Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Sán Chay

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Raglai, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Sán Chay hôm nay.

Dân tộc Sán Chay có tên gọi khác là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận. Tiếng nói của họ thuộc Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410 người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh:

Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam)
Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam)
Bắc Giang (25.821 người)
Quảng Ninh (13.786 người)
Yên Bái (8.461 người)
Cao Bằng (7.058 người)
Đắk Lắk (5.220 người)
Lạng Sơn (4.384 người)
Phú Thọ (3.294 người)
Vĩnh Phúc (1.611 người).

Tộc Sán Chay từ Trung Hoa di cư sang VN cách đây khoảng 400 năm. Họ làm ruộng nước là chính, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng. Làng xóm thường tập trung một vài chục gia đình, sống gắn kết bên nhau. Là một dân tộc sớm tiếp thu nền văn minh cây lúa nước, người Sán Chay thường chọn những nơi có địa thế thấp, có thung lũng bằng để khai khẩn đất hoang thành ruộng bậc thang gieo trồng cây lúa. Bên cạnh cánh đồng là đồi núi thấp để phát nương làm rẫy trồng ngô, lúa cạn, rau quả, bông dệt vải…kết hợp với săn bắt thú rừng, hái rau lượm quả. Hiện nay vẫn còn những bản làng Cao Lan vừa có những cánh đồng nhỏ vừa có nương rẫy trên đồi. Trước đây chỉ làm ruộng nương một vụ mùa, sau làm hai vụ lúa ruộng nhưng một số nơi hiện nay đã thâm canh tới 3 vụ lương thực. Với hai hình thức định canh và du canh nên đồng bào có các loại nông cụ thích hợp.

Sầm Xuân Ngọc Ánh, dân tộc Sán Chay (Tuyên Quang), trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.
Sầm Xuân Ngọc Ánh, tộc Sán Chay (Tuyên Quang).

Về tín ngưỡng dân gian mỗi dòng họ người Sán Chay thờ một thần Bảo gia riêng lấy trong thập bát tú hoặc tứ linh theo quan niệm đạo Phật như họ Trần thờ Ngọc Hoàng, họ Hoàng thờ Nam Hoa, họ Lâm thờ Quan âm Bồ tát, họ Lý thờ Huyền Đế vv… cộng với việc thờ thần nước… một số họ còn thờ thần Nông, thần Bếp lửa và thần bà Mụ bảo mệnh cho con trẻ.

Vào ngày hội đình, hội xuân, tết nguyên đán… người Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nỗi như: đánh quay, “trồng cây chuối”, “vặn rau cải”, tung còn…Nhà cửa: Nói là nhà Cao Lan, nhưng đây chỉ là của một nhóm nhỏ ở Sơn Động – Hà Bắc. Nhà của người Cao Lan ở các địa phương khác cũng như nhà của người Sán Chỉ có nhiều nét gần với nhà Tày – Nùng. Riêng nhóm Cao Lan ở Sơn Động nhà cửa của họ có những nét rất độc đáo: nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.

Bộ khung nhà với vì kèo kết cấu đơn giản nhưng rất vững chắc. Có hai kiểu nhà là: “nhà trâu đực” và “nhà trâu cái”. Nhà trâu cái vì kèo bốn cột. Nhà trâu đực vì kèo ba cột. Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt giữa nhà trâu cái và trâu đực đều có những nét tương tự như vậy là để phân biệt nhà trâu cái và nhà trâu đực chỉ là ở vì kèo khác nhau.

Sầm Xuân Ngọc Ánh, tộc Sán Chay (Tuyên Quang), trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.
Sầm Xuân Ngọc Ánh, tộc Sán Chay (Tuyên Quang), trong một kỳ thi Hoa Hậu Dân Tộc.

Người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Sán Chay. Người Cao Lan có tiếng nói gần giống tiếng Tày.

Tộc Sán Chay có nhiều họ, mỗi họ chia ra các chi. Từng họ có thể có một điểm riêng biệt về tập tục. Mỗi họ thờ “hương hỏa” một thần linh nhất định. Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà. Tuy nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng.

Về trang phục hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống người Kinh hoặc người Tày. Thường ngày phụ nữ Sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng. Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau.

Trong hôn nhân, người Sán Chay rất coi trọng vai trò của người làm mối.
Trong hôn nhân, người Sán Chay rất coi trọng vai trò của người làm mối.

Về kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian cũng rất phong phú và đa dạng. Chỉ riêng phần hát ví dân gian gọi là “Sình ca” hay “Sướng cọ” đã có tới hàng chục tập sách hát được ghi chép lại bằng chữ Nôm Cao Lan. Mỗi tập sách là một chương trình riêng gọi là “Đêm hát thứ nhất cho đến đêm hát thứ mười mấy”. Họ còn truyền lại là “Slam sớp lộc di xinh mù cồng” ba mươi sáu đêm hát không hết. Những đêm hát này là chương trình hát đối giao duyên nam nữ bắt buộc. Bên nam phải hát dẫn và đọc cho bên nữ hát đối theo. Mỗi đêm hát như vậy thâu đêm đến sáng. Họ thường xen vào những bài hát ướm hỏi giao duyên tùy theo mức độ tình cảm của đôi trai gái. Nếu gặp đôi trai tài, gái giỏi có thể hát ví với nhau vài đêm và hát với nhau nhiều lần đến khi tình yêu chín muồi sau đó báo cáo với cha mẹ xin được làm lễ ăn hỏi và tiến tới tới hôn nhân. Trong thực tế số đôi yêu nhau trong hát ví ít khi được thành vợ chồng, song vẫn đem lòng yêu nhau suốt đời… nên dân tộc này tôn thờ một nữ thánh thơ ca gọi là “Sệch ca làu Slam”. Mỗi cuộc hát ví ngày xuân đều có chương hát “Slệch làu Slam” – thỉnh mời nữ thánh thần nghệ thuật này về chứng giám và nhập hồn vào người sống để có trí thông minh trong đối đáp lời ca.

Tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ. Đặc biệt Sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay vẫn giữ được đến nay gồm có:

Múa trống (Tang sành)
Múa chày
Múa “Păng Loòng” (cơm mới)
Múa xúc tép
Múa chim gâu
Múa đâm cá
Múa thắp đèn…

Điệu “Múa xúc tép” đã đi tham dự liên hoan ca múa nhạc dân tộc toàn quốc và giành huy chương Bạc. Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại:

Thanh la
Não bạt
Trống
Chuông
Kèn…

Dưới đây mình có các bài:

– Thơ ca dân gian Sán Chay – Nguồn di sản văn học dân gian độc đáo
– Dân ca Cao Lan
– Khám phá nét văn hóa độc đáo của dân tộc Cao Lan
– Trống sành – Nhạc cụ tiêu biểu của dân tộc Cao Lan
– Ngày hội Soóng cọ truyền thống của người Sán Chay, Quảng Ninh
– Hát Sình ca – nét văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chay
– Độc đáo nghi thức “Múa tắc xình” của người Sán Chay
– Độc đáo Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay, Phú Thọ
– Lễ Cầu an dân tộc Sán Chay, Yên Bái
– Độc đáo lễ hội xuống đồng của dân tộc Cao Lan
– Lễ cấp sắc của người Sán Chay ở Cao Bằng
– Nét đẹp trang phục truyền thống phụ nữ Sán Chay, Cao Bằng
– Ngôi nhà trâu đực, trâu cái của người Sán Chay

Cùng với 6 clips tổng thể văn hóa tộc Sán Chay để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & YBGOV)

Thơ ca dân gian Sán Chay.
Thơ ca dân gian Sán Chay.

Thơ ca dân gian Sán Chay – Nguồn di sản văn học dân gian độc đáo

(TH-Cinet-DTV)

Dân tộc Sán Chay có truyền thống văn hoá phong phú và đặc sắc từ lâu đời. Trong đó, phải kể đến nền văn học dân gian, đặc biệt là mảng thơ ca.

Dân tộc Sán Chay sống tập trung ở vùng Đông bắc Tổ quốc chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang… có truyền thống văn hoá phong phú và đặc sắc từ lâu đời. Trong đó, phải kể đến nền văn học dân gian, đặc biệt là mảng thơ ca. Thơ ca dân gian Sán Chay phong phú về thể loại như tục ngữ, ca dao, câu đố, xình ca, đồng dao, hát ru… được hình thành và phát triển trong môi trường diễn xướng, lao động và văn hoá xã hội của đồng bào, nên có những đặc điểm hết sức độc đáo so với các dân tộc thiểu số khác.

Nói đến thơ ca dân gian Sán Chay, trước hết phải nói đến những bài hát ru. Hát ru của người Sán Chay giàu cảm xúc, ca ngợi tình cảm giữa con người với con người, với quê hương đất nước, sớm bồi đắp cho trẻ những tình cảm đẹp. Khác với người Kinh, hát ru của người Sán Chay không phải là những bài ca, câu ca ngắn mà là những bài hát dài, có kết cấu của một bài dân ca. Lời thơ, nhịp thơ tự do với làn điệu đằm thắm du dương, ru em bé vào giấc ngủ say nồng. Mở đầu thường là cụm từ “Ú núng nờn…” tương tự như “À ơi em ngủ cho ngoan” trong hát ru của dân tộc Kinh.

Cũng như các dân tộc khác, người Sán Chay yêu cuộc sống, yêu quê hương bản làng, yêu núi rừng, yêu ruộng nương… Họ biết lao động để làm cho cuộc sống của mình ngày càng ấm no, biết động viên con cháu chăm lo học tập, hăng say lao động sản xuất để xây dựng quê hương ngày một đẹp giàu. Đó là những nét đẹp văn hoá mà người Sán Chay rất tự hào. Nét đẹp văn hóa ấy được thể hiện rất đầy đủ và rõ nét trong các làn điệu Xình ca dân gian.

Xình ca là một thể loại dân ca trữ tình – một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống phong phú và hấp dẫn có từ lâu đời của người Sán Chay. Đó là lối hát đối đáp giao duyên nam nữ trong các dịp lễ tết, hội xuân, trong lao động sản xuất, những lúc nông nhàn, những đêm trăng sáng…gần giống như hát ví, hát trống quân, hát quan họ của người Kinh, hát Sli, Lượn của đồng bào Tày, hát Gầu plềnh của đồng bào Mông… Đồng bào từ già đến trẻ ai cũng say mê hát, bởi nó không chỉ bao gồm những bài hát giao duyên nam nữ mà còn là những bài hát ca ngợi sản xuất, thiên nhiên, phụng thổ công, thần nông… Ngoài ra, dân tộc Sán Chay còn có vốn câu đố, thành ngữ, tục ngữ, những bài hát đồng dao… khá phong phú.

Có thể nói, thơ ca dân gian Sán Chay rất phong phú về nội dung thể loại cũng như các hình thức thể hiện. Bên cạnh những đặc điểm chung của truyền thống thơ ca dân gian, thơ ca dân gian Sán Chay có những nét riêng độc đáo. Sự phong phú và độc đáo của nó không thua kém bất cứ nền thơ ca dân gian của dân tộc nào. Nảy sinh và tồn tại trong môi trường diễn xướng nên thơ ca dân gian Sán Chay gắn liền với đời sống của đồng bào. Và với họ, thơ ca dân gian đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Trong ý thức của người Sán Chay, nghệ thuật không chỉ góp phần làm tăng niềm vui, thắt chặt tình hữu ái giữa con người với con người, mà còn gắn liền với khát vọng chinh phục thế giới thiên nhiên, làm đẹp cuộc đời.

Thơ ca dân gian Sán Chay là một nguồn di sản tinh thần có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của đồng bào. Nó phong phú về nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Việc sưu tầm, dịch thuật, đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu các giá trị nội dung, nghệ thuật của văn học dân gian Sán Chay nói chung và thơ ca dân gian Sán Chay nói riêng là một vấn đề cần được các nhà nghiên cứu và những người có tâm huyết quan tâm.

Dân ca Cao Lan.
Dân ca Cao Lan.

Dân ca Cao Lan

Dân ca Cao Lan hay Sịnh ca Cao Lan thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian của người Cao Lan ở xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Từ bao đời nay, Dân ca Cao Lan được lưu truyền trong cộng đồng dân tộc Cao Lan như một sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu.

Từ người già đến thanh niên, trẻ nhỏ, ai cũng say mê Sịnh ca, bởi nó không chỉ là những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn là những bài hát ca ngợi sản xuất, hát “phụng” Thổ công và Thần Nông, hát mừng nhà mới, hát ru con, hát đố, hát ghẹo… Qua những làn điệu dân ca này, người Cao Lan có thể gửi gắm những tâm tư, tình cảm với nhau, những ước mơ, nguyện vọng của người lao động với thiên nhiên và thần linh… Mỗi khi có dịp gặp nhau, người Cao Lan hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làng bản. Những lúc lao động vất vả, mệt nhọc, họ thường cất lên tiếng hát ca ngợi tinh thần lao động, cầu chúc những vụ mùa tươi tốt. Khi trai gái làm quen hay bén duyên nhau, họ hát những làn điệu dân ca để ngỏ ý giao duyên và hẹn ước…

Ngoài những bài được truyền lại, người Cao Lan còn có thể hát ngẫu hứng, sáng tạo ra những bài dân ca mới, phản ánh cuộc sống của người dân, ca ngợi Đảng, Nhà nước và Bác Hồ. Phần lời của Dân ca Cao Lan thường là những bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Bốn câu thành một bài, mỗi câu 7 chữ. Một số trường hợp câu thứ nhất chỉ có 3 hay 4 chữ, nên 4 câu chỉ có 24 đến 25 chữ. Do vậy, khi hát người ta phải dùng lời láy để ngân nga. Bố cục của một cụm ca thường gồm hai bài, nhưng cũng có trường hợp một bài hoặc nhiều bài. Tuy vậy, trong mỗi cụm ca thường có phần đầu giống nhau, diễn tả về một sự việc, câu hỏi, lời chào, còn phần giữa và phần kết lại có nội dung khác nhau.

Về cơ bản, Dân ca Cao Lan bao gồm các thể loại:

Sịnh ca Thsăn lèn (mừng năm mới): là những bài hát để mừng năm mới, chúc tụng nhau đủ đầy, hạnh phúc, nhà nhà vui vẻ.

Sịnh ca Thsao bạo (đối giao duyên): là những bài hát phổ biến nhất và được nhiều người Cao Lan ưa thích. Hát đối đáp, giao duyên có từ xa xưa và được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán. Có thể coi đây là một trong những thể loại văn học dân gian cần được bảo tồn và gìn giữ. Các điệu hát đối đáp, giao duyên này phần lớn được các thanh niên nam nữ hát với nhau và được truyền lại qua nhiều thế hệ. Nội dung những bài ca này thường là mượn cảnh thiên nhiên để trao đổi, tâm tình với nhau, hỏi thăm gia cảnh của nhau. Họ mượn lời hát để gửi gắm yêu thương, nhớ nhung hay trách móc, giận hờn để sau cuộc hát lại gần nhau hơn. Những cuộc hát giao duyên giữa thanh niên nam nữ có thể kéo dài nhiều đêm với đề tài tình yêu đôi lứa và ước vọng xây dựng một cuộc sống chung hạnh phúc.

Sịnh ca Kên láu (hát đám cưới): là thể loại hát vui nhộn và phong phú về số lượng bài. Người Cao Lan hát Sịnh ca Kên láu trong suốt những ngày diễn ra lễ cưới. Thường khi đến nhà gái, đoàn đón dâu của nhà trai phải hát thì nhà gái mới cho vào nhà. Từ khi đi đón dâu đến lúc đưa dâu về nhà chồng, phải trải qua ít nhất hai đêm hát.

Sịnh ca Tò tan (hát đố): gồm những bài hát được truyền lại và một số bài mới do người Cao Lan sáng tạo ra hàng ngày để đố nhau rồi tự giải nghĩa. Đây cũng thuộc loại hát vui, đầy tính sáng tạo ngẫu hứng, đòi hỏi người hát phải thuộc những bài cổ để trên cơ sở đó sáng tạo những bài mới.

Dân ca Cao Lan được hát ở hầu khắp mọi nơi, như trong nhà, ngoài đường, ở chợ, trên đồi, trong rừng hay trên nương rẫy… Nếu như có bạn hát là người làng khác đến chơi thì bao giờ chủ cũng hát trước, khách hát sau. Đó là những bài hát hỏi thăm gia cảnh, gia đình, quê hương….

Đối với hát làm quen, giao duyên, địa điểm hát thường là một nhà nào đó trong làng. Cả chủ và khách, họ bắt đầu từ những bài hát hỏi, chào mừng lẫn nhau; khi quen hơn, họ hát đối đáp; khi đã hiểu về nhau, họ mượn những bài tả cảnh để nói với nhau về tình. Những cuộc hát như vậy thường từ chiều hôm trước tới lúc gà gáy hôm sau. Sáng hôm sau, họ tiếp tục ra đường hát và từ lúc này, người ta có thể sáng tạo thêm các bài để hát chơi, trêu ghẹo nhau, gọi làSịnh ca ý. Khi cuộc hát đã tàn, một bên nửa muốn về, nửa muốn ở lại; một bên lại muốn níu giữ nên cứ dùng dằng kẻ ở người về, lưu luyến, nhớ nhung…

Dân ca Cao Lan là sinh hoạt văn hóa đặc sắc được các thế hệ người Cao Lan kế thừa và lưu truyền từ nhiều đời nay. Trong tiềm thức của mỗi người dân Cao Lan đều có ý thức tự hào về lịch sử và văn hoá dân tộc mình, nên họ cùng nhau đoàn kết để gìn giữ và bảo vệ. Dân ca Cao Lan được lưu truyền hết sức tự nhiên và giản dị, bởi nó không bị lệ, luật ràng buộc chặt chẽ, cũng không bị lệ thuộc vào không gian hay thời gian thể hiện. Đơn giản, đó chỉ là những cuộc hát trong gia đình khi năm mới đến, hát chúc mừng khách đến chơi, hát giao duyên trong đám cưới, hát kể về công lao cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng, hát đối đáp khi lao động, hát giao duyên, hay ngày nay là ca ngợi Đảng và Bác trong các không gian rộng mở…, thể hiện muôn mặt đời sống văn hóa, tinh thần, các phong tục tập quán của người Cao Lan.

Dân ca Cao Lan còn là sinh hoạt tinh thần giúp gắn kết cộng đồng. Khi hát, người ta quên hết khó khăn, vất vả của cuộc sống thường ngày, quên đi mọi hiềm khích mà chỉ còn ở đó tiếng hát với tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, động viên nhau lao động và vui sống…, vì thế mà con người trở nên gần gũi, yêu thương nhau hơn.

Trước xu thế hội nhập, phát triển trong cuộc sống hiện đại, đời sống văn hoá, xã hội và tinh thần của người Cao Lan cũng có nhiều biến đổi. Dân ca Cao Lan đang bị mai một do thế hệ trẻ không còn say mê như trước. Hơn nữa, đa số những bài Sịnh ca được ghi chép bằng chữ Hán, nên chỉ có những người biết chữ Hán mới đọc được. Lớp người trung niên và mới lớn không biết chữ Hán thì không hiểu về nội dung của những câu hát, mặc dù họ vẫn hát kiểu “thuộc lòng”. Đây là những trở ngại đối với việc truyền dạy và lưu giữ di sản đặc sắc này của người Cao Lan.

Với nỗ lực bảo tồn và phát huy di sản Dân ca Cao Lan, Bảo tàng Bắc Giang đã tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật, xuất bản một số bài dân ca Cao Lan. Tháng 12 năm 2012, Dân ca Cao Lan đã được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, khẳng định thêm về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian cần được bảo tồn và phát huy này.

sc3

Khám phá nét văn hóa độc đáo của dân tộc Cao Lan

(Mễ Thuận)

Cao Lan là một trong số các dân tộc khá ít người nên không mấy khi được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc này không hề nghèo nàn. Trong đó, sình ca và trống sành có thể nói là những đỉnh cao văn hóa mà qua đó cho thấy dân tộc này một bề dầy văn hóa, cần được bảo tồn và phát huy.

NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA SÌNH CA

Dân tộc Cao Lan tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đông Bắc như Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang… Chẳng hạn tại làng Mãn Hoá, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) là nơi có đến 100% dân số là dân tộc Cao Lan. Đời sống văn hoá của người Cao Lan rất phong phú, nhiều phong tục tập quán đặc sắc. Trong số đó, làn điệu sình ca là một trong các loại hình sinh hoạt văn hóa của người Cao Lan đã được lưu truyền từ nhiều thế hệ trong các hoạt động văn hóa cộng đồng.

Sình ca của người Cao Lan thường được hát nhiều nhất khi mùa xuân về. Bởi đấy là lúc hoa cỏ khoe sắc, đất trời giao hòa, chim muông kết đôi xây tổ ấm… khiến tâm tư các nam thanh nữ tú ở tuổi trưởng thành cũng không khỏi xao động. Họ tìm đến với nhau thông qua làn điệu sình ca mượt mà và tha thiết. Những ca từ của sình ca được sáng tác từ các thế hệ cha ông, đồng thời cũng được bổ sung liên tục bởi các thế hệ trẻ. Cho nên, lời ca hết sức phong phú, đa dạng. Từ đó giúp các nam thanh nữ tú người Cao Lan có thể dùng lời ca, tiếng hát tỏ bày những cung bậc tình cảm trong tim mình, phù hợp với từng giai đoạn từ tìm hiểu cho đến lúc yêu đương.

Hầu hết những lời ca đều được người Cao Lan các thế hệ trước thuộc lòng. Và hiện nay, những người lớn tuổi luôn ý thức được nhiệm vụ gìn giữ, lưu truyền như một “báu vật” cho con cháu.

Trong các buổi hát giao duyên, trong các lần gặp gỡ đầu tiên nơi hội hè, tuy còn nhiều ngại ngùng bỡ ngỡ, song người con trai Cao Lan luôn biết chủ động làm quen các bạn gái vốn còn rụt rè hơn. Họ hát rằng:

Anh thì ở xa
Hôm nay đến đây
Gặp em, không biết em đã có người tình hay chưa
Nếu có người tình rồi thì chúc cho em đẹp duyên đôi lứa
Nếu chưa có người tình thì đừng có trách anh

Người con gái trong các buổi gặp gỡ, hội hè này dĩ nhiên là những cô gái chưa có gia đình. Họ khôn khéo dùng những ngôn từ, những hình ảnh chứa đựng những chân lý mộc mạc như chính tâm hồn và trái tim chân thành của mình để đưa vào câu hát đối da diết lòng kẻ muốn nghe:

Người yêu chưa có anh ơi
Quẳng dao xuống nước cho đời chứng minh
Dao nổi thì em bạc tình
Dao chìm dưới đáy tình này trắng trong

Dao ném xuống nước có bao giờ nổi đâu? Câu hát ấy dĩ nhiên thể hiện ý cô gái muốn nói rằng anh hãy tin chứ đừng nghi ngờ sự trắng trong của người con gái. Họ bắt đầu tin tưởng lẫn nhau từ sau đêm hát giao duyên ấy. Và sau nhiều đêm hội hát đối giao duyên, họ bắt đầu yêu nhau. Tất cả tình cảm đôi lứa đều được giãi bày thông qua những lời hát của làn điệu sình ca ngọt ngào. Thường, tình yêu đôi lứa của dân tộc Cao Lan giản dị mà sâu lắng như chính những lời ca chân chất mà đượm tình cảm. Họ sẽ sống chung thuỷ với nhau suốt cuộc đời.

Bên cạnh những lời hát ca ngợi tình yêu trai gái, thì những lời hát ca ngợi tình yêu quê hương, tình yêu con người cũng được người Cao Lan chú trọng lưu giữ. Chúng như những mạch nước ngầm chảy mãi, góp phần làm dịu mát tâm hồn bao nông dân lao động khổ cực một nắng hai sương qua nhiều thế hệ:

Trăng sáng núi ngàn mùi hương rừng
Toả khắp bản làng vùng sâu xa
Bản làng đổi mới vui ca hát
Điện thắp sáng trưng soi bóng đêm
Xoá tan nghèo đói thêm cái chữ
Nâng cao kiến thức lòng sáng ngời.

TRỐNG SÀNH – NHẠC CỤ ĐỈNH CAO

Ngoài sình ca, dân tộc Cao Lan còn có các loại hình nghệ thuật khác như múa cờ, múa kiếm, múa trống với các tiết mục tiêu biểu như: Múa chim gâu, Múa xúc tép, Múa tam nguyên, Múa khai đao phát lộ… Bên cạnh đó là các hoạt động văn hóa tín ngưỡng khác như lễ cầu mưa, cầu mùa, cầu may, cầu mát… Và trong tất cả các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng đó, trống sành là một thứ nhạc cụ tiêu biểu không thể thiếu. Nó sẽ được sử dụng để đánh đệm trong hầu hết các hoạt động văn hóa này.

Điểm đặc biệt, là thân trống sành của người Cao Lan không làm bằng gỗ mà làm từ đất nung. Chính vì lý do này mà các bước làm trống sành phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, đòi hỏi bàn tay thợ đúc trống nhiều kỹ thuật khó. Chẳng hạn, đất sét sau khi lấy về được trộn thêm nước vừa đủ để nhào cho nhuyễn, mịn, rồi được đưa lên bàn quay thực hiện công đoạn tạo dáng thân trống. Trống sau khi tạo dáng sẽ được để khô rồi đưa vào lò nung.

Ngày xưa, người Cao Lan đào một hầm đất, có thể chứa được nhiều thân trống, dùng củi núi đá đốt liên tục trong một tuần thì trống được ra lò. Thân trống sành khi ra lò phải đạt mức không phải là gốm mà chuyển sang sành. Do đó mới có tên gọi là trống sành. Tiếp đó thân trống sẽ được tráng một lớp men để tạo độ bền, bóng, mịn. Công đoạn cuối cùng là làm mặt trống. Người con trai Cao Lan vốn khéo tay, lại cầu kỳ trong thẩm mỹ nên họ không làm mặt trống bằng da trâu như bình thường. Họ chọn da kỳ đà hoặc da trăn làm mặt trống, vừa đẹp lại bền.

Người Cao Lan phân biệt hai cách đánh trống khác nhau. Nếu là lễ cúng, người đánh trống sẽ ngồi để trống vào hai cổ chân rồi đánh. Với những lễ hội vui vẻ như mừng lúa mới, những lễ hội nhảy múa… người đánh trống lại dùng dây vải buộc hai đầu trống đeo lên cổ đến tầm ngang bụng. Một chú ý với người sử dụng trống là trước khi đi diễn, họ cần ngâm trống sành vào nước 1- 2 ngày để da mặt trống căng. Như thế âm hưởng phát ra khi đánh trống sẽ thêm phần âm vang, có hồn.

Điều đáng tiếc là hiện nay số người thuộc và hát được sình ca không còn phổ biến như trước kia. Trong khi trống sành còn lại cũng không phải nhiều. Do vậy, với người Cao Lan, trong quá trình phát triển và hội nhập, rất cần chú ý đến vấn đề bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình.

Ông Hoàng Tiến Đồng và chiếc trống sành.  (Ảnh LQH)
Ông Hoàng Tiến Đồng và chiếc trống sành. (Ảnh LQH)

Trống sành – Nhạc cụ tiêu biểu của dân tộc Cao Lan

(Lê Quang Hòa)

Giống như cây khèn của dân tộc Mông, đàn tính tẩu của dân tộc Tày, trống sành là nhạc cụ tiêu biểu của đồng bào dân tộc Cao Lan. Ở tỉnh ta hiện nay trống sành không còn nhiều.

Theo Trung tâm Văn hoá -Thông tin – Thể thao huyện Yên Sơn, số trống sành trong huyện có thể đếm trên đầu ngón tay, trong đó có một chiếc của ông Hoàng Tiến Đồng, 65 tuổi, dân tộc Cao Lan ở thôn Song Lĩnh, xã Lưỡng Vượng.

Men theo con đường nhỏ qua đình Song Lĩnh, xã Lưỡng Vượng, chúng tôi đến ngôi nhà sàn ba gian lợp lá cọ mang phong cách dân tộc Cao Lan của ông Hoàng Tiến Đồng. Ông Đồng cho biết, chiếc trống sành ông đang dùng là do ông cụ thân sinh để lại. Ông bảo, hiện nay nhiều người nhầm tưởng đánh trống sành là để hát sình ca. Chính xác, trống sành là nhạc cụ quan trọng để thực hiện các bài cúng thần linh, làm lễ cầu mưa, cầu mùa, cầu may, cầu mát. Ngoài ra, trống sành còn được đánh đệm cho các điệu múa của dân tộc Cao Lan trong ngày hội với các tiết mục tiêu biểu như: “Múa chim gâu”, “Múa xúc tép”, “Múa tam nguyên”, “Múa khai đao phát lộ”…

Khác với thân trống trận làm bằng gỗ, thân trống sành được làm từ đất nung. Ông Hoàng Tiến Đồng cho biết, trước kia bố ông thường đi tìm chỗ nào có đất sét tốt lấy về làm thân trống. Đất sét sau khi lấy về được trộn thêm nước đảo nhiễn, mịn, rồi cho lên bàn quay thực hiện công đoạn tạo dáng. Thân trống thường có chiều dài khoảng 40 cm, đường kính mặt trống to 25 cm, mặt trống nhỏ 16 cm, độ dày vỏ trống 5 – 8 mm, hai đầu trống hình viên trụ, thắt eo ở giữa. Thông nhau giữa hai đầu khoang trống qua đoạn thắt eo ở giữa là một lỗ bằng quả trứng gà. Thoạt nhìn thân trống sành đơn giản, nhưng làm đúng kỹ thuật không dễ chút nào. Hai đầu mặt trống to, nhỏ khi đánh âm thanh chạy qua lỗ thắt eo tạo ra sự trầm bổng khác nhau. Sau khi thân trống được tạo dáng để khô mới đưa vào lò nung. Các cụ ngày xưa thường đào một hầm đất, có thể chứa được 4-5 thân trống, dùng củi núi đá đốt liên tục trong một tuần mới ra lò. Thân trống sành ra lò không phải là gốm mà chuyển sang sành mới đạt, tiếp đó tráng một lớp men để tạo độ bền, bóng, mịn cho trống sành.

Công đoạn tiếp theo là làm mặt trống. Mặt trống sành không làm bằng da trâu mà là da kỳ đà hoặc da trăn. Tốt nhất vẫn là da kỳ đà. Các loại da này tươi nguyên được mang đi thuộc, rồi căng, khâu viền chặt lên vòng tròn sắt theo kích thước của mặt trống, trùm sâu vào thân trống khoảng 2-3 cm. Quanh mặt trống tạo các móc sắt, dùng dây thừng nhỏ ngoắc vào đan chéo dọc thân trống để giữ hai mặt trống ốp vào thân trống sành luôn được căng. Đoạn dây thừng còn thừa quay ngang cuốn xung quanh phần thắt ngẫng ở giữa tạo độ căng thêm cho hai mặt trống.

Đánh trống sành có hai cách, nếu cúng, người ta ngồi để trống vào hai cổ chân rồi đánh; còn khi nhảy múa, dùng dây vải buộc hai đầu trống treo vào cổ đến tầm ngang bụng. Mặt trống to được đánh trực tiếp bằng 4 đầu ngón tay chụm lại, mặt nhỏ dùng que nứa có lưng đánh hơi cong tạo độ nẩy trên mặt trống. Trước khi đi diễn, người ta thường ngâm trống sành vào nước 1- 2 ngày, tạo da mặt trống căng, âm hưởng đánh ra kêu vang, có hồn. Mặt da trống sành làm đúng quy cách có thể sử dụng trong 20 năm mới phải thay cái mới.

Thôn Song Lĩnh, xã Lưỡng Vượng có nhiều đồng bào Cao Lan sinh sống lâu đời, nhưng rất tiếc hiện nay không còn ai biết làm trống sành. Ông Hoàng Tiến Đồng chỉ biết chơi trống và làm phần căng da trống, chứ thân trống bằng sành ông cũng chưa từng làm, bởi đã có trống sành của ông cụ để lại.

Trước vấn đề cần bảo tồn nhạc cụ dân tộc thiểu số quý này, mấy năm gần đây anh Hoàng Quang Thế, Giám đốc Trung tâm Văn hoá – Thông tin – Thể thao huyện Yên Sơn liên tục mời ông Đồng đem tiết mục đặc sắc của mình biểu diễn tại các Liên hoan văn hoá văn nghệ do huyện tổ chức. Năm 2007 huyện cũng mời ông biểu diễn tiết mục “Múa chim gâu” ở đình làng Giếng Tanh của người Cao Lan (xã Kim Phú, Yên Sơn). Bà Trần Thị Lạc, dân tộc Cao Lan ở thôn Đồng Rôm, xã Nhữ Hán (Yên Sơn) – người đã đi Hội làng Giếng Tanh cho biết: “Nghe tiếng trống sành quen thuộc thêm yêu quý, tự hào về bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Tiếng trống sành của dân tộc Cao Lan có nét riêng, nó rất thiêng liêng trong các bài cúng và có sức cuốn hút lòng người ghê gớm trong các lễ hội. Rất mong các cơ quan chức năng có biện pháp giúp chúng tôi giữ gìn nét văn hoá trống sành để không chỉ có con cháu của người Cao Lan, mà các dân tộc anh em khác cũng biết được nét văn hoá độc đáo này”.

Biết được trống sành là một nhạc cụ quý của dân tộc Cao Lan, năm 2003 một đoàn làm phim của Nhật Bản đã đến nhà ông Hoàng Tiến Đồng dựng phim về nét văn hoá trống sành. Một số nhà nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng lên tìm hiểu về văn hoá trống sành tại gia đình. Ông Đồng nói, tuổi ông đã cao, ông đang truyền lại kỹ thuật căng da mặt trống, đánh trống cho mấy cậu con trai, kẻo sau này nét văn hoá của dân tộc bị mai một. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay ngoài Yên Sơn,một số huyện khác trong tỉnh vẫn còn một số trống sành nữa đang cần được nghiên cứu, bảo tồn.

Hội Soóng cọ của người Sán Chay được tổ chức vào ngày 16/3 (Âm lịch) hàng năm.
Hội Soóng cọ của người Sán Chay được tổ chức vào ngày 16/3 (Âm lịch) hàng năm.

Ngày hội Soóng cọ truyền thống của người Sán Chay, Quảng Ninh

(TH-Cinet-DTV)

Hàng năm cứ vào ngày 16 tháng 3 (Âm lịch), người Sán Chay ở một số vùng lân cận lại rủ nhau về xã Húc Động (huyện Bình Liêu, Quảng Ninh) để tham gia Lễ hội hát Soóng Cọ lớn nhất trong năm của họ.

Là huyện vùng cao, biên giới, đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Ninh, Bình Liêu có hơn 95 % người dân tộc thiểu số sinh sống. Mặc dù, còn hạn chế về điều kiện vật chất so với vùng thành thị, đồng bằng của tỉnh, song nhân dân các dân tộc nơi đây vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tiến bộ của mỗi tộc người. Điển hình như dân tộc Sán Chay. Tuy tộc người Sán Chay chỉ có số dân đứng thứ ba toàn huyện, sau tộc người Tày và tộc người Dao nhưng họ có phong tục tập quán đặc sắc, trong đó có tập quán tổ chức “shặm nhịt hụi”- Hội Soóng cọ vào ngày 16/3 (Âm lịch) hàng năm.

Đông đảo bà con về dự Hội.
Đông đảo bà con về dự Hội.

“Soóng cọ” theo tiếng Sán Chay nghĩa là “xướng ca”, “hát đối”, “hát giao duyên”. Khác với các kiểu hát đối, hát giao duyên của các tộc người khác, Soóng cọ của tộc người Sán Chay ở Bình Liêu có những đặc điểm rất đặc biệt: Hội được ấn định tổ chức vào một ngày duy nhất trong năm, ngày trăng tròn của tháng cuối xuân, khi tiết trời trở nên ấm áp, cũng là lúc nông nhàn; Hội Soóng cọ xưa chỉ dành cho người đã trưởng thành, trẻ em không được phép đến dự, bởi mục đích chính khi tổ chức là để “cải thiện tình yêu” đối với những cặp vợ chồng thiếu hạnh phúc trong cuộc sống; là ngày “hiến tế tình yêu” đối với những người yêu nhau say đắm mà không cưới được nhau…

Thuở trước, chuyện hôn nhân đôi lứa chủ yếu là do bậc sinh thành định đoạt: “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, nên đã xảy ra những chuyện tình ngang trái: “Yêu nhau không lấy được nhau/ Bây giờ cách biệt để sầu đôi nơi”. Đối với một số tộc người dân tộc thiểu số, nhiều khi cha mẹ gả bán con từ năm 12-13 tuổi, vợ thường nhiều hơn chồng năm, bảy tuổi hoặc hơn thế. Nhà trai cưới dâu về, trước là để lấy người làm việc nhà, nương rẫy, ruộng đồng, sau là sinh con đẻ cháu… Tộc người Sán Chay cũng chịu ảnh hưởng tập tục hôn nhân lạc hậu đó. Nhiều cặp vợ chồng ăn ở với nhau, gọi là vợ chồng nhưng không có tình yêu.

Tổ chức trò chơi trong Ngày Hội.
Tổ chức trò chơi trong Ngày Hội.

Xuất phát từ sự khát khao yêu thương trong cảnh ấy, người Sán Chay xưa đã tự tổ chức ra một ngày gọi là Shặm nhịt hụi- Hội Soóng cọ. Sẵn có vốn dân ca của dân tộc mình, người Sán Chay ứng tác thành lời ca, tiếng hát nói nên cảm xúc, tâm trạng và suy nghĩ của mình và đem hát trong ngày Hội tháng Ba để tìm người tâm đầu ý hợp kết thành tình nhân. Đến hội năm sau, họ lại gặp nhau trong ngày Hội và chỉ trong những ngày hội đó, họ mới được thoải mái hát ca, tâm tình, ở bên nhau mà không bị cười chê.

Nguyên tắc bất thành văn của “shặm nhịt hụi” là: Không cho trẻ em tham gia trong ngày hội; Để tránh kết tình với người cùng huyết thống, cùng dòng họ và tránh việc không kìm chế được cung bậc tình cảm mà phá vỡ quy định của luật tục, Shặm nhịt hụi cấm kỵ việc hát với người cùng làng, cùng bản, cùng vùng; Sau khi giã hội (Hội kết thúc), ai về nhà nấy, không được tơ vương, tự ý hẹn hò, không được can thiệp vào đời sống gia đình riêng của nhau gây mất hạnh phúc, dẫn đến tan nát, đổ vỡ gia đình của bên kia. Nếu vi phạm các nguyên tắc trên thì cả hai người (được quen thân nhau trong ngày hội đó) sẽ bị con ma làng làm hại, bị hai họ phế truất ra khỏi dòng họ, bị cả làng, bản, xã chê cười…

Hát Soóng Cọ là hình thức sinh hoạt văn hóa có tính cộng đồng rất cao, thường được tiến hành trong dịp lễ hội, kết hợp với các trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, chơi đu, đan phên gánh mạ, đẽo đòn gánh… Khi hát, người hát sử dụng ngôn ngữ địa phương và trang phục truyền thống không chỉ tạo được nét văn hóa đặc trưng mà còn góp phần truyền bá ngôn ngữ, khuyến khích mọi người tìm hiểu những cái hay, những cái đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc mình.

Hát Sình ca – nét văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chay.
Hát Sình ca – nét văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chay.

Hát Sình ca – nét văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chay

(TQ-DTV)

Đến vùng đất Yên Bái nơi có bà con dân tộc Sán Chay sinh sống vào dịp mùa xuân về bạn sẽ được thưởng thức nàn điệu hát Sình ca nổi tiếng.

Đồng bào Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò vè, tục ngữ, ngạn ngữ… Đặc biệt nhất phải kể đến lối hát Sình ca – là hình thức sinh hoạt phong phú hấp dẫn; là nét đẹp văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hóa của người Sán Chay. Lời hát Sình ca trang nhã, tình tứ và thường dựa vào cảnh sinh hoạt hàng ngày để nói lên nỗi lòng, tâm sự.

Nói đến Sình ca là nói đến một thể loại dân ca trữ tình với lời hát đối đáp giao duyên, lời hát có từng chương, trai gái hát đối nhau hết chương này nối sang chương khác, lời hát đối đáp mộc mạc của các chàng trai cô gái Sán Chay cứ say sưa kéo dài hết đoạn này đến đoạn khác.

Hát đối là sự thể hiện thông minh và dí dỏm của Sình ca Sán Chay.
Hát đối là sự thể hiện thông minh và dí dỏm của Sình ca Sán Chay.

Hiện có tới hàng chục tập sách hát Sình ca được ghi chép lại bằng chữ Nôm Cao Lan. Mỗi tập sách là một chương trình riêng gọi là “Đêm hát thứ nhất cho đến đêm hát thứ mười mấy”. Họ còn truyền lại là “Slam sớp lộc di xinh mù cồng” ba mươi sáu đêm hát không hết. Những đêm hát này là chương trình hát đối giao duyên nam nữ bắt buộc. Bên nam phải hát dẫn và đọc cho bên nữ hát đối theo. Mỗi đêm hát như vậy thâu đêm đến sáng. Họ thường xen vào những bài hát ướm hỏi giao duyên tùy theo mức độ tình cảm của đôi trai gái. Nếu gặp đôi trai tài, gái giỏi có thể hát ví với nhau vài đêm và hát với nhau nhiều lần đến khi tình yêu chín muồi sau đó báo cáo với cha mẹ xin được làm lễ ăn hỏi và tiến tới tới hôn nhân. Trong thực tế số đôi yêu nhau trong hát ví ít khi được thành vợ chồng, song vẫn đem lòng yêu nhau suốt đời… nên dân tộc này tôn thờ một nữ thánh thơ ca gọi là “Sệch ca làu Slam”. Mỗi cuộc hát ví ngày xuân đều có chương hát “Slệch làu Slam” – thỉnh mời nữ thánh thần nghệ thuật này về chứng giám và nhập hồn vào người sống để có trí thông minh trong đối đáp lời ca.

Thiếu nữ Sán Chay.
Thiếu nữ Sán Chay.

Tương truyền, người sáng tạo ra bài hát này là nàng Sệch ca làu Slam. Sệch ca làu Slam là người có tiếng hát trong như tiếng chim. Trong ngày hội xuân Sệch ca làu Slam đã hát Sình ca với chàng Dừn đến nỗi “Con nộc cau (tên tiếng Sán Chay của một loài chim) bảy đêm đi tìm mồi, vẫn nghe tiếng hát hai người“. Họ tiếp tục hẹn nhau tới hội sau “Ta lại cùng nhau tung còn hát ví”…

Ngày nay, trai gái Sán Chay đến với nhau để thổ lộ tâm tình không chỉ qua những đêm hát mà họ còn hát với nhau ở trên đồi núi, ruộng đồng, góp phần xua đi những mệt mỏi vất vả sau mỗi vụ mùa.

Khi hát Sình ca, đồng bào sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình kết hợp cùng trang phục truyền thống. Chính sự kết hợp hài hòa này đã tạo nên nét văn hóa riêng của người Sán Chay.

Những cuốn sách cổ quý giá về điệu hát Sình ca được ông Sầm Dừn cất giữ cẩn thận.
Những cuốn sách cổ quý giá về điệu hát Sình ca được ông Sầm Dừn cất giữ cẩn thận.

Người nặng lòng với Sình ca

(PV)

Những nếp nhà sàn truyền thống, gắn bó với người Cao Lan từ bao đời nay đang dần mất đi, nhường chỗ cho những ngôi nhà bê tông xa lạ. Những bộ trang phục dân tộc nền nã, chứa đựng nét tài hoa và sự cần mẫn của người phụ nữ Cao Lan đang trở thành dĩ vãng, chỉ những ông già, bà lão mới sử dụng, còn nam nữ thanh niên bây giờ chỉ thích mặc quần bò, áo phông, những trang phục xuất xứ từ phương tây và nghe nhạc’’rock’’nhạc ‘’pop’’. Sình ca, một’’báu vật’’, tài sản vô giá của dân tộc Cao Lan cũng đang bị mai một. May thay, giữa vòng xoáy nghiệt ngã ấy, người Cao Lan ở Đại Phú còn có Sầm Dừn và các nghệ nhân văn hóa dân gian, những người đã dành cả cuộc đời để sưu tầm và gìn giữ điệu hát của dân tộc mình.

Theo người già kể lại, sình ca được hát trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, trong khi vui, khi buồn. Nhưng được hát nhiều nhất là vào mùa xuân, khi những cành đào, cành mơ trong vườn mởn mơ khoe sắc, khi nam thanh, nữ tú đến với nhau để ngỏ lời yêu thương. Khi ấy, những câu hát sình ca mộc mạc thủa nào bỗng trở lên bay bổng, bởi chứa đựng trong đó là những lời ca dịu ngọt của tình yêu đôi lứa, là tình cảm gắn bó với quê hương, bản làng. Vào ngày xuân, khi làng mở hội, các cô gái Cao Lan dịu dàng, e lệ trong những bộ trang phục dân tộc, cặp mắt long lanh, đôi má ửng hồng, đẹp như những bông hoa rừng tỏa ngát hương thơm, khiến đám trai làng ngây ngất. Giữa không khí rạo rực của mùa xuân và trước vẻ đẹp mê hồn của các cô sơn nữ, đám trai làng như được thăng hoa trong tiếng hát sình ca. Những giọng hát trầm bổng của đám trai làng vang xa giữa đồi núi, thổi vào tận đáy lòng, lay động trái tim của bao sơn nữ.

Hát đối là sự thể hiện thông minh và dí dỏm của Sình ca Cao lan.
Hát đối là sự thể hiện thông minh và dí dỏm của Sình ca Cao lan.

“Anh thì ở xa
Hôm nay đến đây
Gặp em, không biết em đã có người tình hay chưa
Nếu có người tình rồi thì chúc cho em đẹp đôi duyên lứa
Nếu chưa có người tình thì đừng có trách anh..”

Trước ánh mắt nồng nàn và sự thăm dò tế nhị qua câu hát của người con trai, cô gái đã bầy tỏ lòng mình.

“Người yêu chưa có anh ơi
Quăng dao xuống nước cho đời chứng minh
Dao nổi, thì em bạc tình
Dao chìm dưới đáy, tình này trắng trong..”

Như cởi mở tấm lòng, người con trai đã thể hiện tình yêu mãnh liệt của mình.

“Đã định ăn gừng thì không sợ cay
Đã định lội sông, không có thuyền vẫn lội
Đã yêu em rồi, nhà không có tiền, anh bán ruộng vì em.”

sc_Sầm Dừn1

Không biết đã có bao nhiêu chàng trai, cô gái Cao Lan yêu nhau, đến với nhau, thành vợ, thành chồng qua đêm hát giao duyên thơ mộng, giản dị mà sâu lắng đầy ắp trữ tình ấy.

Sình ca là lời trò chuyện tâm tình, là tiếng lòng, tiếng hát giao duyên của dân tộc Cao Lan, là sự lắng đọng tâm hồn qua nhiều thế hệ. Những âm sắc dạt dào, độc đáo, tinh tuý của sình ca còn được thăng hoa qua sự biểu diễn của mỗi nghệ sỹ, nghệ nhân.

Sình ca trường tồn theo năm tháng, không chỉ bởi các tiết tấu sâu lắng, những lời ca dịu ngọt, đằm thắm, mà thấm đậm trong đó là tình yêu quê hương, đất nước và da diết tình yêu đôi lứa.. Nhưng khác với hát then, hát cọi của dân tộc Tày, hát Páo dung của dân tộc Dao, hát sình ca không có nhạc phụ họa mà chỉ hát xướng, nhưng với âm điệu thiết tha, sâu lắng, mê hoặc lòng người, sình ca đã cuốn hút bao thế hệ người Cao Lan. Hơn nữa, với lối hát đối đáp trực tiếp, bên cạnh việc trao gửi tâm tình, sình ca còn thể hiện sự thông minh, dí dỏm, sự nhanh trí của người hát.

Sinh ra và lớn lên trong một vùng quê giàu bản sắc văn hóa và trong một gia đình có bề dày hoạt động văn nghệ dân gian, nên ông Sầm Dừn đã thừa hưởng và ngấm sâu vào gan ruột sự tinh túy, đặc sắc của sình ca. Cha ông, cụ Sầm Văn, thời trẻ là một nghệ nhân hát sình ca tài hoa nổi tiếng khắp vùng. Không chỉ giỏi hát, ý thức sình ca là trí tuệ, là tài sản vô giá của dân tộc mình, tiếp nối truyền thống gia đình, cụ Sầm Văn đã dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm, lưu giữ, ghi lại các câu hát sình ca vào sách để truyền lại cho đời sau.

sc_Sầm Dừn2

Những cuốn sách cổ quý giá được xếp ở một góc nhà sàn, màu sách đã ố vàng, phủ đầy dấu tích của thời gian. Để có những trang văn tự viết tay như thế, các bậc tiền bối của nhiều đời họ Sầm đã bao đêm chong đèn, mài mực, trịnh trọng ghi lại phong tục, tập quán và những câu hát, điệu múa của dân tộc Cao Lan để truyền lại cho hậu thế. Đến đời mình, ông Sầm Dừn đã cất công sưu tầm, chỉnh lý và biên soạn được khá nhiều câu hát sình ca. Đã ngoài 60, giọng hát không còn trong trẻo, ngân vang nhưng ngọn lửa nhiệt thành với sình ca dường như vẫn còn nguyên vẹn. Trước sự thờ ơ, sao lãng của lớp trẻ với sình ca, lo lắng về ngày nào đó, điệu hát của dân tộc Cao Lan có thể bị thất truyền, ông đã dành cả cuộc đời để sưu tầm và gìn giữ điệu hát của dân tộc. Vì vậy, sình ca đối với ông dường như vẫn còn luôn tươi mới, vẫn chảy bỏng trong ông nỗi khát khao được đặt chân đến các miền quê, nơi có đồng bào dân tộc Cao Lan sinh sống để sưu tầm những câu hát mới, góp phần làm giàu thêm, làm phong phú thêm kho tàng sình ca, vốn tài sản đặc sản của dân tộc mình.

Bằng tâm huyết và nỗi khát khao gìn giữ, phát huy giá trị đặc sắc của sình ca, ông Sầm Dừn đã vận động được nhiều thanh niên Cao Lan học hát và cùng ông đi biểu diễn ở nhiều nơi. Nhưng thật buồn, là cho đến nay, ông chưa nhìn thấy sự say mê, tha thiết, trải lòng với những câu sình ca, một trong những biểu tượng trí tuệ của dân tộc Cao Lan. Mà sự say mê lại là yếu tố quan trọng nhất khi hát sình ca. Có lẽ, do cuộc sống hiện đại cuốn đi, cái chất say mê trong những câu hát cứ nhạt nhòa dần.

Không có chất giọng ngọt ngào, sâu lắng, mê đắm lòng người và vũ điệu đánh trống điệu nghệ như cha mình, nhưng anh Sầm Văn Đạo, người con trai út của ông Sầm Dừn đã được thừa hưởng được cái sự đam mê sình ca mãnh liệt của nhà họ Sầm. Được cha hết lòng dạy dỗ, giờ đây anh Đạo biết được khá nhiều câu hát sình ca và trở thành người trợ thủ đắc lực của cha trong những chuyến đi sưu tầm và biểu diễn sình ca.

Với chiêc trống sành gia truyền, không biết Sầm Văn Đạo là người đàn ông đời thứ bao nhiêu của dòng họ Sầm đã vỗ bàn tay tài hoa của mình, thả hồn lên 2 mặt trống. Chỉ biết, lòng đam mê nghệ thuật của anh, đã lôi cuốn được nhiều nam nữ thanh niên vào trong quỹ đạo của sình ca..

Ông luôn mong muốn truyền lại vốn tài sản cho con, cháu của dân tộc mình.
Ông luôn mong muốn truyền lại vốn tài sản cho con, cháu của dân tộc mình.

Dựa trên các cuốn sách cổ của cha ông và nhờ sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Sầm Dừn đã dần khôi phục các điệu múa, câu hát đã bị thất truyền của dân tộc Cao Lan. Những điệu múa, câu hát này hàm chứa cả khía cạnh tâm linh lẫn sinh hoạt văn hóa đời thường như múa cầu lành, múa hội lồng tồng, múa khai lộ, múa khai đèn … Là ông bầu của một đội văn nghệ đồng quê, Sàm Dừn đã hết lòng truyền lại ngọn lửa tình yêu tha thiết với sình ca cho lớp trẻ và hướng dẫn các diễn viên nghiệp dư của thôn hát sình ca và thực hiện các loại hình nghệ thuật khác của dân tộc Cao Lan như múa cờ, múa kiếm, múa trống…Những tiết mục đặc sắc, mang đậm âm hưởng của dân ca Cao Lan này đã đạt các giải cao trong các kỳ hội diễn của của huyện, của tỉnh và của Trung ương. Năm 2002, tác phẩm’’Khai Đèn’’ của ông đoạt huy chương vàng khi tham gia biểu diễn tại Quảng Ninh. Năm 2004, với tác phẩm múa hát’’Khai Lộ’’ do ông dàn dựng, đội văn nghệ thôn Mãn Hóa lại giành một huy chương vàng nữa khi tham gia liên hoan văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc tại tỉnh Cao Bằng, trở thành niềm tự hào cho đồng bào dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang.

Một trong những đặc trưng của văn hóa là bản sắc dân tộc. Từ điều kiện tự nhiên, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau mà hình thành tập quán canh tác, phong tục, ứng xử mang sắc thái riêng. Là một tỉnh miền núi có 22 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, phong phú, đậm đà bẳn sắc. Những năm qua, Tuyên Quang đã chú trọng khôi phục các lễ hội truyền thống ở địa phương và các giá trị văn hóa phi vật thể như hát then, hát cọi của dân tộc Tày, hát Páo dung của dân tộc Dao, hát soọng cô của dân tộc Sán Dìu, hát sình ca của dân tộc Cao Lan…Tỉnh đã chú trọng phát triển các đội văn nghệ quần chúng ở cơ sở, trong đó đặc biệt quan tâm đến vai trò đầu tầu của các nghệ nhân. Những người biết rõ về cội nguồn và nặng lòng gắn bó với bản sắc văn hóa dân tộc, ngày đêm âm thầm miệt mài gìn giữ, truyền dạy cho thê hệ trẻ những tinh hoa của dân tộc mình. Ông Sầm Dừn là một trong những nghệ nhân như thế.

Nằm ở phía nam huyện Sơn Dương, xã Đại Phú có gần 11 nghìn người, với trên 70% là đồng bào dân tộc Cao Lan. Nhằm bảo tồn, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa của Sình ca, một tài sản vô giá của dân tộc Cao lan, để hát Sình ca trở thành phong trào sinh hoạt văn hóa thường xuyên ở địa phương. Những năm qua, xã Đại Phú đã quan tâm, tạo mọi điều kiện để duy trì và phát triển các đội văn nghệ quần chúng ở các thôn bản. Bởi các loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian truyền thống trong cộng đồng thôn, bản chính là điều kiện, môi trường thuận lợi để thực hiện công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa ở cơ sở. Qua đó, vừa phát huy được vốn di sản văn hóa dân gian lại vừa nâng cao được đời sống văn hóa ở địa phương một cách thiết thực nhất. Từ nhận thức này, cấp ủy, chính quyền xã Đại Phú đã có những chủ trương, định hướng phù hợp với đặc thù văn hóa truyền thống của địa phương. Thông qua xã hội hóa phong trào hát sình ca, dưới vai trò dẫn dắc của các nghệ nhân, đã từng bước khôi phục và phát triển phong trào hát sình ca trở thành không gian văn hóa truyền thống bao trùm mọi nơi, mọi chỗ để bà con được thể hiện niềm say mê của mình trong bầu không khí văn hóa dân gian. Chính từ đây, sự đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa tình làng, nghĩa xóm và các giá trị đạo đức truyền thống đã được bồi đắp bền vững hơn.

Mặc dù đã có công lớn trong việc sưu tầm, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa của sình ca, một vốn quý trong đời sống văn hóa của dân tộc Cao Lan và đã cùng đội văn nghệ thôn đoạt được nhiều giải thưởng trong các kỳ hội diễn của Trung ương và địa phương. Hơn nữa, năm 2010 ông Sầm Dừn đã vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về những công lao trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nhưng cho đến nay, ông vẫn chưa được công nhận là nghệ nhân, một danh hiệu mà không chỉ riêng ông mà cả đồng bào dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang đều mong mỏi.

Múa tắc xình là một điệu múa của người Sán Chay.
Múa tắc xình là một điệu múa của người Sán Chay.

Độc đáo nghi thức “Múa tắc xình” của người Sán Chay

Múa tắc xình là một hoạt động tín ngưỡng truyền thống nhằm tạ ơn trời đất, thần linh đã cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm và cầu mong sự che chở trong mùa vụ tiếp theo.

Múa tắc xình hay còn gọi là múa cầu mùa, là một điệu múa tập thể của người Sán Chay diễn ra trong lễ hội cầu mùa mỗi dịp xuân về. Điệu múa này phổ biến ở các xã như Tức Tranh, Yên Lạc, Phú Đô… thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Sở dĩ múa tắc xình được gọi là điệu múa tập thể bởi cả người diễn, người xem và nhạc công đều cùng tham gia nhảy múa trong một vòng tròn, không hạn chế về số lượng. Đồng thời, người múa cũng có thể là một nhạc công.

Múa tắc xình là một điệu múa của người Sán Chay Để chuẩn bị múa tắc xình, người Sán Chay thường đào sâu xuống đất khoảng 60 cm, đáy rộng khoảng 50-60 cm, phía trên rộng 20 cm. Tiếp theo, họ lấy vỏ cây gỗ treo bịt lên trên miệng hố, lấy dây rừng căng dài trên mặt đất, rồi dùng một nhánh cây nhỏ chống dây cho thật căng miệng trống. Sau đó, người nhạc công gõ vào dây là đã tạo ra được những âm thanh rất đặc trưng, lúc trầm, lúc bổng, lúc khoan lúc nhặt giữ nhịp cho điệu nhảy.

Công đoạn chuẩn bị cho điệu múa tắc xình.
Công đoạn chuẩn bị cho điệu múa tắc xình.

Múa Tắc xình có chín điệu cơ bản gồm: Thăm đường, lập làng, bắt quyết, mài dao, phát nương dọn rẫy, tra mố, hái lượm, mừng mùa vụ và chim câu. Ngày 16/10/2014, “Múa Tắc xình của người Sán Chay” đã chính thức được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Trước đó, năm 2013, trong Liên hoan Dân ca – Dân vũ Việt Nam, vũ điệu “Múa Tắc xình” của huyện Phú Lương đã giành giải A toàn quốc.

Múa tắc xình được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Múa tắc xình được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

 

Dụng cụ tạo âm thanh trong múa tắc xình.
Dụng cụ tạo âm thanh trong múa tắc xình.

 

Xôi ngũ sắc, loại xôi truyền thống được sử dụng để cúng trong lễ cầu mùa của người Sán Chí ở Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Xôi ngũ sắc, loại xôi truyền thống được sử dụng để cúng trong lễ cầu mùa của người Sán Chí ở Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

 

Người Sán Chay làm bánh chim câu, bánh sừng bò, trong lễ cầu mùa.
Người Sán Chay làm bánh chim câu, bánh sừng bò, trong lễ cầu mùa.

 

Các thiếu nữ đội lễ lên đình thổ công trong ngày Lễ Cầu Mùa.
Các thiếu nữ đội lễ lên đình thổ công trong ngày Lễ Cầu Mùa.

Bên cạnh việc thể hiện ước nguyện của con người, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn loài sinh sôi, cầu cho bản làng bình yên, hạnh phúc, múa tắc xình còn thể hiện đạo lý nhớ ơn tổ tiên, mối quan hệ thế hệ trước và thế hệ sau, thắp lên niềm tin, khát vọng chinh phục thiên nhiên của người dân lao động.

Chủ lễ thực hiện nghi lễ Cầu Mùa.
Chủ lễ thực hiện nghi lễ Cầu Mùa.

Độc đáo Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay, Phú Thọ

(TH-Cinet-DTV)

Lễ Cầu mùa là hình thức sinh hoạt tâm linh để bà con Sán Chay gửi gắm những ước mong về những mùa ngô, lúa tốt tươi, muôn loài được sinh sôi nảy nở, mưa thuận gió hòa và cuộc sống an lành, ấm no hạnh phúc.

Là một trong số 21 dân tộc anh em cùng sinh tụ lâu đời trên mảnh đất Phú Thọ. Với số dân khoảng gần 3000 người, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở các huyện: Đoan Hùng, Yên Lập, Thanh Sơn, người Sán Chay có những phong tục, tập quán riêng mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa dân gian, thông qua việc tổ chức các lễ hội. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn bó với làng bản như một thành tố không thể thiếu trong nhu cầu tâm linh của con người.

Điệu múa “Chim gâu” mô phỏng quá trình lao động.
Điệu múa “Chim gâu” mô phỏng quá trình lao động.

Trong năm, đồng bào Sán Chay có rất nhiều lễ tết (Tết Nguyên đán, Tết Rằm tháng bảy, Tết gọi hồn trâu bò…). Trong đó, Lễ hội cầu mùa của người Sán Chay là một trong những lễ hội quan trọng, thường được diễn ra trước hoặc sau tết Nguyên đán hàng năm.

Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ: để chuyển bị cho lễ cúng, cần phải chuyển bị các lễ vật gồm có: xôi, thủ lợn, hương hoa, đèn nến, rượu, nước, trầu cau, ngũ quả, lúa và các vật dụng khác. Sau đó, chủ tế cùng dân làng làm lễ cầu mùa dâng Tam vị đại vương Cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, phong đăng hòa cốc – vật thịnh nhân khang. Cầu mong thần linh, vua Hùng cùng tổ tiên phù hộ cho trăm họ an khang, con cháu dài lũ, đông đàn, thịnh vượng, người người khỏe mạnh, nhà nhà hạnh phúc.

Thể hiện những bài hát giao duyên trong lễ hội.
Thể hiện những bài hát giao duyên trong lễ hội.

Bên cạnh các nghi lễ tôn vinh, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này hấp dẫn nhất là phần thể hiện những bài hát giao duyên, các điệu múa cổ độc đáo như: “Chim gâu”, “Súc tép”, “Tắc xình” hay những điệu múa Trống, múa Đâm cá… là các động tác mô phỏng động tác lao động sản xuất trong sinh hoạt hằng ngày của đồng bào với mong muốn một cuộc sống bình yên, no đủ.

Lễ hội cầu mùa khép lại, đồng bào Sán Chay mời du khách cùng thưởng thức những món ăn đặc trưng của mình trong không khí tràn xuân mới, ấm áp, đoàn kết, để khi chia tay ai cũng phải lưu luyến, mong ngóng đến lễ hội năm sau.

Lễ hội cầu mùa đã trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc, làm phong phú đời sống tinh thần của cư dân nơi đây, góp phần phong phú đa dạng nền văn hóa Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

(ảnh

Thầy cúng đang làm lễ trong nghi lễ Cầu an của người Sán Chay.
Thầy cúng đang làm lễ trong nghi lễ Cầu an của người Sán Chay.

Lễ Cầu an dân tộc Sán Chay, Yên Bái

(TH-Cinet-DTV)

Cầu an là một trong những nghi lễ quan trọng của người Sán Chay (Yên Bái). Đó là hình thức sinh hoạt tâm linh, gửi gắm những ước mong để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi, mọi nhà ấm no hạnh phúc…

Người Sán Chay, xã Hoà Cuông (huyện Trấn Yên, Yên Bái) có những phong tục, tập quán riêng mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa dân gian, thông qua việc tổ chức các lễ hội. Nghi lễ Cầu an là một trong những nghi lễ quan trọng của dân tộc Sán Chay, nằm trong lễ hội hàng năm. Nghi lễ mang đậm dấu ấn văn hóa tín ngưỡng và giàu giá trị nhân văn.

Nghi lễ này thường được tổ chức vào tháng 6 Âm lịch hàng năm tại đình làng, nơi thờ tự Thành hoàng làng, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung của người dân trong làng. Nghi lễ gồm hai phần: phần lễ và phần hội.

Phần lễ là phần cúng với nghi thức lễ trang trọng, thể hiện lòng biết ơn của dân làng đối với Thành hoàng làng, cầu cho dân làng được ấm no, bình yên, hạnh phúc, mùa màng bội thu. Thầy mo chịu trách nhiệm thực hiện lễ cúng. Lễ vật cúng gồm: xôi, thủ lợn, gà, hương, đèn nến, hoa quả, rượu, gạo, trầu cau, bánh kẹo, khom lúa và các biểu tượng được cắt bằng giấy màu xanh và đỏ tượng trưng cho các đuôi lúa còn xanh và khi lúa đã chín đỏ cùng một vài vật dụng khác.

Lễ Cầu An.
Lễ Cầu An.

Tất cả đều được dân làng chuẩn bị từ hôm trước, riêng lợn và gà được mổ từ sớm hôm sau để được tươi ngon. Mâm lễ được chuẩn bị tươm tất gồm thủ lợn đã luộc chín, hai con gà luộc buộc cánh tiên, xôi ngũ sắc gói bằng lá chuối, rượu, trầu cau, bánh kẹo… 3 cụm lúa được cắt ở dưới ruộng từ hôm trước, các lá vàng giấy được gấp thành hình chiếc thuyền, tượng trưng cho chứa đựng mùa màng bội thu.

Khi giờ tốt đã đến, thầy cúng bắt đầu ngồi vào làm lễ. Nội dung bài lễ cúng nêu thời gian, địa điểm, tên người làm lễ cúng thay mặt dân làng có lễ vật, phẩm vật… với lòng thành kính, kính mời 4 vị thần: núi, sông, Thành hoàng làng và tổ tiên, tổ tông 3 đời về uống rượu xơi trầu, ăn xôi, ăn thịt, phù hộ cho dân làng, cầu cho dân làng được ấm no, bình yên, hạnh phúc, mùa màng bội thu… Sau đó, thầy mo mời 3 cụ cao niên trong thôn lên rót rượu kính 3 vái thần núi, thần sông, Thành hoàng làng và tổ tiên. Sau khi đã làm xong phần lễ, thầy cúng xin âm dương và làm thủ tục hóa vàng. Tất cả vật phẩm bằng giấy như tiền vàng, biểu tượng con vật và bông lúa được thầy cúng hóa trong một chiếc chậu và khấn gửi thần núi, thần sông, Thành hoàng làng và tổ tiên chứng giám.

Phần hội trong nghi lễ Cầu an của dân tộc Sán Chay thu hút đông đảo người dân tham gia với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: đu quay, kéo co, đẩy gậy… đặc biệt là phần hát đối đáp, gọi là hát Xình ca. Các điệu múa trong ngày này cũng được các nghệ nhân, nam, nữ thanh niên mang ra trình diễn như: múa chim gâu, múa xúc tép, múa phát đường, múa chày, múa cơm mới… Các động tác múa mô phỏng động tác lao động, sản xuất trong sinh hoạt hàng ngày của đồng bào, mong muốn một cuộc sống bình yên, no đủ… Phần hội có thể kéo dài một hoặc hai ngày là do quy mô tổ chức của địa phương.

Nghi lễ Cầu an của dân tộc Sán Chay (Yên Bái) là nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang đậm yếu tố phản ánh về cội nguồn, diện mạo văn hóa tinh thần của người Sán Chay, là môi trường lưu giữ một cách sống động các giá trị văn hóa dân tộc, nhằm góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa phi vật thể trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Lễ hội Xuống Đồng.
Lễ hội Xuống Đồng.

Độc đáo lễ hội xuống đồng của dân tộc Cao Lan

(Đức Thi – Trung tâm Thông tin Nông nghiệp & PTNT)

Văn hóa lễ hội là phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của các dân tộc ở nước ta từ xa xưa đến nay, cứ mỗi dịp tết đến xuân về là các dân tộc, các vùng miền lại nô nức với các loại hình lễ hội của địa phương mình. Hòa chung với không khí đó từ ngày 10 đến 16 tháng giêng (âm lịch) người dân tộc Cao lan thuộc xã Quang Yên, huyện Sông Lô tưng bừng tổ chức lễ hôi Xuống Đồng (hay lễ hội Lồng Tồng). Đây là dịp bà con dân tộc Cao Lan sinh hoạt văn hoá cộng đồng, đồng thời cũng gửi gắm ước mong của dân làng cầu cho mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, ấm no và hạnh phúc.

Lễ hội Xuống đồng đã có từ bao đời nay và đã trở thành nét sinh hoạt cộng đồng đặc sắc của người Cao Lan nơi đây. Sau những ngày vui xuân đón tết, người Cao Lan lại tất bật chuẩn bị một mùa sản xuất mới, các thôn bản lại nhộn nhịp chuẩn bị tổ chức lễ hội Xuống đồng. Từ vài ngày trước lễ hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ chức họp bàn, phân công những công việc chính chuẩn bị cho ngày hội. Các thanh niên trai trẻ thì chuẩn bị trang phục, giầy dép, các thiếu nữ thì ríu rít rủ nhau ngồi khâu còn, đan yến (để đá cầu) và làm bánh, thức ăn phục vụ lễ hội, không khí lễ hội thật vui tươi, phấn khởi.

Mở đầu là phần lễ gồm có lễ dâng hương và trình lễ vật trước đền làng và cúng cầu mùa để cầu cho năm mới mưa thuận, gió hòa, cây cối tốt tươi, no ấm đến mọi nhà. Khi bài cúng chấm dứt, thầy cúng dẫn đầu đoàn người xuống đồng, giúp một thanh niên khỏe mạnh cày những đường cày đầu tiên mở đầu cho mùa sản xuất mới trước sự chứng kiến của dân làng và đông đảo người dân ở địa bàn lân cận, với sự hò reo tưng bừng của người dân xung quanh lễ hội.

Sau phần Lễ là phần Hội, người dân Cao Lan trình diễn các bài múa truyền thống của dân tộc mình để cầu mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, sau đó là những trò chơi quen thuộc của người dân như Xuống cấy, ném còn, kéo co, đu quay, bắn nỏ, đánh Yến.

Lễ hội xuống đồng là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện khát vọng của người dân trong sự hoà hợp trời đất, âm dương, cầu mong cho cuộc sống khoẻ mạnh, no đủ, vạn vật sinh sôi… Những trò chơi trong lễ hội thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú, gắn với thiên nhiên, gắn với những tập tục văn hoá lâu đời của cư dân lúa nước. Việc phục dựng lễ hội xuống đồng không chỉ góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa mà qua đó còn nâng cao ý thức của người dân trong việc tự gìn giữ, bảo vệ những di sản văn hóa của dân tộc mình../.

Lễ cấp sắc đánh dấu sự trưởng thành của đàn ông Sán Chay.
Lễ cấp sắc đánh dấu sự trưởng thành của đàn ông Sán Chay.

Lễ cấp sắc của người Sán Chay ở Cao Bằng

(TH-Cinet-DTV)

Lễ cấp sắc của người Sán Chay ở Cao Bằng là một loại hình sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng độc đáo, đánh dấu sự trưởng thành của một người đàn ông.

Theo quan niệm của người Sán Chay (Cao Bằng), người con trai từ 12 tuổi trở lên đều phải trải qua lễ cấp sắc hay còn được gọi là lễ Thuổm Cuổn, để chúng trưởng thành biết giúp cha mẹ lo chuyện làm ăn, đồng thời có tên âm khi về “thế giới bên kia.”

Trong thời gian tiến hành lễ cấp sắc, tất cả các thầy mo, thầy tào, gia chủ, mọi người đến dự lễ đều phải ăn chay, không sát sinh, không ăn mỡ động vật. Đặc biệt, người được cấp sắc phải cách ly ở riêng trên gác một mình, khi nào thầy mo thầy tào cho ăn mới được ăn, cho xuống làm lễ mới được xuống.

Lễ cấp sắc được tiến hành thâu đêm suốt sáng, cả ban ngày, qua hơn nhiều nghi thức lớn nhỏ khác nhau như: lễ dựng đàn Ngũ Đài, Đàn thờ trong nhà, lễ cúng Đàn Thìn Đành, lễ lên thăm Thiên Đình, lễ xin Thánh lấy pháp lực, lễ Giáng sinh, dâng lễ vật cho tổ sư, lễ khao làng…

Lễ vật cho lễ cấp sắc gồm 200kg gạo, 3 con lợn, mỗi con nặng từ 60kg trở lên, 100 lít rượu và 4 con gà luộc chín để cúng.

Lễ cấp sắc thường diễn ra trong 3 ngày:

Mở đầu lễ cấp sắc là tiếng Thanh la, tượng trưng cho mặt trời và tiếng Trống hiện thân của mặt trăng. Sau khi đã làm xong các nghi thức trong nhà, các thầy cầm hương trình lên đàn lễ xin cho người thụ lễ ra ngoài đàn Ngũ Đài để thực hiện lễ giáng sinh.

Đàn Ngũ Đài được lập ngoài trời, trên một khu đất rộng, làm bằng gỗ, cao hơn hai mét. Ngũ Đài tượng trưng cho lưng con rồng, người thụ lễ ngồi trên Đàn nghĩa là ngồi trên lưng rồng để giáng sinh xuống trần gian.

Người thụ lễ sau khi lên Ngũ Đài cần ngẩng đầu nhìn trời lần lượt xoay mình về các phía, sau đó ngồi xuống Ngũ Đài mặt quay về hướng Tây, lưng về hướng Đông. Ở bên dưới, người ta dùng dây rừng đan thành võng căng rộng ra như chiếc vó, đặt chiếu và tấm chăn mềm vào đó để khi trẻ rơi từ trên xuống tấm chăn là vật nâng đỡ và gói đứa trẻ lại thành bọc.

Thầy Tào và thầy Mo làm lễ cho người được cấp sắc.
Thầy Tào và thầy Mo làm lễ cho người được cấp sắc.

Sau khi thầy Tào và thầy Mo làm lễ xong, người thụ lễ đứng thẳng lên rồi ngồi co chụm lại cúi đầu, các ngón tay đan vào nhau, ngón tay cái giữ ngón chân cái, ngón tay phải giữ ngón chân phải, ngón tay trái giữ ngón chân trái.

Sau ba lần hô, người thụ lễ theo đó mà chụm chân lại và xoay người dần ra mép phía đông. Trong lúc đó, mọi người ở dưới cùng nhau trải võng và căng ra. Trên mặt võng trải tấm chăn. Chăn xếp phải để làm sao cho lúc người được thụ lễ rơi xuống thì chăn phải chụm lại phủ kín toàn bộ người rơi xuống trong võng.

Người thụ lễ rơi xuống võng liền được gói kín, tấm lưới bao bọc xung quanh như bào thai. Trống chiêng nổi liên hồi mừng người thụ lễ từ trên trời giáng sinh về với trần gian. Bát nước đặt trên gói võng được Thầy làm phép đổ đi rồi mở võng, mở bọc chăn ra.

Thầy sẽ xem các ngón tay, ngón chân xem có còn chụm sát vào nhau hay không. Sau đó, thầy cầm dấu đóng vào lưng hai bàn tay còn đan kết của người thụ lễ rồi gỡ mười ngón tay đan vào nhau ra.

Người thụ lễ được ngồi dậy, các thầy cầm mỗi thầy một bát cơm lần lượt bón cho người thụ lễ ăn. Điều này tượng trưng cho việc trẻ sinh ra được các thầy chăm sóc, tiếp đó các thầy lần lượt dùng kiếm chặt các mắt lưới của tấm võng.

Người thụ lễ sau khi giáng sinh được đưa về nhà để làm các nghi lễ khác như đội mũ áo cho người thụ lễ, lễ cấp quyền, lễ giao âm binh, lễ hướng dẫn người thụ lễ hành nghề, dâng lễ vật cho tổ sư, tạ ơn tổ tiên và các nghi thức hạ đàn.

Kết thúc lễ cấp sắc là lễ khao làng – đây cũng là một nghi thức rất độc đáo thể hiện cuộc sống cộng đồng đoàn kết của người Sán Chỉ. Các mâm cơm thịt được sắp ra, toàn thể nam giới từ nhỏ đến già ngồi quây quần xếp bằng trên sàn. Mọi người mời nhau ăn uống vui vẻ.

Trong lễ cấp sắc, bữa tối thứ nhất hành lễ và tối thứ hai là lễ khao làng, đối tượng của hai bữa này chủ yếu dành cho nam giới. Đến bữa trưa ngày thứ 3 sau khi kết thúc lễ, từ sáng nữ chủ nhà sẽ đến từng hộ trong làng mời phụ nữ đến ăn bữa trưa. Khi đi ăn cơm, các chị em mặc trang phục truyền thống với đầy đủ nữ trang… Bữa rượu kết thúc lễ được tổ chức vào tối hôm thứ ba.

Điều đặc biệt, trong nghi lễ cấp quyền, khi người thụ lễ đã trưởng thành có chức sắc, các thầy bắt đầu đọc cho người thụ lễ mười điều nguyện, mười lời thề và mười điều cấm như không được sống gian lận, khinh người, không được chửi mắng bố mẹ…Tất cả đều hướng cho người được cấp sắc sống đẹp, sống có ích cho xã hội.

Phụ nữ Sán Chay tự tay dệt vải may trang phục truyền thống.
Phụ nữ Sán Chay tự tay dệt vải may trang phục truyền thống.

Nét đẹp trang phục truyền thống phụ nữ Sán Chay, Cao Bằng

(Cinet-DTV)

Cùng với tiếng nói, trang phục là một di sản văn hóa truyền thống độc đáo mang đặc trưng riêng rất dễ nhận biết của dân tộc Sán Chay (Cao Bằng).

Cao Bằng hội tụ nhiều dân tộc thiểu số, như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chay… sinh sống. Góp phần gìn giữ bản sắc các dân tộc là những bộ trang phục truyền thống được khâu, may, thêu thùa rất tỷ mỉ mang giá trị thẩm mỹ cao, tạo nên vẻ đẹp độc đáo, đa sắc màu văn hóa Cao Bằng. Điều này được thể hiện rất rõ qua trang phục truyền thống của người phụ nữ Sán Chay ở xóm Khuổi Chủ, xã Thượng Hà (Bảo Lạc).

Dù cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Sán Chay nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng ở mỗi nếp nhà sàn nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào vẫn được lưu giữ và phát huy.

Trang phục thể hiện sự khéo léo, tinh tế và thế giới quan của người phụ nữ Sán Chay thông qua mỗi đường kim, mũi chỉ, mỗi hoa văn, họa tiết trên áo. Trong lúc nông nhàn, trên mỗi ngôi nhà sàn truyền thống, những người bà, người mẹ lại truyền dạy cho con cách dệt vải, đan áo.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Sán Chay (Cao Bằng).
Trang phục truyền thống của phụ nữ Sán Chay (Cao Bằng).

Người phụ nữ Sán Chay thường mặc váy chàm dài ngang cổ chân; áo đi theo cặp; áo trong thường do sở thích của từng người chọn kiểu và màu sắc, nhưng thường là áo sáng màu, áo ngoài là áo chàm có hai mảnh được khâu chéo sang bên phải, các mép áo được viền một dải màu đỏ, chiều dài áo ngang cùng với váy.

Mặc trang phục truyền thống của dân tộc, người phụ nữ Sán Chay phải vấn tóc, đội khăn màu đen viền bằng chỉ màu và kèm theo các phụ kiện như: vòng cổ, vòng tay bằng bạc. Vào những ngày lễ, tết, mỗi cô gái Sán Chay đều có từ 2 – 3 chiếc thắt lưng làm bằng lụa hoặc tơ chỉ, len với nhiều màu sắc khác nhau để thắt phù hợp với trang phục.

Trang phục truyền thống trước hết là sản phẩm vật chất của lao động, đồng thời nó cũng là sản phẩm văn hóa, là biểu hiện sinh động của kỹ thuật thủ công gắn liền với khả năng thẩm mỹ và nó luôn mang những sắc thái văn hóa độc đáo của các dân tộc. Mỗi dân tộc trong cộng đồng cư dân Cao Bằng có cách tạo hình trang trí và sử dụng trang phục theo những đặc điểm văn hóa riêng của mình. Đó là sự thể hiện một trình độ thẩm mỹ cao, một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện, chan hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Trang phục và những giá trị thẩm mỹ của nó đã góp phần đáng kể làm rạng rỡ thêm sắc thái văn hóa của các dân tộc ở đây.

Trang phục có thể được xem là tiềm năng du lịch chính là ở sự độc đáo và tính chất thủ công của nó. Đó cũng là nét quyến rũ của du lịch các vùng, miền. Để bảo tồn các giá trị cũng như tính độc đáo của trang phục, cần có những dự án đầu tư,hỗ trợ cho sản xuất các sản phẩm trang phục truyền thống.

Ngôi nhà của dân tộc Sán Chay tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh Thanh Huyền)
Ngôi nhà của dân tộc Sán Chay tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh Thanh Huyền)

Ngôi nhà trâu đực, trâu cái của người Sán Chay

(Trúc Thanh-LV)

Người Sán Chay có hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ cư trú ở các tỉnh miền núi, Trung du Bắc Bộ. Bà con sinh sống theo làng và mỗi gia đình đều có khuôn viên cùng với mảnh vườn sinh thái. Kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Sán Chay đến nay vẫn bền vững dẫu có một bộ phận chuyển sang sống nhà đất, hoặc cùng lúc vừa ở nhà sàn, vừa ở nhà đất.

Người Sán Chay cho biết, từ xa xưa tổ tiên họ đã ở nhà sàn với hai kiểu nhà trâu đực, trâu cái. Đây chính là nét độc đáo kiến trúc dân gian trong văn hóa cư trú Sán Chay.

Ngôi nhà trâu cái

Nhà trâu cái vì kèo bốn cột, các cột liên kết với nhau bằng bộ kèo và dầm sàn không có xà ngang, câu đầu. Các vì kèo liên kết với nhau bằng đầu dọc. Nhà chỉ có hai vì kèo nên các cột đặt trên mặt bằng nền nhà gần như là hình vuông. Nhà có bốn mái, diện tích mái gần bằng nhau, lợp cỏ gianh. Vách nứa được quây kín từ mái tới suốt mặt nền, che cỏ phần gầm sàn sát mặt đất. Nhà sàn thấp nên không có cầu thang, chỉ có mẩu gỗ làm bậc lên xuống.

Trong nhà có nơi thờ gia trạch, khu vực bếp núc, các phòng nhỏ ngăn vách nứa đan thưa. Phòng góc trái là gian tiếp khách, các phòng còn lại giành cho gia chủ, phía cuối là kho chứa lương thực. Gần sàn là nơi nuôi nhốt trâu bò, gà vịt.

Ngôi nhà trâu đực

Nhà trâu đực thường được coi là nhà phụ, nhà ngang, vì kèo chỉ có ba cột, một cột cái chính giữa nóc và hai cột con hai bên liên kết với nhau bằng dầm sàn. Cách bố trí mặt bằng sinh hoạt cũng tương tự như nhà trâu cái.

Với người Sán Chay ở miền núi và Trung du Bắc Bộ, việc gìn giữ được đến ngày nay kiểu nhà trâu đực, trâu cái là sự bảo tồn kiểu nhà truyền thống cổ xưa nhất. Tính chuẩn mực và đặc trưng ổn định của kiểu nhà sàn cổ nguyên sơ này rất tiêu biểu cho văn hóa nhà sàn vùng núi thấp.

Theo sự giao lưu biến đổi, một số vùng đồng bào Sán Chay ngày nay tiếp thu, biến đổi ngôi nhà truyền thống của mình. Vẫn mang dáng dấp nhà trâu cái, nhà trâu đực nhưng đã được cải biến thành nhà sàn, nửa đất hoặc nhà chính là nhà sàn, nhà phụ là nhà đất, nhà sàn có vì kèo năm cột, nhà sàn hai gian hai chái hình chữ nhật để mở rộng không gian sử dụng.

Không gian nhà ở

Người Sán Chay rất quý trọng khách khứa tới thăm nhà, nên với kiểu nhà nửa sàn, nửa đất hoặc nhà chính, nhà phụ bà con vẫn dành gian đầu hồi bên phải là không gian tiếp khách riêng. Bước vào cửa là bàn ghế để tiếp đón, đãi khách đến nhà. Lùi về phía sau giáp vách nhà là giường dành cho khách. Gian giữa là nơi chốn của chủ nhà. Phía trước có bộ phản gỗ bóng loáng, giáp đố hậu đặt tủ chè, trên đó có bát hương thờ cúng tổ tiên của gia chủ. Gian nhà bên trái dành cho con trai, chỉ kê một cái giường. Đàn bà con gái trong nhà thường ở nhà phụ, nhà trâu đực, nơi để cót thóc. Có nơi chỗ ở của phụ nữ và trẻ em, cót thóc để ở nhà chính, nhà trâu cái nằm ở phía sau giường chủ nhà, giường con trai. Trong trường hợp này, nhà phụ dành cho không gian bếp núc chứa đồ ăn thức uống. Đó chính là những nét cư trú mang yếu tố cổ xưa của người Sán Chay mà ngày nay nhiều vùng vẫn còn tồn tại không dễ gì pha trộn.

Coi trọng nơi cất trữ lương thảo

Ngôi nhà trâu đực, trâu cái phản ánh đậm nét người Sán Chay, là cư dân nông nghiệp truyền thống, canh tác lúa nước thành thạo gắn bó mật thiết với nương rẫy ruộng vườn, vật nuôi gia súc, gia cầm. Chính vì vậy, trong không gian nhà ở, nơi quan trọng là bồ thóc cất trữ lương thảo. Đồng bào có nghi lễ dựng bồ thóc rất độc đáo.

Lễ dựng bồ thóc không làm tại nhà mà diễn ra tại ruộng. Ngày gieo hạt, chủ nhà đến ruộng từ sớm, chẻ khúc nứa làm bốn mảnh, sau đó cắm thành ô vuông. Ba mảnh nứa cắm cả hai đầu, nơi đó được như bồ thóc trong tín ngưỡng dân gian. Chủ nhà đặt vào trong một gói muối khô và một ống nứa đựng đầy nước, gieo quanh đó mười hai hốc lúa. Sau đó mới tra hạt cho cả ruộng, nương.

Lúc tra lúa phải đi theo cặp một nam, một nữ. Nam đi giật lùi, vừa đi vừa chọc hốc. Nữ ở phía đối diện khom người bước tiến vừa đi vừa gieo hạt vào hốc do người nam chọc ra. Cặp đôi chọc hốc tra hạt phải là tâm đầu ý hợp, mau mắn, có duyên, theo quan niệm của đồng bào như vậy lúa mới tốt, mùa màng mới bội thu, bồ thóc trong nhà mới đầy. Tra xong ruộng rẫy, chủ nhà trở lại chỗ bồ thóc tín ngưỡng cắm nốt đầu thanh nứa còn lại. Chủ nhà cắm thêm hai bông lau cạnh gói muối và ống nước, nói lời cầu mong cho lúa cây to cao như cây lau, coi đó là nghi lễ đóng bồ thóc.

oOo

Sinh hoạt dân ca của người Sán Chỉ:

 

Người Sán Chỉ ở Cao Bằng:

 

Lời gọi Trung du – Người Cao Lan – cộng đồng Sán Chay:

 

Sắc màu Sán Chay:

 

Múa Tắc Xình – Dân tộc Sán Chay:

 

Múa Tắc Sình của dân tộc Sán Chay, Phú Lương được công nhận là di sản văn hóa quốc gia:

 

Một suy nghĩ 4 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Sán Chay”

  1. Dear Chị Hai

    Ở gần Buôn Làng em chỉ cách một con suối đi qua hết 15.000 đồng tiền đò, có làng Cao Lan, người Buôn Làng em gọi làng đó là bên C 12.

    Hôm nay đọc bài chia sẻ của chị Hai em mới biết nguồn gốc lịch sử văn hóa của người Cao Lan hàng xóm của em 🙂

    Em cảm ơn và chúc chị Hai ngày mới an lành.

    Em M Lành

    Số lượt thích

  2. Xin chào Chị Túy Phượng !
    Chị mến, tôi chỉ mới ” làm quen ” với dotchuoinon.com chừng một tuần lễ nay và đã đọc qua các mục, nhưng phải nói thật lòng là khá bất ngờ tại nơi đây có chuyên mục viết về 54 dân tộc anh em trong đai gia đình VN, mà tác giả các bài viết là Chị. Những năm gần đây tự dưng tôi rất thích và chú ý đọc các cuốn sách viết về vấn đề này, nguyên nhân là tôi kinh doanh ngành du lịch và thường tổ chức tour đưa khách đi tham quan đường Trường Sơn ( đường mòn Hồ Chí Minh ) nên cũng phải nghiên cứu đời sống các dân tộc mà lộ trình tour đi qua. Chỉ mới đọc lướt qua loạt bài của Chị và cho phép tôi nói lời biết ơn. Hôm nay xin gữi đôi lời chào Chị và khi công việc kinh doanh tạm lắng xuống tôi xin phép được trao đổi một số suy nghĩ về vấn đề này với Chị mà tôi đã ấp ủ lâu nay Chị nhé. Mong Chị mãi tiếp bước trên hành trình van dặm, góp phần xây dựng, bồi đắp nền tảng cội nguồn văn hóa các dân tộc Việt Nam.

    TP.HCM, 22g, 19 / 05 / 2015

    TRẦN THUẬN HẢI

    Số lượt thích

  3. Chào anh Hải,

    Chào mừng anh đến với gia đình Đọt Chuối Non. Cám ơn anh đã ghé thăm và chia sẻ.

    Vâng, như anh đã biết, ĐCN có chủ trương gìn giữ, giới thiệu, và quảng bá kho tàng “Dân ca Dân nhạc Việt Nam” của chúng ta chẳng những cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước, mà còn dành cho các cộng đồng dân tộc bạn trên toàn cầu luôn thích thú khám phá tìm hiểu thêm về kho tàng văn hóa truyền thống dân gian của nhân loại.

    Mình rất vui được chia sẻ với anh và tất cả các bạn loạt bài này vì đây cũng là một đề tài mình luôn rất quan tâm sẽ gặp nguy cơ mai một trong tương lai cho con cháu của mình. Hiện nay mình cũng đang tất bật vì bao công việc nên nếu khi nào có dịp anh cứ trao đổi với mình anh Hải nhé.

    Bình an Thiên Chúa luôn ở cùng anh và gia đình.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s