Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Tà Khê, Truô Sô, Truô Nguôk, Khưm Tôch, Rôneat Thung, Rôneat Đek, Chapây Chomriêng, Koôn, Chhưng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các nhạc cụ Tà Khê, Truô Sô, Truô Nguôk, Khưm Tôch, Rôneat Thung, Rôneat Đek, Chapây Chomriêng, Koôn, và Chhưng của người Việt/Khmer.

Người Việt/Khmer có một hệ thống nhạc cụ gồm đầy đủ các họ dây, họ hơi, họ màng rung và tự thân vang. Nhưng hôm nay mình chỉ giới thiệu đến các bạn các nhạc cụ thuộc họ dây của tộc này.

* Đàn Tà Khê là nhạc cụ dây gảy (đàn gảy nằm). Theo tiếng Thái Lan, đàn Tà Khê có nghĩa là con cá sấu vì nó có hình thù giống như con cá sấu nhỏ. Đàn dài khoảng 1,2m, chiều cao của thành đàn khoảng 15cm, tạo thành một thùng cộng hưởng lớn. Đàn Tà Khê mắc 2 dây, gắn 12 phím. Dây đàn bằng cước được mắc một đầu ở cọc khóa và một đầu vào tay vặn để điều chỉnh âm thanh cao thấp. Đặc tính âm thanh của đàn là trầm ấm. Khi biểu diễn đàn để nằm, tay phải gảy bằng móng gảy, các ngón tay trái chặn dây đàn. Vì các phím đàn được gắn cao hơn so với mặt đàn nên người trình diễn dễ dàng tạo các âm rung, nhấn mỗi khi thể hiện. Tà Khê thường được dùng hòa tấu với các nhạc cụ như truô u, truô so, khưmtrống trong sân khấu Dù kê, ca hát dân gian hoặc nhạc đám cưới.

Đàn Tà Khê và đàn Khưm Tôch.
Đàn Tà Khê và đàn Khưm Tôch.

* Đàn Truô Sô là nhạc cụ dây kéo, giống với đàn nhị của người Kinh. Bầu đàn là một ống gỗ rỗng và chế tác bằng gỗ giáng hương, mặt đàn được bịt bằng da cá sấu. Đàn mắc 2 dây và lên dây theo quãng 4 hoặc quãng 5. Âm sắc của Truô So thanh, vang, thường được dùng đi bè giai điệu, bè dẫn trong dàn hòa tấu.

* Đàn Truô Nguôk cũng có cấu tạo gần như Truô Sô, chúng chỉ khác nhau ở bầu đàn. Bầu đàn Truô Nguôk được làm bằng gáo dừa, mặt đàn được bịt bằng gỗ ngô đồng. Truô Nguôk mang âm sắc trầm ấm, thường dùng để đi bè trung trong hòa tấu dàn nhạc.

* Đàn Khưm Tôch hình thức tương tự như đàn Tam Thập Lục của người Kinh, chỉ khác là Khưm Tôch có 35 dây bằng kim loại với các kích thước lớn nhỏ. Màu âm của Khưm Tôch trong trẻo, giòn giã với 3 tầm âm khác nhau. Khưm tôch được dùng cho đệm hát trong nghệ thuật Dù kê, đôi khi trong dàn nhạc lễ cưới. Ngày nay Khưm Tôch được dùng để đệm hát, múa độc tấu và hòa tấu.

* Rôneat Thung là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ. Nhạc cụ cấu tạo gồm 20 thanh đàn bằng gỗ dài từ 30-40cm. Chúng được mắc thành dàn, theo một trật tự từ dài đến ngắn. Các thanh đàn được treo vào một hộp đàn hình thuyền. Người ta chơi đàn Rôneat Thung bằng hai chiếc dùi gỗ. Đầu dùi tròn bọc cao su. Hai dùi được liên kết bởi một sợi dây. Sợi dây được điều chỉnh dài vừa đủ để khi người chơi đàn dùng hai tay cầm hai dùi gõ dễ dàng tạo ra các chồng âm quãng 8. Tiếng đàn Rôneat Thung trong, vang, ấm của chất liệu gỗ. Thang âm của đàn là hệ 7 âm chia đều. Đặc điểm của đàn Rôneat Thung là rất thuận lợi cho việc diễn tấu những giai điệu có tiết tấu nhanh, vuốt, láy rền. Rôneat Thung có mặt trong dàn nhạc ngũ âm để tham gia trình diễn vào các ngày tết, ngày lễ cúng Phật lớn trong năm của người Khmer Nam Bộ. Rôneat Thung cũng có thể dùng để tham gia vào các hòa tấu thính phòng, sân khấu dân gian…

* Đàn Rôneat Đek cũng tương tự như rôneat thung, gồm 20 thanh kim loại theo hệ âm 7 cung chia đều, được sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến bé và đặt trên thùng đàn hình chữ nhật. Âm thanh của đàn vang, sắc, sáng chói, mang đặc tính của tiếng kim loại. Đây được coi là một diapason chuẩn cho các nhạc cụ khác lên dây. Đàn Rôneat Đek tham gia vào dàn nhạc ngũ âm, trong các lễ hội dân gian của người Việt/Khmer.

* Kuôn (Kôông Vông Thum [cồng âm thấp] & Kôông Vông Tôch [cồng âm cao] là dàn chiêng gồm 16 chiếc chiêng, được làm bằng đồng thau. Đường kính chiêng từ 15-25cm. Các chiêng được mắc trên một khung hình bán nguyệt làm bằng dây mây, trên khung người ta treo thứ tự các chiêng từ bé đến lớn. Người chơi kuôn dùng hai dùi gỗ, đầu dùi tròn bọc cao su gõ vào các chiêng. Kuôn được chơi ở tư thế quì ngồi, trong vòng khung hình bán nguyệt, dấu hai chân ra phía sau. Âm thanh của kuôn kêu to, vang, trang trọng. Vì chiêng có hiện tượng bị sai âm do thời gian, nên trước khi chơi người ta phải chỉnh âm cho chuẩn, bằng cách gắn thêm một loại chất rắn hỗn hợp gồm sáp ong trộn với chì và sắt. Loại chất này dễ mềm ở nhiệt độ cao. Khi muốn chỉnh âm cao thấp người ta đốt nóng loại vật liệu hỗn hợp này bằng đèn cầy và gắn vào mặt sau của chiêng. Kuôn tham gia hòa tấu trong dàn nhạc Ngũ âm, trong các ngày lễ cúng Phật và các hội lớn trong cộng đồng các phum, sóc.

dantakhe4

* Đàn Chapây Chomriêng (Chà Pây Chom Riêng) có cần dài mắc hai dây, trên cần gắn 12 phím. Nhạc cụ này chỉ dùng để độc tấu hoặc đệm cho hát, không dùng trong hòa tấu.

Dưới đây mình có các bài:

– Ngỡ ngàng trước dàn nhạc cụ lạ “không đụng hàng” của nghệ nhân Khmer
– Truô Sô
– Truô Nguôk
– Khưm Tôch
– Rôneat Thung
– Rôneat Đek
– Kôông Vông Tôch
– Kôông Vông Thum
– Chhưng
– Chapây Chomriêng
– Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây của người Khmer tỉnh Trà Vinh

Cùng với 11 clips tổng hợp độc tấu/hòa tấu các nhạc cụ bộ dây: Tà Khê, Truô Sô, Truô Nguôk, Khưm Tôch, Chapây Chomriêng và bộ gõ: Rôneat Thung, Rôneat Đek, Koôn, Chhưng, để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Viện Âm Nhạc VN)

Đội thông tin văn nghệ Khmer tỉnh Bạc Liêu trình diễn những nhạc cụ rất lạ.
Đội thông tin văn nghệ Khmer tỉnh Bạc Liêu trình diễn những nhạc cụ rất lạ.

Ngỡ ngàng trước dàn nhạc cụ lạ “không đụng hàng” của nghệ nhân Khmer

(Đại Dương)

Những nhạc cụ lạ lần đầu đem đến Huế biểu diễn của Đội thông tin văn nghệ Khmer tỉnh Bạc Liêu đã khiến nhiều người ngỡ ngàng bởi âm thanh phát ra không giống bất cứ loại nhạc cụ dân tộc nào trước đây.

Trong hơn nửa tiếng trình diễn sáng 8/6 chủ đề “Âm vang ngày hội” với 18 nhạc cụ đặc trưng như Khưm thưm (bán nguyệt lớn), Khưng tôch (bán nguyệt nhỏ), Truô nguôk (đàn gáo lớn), Truô sô (đàn cò nhỏ), Khlôy (sáo trúc, Krap (cập gõ tre), Skođacy (trống da nhỏ), Cchưng (chập chã bằng đồng)… dàn nhạc Khmer trong trang phục cung đình xứ Khmer xưa kia cúi đầu chắp tay trước ngực chào khán giả như một dấu hiệu của đạo Phật an lành.

Ấn tượng nhất là Koông vông thum (bộ cồng lớn) có dạng hình tròn với 15 chiêng được đúc như thỏi vàng lớn trên có nhô chóp phát ra âm thanh trong, ngân. Cây đàn Tà Khê như cây đàn đáy nhưng đặt nằm ngang trên mặt bàn với ba dây. Rất giống với đàn Tơ rưng là Rooneat ek (bộ gõ bằng tre nhỏ) và Rooneat thung (bộ gõ bằng tre lớn) treo trên 2 cái giá và trĩu xuống có hình dạng như chiếc thuyền, khi đánh vào kêu lảnh lót. Kkhlôy (sáo trúc) được thổi từ đầu sáo chứ không thổi ở lỗ gần giữa như sáo trúc người Kinh dùng. Sko sam phô (trống Samphô) là một cái trống rất lạ có đầu to đầu nhỏ được bịt bằng da con bò, tuy nhỏ nhưng phát ra tiếng rất uy lực.

Tiết mục đầu tiên đoàn chơi là Hòa tấu nhạc Dù kê – một loại nhạc dân gian Khmer với âm thanh tha thiết sâu lắng khích lệ tinh thần chiến đấu với lòng tự hào quyết tâm giành chiến thắng bảo vệ quê hương, đất nước. Hòa tấu dàn nhạc dây Lời ru của mẹ tiếp tục với những âm thanh du dương, tha thiết như lời ru của mẹ đưa con vào giấc ngủ đầu đời với tình yêu quê hương với ruộng đồng, bờ ao, lũy tre, đàn cò… Chính hình ảnh quê hương đó đã dạy con tình yêu đất nước, tình mẫu tử thiêng liêng.

Hòa tấu nhạc Dù kê - kích thích tinh thần chiến đấu của dân tộc.
Hòa tấu nhạc Dù kê – kích thích tinh thần chiến đấu của dân tộc.
Koông vông thum (bộ cồng lớn).
Koông vông thum (bộ cồng lớn).
Khưm thưm (bán nguyệt lớn).
Khưm thưm (bán nguyệt lớn).
Sko sam phô (trống Samphô).
Sko sam phô (trống Samphô).
Nhạc công đang gõ ở Rooneat thung (bộ gõ bằng tre lớn).
Nhạc công đang gõ ở Rooneat thung (bộ gõ bằng tre lớn).
Đàn Tà Khê.
Đàn Tà Khê.
Kkhlôy (sáo trúc).
Kkhlôy (sáo trúc).
Dàn nhạc Khmer phát ra những âm thanh lạ, khác hẳn với những dàn nhạc dân tộc đã trình diễn 3 ngày qua. Đây cũng là đại diện miền Nam duy nhất trong số 19 đội dự liên hoan.
Dàn nhạc Khmer phát ra những âm thanh lạ, khác hẳn với những dàn nhạc dân tộc đã trình diễn 3 ngày qua. Đây cũng là đại diện miền Nam duy nhất trong số 19 đội dự liên hoan.
Skôthum (2 trống lớn).
Skôthum (2 trống lớn).
Truô sô (đàn cò nhỏ) tuy giống cây đàn nhị nhưng âm thanh khác biệt.
Truô sô (đàn cò nhỏ) tuy giống cây đàn nhị nhưng âm thanh khác biệt.
Nghệ nhân đứng ngoài cùng gõ cặp Chhưng (chập chã bằng đồng).
Nghệ nhân đứng ngoài cùng gõ cặp Chhưng (chập chã bằng đồng).
Nghệ nhân trên 60 tuổi Danh Xà Rậm độc tấu đàn Chapây chom riêng.
Nghệ nhân trên 60 tuổi Danh Xà Rậm độc tấu đàn Chapây chom riêng.
Những ngón tay lướt đàn điêu luyện, cây đàn nghệ nhân dùng đã có tuổi đời trên 100 tuổi.
Những ngón tay lướt đàn điêu luyện, cây đàn nghệ nhân dùng đã có tuổi đời trên 100 tuổi…
và thổi kèn...
và thổi kèn…
Các nghệ nhân chơi rất say sưa và có hồn.
Các nghệ nhân chơi rất say sưa và có hồn.
Nghệ sĩ Lý Hùng - quyền đội trưởng đội thông tin văn nghệ Khmer Bạc Liêu nhận hoa chúc mừng từ ban tổ chức. Sự có mặt của đội đã thổi một luồng không khí tươi mới của miền Nam vào liên hoan.
Nghệ sĩ Lý Hùng – quyền đội trưởng đội thông tin văn nghệ Khmer Bạc Liêu nhận hoa chúc mừng từ ban tổ chức. Sự có mặt của đội đã thổi một luồng không khí tươi mới của miền Nam vào liên hoan.

Niềm vui phum sóc là tiết mục thứ ba thể hiện niềm vui thái bình, lạc quan, trong sáng, cùng chung tay xây dựng quê hương giàu đẹp. Hòa tầu Nhạc cưới dân tộc Khmer cho ta âm thanh rộn ràng, vui tươi ngày hạnh phúc lứa đôi. Âm nhạc như những lời chúc phúc cho đôi trai gái cùng hai họ chung vui và cũng là ngày hội của bà con phum, sóc chúc mừng hạnh phúc cô dâu chú rễ.

Đặc biệt là tiết mục Độc tấu đàn Chapây chom riêng của nghệ nhân Danh Xà Rậm. Cây đàn cũ kỹ đã có tuổi đời hơn 100 năm được cha của nghệ nhân truyền lại cho con. Dù nước sơn đã phai màu và nhiều vết lỗ chỗ trên cây đàn, nhưng âm thanh đàn phát ra thì trầm ấm áp như muốn kể về một câu chuyện cổ tích dân gian khuyên mọi người ăn ở hiền lành, tránh làm điều ác thay cho lời tự sự về cái hay cái đẹp trong cuộc sống. Sau 3 phút chơi đàn, nghệ nhân Danh Xà Rậm còn thổi kèn Pây puốp với độ truyền cảm cao.

Cuối cùng, tiết mục hòa tấu dàn nhạc ngũ âm Âm vang ngày hội với 9 loại nhạc cụ đã hòa quện cùng nhau tạo nên sự rộn ràng, vui tươi ngày hội như mời gọi những bước nhảy tưng bừng trong ngày lễ của dân tộc Khmer. Âm nhạc đã cho một không gian thanh bình, yên lành, vui vẻ và sung túc của quê hương.

Đàn Truô Sô tại chùa Dơi – Sóc Trăng.
Đàn Truô Sô tại chùa Dơi – Sóc Trăng.

Truô Sô

Truô Sô là nhạc khí dây kéo của người Khmer Nam Bộ tương tự như đàn nhị của người Việt. Nhiều dân tộc châu Á khác cũng có các loại nhạc khí tương tự Truô Sô với những tên gọi khác nhau. Người Khmer sử dụng 2 loại Truô Sô lớn và nhỏ. Thông thường Truô Sô chơi trong dàn nhạc dây nhưng ở Chùa Dơi, nhạc khí này được chơi thay thế cho kèn Srolai Pinn Peat trong dàn nhạc ngũ âm.

Cấu tạo:

Bao gồm Thân đàn, ngựa đàn, cần đàn, trục đàn, dây đàn, cung vĩ.

+ Bầu cộng hưởng (thân đàn): Truô Sô có thân bằng ống tre hoặc gỗ khoét rỗng với kích thước không cố định. Một đầu của thân đàn được bịt một tấm da bò sát gọi là mặt, đầu còn lại thường để trống. Trên mặt đàn được gắn một ngựa đàn ở giữa mặt da.

+ Cần đàn: Được làm bằng loại gỗ cứng, thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau và được trang trí công phu. Gốc của cần cắm xuyên qua thân đàn gần mặt da khoảng 2cm.

+ Dây đàn: Truô Sô có 2 dây, trước kia làm bằng tơ, ngày nay được dùng ny lông hoặc kim loại. Dây đàn được lên theo quãng 5 đúng.

+ Dây cữ: Là sợi dây néo 2 dây đàn sát với cần đàn phía dưới các trục dây. Tác dụng của bộ phận này để điều chỉnh độ cao thấp âm thanh bằng cách giới hạn độ dài đoạn dây từ ngựa đàn đến dây cữ; đoạn dây càng dài âm càng trầm và ngược lại đoạn dây càng ngắn thì âm càng cao.

+ Cung vĩ: Làm bằng tre hoặc gỗ uốn cong và mắc dây bằng lông đuôi ngựa, sớ cây thơm hoặc đôi khi là sợi ny lông. Dây cung vĩ được mắc vào giữa 2 dây đàn không lấy ra được, khi kéo do sự cọ sát mà tạo ra âm thanh.

Màu âm, tầm âm:

Truô Sô có màu âm trong trẻo, mềm mại gần với giọng nữ cao.

Để thay đổi màu âm, người chơi có thể dùng đầu gối bịt một phần thân đàn để giảm độ vang hoặc dùng ngón chân chạm vào mặt da ở thân đàn.

Với cữ âm rộng 2 quãng tám, chia làm 4 tầm âm là trầm, trung, cao và cực cao. Khi phô diễn kỹ thuật, nhạc công có thể chơi những âm thanh cực cao nhưng đây không phải là tầm âm tốt nhất nên ít được dùng khi chơi thông thường trong dàn nhạc.

+ Hàng âm trong các làn điệu có màu sắc của điệu trưởng:

dantakhe_Truô Sô1

+ Hàng âm trong các làn điệu có màu sắc của điệu thứ:

dantakhe_Truô Sô2

Kỹ thuật diễn tấu:

+ Kỹ thuật tay phải:

Kỹ thuật tay phải thể hiện chủ yếu ở động tác đẩy và kéo cung vĩ, tùy theo tính chất bản nhạc mà người chơi xử lý kỹ thuật cho phù hợp. Kỹ thuật tay phải có 6 loại chính:

* Cung vĩ liền (Legato): Sử dụng kỹ thuật này cho âm thanh mềm mại, du dương. Cách tạo ra sự liền lạc của âm thanh bằng cách trên một động tác kéo hoặc đẩy cung vĩ sẽ bấm được nhiều nốt nhạc liền mạch với nhau.

* Cung vĩ ngắt (Staccato): Để tạo ra các trường độ ngắn, người chơi Truô sô thường dùng đầu cung vĩ để để xử lý tạo ra âm thanh gọn gẽ. Âm nhạc Khmer có tính nhảy múa nên các nhạc công rất ưa chuộng kỹ thuật này.

* Cung vĩ rời: Là kỹ thuật mỗi âm thanh ứng với một đường cung vĩ (động tác đẩy hoặc kéo cung vĩ). Kỹ thuật này tạo ra tiếng đàn chắc khỏe, linh hoạt, phù hợp với tính chất vũ khúc của âm nhạc Khmer.

*Cung vĩ nhấn: Kỹ thuật này dùng dây cung vĩ để nhấn từng âm nhưng các âm vẫn luyến với nhau. Người chơi dùng cung vĩ đàn tưng âm, sau đó nhấn mạnh cung vĩ tạo nên tính chất nặng nề, dứt khoát.

* Cung vĩ nẩy: Đàn ngắt từng âm, mỗi âm nhấc cung vĩ một lần. đây à kỹ thuật chơi những bản nhạc có tính dí dỏm.

+ Kỹ Thuật tay trái:

* Ngón rung: Là kỹ thuật dùng ngón tay trái bấm lên dây đàn và nhấn nhẹ liên tục tạo nên âm thanh ngân rung dìu dặt giống với giọng người. Kỹ thuật này hay được dùng với các âm ngân dài.

* Ngón vuốt: Là kỹ thuật di chuyển ngón bấm từ vị trí này tới vị chí khác mà không nhấc ngón bấm để tạo ra âm thanh uyển chuyển liền mạch.

* Ngón nhấn: Làm cho phần sau của 1 âm thanh nâng cao độ lên nửa cung hay một cung bằng cách bấm vào vị trí của nốt nào đó sau đó xiết mạnh vào dây làm cho nó căng lên. Kỹ thuật này tạo ra những nốt luyến liền bậc mềm mại.

Vị trí trong dàn nhạc

Truô sô là nhạc khí phổ biến trong nhiều dàn nhạc của người Khmer Nam Bộ, đặc biệt là sân khấu Dù Kê. Tại Chùa Dơi, Truô sô còn tham gia cả vào dàn nhạc Ngũ âm thay cho kèn Srolai Pinn Peat.

dantakhe5

Truô Nguôk

Truô nguôk còn có tên là Truô u hay Đàn gáo, nó là nhạc khí dây kéo của người Khmer Nam Bộ tương tự như đàn Hồ cầm cùa Trung Quốc cả về hình dáng, cấu tạo và tính năng. Tại Chùa Dơi, Truô nguôk được chơi trong dàn nhạc dây.

Cấu tạo:

Truô nguôk có các bộ phận tương tự như Truô sô nhưng hình dáng và kích thước lớn hơn.

Nhạc khí này gồm có các bộ phận: 1 Thân đàn, 2 cần đàn, 3 trục đàn, 4 ngựa đàn, 5 dây đàn, 6 dây cữ, 7 cung vĩ.

+ Bầu cộng hưởng (thân đàn): Truô nguôk có thân bằng gáo dừa (nên còn có tên Truô rô lea) với kích thước không cố định. Miệng của gáo được bịt một tấm da trăn hoặc gỗ thông gọi là mặt có kích thước 15-16cm. Ở giữa mặt đàn được gắn một ngựa đàn bằng gỗ, tre hoặc vỏ sò.

+ Cần đàn: Được làm bằng loại gỗ cứng, thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau và được trang trí công phu. Gốc của cần cắm xuyên qua thân đàn gần mặt da khoảng 3 cm. Cần đàn thường dài khoảng 75 cm.

+ Trục đàn: Hay còn gọi là trục dây, dùng để lên dây. Truô nguôk có 2 trục cắm xuyên qua đầu cần đàn theo hướng của bầu cộng hưởng. Trục đàn làm bằng gỗ cứng, một đầu to, một đầu nhỏ, bộ phận này đôi khi được trang trí khéo léo.

+ Dây đàn: Truô nguôk có 2 dây, trước kia làm bằng tơ hoặc ny lông, ngày nay được dùng dây kim loại. Dây đàn có tên là dây “mẫu” và dây “câm” được lên theo quãng 5 đúng.

+ Dây cữ: Là sợi dây néo 2 dây đàn sát với cần đàn phía dưới các trục dây. Tác dụng của bộ phận này để điều chỉnh độ cao thấp âm thanh bằng cách giới hạn độ dài đoạn dây từ ngựa đàn đến dây cữ; đoạn dây càng dài âm càng trầm và ngược lại đoạn dây càng ngắn thì âm càng cao.

+ Cung vĩ: Làm bằng tre hoặc gỗ uốn cong dài khoảng 75-85 cm. Trên cung vĩ người ta mắc dây cung bằng lông đuôi ngựa, sớ cây thốt nốt hoặc đôi khi là sợi ny lông. Dây cung vĩ được mắc vào giữa 2 dây đàn không lấy ra được, khi kéo do sự cọ sát mà tạo ra âm thanh. Dây cung vĩ thường được bôi nhựa thông để tạo sự cọ sát với dây đàn.

Màu âm, tầm âm:

Truô nguôk có tầm âm trầm hơn Truô sô, màu màu âm sâu lắng, mềm mại…

Truô nguôk có cữ âm rộng khoảng 2 quãng tám.

+ Hàng âm sử dụng trong dàn nhạc Khmer:

dantakhe_ Truô nguôk1

+ Hàng âm sử dụng trong dàn nhạc Lakhône Bassăk:

dantakhe_ Truô nguôk2

Kỹ thuật diễn tấu:

Kỹ thuật của Truô nguôk nhìn chung hạn chế hơn Truô sô, các kỹ thuật khó như cung vĩ ngắt, ngón láy, ngón vuốt… ít được sử dụng. Kỹ thuật tay phải thường dùng nhất là cung vĩ liền (legato).

* Ngón rung: Là kỹ thuật dùng ngón tay trái bấm lên dây đàn và nhấn nhẹ liên tục tạo nên âm thanh ngân rung dìu dặt giống với giọng người. Do đặc trưng của Truô nguôk là chơi liền tiếng nê kỹ thuật này rất hay dùng.

* Ngón vuốt: Là kỹ thuật tương tự như của Truô sô, người chơi di chuyển ngón bấm từ vị trí này tới vị chí khác mà không nhấc ngón bấm để tạo ra âm thanh uyển chuyển liền mạch.

* Ngón luyến (cung vĩ liền): Sử dụng kỹ thuật này cho âm thanh mềm mại, du dương. Cách tạo ra sự liền lạc của âm thanh bằng cách trên một động tác kéo hoặc đẩy cung vĩ sẽ bấm được nhiều nốt nhạc liền mạch với nhau.

* Ngón láy: Kỹ thuật này dùng 1 ngón tay trái bấm vào nốt chính, ngón kế tiếp liên tục bấm và thả âm aco hơn tạo nên âm thanh vang rền liên tục. Kỹ thuật này hay dùng cho âm ngân dài.

* Ngón vê (cung vĩ rung): Là cách dùng cung vĩ kéo thật nhanh vào âm nào đó để tạo tiếng ngân rung liên tục tựa như tiếng tremolo trong đàn gẩy. Kỹ thuật này tạo cảm giác rộn rã, thúc dục thường dùng khi làm nền trong dàn nhạc.

* Ngón ngắt (Cung vĩ ngắt): Để tạo ra các trường độ ngắn, người chơi Truô nguôk thường dùng đầu cung vĩ để để xử lý tạo ra âm thanh gọn gẽ. Kỹ thuật này dùng trong những bản nhạc có tính nhảy múa.

Vị trí trong dàn nhạc:

Với tính chất trầm lắng, trữ tình… Truô nguôk có mặt ở các dàn nhạc Khmer, dàn nhạc Môhôri, dàn nhạc lễ cưới, dàn nhạc Lakhône Bassăk… và đặc biệt nó thường được dùng đệm hát trong nghệ thuật Dù kê. Trong dàn nhạc, Truô nguôk chơi đồng âm với Truô sô. Tại Chùa Dơi, Truô nguôk chơi trong dàn nhạc dây.

Khưm tôch tại bảo tàng Khmer – Sóc Trăng.
Khưm tôch tại bảo tàng Khmer – Sóc Trăng.

Khưm Tôch

Khưm tôch là một loại nhạc khí dây gõ của dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhạc khí này rất phổ biến trong sinh hoạt âm nhạc của người Khmer Nam Bộ.

Cấu tạo:

Khưm tôch có hình dàng như con bướm xòe cánh gồm có các bộ phận chính: thân đàn, mặt đàn, ngựa đàn, dây đàn, trục đàn, thanh gõ.

+ Thân đàn: Là phần bao bọc xung quanh mặt và đáy của đàn để tạo thành hộp cộng hưởng. Thân đàn thường được chế tác bằng các loại gỗ nhẹ như sao, vông hay cồng… Thân đàn có hình dáng tựa hình thang cân với các góc được vạt tròn. Các cạnh của thân đàn có độ dài các cạnh lần lượt là: cạnh bên 25cm, hai cạnh đáy là 65 cm và 39 cm.

+ Mặt đàn: Là 1 mặt phẳng, thường được làm bằng loại gỗ nhẹ, có tốc độ truyền âm tốt như thông, vông (dzông) hay ngô đồng… Trên mặt đàn có 2 lỗ thoát âm và 2 dãy ngựa đàn và trục đàn ở hai bên.

+ Ngựa đàn: Khưm tôch có 2 dãy ngựa gắn trên mặt để phân chia 3 khu vực âm thanh trầm, trung và cao. Ngày xưa ngựa đàn thường được nạm ngà voi trên đầu để tạo sự chính xác và để trang trí. Ngay nay người ta dùng nhựa để thay thế ngà voi.

+ Trục đàn: Là bộ phận để lên dây được bố trí ở hai bên mặt đàn sát với thân đàn. Trục đàn làm bằng kim loại có lỗ để xỏ dây.

+ Dây đàn: Khưm tôch có 35 dây bằng kim loại với các kích thước lớn nhỏ khác nhau. Độ dài các đoạn dây (phần tạo ra dao động âm nhạc) của Khưm tôch cũng khác nhau để tạo ra âm thanh phù hợp. Đoạn dài nhất là 35 cm và đoạn ngắn nhất là 20 cm.

+ Thanh gõ: Khưm tôch có 2 thanh gõ (dùi) làm bằng tre dài khoảng 30 cm. Yêu cầu của thanh gõ là phải dẻo, có độ đàn hồi tốt để tạo ra sự linh hoạt khi diễn tấu.

Màu âm, tầm âm:

Khưm tôch có màu âm trong trẻo, giòn giã với 3 tầm âm có tính chất khác nhau.

+ Tầm thấp: có tính chất sau lắng thường đệm nền cho các tầm trên hoặc chồng quãng 8 với tầng giai điệu (trung).

+ Tầm trung: Trong trẻo, giàu sức biểu cảm thường đàn giai điệu chính.

+ Tầm cao: hơi gay gắt thường dùng đàn những nốt lướt, hoa mỹ hoặc chồng quãng 8 với giai điệu.
Tùy thuộc vào dàn nhạc mà Khưm tôch có cách lên dây, sắp xếp thang âm phù hợp.

+ Thang âm trong dàn nhạc Lakhône Bassăk:

dantakhe_ Khưm tôch1

+ Thang âm trong dàn nhạc lễ cưới:

dantakhe_ Khưm tôch2

+ Thang âm trong dàn nhạc Môhôri:

dantakhe_ Khưm tôch3

+ Thang âm trong dàn nhạc đệm hát múa Aday:

dantakhe_ Khưm tôch4

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi dùng thanh gõ gõ lên dây đàn để tạo ra âm thanh. Có 3 tư thế diến tấu đàn Khưm tôch:

+ Tư thế ngồi chiếu: người chơi ngồi đàn trên chiếu, đàn đặt trên chiếu trước mặt.

+ Tư thế ngồi ghế: người chơi ngồi đàn trên ghế, đàn đặt trên giá cao trước mặt.

+ Tư thế đứng: người chơi đứng đàn, đàn đặt trên giá trước mặt.

Diễn tấu Khưm tôch trong dàn nhạc dây Chùa Dơi – Sóc Trăng.
Diễn tấu Khưm tôch trong dàn nhạc dây Chùa Dơi – Sóc Trăng.

Vị trí trong dàn nhạc:

Khưm tôch được dùng ở dùng đệm hát trong nghệ thuật Dù kê, đôi khi có trong dàn nhạc lễ cưới hay dàn nhạc Môhôri. Ngày nay Khưm tôch còn được dùng để đệm hát, múa độc tấu và hòa tấu. Tại Chùa Dơi, Khưm tôch được chơi trong dàn nhạc dây.

Rôneat Thung tại bảo tàng Khmer – Sóc Trăng.
Rôneat Thung tại bảo tàng Khmer – Sóc Trăng.

Rôneat Thung

Rôneat Thung là một nhạc khí gõ định âm trong dàn nhạc Pinn Peat (Ngũ âm) của dân tộc Khmer. Rôneat Thung cũng được chơi trong các loại dàn nhạc khác của dân tộc Khmer.

Cấu tạo:

Rôneat Thung cấu tạo từ 16 thanh âm được chế tác từ các thanh gỗ. Các thanh âm được sắp xếp theo thứ tự nhỏ dần từ phải qua trái (góc nhìn của người chơi), thanh nhỏ nhất 25cm, dài nhất 40 cm, chiều rộng khoảng 5 cm, tất cả chúng được dùi lỗ và dùng dây kết thành chuỗi. Đầu chuỗi thanh âm được mắc vào thân đàn. Các thanh âm của Rôneat Thung dày hơn của Rôneat Ek để tạo ra các âm thanh trầm hơn một quãng 8. Các thanh âm cũng được chỉnh cao độ bằng cách thêm bớt lớp bột chì pha sáp (gọi là promo) gắn ở hai đầu phía bên dưới.

Thân đàn thường đóng bằng gỗ tốt như mít, cẩm lai, thao lao… có chiều dài đáy 97 cm, rộng khoảng 26 cm. Thân đàn có hình dáng cong như chiếc thuyền, ở 4 góc đáy có 4 chân gắn liền vào thân.

Rôneat Thung được gõ bằng một cặp dùi bằng tre hoặc gỗ, đầu dùi to hình lăng trụ có khi được bọc một lớp vải hoặc chỉ pha keo để tạo sự mềm mại cho âm thanh.

Màu âm:

Rôneat Thung có tiếng đàn mềm mại, không vang bằng Rôneat Ek. Tùy vị trí sử dụng mà người ta điều chỉnh thang âm Rôneat Ek cho phù hợp:

+ Thang âm trong dàn nhạc Pinn Peat, dàn nhạc Môhôri cổ:

roneatthung1

+ Thang âm trong dàn nhạc Pinn Peat, dàn nhạc Môhôri hiện nay

roneatthung2

+ Thang âm trong dàn nhạc Lakhône Bassăk:

roneatthung3

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi dùng cặp dùi gõ vào các thanh âm. Hai dùi sẽ gõ đơn âm (không gõ cách quãng 8 như Rôneat Ek), cách đánh quãng 3, quãng 4, quãng 5, quãng 6 khi tremolo ở những nốt ngân dài cũng thường sử dụng.

Vị trí trong dàn nhạc:

Rôneat Thung luôn xuất hiện cùng Rôneat Ek, chúng được coi là một cặp song hành. Trong dàn nhạc, Rôneat Thung thường giữ nền bè trầm, đôi khi cũng đánh giai điệu.

Rôneat Dek trong dàn nhạc Pinn Peat tại Chùa Dơi.
Rôneat Đek trong dàn nhạc Pinn Peat tại Chùa Dơi.

Rôneat Đek

Rôneat đek là một nhạc khí gõ định âm trong dàn nhạc Pinn Peat (Ngũ âm: đồng, sắt, gỗ, da, hơi) của dân tộc Khmer.

Cấu tạo:

Rôneat đek cấu tạo từ 21 thanh âm được chế tác từ các thanh sắt pha đồng. Các thanh âm được sắp xếp theo thứ tự nhỏ dần từ phải qua trái, thanh nhỏ nhất 23 cm, dài nhất 30 cm, chiều rộng khoảng 4 cm, tất cả chúng được gác trên thân đàn. Để điều chỉnh âm thanh, người ta phải mài hoặc bù đắp thêm sắt ở hai đầu thanh âm.

Thân đàn thường đóng bằng gỗ tốt như mít, cẩm lai, thao lao… có chiều dài đáy 90 cm, rộng khoảng 18 cm. Thân đàn có dạng hình hộp chữ nhật, ở 4 góc có 4 chân gắn liền vào thân.

Rôneat đek được gõ bằng một cặp dùi bằng tre hoặc gỗ, đầu dùi to hình lăng trụ. Dùi thwoif trước làm bằng sắt nhưng cho âm thánh quá chói tai, âm thanh không rõ ràng nên người ta thay đổi chất liệu dùi.

Màu âm:

Rôneat đek có tiếng đàn trong trẻo, sắc bén, chói sáng… như tiếng chuông.

Thang âm Rôneat đek:

roneatdek1

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi dùng cặp dùi gõ vào các thanh âm. Cặp dùi Rôneat dek sẽ gõ đồng thời cách quãng 8 (như Rôneat Ek), cách đánh quãng 4, quãng 5, quãng 6 khi tremolo ở những nốt ngân dài cũng thường sử dụng.

Vị trí trong dàn nhạc:

Rôneat dek trong dàn nhạc thường giữ bè cao, phụ họa cho giai điệu chính, đôi khi nó cũng đánh giai điệu.

Kôông Vông Tôch trong dàn nhạc Pinn Peat tại Chùa Dơi.
Kôông Vông Tôch trong dàn nhạc Pinn Peat tại Chùa Dơi.

Kôông Vông Tôch

Kôông Vông Tôch (hay cồng cao) là một nhạc khí gõ định âm không thể thiếu trong dàn nhạc Pinn Peat (Ngũ âm: đồng, sắt, gỗ, da, hơi) của dân tộc Khmer. Như phần lớn các nhạc khí Khmer, Kôông Vông Tôch cũng được du nhập từ Ấn Độ sang một số nước trong khu vực Đông Nam Á.

Cấu tạo:

Kôông Vông Tôch là hệ thống gồm 16 chiếc cồng có nấm, được chế tác bằng hợp kim đồng pha gang, chiếc nhỏ nhất khoảng 15cm, chiếc to nhất 19cm. Mỗi chiếc cồng có độ dày mỏng khác nhau, bên trong nấm người ta bôi sáp chỉ để điều chỉnh cao độ. Bên thân mỗi chiếc cồng, người ta tạo 4 lỗ để xỏ dây treo vào giá đỡ.

Giá đỡ được làm bằng mây hình vòng cung gần khép kín thành vòng tròn, nó được chừa khoảng trống phía sau đề người chơi bước vào. Hai đầu mút của giá đỡ người ta gắn 2 miễng gỗ (gọi là khôl hay klăng) được chạm trổ tinh xảo để trang trí.

Kôông Vông Tôch được đánh bằng dùi gỗ có đầu làm bằng da trâu, bò hoặc voi có hình tròn dẹp.

Màu âm – Tầm âm:

Kôông Vông Tôch có âm thanh trong trẻo lung linh như tiếng chuông, âm thanh của nó rất linh hoạt, có thể chơi được nhiều tác phẩm có tính chất khác nhau. Kôông Vông Tôch là nhạc khí chủ lực có chất đồng trong dàn nhạc Pinn peat với tầm cữ hơn 2 quãng tám:

+ Hàng âm cổ:

koongvongtoch1

+ Hàng âm hiện nay:

koongvongtoch2

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi Kôông Vông Tôch ngồi xếp chân giữa vòng cung, cầm hai dùi gõ lên các cồng.

Kỹ thuật phổ biến là vuốt âm, tremolo hai nốt quãng 3,4,5,6 và 8 ở chỗ ngân dài.

Vị trí trong dàn nhạc:

Kôông Vông Tôch là nhạc khí chủ lực có chất đồng và không thể thiếu trong dàn nhạc Pinn peat. Nhạc khí này rất linh hoạt, nó chơi được nhiều bài bản âm nhạc với các tính chất khác nhau. Ngoài dàn nhạc Pinn Peat, Kôông Vông Tôch còn xuất hiện ở dàn nhạc Khlon Khech của người Khmer Nam Bộ.

Kôông Vông Thum.
Kôông Vông Thum.

Kôông Vông Thum

Kôông Vông Thum (hay cồng thấp) là một nhạc khí gõ định âm không thể thiếu trong dàn nhạc Pinn Peat (Ngũ âm: đồng, sắt, gỗ, da, hơi) của dân tộc Khmer. Kôông Vông Thum có hình dáng giống Kôông Vông Tôch nhưng có âm vực thấp hơn 1 quãng tám.

Cấu tạo:

Kôông Vông Thum có cấu tạo như Kôông Vông Tôch với hệ thống gồm 16 chiếc cồng có nấm, được chế tác bằng hợp kim đồng pha gang, chiếc nhỏ nhất khoảng 15cm, chiếc to nhất 19cm. Mỗi chiếc cồng có độ dày mỏng khác nhau, bên trong nấm người ta bôi sáp chỉ để điều chỉnh cao độ. Bên thân mỗi chiếc cồng, người ta tạo 4 lỗ để xỏ dây treo vào giá đỡ.

Giá đỡ được làm bằng mây hình vòng cung gần khép kín thành vòng tròn, nó được chừa khoảng trống phía sau đề người chơi bước vào. Hai đầu mút của giá đỡ người ta gắn 2 miễng gỗ (gọi là khôl hay klăng) được trạm trổ tinh xảo để trang trí.

Kôông Vông Thum được gõ bằng dùi gỗ có đầu làm bằng da trâu, bò hoặc voi có hình tròn dẹp.

Màu âm – Tầm âm:

Kôông Vông Thum có âm thanh trong trẻo lung linh như tiếng chuông, âm thanh của nó cũng rất linh hoạt nhưng thấp hơn Kôông Vông Tôch 1 quãng tám. Kôông Vông Thum cũng có thể chơi được nhiều tác phẩm có tính chất khác nhau. Kôông Vông Tôch có tầm cữ hơn 2 quãng tám:

+ Hàng âm cổ:

koongvongthum1

+ Hàng âm hiện nay:

koongvongthum2

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi Kôông Vông Thum cũng ngồi xếp chân giữa vòng cung, cầm hai dùi gõ lên các cồng.
Kôông Vông Thum diễn tấu đồng âm với Kôông Vông Tôch nhưng hiệu quả thực thấp hơn một quãng tám.
Kỹ thuật phổ biến là vuốt âm, tremolo hai nố quãng 3,4,5,6 và 8 ở chỗ ngân dài.

Vị trí trong dàn nhạc:

Kôông Vông Thum là nhạc khí trong dàn nhạc Pinn peat. Trong dàn nhạc, Kôông Vông Thum giữ vai trò làm nền bè trầm, nó đàn các âm dưới Kôông Vông Tôch một quãng tám. Kôông Vông Thum thường xuất hiện song hành cùng Kôông Vông Tôch, ngoài dàn nhạc Pinn Peat, Kôông Vông Thum cũng xuất hiện ở dàn nhạc Khlon Khech của người Khmer Nam Bộ.

Chhưng tại bảo tàng Khmer.
Chhưng tại bảo tàng Khmer.

Chhưng

Là nhạc khí gõ của dân tộc Khmer Nam Bộ, nó tương tự như chũm chọe nhỏ trong nhạc khí của người Kinh.

Cấu tạo:

Chhưng được chế tác từ hợp kim đồng thau hoặc đồng thiếc, nó gồm 2 chiếc như hai cái đĩa tròn có chóp với đường kính khoảng 17cm – 20cm, ở giữa chóp có lỗ để buộc dây. Dây buộc nối chóp của 2 chiếc chhưng với nhau có độ dài khoảng 20cm.

Màu âm:

Chhưng có âm thanh ngân vang như tiếng chuông, đánh mạnh nghe chói tai. Chhưng có 2 âm sắc là “Chhấp” và “Chhưng”, 2 âm sắc này được gõ xen kẽ nhau trong diễn tấu.

Kỹ thuật diễn tấu:

Người chơi dùng 2 tay kẹp dây bằng 2 ngón tay ở vị trí chóp của Chhưng, đập 2 mặt của chúng vào nhau để tạo ra âm thanh.

Muốn có âm “Chhấp”, người ta đập 2 miếng Chhưng vào nhau và giữ chúng chạm nhau để âm thanh bị ngắt ngay.

Muốn có âm “Chhưng”, người ta đập 2 miếng Chhưng vào nhau và nảy tách chúng ra ngay để âm thanh ngân vang.

Vị trí trong dàn nhạc:

Chhưng là nhạc khí thường có trong dàn nhạc Pinn Peat và dàn nhạc Môhôri, ngoài ra nó còn tham gia vào các dàn nhạc Khmer khác.

Nghệ nhân Danh Xà Rậm độc tấu Chapây Chomriêng huy chương vàng “Liên hoan nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam” (Lần I- 2012).
Nghệ nhân Danh Xà Rậm độc tấu Chapây Chomriêng huy chương vàng “Liên hoan nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam” (Lần I- 2012).

Chapây Chomriêng

Chapây Chomriêng còn có tên Chapây đonviêng là loại đàn dây gảy của người Khmer Nam Bộ. Nhạc khí này có hình dáng gần giống với đàn đáy của người Kinh nhưng các góc thân đàn được cắt tròn, cần đàn dài và to hơn có 12 phím theo thang âm ngũ cung.

Cấu tạo:

Chapây Chomriêng có cấu tạo bằng các bộ phận chính: Thùng đàn, Cần đàn, Dây đàn, Trục đàn, Phím gảy.

+ Thùng đàn: Có hình dáng giống như trái thơm, phần tiếp xúc với cần đàn to hơn phần còn lại phía dưới. Thùng đàn có kích thước chiều dọc hai bên là 40 cm, chiều ngang phía trên (tiếp xúc cần đàn) dài 37 cm, chiều ngang phía dưới là 30 cm. Thùng đàn thường được làm bằng gỗ tốt, có mặt làm bằng loại gỗ có khả năng truyền âm cao. Trên mặt đàn gắn bộ phận mắc dây cũng đồng thời là ngựa đàn.

+ Cần đàn: Làm bằng gỗ cững, dài khoảng 120 cm, đầu đàn được uốn cong và trạm trổ tinh xảo. Cần đàn có 12 phím để xác định vị trí âm thanh, ngày xưa các phím được xỏ dây buộc với nhau để tránh rơi mất và cũng để đo khoảng cách các phím.

+ Dây đàn: Dây đàn ngày xưa làm dây tơ se lại, một to một nhỏ, ngày nay dùng dây nylon. Hai dây buông cách nhau quãng 5 đúng. Có những loại Chapây Chomriêng 3 dây nhưng ngày nay còn không phổ biến.

+ Trục đàn: Làm bằng gỗ cứng tuy chỉ có 2 cái được mắc dây đàn nhưng đôi khi ngươi ta vẫn làm 3 hoặc 4 trục đàn theo truyền thống.

+ Phím gảy: Ngày xưa người ta dùng móng ngón trỏ để gảy, ngày nay người ta dùng ống tre được mài dũa kỹ lưỡng và xỏ vào ngón tay để gảy đàn.

Màu âm, tầm âm:

Chapây Chomriêng có màu âm trầm ấm, sâu lắng, phù hợp với âm nhạc có tính tự sự.

Tầm cữ âm của Chapây Chomriêng khoảng 2 quãng tám.

dantakhe_Chapây Chomriêng1

Kỹ thuật diễn tấu:

Chapây Chomriêng đòi hỏi người chơi có kỹ thuật tay trái điêu luyện để tạo ra tiếng đàn linh hoạt, uyển chuyển.

Vị trí trong dàn nhạc

Chapây Chomriêng được dùng cùng với giọng hát, khi diễn tấu, tiếng đàn và tiếng hát được thể hiện đối đáp với nhau như kể chuyện. Tác phẩm cho đàn Chapây Chomriêng nhiều khi là ứng tác ngẫu hứng tại chỗ. Chapây Chomriêng còn dùng trong tế lễ hoặc đệm hát múa Aday.

Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây của người Khmer.
Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây của người Khmer.

Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây của người Khmer tỉnh Trà Vinh

(Kim Dung)

Trong kho tàng âm nhạc truyền thống của dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nghệ thuật Chầm riêng Chà Pây đây là một loại hình nghệ thuật trình diễn độc xướng, đàn và hát dân gian, có nguồn gốc từ rất lâu đời từng được phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng hiện nay, Nghệ thuật Chầm riêng Chà pây đang bị mai một dần.

Theo tiếng Khmer, “Chầm riêng” có nghĩa là hát, “Chà pây” là tên gọi của một loại đàn, được dùng để đệm sau mỗi đoạn hát. Cả cụm từ “Chầm riêng Chà Pây” có nghĩa là “đàn ca” hay “ca kể chuyện”. Ngoài ra, loại nhạc cụ này còn được dùng trong nhạc lễ, nhạc cưới và cúng tế thần (gọi là “Chà pây đơn vênh”) hoặc được sử dụng để đệm cho hát múa “À day” đối đáp (song ca nam nữ đối đáp). Khi chơi, nghệ nhân thường dựa vào các tích truyện để ứng tác thành những đoạn thơ, chủ yếu thể thơ 4 câu, mỗi câu 7 chữ để hát. Cũng có khi Chầm riêng Chà pây không dựa vào tích truyện nào mà chỉ hát lên những khổ thơ do người nghệ nhân ứng tác tại chỗ, mô tả hiện thực cuộc sống hay thể hiện tâm trạng, mong ước của con người, mang nhiều ý nghĩa giáo dục. Chính vì vậy, ngoài một số bài bản cơ bản, nghệ thuật này phát triển rất đa dạng về nội dung và phong cách thể hiện, có thể trình diễn ở rất nhiều không gian khác nhau, ở mọi nơi, mọi lúc.

Một số bài bản cơ bản gồm: Phát chây, Phát chây cớt, Som phôn, Som phôn cớt, Ang kô reach chơn prây srâyAng kô reach chơn prây rốs.

Chà pây là một loại nhạc khí có nguồn gốc lâu đời từ Ấn Độ. Hộp đàn có nhiều kiểu dáng: thang cân, tứ giác, hình lá bồ đề, hình trái cây, gần giống đàn đáy của người Việt, nhưng thùng đàn to hơn và cần đàn dài hơn, có khi tới 120cm, với 12 phím đàn theo hệ thang âm ngũ cung. Cấu tạo của cần đàn dài như vậy đòi hỏi người chơi phải có kỹ thuật điêu luyện. Chà pây có âm trầm, ấm, sâu lắng, hợp với thể loại âm nhạc tự sự, tình cảm êm đềm.

Trước khi biểu diễn, nghệ nhân Chầm riêng Chà pây thực hiện nghi thức cúng Tổ. Trong nhà nghệ nhân không lập ban thờ tổ nghề, nhưng trước khi thực hành, nghệ nhân bao giờ cũng theo truyền thống, làm lễ cúng Tổ nghề – người đã sáng tạo ra loại hình nghệ thuật này và đã truyền dạy lại cho mình để tỏ lòng biết ơn và cầu linh hồn các Tổ nghề phù hộ cho minh trình diễn tốt. Lễ cúng thực hiện trong nhà, gồm 03 mâm để đầy các vật cúng gồm: cây bông, một đoạn thân cây chuối để trầu cau, đàn cây, nhang, một mảnh vải trắng, 01 cuộn chỉ đỏ, 01 chén gạo, 01 nải chuối, 01 đĩa thịt heo luộc, 01 đĩa trà, bánh, trái cây, bình trà và 02 chai rượu.

Chầm riêng Chà pây là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian độc đáo của người Khmer ở Trà Vinh, thể hiện sự sáng tạo của con người và có khả năng thích ứng với hoàn cảnh đương đại. Tuy nhiên, do đặc tính truyền miệng mà số lượng nghệ nhân Chầm riêng Chà pây từ trước tới nay không nhiều. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ hiện nay có nhiều loại hình vui chơi, giải trí để lựa chọn, đôi khi có tư tưởng coi thường hoặc không thích học/thưởng thức nghệ thuật truyền thống, nhất là với loại hình nghệ thuật đòi hỏi cao như Chầm riêng Chà pây. Những nguyên nhân trên dẫn đến nguy cơ mai một cao, thậm chí mất hẳn loại hình nghệ thuật này – Theo kết quả điều tra gần đây của Bảo tàng Trà Vinh, trong tỉnh hiện chỉ còn duy nhất nghệ nhân Thạch Mâu (sinh năm 1934) ở ấp Chông Bát, xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú là người nắm giữ và có khả năng trình diễn, ứng tác trong Nghệ thuật Chầm riêng Chà pây và một người con trai của ông có theo học nhưng trình độ còn khá hạn chế. Để bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật này, các cơ quan chức năng ở địa phương đã có kế hoạch phối hợp với ngành giáo dục ở địa phương tăng cường công tác giáo dục thẩm mỹ và khuyến khích tình yêu nghệ thuật dân tộc nói chung, Nghệ thuật Chầm riêng Chà pây nói riêng cho học sinh trong trường phổ thông ở tỉnh Trà Vinh; có kế hoạch đầu tư kinh phí tuyển chọn những người có năng khiếu để nghệ nhân truyền dạy; tổ chức những cuộc thi tìm hiểu về loại hình nghệ thuật độc đáo này để nâng cao hiểu biết và ý thức trách nhiệm trong việc duy trì, bảo tồn và phát huy giá trị…

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc sắc của loại hình nghệ thuật này, năm 2013, Nghệ thuật Chầm riêng Chà pây được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian.

oOo

Độc đáo nhạc cụ dân tộc Khmer:

 

Diễn tấu đàn Tà Khê bắt đầu ở phút 1:20 và phút 6:31:

 

Nhạc Ngũ Âm (Khmer Traditional Music):

 

Đàn Chà Pây (ChaPây) Chom Riêng:

 

Đàn Truô so:

 

Đàn Truô Nguôk:

 

Đàn Khưm Tôch:

 

Đàn Rôneat Thung:

 

Đàn Rôneat Đek:

 

Chhưng:

 

Kôông Vông Thum:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s