cái tên rất Tây là Tracco. Trong thời gian cùng anh trai đi theo ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương. Nhìn thấy Trần Văn Trạch tiềm ẩn nét duyên pha lẫn chất hài, Lê Thương viết thử bài ca hài cho bạn trình diễn. Ðó là bài “Hòa bình 48”, Trạch hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom… Trạch trình diễn thành công, Lê Thương nổi hứng viết tiếp bài “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu; rồi bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp… cũng do ông Trạch hát. Vì những bài hát này mà Lê Thương và Trần Văn Trạch có lần bị cảnh sát bắt giam ở bót Catinat mấy ngày.

Năm 1949, Trần Văn Trạch đã nảy ra ý nghĩ mở đại nhạc hội – một chương trình văn nghệ tổng hợp bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật… Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền, kể từ đó cái tên”đại nhạc hội” trở nên phổ biến. Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ “chương trình văn nghệ phụ diễn” cũng ra đời từ đó. Trần Văn Trạch cũng sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn. Bản nhạc “Anh phu xích lô” là sáng tác đầu tiên của ông.

Ông viết tiếp những bài hát hài “Cái tê-lê-phôn”, “Cái đồng hồ tay”, “Cây bút máy”, “Anh chàng thất nghiệp”, “Sở vòi rồng”, “Đừng có lo”, “Tôi đóng xinê”, “Chiếc ôtô cũ”, “Chiến xa Việt Nam”… Bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú về chất duyên, hài hước của ca từ, giai điệu và cách diễn xuất của chính tác giả.

“Quái kiệt” đa tài

Ngoài nghiệp ca hát và sáng tác, Trần Văn Trạch còn cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, ông cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là “Lòng nhân đạo” (1955) và “Giọt máu rơi” (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương. Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là “Thoại Khanh – Châu Tuấn” (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và “Trương Chi – Mỵ Nương” (1956, đóng chung Trang Thiên Kim, La Thoại Tân).

Năm 1961, sau một chuyến lưu diễn 6 tháng ở Pháp, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là màn múa rối học được ở Pháp. Đồng thời, người yêu nhạc Sài Gòn lấy làm thích thú giọng hát Trần Văn Trạch với bài hát”Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa). Bài “Chiều mưa biên giới” với giọng hát Trần Văn Trạch đã đứng vững trong làng tân nhạc Sài Gòn suốt mười mấy năm, hầu như không có ca sĩ nào ở Sài Gòn hát bài này qua Trần Văn Trạch. Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch còn là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ. Khoảng giữa thập niên 1960, bắt đầu từ một bài báo, biệt danh”Quái kiệt Trần Văn Trạch” đã xuất hiện ở Sài Gòn, gắn liền với người nghệ sĩ đa tài mà mỗi lần xuất hiện đều làm náo động sàn diễn.

Hầu hết người Sài Gòn và cả miền Nam không thể nào quên bài hát”Xổ số kiến thiết quốc gia” do chính Trần Văn Trạch sáng tác và hát mỗi chiều thứ bảy, khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát sóng trực tiếp chương trình xổ số kiến thiết hàng tuần. Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào chơi vé số, kèm theo đó là nạn chơi số đề, nở rộ khắp Sài Gòn và cả miền Nam. Bài hát”Xổ số kiến thiết quốc gia” qua giọng hát thu hút của Trần Văn Trạch như thêm thôi thúc người dân đến với xổ số và số đề: ”Kiến thiết quốc gia/ Giúp đồng bào ta/ Xây đắp muôn người/ Được nên cửa nhà/ Tô điểm giang san/ Qua bao lầm than/ Ta thề kiến thiết/ Trong giấc mộng vàng/ Triệu phú đến nơi/ Chỉ mười đồng thôi/ Mua lấy xe nhà/ Giàu sang mấy hồi…”.

Tháng 12.1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp), ông tiếp tục có những năm tháng sống gần gũi với anh trai là GS.TS Trần Văn Khê. Từ đó trở đi, Trần Văn Trạch gần như chia tay với hoạt động nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống. Trần Văn Trạch mất ngày 12.4.1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris. Ngày ông qua đời, người anh trai là GS.TS Trần Văn Khê đang ở Việt Nam để sưu tầm âm nhạc truyền thống dân tộc. GS.TS Trần Văn khê đã tức tốc bay về Paris làm chủ tang cho đứa em ruột thịt của mình, đứa em đã từng gắn bó với ông trong những ngày niên thiếu và cùng đi chung với ông trên con đường nghệ thuật thênh thang.

oOo

“Người Nghệ Sĩ Của Thế Kỷ” – TRẦN VĂN TRẠCH – VŨ TRƯỜNG RITZ – 1993:

 

Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch – Cái Telephone:

 

Sầm Giang Tái Ngộ 05 – Trần Văn Trạch:

 

Trần Văn Trạch & Việt Hùng:

 

Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch:

 

Trần Văn Trạch – Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia:

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Tân Nhạc Việt Nam – Quái Kiệt Trần Văn Trạch”

  1. Chị cám ơn Huấn đã chia sẻ. Đúng thật cuộc đời của ông quả là thú vị. Cả đời ông chuyên đem niềm vui đến cho người đời, luôn sống bình dị với mọi người và không hề mang một tai tiếng xấu nào hết.

    Chị cũng rất cảm xúc khi soạn bài này về ông và những đóng góp của ông cho nền Tân Nhạc Việt Nam.

    You’re mostly welcome. XO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s