Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Nùng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Ngái, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Nùng của Dân tộc Nùng.

Dân tộc Nùng (các nhóm địa phương: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín) thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang v.v (chiếm tới 84%). Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đắk Lắk. Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Choang (Zhuang) sống dọc biên giới với Trung Hoa. Tại Trung Hoa, người Nùng cùng với người Tày được xếp chung vào dân tộc Choang.

Nguồn gốc tộc Nùng ở Việt Nam

Người Tráng hay người Choang (Chữ Tráng Chuẩn: Bouxcuengh, /pou˦˨ ɕueŋ˧/; Chữ Nôm Tráng: 佈壯 bính âm: Bùzhuàng; Chữ Hán giản thể: 壮族, phồn thể: 壯族, bính âm: Zhuàngzú; Chữ Thái: ผู้จ้วง, (Phu Chuang) là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Hoa. Ngoài ra một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Trung Hoa chính thức công nhận. Người Tráng hiện nay là dân tộc thiểu số lớn nhất Trung Hoa.

Các ghi nhận lịch sử sớm nhất về người Tráng được khám phá cho đến nay là Bích họa Hoa Sơn (花山壁画), có từ thời chiến quốc (475–221 TCN).

Có rất ít các ghi chép tiếng Hán trước khi người Hán xâm nhập vào khu vực người Tráng, sự ám chỉ đơn giản đến vùng đất phía nam sông Trường Giang là “Bách Việt” (百越). Những cuộc xâm lấn phương nam của Tần Thủy Hoàng được trình bày trong sử ký của Tư Mã Thiên. Cuộc tấn công lúc đầu vào vùng Lĩnh Nam đã tỏ ra thảm bại, với sự thất bại của tướng Đồ Thư trong trận đánh năm 218 TCN, nhưng công binh của ông, Sử Lộc đã hoàn thành việc xây dựng kênh Linh nối liền hai con sông Tương Giang và Ly Giang. Năm 214, Triệu Đà và Nhâm Ngao quay trở lại và bình định tộc người Tây Âu, khai phá Quảng Tây và phía nam với sự nhập cư của hàng trăm nghìn người Hán.

Một thập kỷ sau sự sụp đổ của Nhà Tần, Triệu Đà sử dụng vị trí của mình với tư cách là Quận úy Quận Nam Hải, lập nước Nam Việt và đặt thủ đô ở Phiên Ngung. Với giải pháp quy thuận và độc lập khỏi sự kiểm soát của Nhà Hán, vương quốc này đã mở rộng sự thực dân và Hán hóa bằng chính sách “Hòa hợp Bách Việt” (和集百越) cho đến năm 211 TCN nhưng không được sự ủng hộ của người Tráng.

Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tráng tại Quảng Tây, châu tự trị Tráng-Miêu Văn Sơn (Vân Nam) và huyện tự trị Tráng-Dao Liên Sơn (Quảng Đông).
Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tráng tại Quảng Tây, châu tự trị Tráng-Miêu Văn Sơn (Vân Nam) và huyện tự trị Tráng-Dao Liên Sơn (Quảng Đông).

Nhà Hán đã giảm bớt quyền lực địa phương và lập các căn cứ quân sự ở Quế Lâm, Ngô Châu, và Ngọc Lâm. Cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị tướng Mã Viện đàn áp năm 42, Mã Viện được ghi nhận với tư cách giúp bình định những vùng này bằng việc cải thiện hệ thống tưới tiêu và nhiều điều luật Hán. Cuộc di cư của Người Dao từ vùng gần Trường Sa, Hồ Nam tới Quảng Tây ngày nay đã làm đảo lộn khu vực này.

Dưới thời Đường, người Tráng chuyển sang ủng hộ vương quốc Thái là Nam Chiếu ở Vân Nam, nước này đã đẩy lui hai cuộc tấn công của quân Đường năm 751 và 754. Quảng Tây khi ấy được chia thành hai vùng: một là vùng thuộc thế lực của người Tráng phía tây Nam Ninh và một là vùng thế lực của người Hán phía đông Nam Ninh.

Sau khi Nam Chiếu sụp đổ, Lưu Nghiễm thành lập nước Nam Hán. Nước này hầu như không thể kiểm soát được người Tráng, sau đó Nam Hán bị Tống đánh chiếm và sát nhập năm 971.

Bị quấy rối bởi cả Tống lẫn Đại Cồ Việt, lãnh đạo Tráng tộc là Nông (Nùng) Trí Cao (侬智高) đã chỉ huy cuộc nổi dậy năm 1052, vì điều đó mà ông vẫn được người Tráng tưởng nhớ. Họ Nông được ghi chép lại trong Tống Sử là giàu có về vàng, đông đúc về dân số “để tóc dài, cài áo sang phía trái. Chúng thích chiến đấu và xem nhẹ cái chết”. Quân Nông càn quét sang phía tây, chiếm Nam Ninh, bao vây Quảng Châu 57 ngày, và giết các chỉ huy của năm đội quân Trung Hoa được cử đi đánh họ. Cuối cùng họ bị đánh bại và nhiều thủ lĩnh bị giết. Các dòng họ không tham gia vào cuộc nổi dậy tham vọng này trở thành mục tiêu đồng hóa của Trung Hoa. Một số tàn quân nổi dậy tẩu tán về quê cũ nơi họ bắt đầu cuộc khởi nghĩa. Một số khác lẩn sâu vào vùng đồi núi. Các bộ tộc mang họ Nông và tự nhận là con cháu của quân nổi dậy định cư quanh vùng biên giới giữa Việt Nam-Quảng Tây-Vân Nam. Một bộ phận khác vẫn mang họ Nông và ghi nhớ cuộc nổi dậy qua các câu chuyện truyền miệng sinh sống ở Sipsongpanna, Lanna (miền bắc Thái Lan), và Dehong.

Người Tráng ở Trung Quốc cũng chính là người Nùng và người Tày ở Việt Nam.

Bản đồ phân bố ngữ hệ Tai-Kadai: 'Vàng' Tai Bắc-Tráng Bắc  cộng Bố Y - 'Đỏ' Tai Trung Tâm-Tráng Nam - 'Cam' Tai Tây Nam + Các ngôn ngữ Thái.
Bản đồ phân bố ngữ hệ Tai-Kadai: ‘Vàng’ Tai Bắc-Tráng Bắc cộng Bố Y – ‘Đỏ’ Tai Trung Tâm-Tráng Nam – ‘Cam’ Tai Tây Nam + Các ngôn ngữ Thái.

Nùng Trí Cao tức Nông Trí Cao, thủ lĩnh người Nùng ở châu Quảng Nguyên xưa thời Lý nay là Cao Bằng, là người lập ra nước Nam Thiên Quốc sau đổi là Nam Việt rồi bị nhà Tống diệt. Lo sợ bị nhà Tống trả thù, nhiều người Nùng chạy sang Ðại Việt lánh nạn và định cư luôn tại miền thượng du các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Người Kinh gọi các nhóm này là người Thổ (người địa phương), trong khi họ tự nhận là người Thái. Với thời gian, các nhóm này đổi tên thành người Thày (đọc trại từ chữ Thái) rồi Tày để phân biệt với các nhóm người Thái đã có mặt từ trước và cũng để phân biệt với người Nùng, cùng hệ ngôn ngữ, còn sinh trú ở Quảng Tây và Quảng Ðông. Từ thế kỷ 13, các nhóm Nùng không chịu nổi chính sách phân biệt đối xử của nhà Nguyên (Mông Cổ), sau đó là nhà Minh (Hán) và nhà Thanh (Mãn Châu), đã từng đợt di cư vào Việt Nam, hội nhập với các nhóm Tày và Thái cùng hệ ngôn ngữ đã có mặt từ trước, họ vẫn giữ tên gọi riêng là Nùng.

Trong thực tế, các nhóm Tày, Nùng và Thái tại Việt Nam chỉ khác nhau chút ít về cách ăn mặc và cách xây dựng nhà cửa, về văn hóa thì hoàn toàn giống nhau. Cộng đồng người Tày, Nùng hay Thái được các triều đình Việt Nam dành cho qui chế tự trị để tranh thủ sự ủng hộ, chính sách này có tên “kềm cương phụ đạo”, nghĩa là tranh thủ cảm tình các vị thủ lãnh vì những người này có uy tín lớn trong cộng đồng của họ.

Hình vẽ Nùng Trí Cao.
Hình vẽ Nùng Trí Cao.

Nùng Trí Cao (chữ Hán: 儂智高; chữ Tráng: Nungz Cigaoh, 1025-1055) là thủ lĩnh địa phương ở Cao Bằng, lãnh đạo một phong trào tự trị của người Tày-Nùng ở vùng biên cương giữa Đại Việt và nhà Tống giữa thế kỷ 11, thời vua Lý Thái Tông và Tống Nhân Tông.

Nùng Trí Cao là người Tráng ở châu Quảng Nguyên (ngày nay là tỉnh Cao Bằng), và là con của thủ lĩnh địa phương Nùng Tồn Phúc và bà A Nùng.

Năm 1038, Nùng Tồn Phúc nổi dậy ở phía bắc nước Đại Việt, tự xưng là Chiêu Thành hoàng đế, đặt quốc hiệu là Trường Sinh quốc rồi đem quân đi đánh phá các nơi.

Tháng 2 năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh Phúc. Phúc đốt sào huyệt rồi cùng vợ con chạy vào núi trốn. Vua cho quân đuổi theo, bắt được Phúc và con là Thông đem về Thăng Long, rồi sai quân san phẳng thành hào, chiêu dụ tộc loại còn sống sót, vỗ về yên ủi rồi rút quân.

Tháng 3 năm 1039, vua chém Phúc và Thông ngoài chợ. Vợ Phúc là A Nùng cùng Nùng Trí Cao tập hợp lực lượng để trả thủ.

Năm 1041, Nùng Trí Cao cùng mẹ là A Nùng tập hợp lực lượng trở về lấy châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra một nước gọi là nước Đại Lịch (大曆). Lý Thái Tông sai tướng lên đánh, bắt được đem về Thăng Long. Nhưng vua nghĩ trước đã giết cha và anh, nay thương tình không giết, tha cho về và lại phong cho làm Quảng Nguyên mục. Sau đó Nùng Trí Cao vào triều yết kiến, được vua Thái Tông gia phong cho tước Thái bảo.

Năm 1048, Trí Cao lại nổi dậy, chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng). Lý Thái Tông sai Quách Thịnh Dật đi đánh, Trí Cao lại đầu hàng. Tuy nhiên, theo giai thoại của người Tày – Thái địa phương, khi quân Lý tới nơi, ông nói với Quách Thịnh Dật đừng tiến quân, ông sẽ không gây hấn với nhà Lý nữa mà sẽ tiến sang phương Bắc.

Năm 1052, Nùng Trí Cao lại nổi dậy lần nữa, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế (仁惠皇帝), đặt quốc hiệu là Đại Nam. Để tăng thêm thanh thế, ông xin phụ thuộc vào Trung Quốc, hoàng đế Nhân Tông nhà Tống không cho. Trí Cao bèn đem quân sang đánh Trung Quốc. Được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh người Thái – Tày ở Quảng Tây là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu, thanh thế Trí Cao càng thêm lớn mạnh. Ông đánh lấy Ung châu, rồi sau đó chiếm cả thảy được 8 châu ở đất Quảng Đông và Quảng Tây, bao gồm: Hoành châu, Quý châu, Cung châu, Tầm châu, Đằng châu, Ngô châu, Khang châu, Đoan châu.

Ảnh vẽ Vua Tống Nhân Tông (Renzong).
Ảnh vẽ Vua Tống Nhân Tông (Renzong).

Nhà Tống lo sợ. Lý Thái Tông dâng biểu sang Trung Quốc xin mang quân phối hợp đánh Nùng Trí Cao. Khi quân Đại Cồ Việt sắp vào biên giới, tướng nhà Tống là Địch Thanh (狄青) can Tống Nhân Tông rằng: “Có một Nùng Trí Cao mà đất Lưỡng Quảng không khống chế được, lại phải nhờ quân ngoại quốc vào đánh giúp. Nếu có ai nhân đó mà nổi loạn, thì làm thế nào?” Vua Tống nghe lời bèn sai các tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đi đánh Nùng Trí Cao và sai sứ nói với Lý Thái Tông rằng không cần quân Lý giúp. Dư Tĩnh đánh mãi không được, nhà Tống lấy làm lo.

Nhân khi Trí Cao dâng biểu xin lĩnh chức Tiết độ sứ Ung châu và Quý châu, vua nhà Tống đã toan thuận cho, Địch Thanh lại can không nên chấp thuận và xin đem quân đi đánh.

Đầu năm 1053, Địch Thanh ra hợp quân với Dư Tĩnh và Tôn Miện đóng ở Tân châu (Liễu châu tỉnh Quảng Tây) rồi hội các tướng lại cấm không cho ra đánh nhau với Trí Cao. Bấy giờ có quan Kiềm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh đem quân đi đánh bị thua, Địch Thanh đem chém đi, rồi lệnh cho quân nghỉ 10 ngày. Quân đi thám biết chuyện về báo Trí Cao biết. Trí Cao tưởng là quân nhà Tống không dám đánh, bèn không phòng giữ. Địch Thanh đem quân đến cửa Côn Lôn (gần phủ Nam Ninh) đánh Nùng Trí Cao. Lúc đang đánh nhau, Địch Thanh đem quân kỵ đánh hai bên tả hữu áp lại, quân của Trí Cao tan vỡ, tướng dưới quyền là Hoàng Sư Mật 57 người tử trận[1]. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2.200 quân của Trí Cao. Ông đốt thành bỏ chạy.

Tháng 10 năm 1053, Trí Cao sai thủ hạ là Lương Châu đến cầu cứu Đại Cồ Việt. Lý Thái Tông sai chỉ huy sứ Vũ Nhị đi tiếp ứng cho Trí Cao. Nhưng quân Lý chưa tới nơi thì Trí Cao lại bị Địch Thanh đánh bại, phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về.

Năm 1055, thời vua Lý Thánh Tông ở Đại Việt, đô giám nhà Tống là Tiêu Chú lại theo đường Đặc Ma (Vân Nam) đánh úp, bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, em Trí Cao là Trí Quang, con là Kế Phong. Quân Tống lại mộ những người cảm tử vào đất Đại Lý để lùng tìm Trí Cao.

Quân cảm tử chưa tới thì người nước Đại Lý ngại gây hấn với nhà Tống đã bắt Nùng Trí Cao chém chết, mang đầu đem nộp nhà Tống. Nhà Tống giết luôn gia quyến của Trí Cao.

Hiện nay còn di tích thành Nà Lữ, nơi ông đóng quân, ở gần thị xã Cao Bằng. Đền Khâu Sầm (Kỳ Sầm) đại vương thờ Nùng Trí Cao vẫn còn ở Cao Bằng, lễ hội đền Khâu Sầm vẫn được tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng giêng.

Tượng vua Lý Thái Tông.
Tượng vua Lý Thái Tông.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Nùng cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn(314.295 người, chiếm 42,9% dân số toàn tỉnh và 32,4% tổng số người Nùng tại Việt Nam), Cao Bằng (157.607 người, chiếm 31,1% dân số toàn tỉnh và 16,3% tổng số người Nùng tại Việt Nam), Bắc Giang (76.354 người), Đắk Lắk(71.461 người), Hà Giang (71.338 người), Thái Nguyên (63.816 người), Bắc Kạn (27.505 người), Đắk Nông (27.333 người), Lào Cai (25.591 người), Lâm Đồng (24.526 người), Bình Phước (23.198 người).

Người Nùng dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ 17) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian.

Người Nùng thờ cúng tổ tiên trong nhà. Bàn thờ tổ tiên có bài vị, lư hương và được đặt vào nơi trang trọng nhất. Ngoài ra, mỗi nhà còn thờ bà mụ Mẹ Hoa (Thần bảo hộ trẻ nhỏ), mẹ cửa (thần trông nhà). Vào những ngày đầu tháng, ngày rằm họ thường đốt hương. Ngày lễ, tết có cúng chè, rượu và các món ăn. Người Nùng cúng ma sàn (pi thang sàn) và các cô hồn đầu ngõ vào dịp tết nguyên đán. Những gia đình cùng một dòng họ thì cùng chung một miếu thờ thổ công, thổ địa. Cácthầy tào, thầy mo theo ý tưởng từ xưa họ có khả năng tiếp xúc với các loại ma thần nên được gọi là “cân thả hụng” (người mắt sáng). Họ hành nghề cúng bái, cầu sự tốt lành cho người dân. Vì thế họ được mọi người kính nể.

Nguồn sống chính của người Nùng là lúa và ngô. Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi. Người Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng… Hồi là cây quý nhất của người Nùng, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể. Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm.

Người Nùng thường ở nhà sàn và nhà nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống ưa thích của họ. Nhà thường khá to, rộng, có ba gian, vách thường bằng gỗ và lợp ngói máng. Nhà đất hiện nay là hiện tượng khá phổ biến ở vùng người Nùng.

nung_Nhà

Nhà của người Tày – Nùng có những đặc trưng riêng không giống các cư dân khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Bộ khung nhà Tày-Nùng cũng được hình thành trên cơ sở các kiểu vì kèo. Có nhiều kiểu vì kèo khác nhau, nhưng chủ yếu là bắt nguồn từ kiểu vì kèo – ba cột. Để mở rộng lòng nhà người ta thêm một hoặc hai cột vào hai bếp vì kèo ba cột để trở thành vì kèo năm hoặc bảy cột. Song không có vì kèo nào vượt quá được bảy cột.

Nói đến nhà Tày-Nùng có lẽ không nên bỏ qua một loại hình nhà khá đặc biệt, đó là “nhà phòng thủ”. Thường là có sự kết hợp gữa nhà đất và nhà sàn (đúng hơn là nhà tầng). Tường xây gạch hoặc trình rất dày (40–60 cm) để chống đạn. Trên tường còn được đục nhiều lỗ châu mai. Có nhà còn có lô cốt chiến đấu. Loại nhà này chỉ có ở Lạng Sơn gần biên giới phía bắc để phòng chống trộm cướp.

Trong gia đình, quan hệ giữa cha chồng, anh chồng với nàng dâu có sự cách biệt nghiêm ngặt. Theo phong tục Nùng, dù là con anh, con em, con chị… ai nhiều tuổi hơn được gọi là anh, là chị. Người Nùng có thói quen ít khi gọi thăng tên người ông, người cha mà thường gọi theo tên của đứa cháu đầu, con đầu của họ. Khi đặt tên con phải tuân theo hệ thống tên đệm của dòng họ.

Triệu Thị Hà, dân tộc Nùng, tỉnh Cao Bằng, trong cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc năm 2011.
Triệu Thị Hà, dân tộc Nùng, tỉnh Cao Bằng, trong cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc năm 2011.
Triệu Thị Hà, dân tộc Nùng, tỉnh Cao Bằng, đăng quang Hoa Hậu 2011.
Triệu Thị Hà, dân tộc Nùng, tỉnh Cao Bằng, đăng quang Hoa Hậu 2011.

nung_Triệu Thị Hà, dân tộc Nùng, tỉnh Cao Bằng8

Việc dựng vợ, gả chồng do bố mẹ quyết định trên cơ sở môn đăng hộ đối giữa hai gia đình sự ưng thuận của con cái và lá số của đôi nam nữ… Sau ngày cưới cô dâu chưa ở hẳn bên nhà chồng, mà chỉ có mặt khi nhà chồng có công việc bận rộn, lễ tết. Và phải có người sang đón nàng dâu về nhà chồng giúp việc. Tình trạng này kéo dài cho đến lúc sắp có con. Người phụ nữ khi đã đi lấy chồng xem như hoàn toàn phụ thuộc nhà chồng. Nếu ly dị, đi lấy người khác thì phải trả lại tiền cưới, để lại của cải hồi môn và con cái…

Nam, nữ đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếc răng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng. Phụ nữ mặc áo năm thân và cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải. Tùy từng nhóm Nùng địa phương mà áo dài, ngắn, rộng, hẹp khác nhau, nhưng ở đoạn cổ tay và lá sen bao giờ cũng đắp một miếng vải và bốn túi áo không có nắp. Nam, nữ đều mặc một loại quần nhuộm màu chàm, cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân. Phụ nữ Nùng thường đeo tạp dề trước bụng, khi gồng gánh còn mang thêm miếng nệm vai. Điểm khác nhau giữa các nhóm, một trong những biểu hiện là cách đội khăn và các loại khăn trang trí khác nhau đôi chút. Người Nùng có 13 nhánh và mỗi nhánh lại có ngôn ngữ cũng như trang phục khác nhau (Nên rất khó để xác định một trang phục nào là trang phục chuẩn cho người Nùng.

Người Nùng ăn cơm tẻ là chủ yếu. Món ăn độc đáo và được coi trọng như sang trọng của người Nùng là “Khau nhục”. Tục mời nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của người Nùng.

Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội “Lùng tùng” (“Lồng tồng” còn có nghĩa là hội “Xuống đồng”) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm.

Hát Sli.
Hát Sli.

Tộc Nùng có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, được thể hiện qua nhiều mặt của đời sống văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, và qua các quan hệ xã hội… Họ có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đầy màu sắc.

Tiếng Sli giao duyên của thanh niên Nùng Lạng Sơn hòa quyện vào âm thanh tự nhiên của núi rừng gây ấn tượng sâu sắc cho những ai đã một lần lên xứ Lạng. Người Nùng thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Hát Soong Hao được tiến hành chủ yếu vào mùa xuân, từ những phiên chợ đầu năm đến những phiên chợ cuối cùng của tháng ba âm lịch. Hát Soong Hao ở Lục Ngạn đông vui nhất vào những ngày mùng tám. Then là làn điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có kiểu trang trí, có hình thức biểu diễn đã làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Nùng khi ở xa quê hương.

Dưới đây mình có các bài:

– Cuộc Đấu Tranh Chống Bắc Thuộc Đầu Tiên Của Người Tày-Thái (Đây là một bài có những móc nối thời gian lịch sử & sự kiện liên hệ của các dân tộc hay nhất xưa nay mà mình biết. Bài này mình tìm thấy trong kho “Tài nguyên số” trên trang web “Đại Học Quốc Gia Hà Nội”. Tuy vậy, bài này có hai vấn đề: (1) Trên internet hoàn toàn không có thông tin gì về tác giả Vương Hùng. (2) Bài này không có một ghi chú nào chỉ dẫn nguồn tài liệu nào cho mỗi dữ kiện lịch sử mà tác giả nêu ra)
– Dân ca Nùng – những nét độc đáo
– Các hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian dân tộc Nùng
– Troong – Nhạc cụ họ màng rung của người Nùng – Lạng Sơn
– Hát Sli Giang – Nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Nùng.
– Tiếng hát Soong hao của người Nùng Phàn Xình
– Lễ hội cầu mùa của đồng bào Nùng, Lạng Sơn
– Lễ cúng Thần rừng của người Nùng ở Hà Giang
– Lễ khao tổ của người Nùng, Bắc Giang
– Phong tục rửa bàn thờ đón giao thừa của người Nùng, Cao Bằng
– Độc đáo phong tục “Trọng vợ” trong Ngày Tết của người Nùng ở Lào Cai
– Trang phục dân tộc Nùng
– Nét văn hóa dân tộc Nùng Phúc Sen

Cùng với 20 clips tổng thể văn hóa của dân tộc Nùng/Tráng/Choang, một trong 54 dân tộc nước Việt để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Bình An, một ngôi làng của người Tráng trên Ruộng Bậc Thang Long Thắng.
Bình An, một ngôi làng của người Tráng trên Ruộng Bậc Thang Long Thắng.

Cuộc Đấu Tranh Chống Bắc Thuộc Đầu Tiên Của Người Tày – Thái

(Vương Hùng)

Theo chính sử Trung Quốc, các dân tộc cư trú ở phía nam Trường Giang được gọi bằng tên chung là Bách Việt. Bách Việt sau tách rõ hơn chỉ các khu vực khác nhau: Đông Việt (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Dương Việt (Giang Tây), Nam Việt (Quảng Đông), Âu Việt (Quảng Tây), Lạc Việt (bắc Việt Nam).

Âu Việt hoặc Tây Âu, Tây Vu là đất cổ người Tày – Thái, Lạc Việt là đất cổ người Việt – Mường. Hai tộc Việt này sống gần kề, mối giao hòa có từ lâu.

Sử ta chép rằng: Thời Hồng Bàng thị – Kinh Dương Vương từ hồ Động Đình (nay thuộc Hồ Nam – Trung Quốc) xuống cai quản phương nam. Con Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân lấy Âu Cơ mà thành tổ chung của dân tộc ta. Đó là ghi chép theo tục truyền; suy ra Lạc Long Quân tiêu biểu tộc Lạc Việt, Âu Cơ tiêu biểu tộc Âu Việt, giao hòa với nhau.

Kể từ đó, cha truyền con nối, các vua Hùng tiếp nhau làm vua nước Văn Lang. Đến đời Hùng Vương 18, vua không có con trai. Các lạc tướng, lạc hầu bất đồng với nhau về người kế vị, bèn đồng thuận ủng hộ Thục Phán (thuộc Âu Việt) lên làm vua.

Thục Phán dùng tên hai cộng đồng tộc Việt = Âu Việt và Lạc Việt đặt thành tên nước Âu Lạc (257 – 208 TCN).

Thời Thục Phán, nhà nước Âu Lạc đã có cuộc chiến quy mô rộng chống lại sự bành trướng của phương Bắc, chiến sự diễn ra trên đất Âu Việt.

Tần Vương Chính – tức Tần Thủy Hoàng sau khi hoàn thành thống nhất Trung Hoa, bắt những người trốn tránh, người ở rể, người đi buôn (tức là những tội phạm, những người không có ruộng đất) cả thẩy 50 vạn người, năm 214 TCN, giao cho tướng Đồ Thư chinh phục phương Nam. Đoàn quân này theo dòng Tây Giang, xâm lấn đất Nam Việt (Quảng Đông), Âu Việt (Quảng Tây). Quân Tần tràn đến đâu, tàn sát hết trai tráng địa phương, hiếp đoạt phụ nữ, chiếm nhà cửa ruộng đất, lập thành hương quận trực thuộc Thiên triều, đồng hóa tức khắc các dân tộc bản địa theo phong tục phương Bắc.

Tình thế buộc Âu Lạc phải kiên quyết chống lại. Dưới sự chỉ huy của Thục Phán, tổ chức du kích, ngăn bước tiến quân Tần.

Sách Hoài Nam tử viết: “Những người Âu Việt lánh vào rừng để ban đêm ra đánh, đại phá được quân Tần. Họ áp dụng chiến thuật giáp binh, đòi hỏi lòng dũng cảm, đồng loạt nhanh chóng tiếp cận đối phương và sử dụng thành thạo vũ khí trong tay”.

Tuy nhiên, trước đội quân xâm lược hơn hẳn về quân số, trình độ tổ chức và vũ khí, người Âu Việt không thể bảo toàn đất đai, phải lui dần về thượng nguồn. Những chi lớn của Tây Giang, thuận tiện đường thủy: Tầm Giang, Uất Giang, Ung Giang, Hồng Thủy Hà, Hữu Giang… lần lượt bị các lâu thuyền của địch chiếm cứ. Quân Thục Phán lui về giữ được Bằng Giang, Kỳ Cùng thượng nguồn của Tả Giang. Năm 209 TCN, Tần Thủy Hoàng chết, cuộc Nam chinh bị bỏ dở, nhà nước Âu Lạc vẫn đứng vững.

Thục Phán kiên quyết dũng cảm trong chiến đấu, song lại ngờ nghệch cả tin nên mắc mưu xảo trá của Triệu Đà.

Triệu Đà, vốn người huyện Chân Định, nước Hán (nay là huyện Chính Định tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) một tướng trẻ trong đội quân Nam chinh của nhà Tần. Nhân nhà Tần sụp đổ, nhà Hán lên thay. Triệu Đà liền khoanh vùng đất phương nam vừa chiếm được, thành lập nước Nam Việt, tuyên bố không thần phục nhà Hán. Ông ta lấy vợ người địa phương, sinh hoạt theo phong tục địa phương, tự xưng là “Man di trưởng lão”. Vì những đàn ông trưởng thành ở đây đã bị tàn sát trong cuộc chiến, dân của ông ta đều là những trẻ mới lớn, nên được gọi là đồng tộc (quan thoại đọc là tóng, bạch thoại đọc thồng), người địa phương gọi trại thành nồng hoặc nùng. Sau này người ta nói đấy là chữ Choang viết theo cổ tự.

Như vậy thời đó hình thành hai nước Việt. Nước Âu Lạc Việt của Thục Phán và nước Nam Việt của Triệu Đà.

Thục Phán chống xâm lăng phương Bắc, nay thấy ông láng giềng mình tuyên bố chống Hán, ngỡ rằng hai nước Việt có thể liên minh kết bạn, nên mới gả con gái yêu của mình cho con trai Triệu Đà để thành thông gia. Ngờ đâu Triệu Đà trở mặt tiêu diệt Thục Phán. Âu Lạc bị Nam Việt thôn tính.

(Sự nhầm lẫn này không riêng Thục Phán, các sử gia nước ta tới thời cận đại vẫn mắc).

Sau khi Thục Phán mất. Năm 111 TCN, Tây Vu Vương dòng dõi An Dương Vương Thục Phán đã nổi dậy khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Triệu. Đây là cuộc khởi nghĩa được ghi ở dòng đầu cuốn Almanach – Những sự kiện lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, H.1999), chương 2: Những cuộc khởi nghĩa.

Tây Vu Vương dịch xuôi sát nghĩa là Pùa Pựt Tày – vua Pựt Tày.

Cuộc khởi nghĩa này sớm hơn cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tròn 150 năm (40 – 43). Như vậy đây là cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc sớm nhất của người Tày – Thái được ghi trên sử sách. Thời đó nước Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Triệu Vũ Vương; để rồi 97 năm sau mới thuộc về nhà Tây Hán.

THỜI KỲ PHONG KIẾN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN XVII – SỰ KIỆN NÙNG TRÍ CAO

Nùng Trí Cao là một nhân vật lịch sử sống vào nửa đầu thế kỉ XI. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, Trí Cao là con Nùng Tồn Phúc, thủ lĩnh châu Quảng Nguyên. Quảng Nguyên thời đó ở giữa lưu vực Bằng Giang, tức đất các huyện Hoà An, Hà Quảng, Thông Nông, Nguyên Bình, Thạch An, Quảng Uyên, Phục Hoà của tỉnh Cao Bằng hiện nay.

Năm 1039, hoàng đế Lý Thái Tông nghe tin báo Tồn Phúc tiếm hiệu xưng vương, bèn thân chinh cầm quân lên bắt. Gia đình Tồn Phúc 5 người bị đem chém ở chợ kinh đô.

Nùng Trí Cao và mẹ là A Nùng trốn thoát. Năm sau, 1040, mẹ con quay trở lại giữ châu Quảng Nguyên. Vua sai tướng lên dẹp bắt sống Trí Cao giải về kinh sư. Vua Lý nghĩ lại tha tội, lưu cho đi học 3 năm, rồi thả Trí Cao về quản đất cũ của cha, còn cấp thêm 4 động và cả châu Tư Lang nữa (tức Thượng Lang, Hạ Lang sau này).

Năm 1043, vua sai Nguỵ Trưng đến châu Quảng Nguyên ban Nùng Trí Cao đô ấn, phong tước Thái bảo.

Năm 1048, Nùng Trí Cao chiếm động Vật Ác, ngoài biên. Vua sai thái uý Quách Thịnh Dật đi đánh. Tới nơi Nùng Trí Cao hàng ngay không chống cự.

Năm 1052, Nùng Trí Cao tự xưng Nhân huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, dẫn 5000 quân tràn sang đất Tống, phá trại Hoành Sơn, hãm các châu Ung, Quý, Đằng, Ngô, Củng, Tầm thuộc tỉnh Quảng Tây và Khang, Đoan thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Có Hoàng Sư Mật người bên ấy, vận động quần chúng nổi dậy nội ứng, nên lực lượng tiến công phát triển nhanh chóng, số người kéo theo lên đến hàng vạn.

Hoàng Sư Mật vốn là cháu bên mẹ của Nùng Trí Cao. Mẹ Trí Cao quê ở Vũ Lặc, bờ Tả Giang, ngược sông lên trú tại bến Kim Pha (Cao Bằng). Hoàng Sư Mật đỗ tiến sĩ ở Quảng Châu, nhưng không ra làm quan với nhà Tống, chuyên đi dạy học. Có lẽ Sư Mật không phải là tên thật, mà là hiệu gọi ông thầy bí mật họ Hoàng.

Quân Nùng Trí Cao đến đâu liền phá nhà tù, mở các kho của quân Tống phát cho dân. Dân khắp vùng hưởng ứng, thế lực ngày càng mạnh. Trí Cao điều quân xuôi theo sông tiến hành vây hãm thành Quảng Châu, đồng thời đòi vua Tống cắt đất chia dân. Thấy dân đều theo Trí Cao, Tống Nhân Tông lo sợ họp triều thần định đáp ứng yêu sách, song vì Địch Thanh dâng biểu xin đi đánh nên thôi. Địch Thanh là một tướng kiêu dũng vừa được gọi từ Thiểm Tây về.

Vây hãm Quảng Châu gần 2 tháng, không hạ được thành, quân Trí Cao núng thế. Trong thành kiên trì cố thủ, vòng ngoài Địch Thanh tiến đánh, Nùng Trí Cao bị kẹt ở giữa, nên phái Lương Châu về cấp báo Thăng Long xin hoàng đế Lý Thái Tông cho quân cứu viện.

Được hoàng đế chuẩn y, nhưng khi 2 vạn quân của tướng Vũ Nhị lên đến nơi thì quân Nùng Trí Cao đã bị vỡ sau trận quyết tử ở phố Quy Nhân (Tông Quỷ). Hoàng Sư Mật cùng thủ hạ, tức bộ tham mưu nổi dậy, 57 người và 2200 quân Tày Nùng bị chết tại trận. Vũ Nhị không thể làm gì hơn, chỉ còn đàm phán phân định địa giới với Địch Thanh, đoạn hai bên lui quân về nội địa. Nùng Trí Cao thu gom tàn quân, cùng gia đình rút về phía tây men dọc biên giới Đại Việt – Đại Tống sang Đại Lý (Vân Nam) mưu đồ tiếp tục sự nghiệp. Nhưng nhà Tống vẫn theo dõi hành trình, kiên quyết phục thù. Năm sau, 1053, doanh trại quân Nùng tạm đóng ở đấy bị quân Tống tập kích lúc nửa đêm, cả gia đình Nùng Trí Cao bị bắt, riêng bản thân Nùng Trí Cao biệt tăm không còn xuất hiện.

Cuộc chiến do Nùng Trí Cao khởi phát diễn ra trên đất Tống từ năm 1048 đến năm 1053, là một sự kiện lớn, xôn xao cả kinh đô Khai Phong. Giới sử học Trung Quốc và Việt Nam đã bỏ nhiều công sức để tìm hiểu nguyên nhân, động cơ của sự kiện này.

Văn bia bên Tống ghi: “Nùng Trí Cao có mối thù với Giao Chỉ, muốn phụ thuộc vào Tống, xin được cai quản châu Ung, nhưng vua Tống không cho nên mới nổi loạn”.

Sử bên ta cho rằng: Cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao thực chất là một hiện tượng cát cứ của tù trưởng miền núi khi chính quyền trung ương chưa dủ khả năng khống chế. Nó không khác xa so với các cuộc nổi dậy khác thời thế kỉ X-XI ở nước ta. Sử gia Lê Văn Hưu bình: Sự kiện này xảy ra là do thái độ dung dưỡng của Lý Thái Tông đối với Nùng Trí Cao. Thưởng phạt không nhất quán, mê hoặc bởi cái thuyết từ ái của Phật mà tha cho bày tôi phản nghịch thì lòng nhân ấy trở thành nhu nhược.

Thực ra sự kiện Nùng Trí Cao có nguyên nhân tiềm ẩn và thời điểm bột phát.

Nguyên nhân tiềm ẩn: Lưu vực sông Hồng là địa bàn cư trú của người Lạc Việt (Kinh, Mường cổ). Lưu vực Tây Giang là địa bàn cư trú của người Âu Việt, (Tày Thái cổ). Thời Tiên Tần (221 TCN) người phương Bắc gọi khu vực này là Văn Lang và Nam Cương. Đó là tiếng của họ, thời ấy chưa biết chữ hán.

Văn Lang có nghĩa vùng đất có những chàng trai xăm mình.

Nam Cương có nghĩa vùng đất biên cương phía nam.

Chưa có tín sử, chuyện tương truyền như vậy đã in đậm trong kí ức dân gian. Nam Cương hợp nhất với Văn Lang thành Âu Lạc, rồi Âu Lạc bị phương Bắc thôn tính, phải sống dưới chế độ Bắc thuộc nghìn năm.

Mãi tới thế kỉ X, thời Ngũ đại, phong kiến phương Bắc khủng hoảng, trong vòng nửa thế kỉ, năm triều đại liên tiếp bị đổ. Tình thế đó tạo cho người Nam giành được quyền tự chủ và tiến tới độc lập sau trận đánh tan quân Nam Hán của Ngô Quyền (938).

Triều Bắc Tống thiết lập năm 960, vẫn coi nước ta như một quận của họ, hễ có dịp là đem quân xâm lược. Thời nhà Đinh (968-980), nhà Tiền Lê (980-1009), nhà Lý (1010->) nguy cơ bị xâm lược luôn luôn thường trực. Các vua Đại Việt cần duy trì những tù trưởng mạnh ở biên giới, kết thân với họ, dùng họ làm phên giậu. Người Tày, Nùng, Choang ở lưu vực Tây Giang ấp ủ khôi phục lãnh thổ Nam Cương xưa, ước mơ có lại vị trí của mình thời Âu Lạc.

Vua Lý Thái Tông biết rõ điều này nên có thái độ nên có thái độ xử lí co duỗi mềm dẻo sát với thực tế. Tống Nhân Tông cũng biết nên khi khắc bia phủ định ý chí đòi độc lập của phong trào, cho rằng cuộc nổi dậy đó xuất phát từ tham vọng cá nhân Nùng Trí Cao, không đại diện cho lợi ích cộng đồng dân tộc mình.

Thời điểm bột phát.

Nhà Tống diệt xong các nước nhỏ, lập được triều đình ổn định, nhưng rất sợ đụng độ với nhà Liêu ở phương Bắc. Hiệp ước Thiền Uyên – giữa Tống và Liêu – qui định hàng năm Tống phải nộp cho Liêu 20 vạn tấm lụa và 10 vạn lạng bạc. Vừa phải cung phụng triều đình, vừa phải đóng góp cống nước ngoài, gánh nặng đó đè lên vai nhân dân. Nhất là ở biên cương phía Nam, các chỉ huy sở càng sách nhiễu tệ, sự đóng góp thật quá quắt. Không kể bị trưng binh, phu phen liên miên, gặt mười gánh lúa, dân chỉ được ăn hai, dệt mười tấm vải dân chỉ được dùng một (theo sách giáo khoa sử Trung Quốc). Lòng uất ức trong dân chúng sôi sục chỉ chờ có dịp là bùng lên.

Nguyên Hạo xưng đế ở Tây Hạ. Năm 1041 đánh tan 2 vạn quân Tống ở Lục Bàn Sơn. Đến năm 1043, Nguyên Hạo cầu hoà, triều Tống lại cung cấp cho nhiều tiền bạc và vải vóc. Cách cư xử mềm nắn rắn buông của vua Tống như vậy kích thích quyết tâm của Nùng Trí Cao, Hoàng Sư Mật. So sánh nhân lực, vật lực vùng Tày, Nùng, Choang này còn có phần khả quan hơn vùng Ninh Hạ – Hồi Tộc.

Song đáng tiếc, kết quả không diễn ra như dự tính.

Nhà Tống đàn áp cuộc nổi dậy vô cùng tàn khốc, những người tham gia đều bị giết hoặc phải bỏ xứ trốn chạy theo Trí Cao. Dù sao sau đó triều đình vẫn bắt buộc phải thay đổi cách cai trị, nới nhẹ sự đóng góp của dân chúng, thực hành chính sách mới của Phạm Trọng Yêm và biến pháp của Vương An Thạch, tình hình mới dần ổn định.

Còn vua Lý nước Đại Việt, vì tránh cuộc chiến với Đại Tống nên truất tước Thái Bảo của Nùng Trí Cao để tạo điều kiện cho cuộc đàm phán. Nùng Trí Cao bỏ lại chiếc ấn vua ban tại quê nhà trên đỉnh đồi Khau Dắn (Đồi Ấn), trước khi lánh sang Đại Lý. Đến khi nghe tin Nùng Trí Cao mất, dân lập đền thờ, vua Lý lại truy phong “Khau Sầm đại vương nhất đẳng thần”.

Dân Tày, Nùng, Choang hai bên biên giới Việt Trung lập nhiều đền thờ Nùng Trí Cao và cùng ăn tết ngày 14 tháng 7 âm lịch rất trọng, đó là ngày độ vong thất trận ở phố Quy Nhân. Điều ấy cho thấy công tích Nùng Trí Cao in đậm trong tâm khảm dân chúng.

Miếu Linh Ấn (thờ chiếc ấn để lại) ở Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, huyệ Hoà An là nơi thờ Nùng Trí Cao qui mô hơn cả trên địa bàn Cao Bằng. Ở đấy có mấy hàng thơ, đối tóm tắt đánh giá sự kiện Nùng Trí Cao:

Tái ngoại cao tiêu độ lập kì
Nùng vương sự nghiệp thế gian hy

Tạm dịch:

Ra ngoài biên tái dựng cao cờ độc lập
Sự nghiệp vua Nùng trên thế gian hiếm thấy

Và:

Đế nghiệp vị thành nhân dĩ lão
Vương phong thân tích quốc đồng hưu

Tạm dịch:

Sự nghiệp đế chưa thành mà người đã già (chết)
Vua phong công tích lớn cả nước cùng nghỉ ngơi.

Miếu Linh Ấn được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích văn hoá lịch sử năm 1992.

Sự kiện Nùng Trí Cao đặc biệt không giống những cuộc nổi dậy khác trong lịch sử nước ta, nó góp phần củng cố nước Đại Việt thời ấy. 23 năm sau, năm 1075, Lý Thường Kiệt phải lặp lại tương tự hành động của Nùng Trí Cao để ngăn chặn tham vọng bành trướng xuống phía nam của nhà Tống. Vì vậy sự kiện này cần được đánh giá lại công bằng, khoa học hơn theo nhãn quan mới.

nung_người Tráng ở Long Châu, Quảng Tây

Dân ca Nùng – những nét độc đáo

(ThS. Ngô Thị Việt Anh – Khoa Thanh nhạc – Nhạc cụ)

Hiện nay đất nước ta đang từng ngày đổi mới với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng ta không thể phủ nhận những gì mà nền kinh tế thị trường đem lại, tuy nhiên bên cạnh sự thay đổi của đất nước thì có những giá trị văn hóa truyền thống ngày càng bị mai một. Là một giảng viên giảng dạy về âm nhạc tôi thấy mình phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc đưa những làn điệu dân ca vào từng bài giảng, giúp sinh viên ngày càng ý thức được tầm quan trọng của những làn điệu dân ca, cũng như giúp các em hiểu biết và thêm yêu những làn điệu dân ca của quê hương đất nước mình.

Kho tàng văn hóa nghệ thuật của đồng bào Nùng tương đối phong phú và độc đáo, trong đó phải kể tới những làn điệu dân ca Nùng. Chưa có một người nào và chưa có một công trình nghiên cứu nào điều tra, thống kê, nghiên cứu và sưu tầm được đầy đủ về dân ca của đồng bào Nùng. Tuy vậy, nói đến dân ca Nùng là nói đến một sự phong phú về thể loại, làn điệu, và nội dung phản ánh: làn điệu ru, làn điệu đồng dao, làn điệu then, mo, sliên, tào…, đặc biệt là sli, lượncỏ lảu.

Làn điệu sli – một lối hát ví, giao duyên của thanh niên nam nữ. Theo nhà nghiên cứu Vi Hồng trong cuốn “ Sli, lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng” thì:

Sli có nghĩa là thơ. Người Nùng dùng từ sli để chỉ toàn bộ dân ca mang tính trữ tình của họ cũng như người Tày dùng từ lượn để chỉ hầu như toàn bộ dân ca của mình. [1, tr. 29].

Khác với nhóm Nùng Giang, Nùng Cháo…, hình thức hát sli (Nùng Phàn Slình) là diễn xướng tập thể theo lối hát bè. Sli Phàn Slình khi hát phải có đôi và đặc biệt đôi đó phải hợp giọng. Họ hát theo lối ứng khẩu và theo cảm xúc. Tuy nhiên sli của dân tộc Nùng khác với lượn của người Tày ở chỗ có thể diễn xướng trong mọi thời gian không gian, miễn sao có đủ điều kiện, trong những dịp chợ xuân, hội lồng tồng, hội óc pò, dọc đường đi, mừng đám cưới, giao duyên, đố nhau, thách nhau hay mừng nhà mới… Lời hát sli thường theo thể thất ngôn tứ tuyệt, vần bằng, còn lời hát lượn thường là thất ngôn trường thiên, vần lưng. Dân tộc Nùng có nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau và được phân biệt qua những đặc điểm văn hoá cũng như nguồn gốc địa phương. Chính vì vậy các làn điệu dân ca của mỗi nhóm Nùng lại có những nét độc đáo riêng. Cùng gọi là sli nhưng nhóm Nùng Giang có sli Giang, Nùng Cháo có sli Slình Làng, Nựng Phàn Slình có sli Phàn Slình… Bên cạnh đó các bài đồng dao, văn tế, hát đám cưới, mừng nhà mới… cũng không hoàn toàn giống nhau. Mỗi nơi một vẻ, nhưng đều hay, hấp dẫn và làm say đắm lòng người.

Đặc điểm của hát sli trong tất cả các nhóm Nùng là hát không cần có nhạc cụ đệm, không có vũ đạo kèm theo và có thể hát ở bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là nơi đó có “đối tượng hát”.

Các loại nhạc khí của dân tộc Nùng.
Các loại nhạc khí của dân tộc Nùng.

Vào những lúc rỗi rãi, nông nhàn hay bất cứ lúc nào thích hợp, trai gái người Nùng thường tụ họp từng đôi, từng nhóm hát sli giao duyên đối đáp với nhau, đặc biệt là sli Hà Lều khi hát phải áp hai tay vào tai. Nhà nghiên cứu Vi Hồng trong cuốn “Sli, lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng” nói về hình thức diễn xướng của sli Hà Lều như sau:

Khi tiến hành sli hai bên đều bịt tai. Người đang sli tự bịt tai mình để tự nghe cái âm hưởng đặc biệt tiếng sli của chính mình âm vang trong tâm hồn mình… Khi hai người sli đã đến mức bịt tai là lúc tình yêu đôi người đã đến mức say đắm” [1, tr. 26].

Ngoài sli, trong kho tàng dân ca của dân tộc Nùng còn có lượn, và đặc biệt là cỏ lảu. Làn điệu cỏ lảu là một loại dân ca phổ biến, chỉ chuyên dùng trong đám cưới của dân tộc Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng. Cỏ lảu tức là nói chuyện về đám cưới, trong đám cưới. Nếu như trong đám cưới của người Tày có hát quan làng thì người Nùng có cỏ lảu. Đó là một cách nói chuyện, một hình thức giao tiếp thông qua những bài hát trong đó chứa đựng những tình cảm trân trọng đối với cha mẹ, họ hàng, những người có công vun đắp, tác thành cho đôi lứa.

Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật của dân tộc Nùng phải kể đến nhạc khí. Nhạc khí của dân tộc Nùng rất phong phú, đa dạng, bao gồm: Nhị, trống, thanh la, não bạt, chũm chọe, chuông, nhạc sóc, tiêu, sáo ngang… Sáo chủ yếu dùng trong các ngày vui như tết, cưới xin, nhị, kèn chủ yếu sử dụng trong tang lễ; trống, thanh la, não bạt chủ yếu sử dụng trong hội.

Bên cạnh đó, đồng bào Nùng còn rất thích múa. Trong các dịp hội hè đầu xuân, trong các buổi tế lễ, theo phong tục đồng bào vừa múa vừa hát rất nhộn nhịp. Về múa, người Nùng có các điệu múa “rồng”, múa “đèn”, múa “siêu tâng” (còn gọi là “xiên tâng” hay “xiên mèng pủ”), múa “kỳ lân”… vừa khỏe mạnh, vừa mềm mại, yểu điệu và khéo léo. Nghệ thuật múa của người Nùng có từ lâu đời, là một trong những bộ môn nghệ thuật diễn tả tư tưởng tình cảm con người, được đồng bào Nùng rất yêu thích và gìn giữ. Những điệu múa này thường được thấy trong dịp tết, đám tang, ngày hội… và đã được các nhà nghiên cứu cải biên dàn dựng làm giàu thêm cho nền văn hoá dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
1. Vi Hồng (1979), Sli, lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

Đàn 4 dây, đàn kéo của dân tộc Nùng. đệm cho hát lướn và các điệu múa truyền thóng dân tộc.
Đàn 4 dây, đàn kéo của dân tộc Nùng. đệm cho hát lướn và các điệu múa truyền thóng dân tộc.

Các hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian dân tộc Nùng

Dân ca:

Hát Sli: là hình thức hát phổ biến của dân tộc Nùng. Chủ yếu là những bài hát giao duyên (hát đối đáp nam – nữ) vào những ngày chợ phiên, ngày Tết, ngày hội đầu xuân và những ngày nhàn rỗi. Ngoài ra, trong những dịp mừng nhà mới, mừng sinh nhật người già, trong ngày lễ trẻ đầy tháng… họ có thể chúc mừng nhau bằng những lời Sli.

Hát Lượn: với người Nùng hát Lượn cũng là hình thức hát giao duyên (đối đáp nam nữ) nhưng chỉ hát trong trường hợp Sli cuộc (hát vào ban đêm ở trong nhà) và chỉ hát khi gần sáng gà đã gáy gần kết thúc cuộc Sli đêm.

Hát Cỏ lảu: là hình thức hát trong sinh hoạt đám cưới, là những bài hát xin vào cửa, xin trao lễ, mời nước, mời rượu… khi đến đón dâu. Những bài hát của Nàng tẳng (cô đón) và những bài đáp lễ của nhà gái với nhà trai.

Hát Then: là hình thức sinh hoạt lễ nghi tín ngưỡng. Đây là hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp bao gồm: âm nhạc, múa, văn học, trang trí mỹ thuật, trò diễn… Then được sử dụng trong những dịp quan trọng của làng bản như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình vào dịp năm mới, vào nhà mới, sinh con đầu lòng, lễ sinh nhật hoặc với mục đích nhằm giải hạn, trừ tà, chữa bệnh…

Đàn Tính của dân tộc Nùng/Tày.
Đàn Tính của dân tộc Nùng/Tày.

Mo, Tào: cũng như Then là hình thức sinh hoạt lễ nghi tín ngưỡng. Mo, Tào thường được sử dụng trong những dịp quan trọng của làng bản như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình như: lễ sinh nhật, giải hạn, trừ tà chữa bệnh… Riêng Tào chuyên dùng trong các đám tang lễ, lễ Cấp sắc của Then…

Hát ru: cũng như nhiều dân tộc khác, dân tộc Nùng cũng có là điệu ru riêng. Thường ru con trên nôi, địu trên lưng kể cả khi làm những công việc gia đình.

Hát Đồng dao: trẻ em dân tộc Nùng đặc biệt có nhiều làn điệu Đồng dao độc đáo, thường vừa hát vừa kết hợp các trò chơi và gắn với những lời ca nhận thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản.

Dân nhạc:

Dân tộc Nùng ít có những nhạc cụ dùng để độc tấu, thường nhạc cụ dùng để đệm cho hát như: Đàn tính, Xóc nhạc dùng trong hát Then, hòa tấu bộ gõ phục vụ trong các đám tang, Múa sư tử trong lễ hội Lồng tồngĐánh vui trong những ngày Tết Nguyên Đán. Nhạc cụ trong đám tang thường sử dụng: Trống, Thanh la, Chũm chọe, Khánh, Tù và, đôi nơi có thổi Sáo.

Múa:

Múa của người Nùng chủ yếu là các điệu múa trong nghi lễ, tín ngưỡng như: múa Chầu trong nghi lễ Then, múa Sliên tâng trong đám tang, múa Đèn, múa Sliên tâng trong lễ hội Lồng tồng

Trống của dân tộc Nùng.
Trống của dân tộc Nùng.

Troong – Nhạc cụ họ màng rung của người Nùng – Lạng Sơn

(Nguyễn Hạnh Sơn)

Troong nghĩa trống. Trống của người Nùng có nhiều kiểu dáng, kích cỡ hơn người Tày nhưng có 2 loại là phổ biến: trống cao và trống dẹt. Đa số các loại trống đều bịt bằng da trâu, da bò hoặc da nai bào mỏng…

Hầu hết các dân tộc ở Lạng Sơn đều sử dụng nhạc cụ màng rung (loại trống bịt da). Trống bịt da phong phú và đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và chủng loại nhạc cụ. Đa số các loại trống đều bịt bằng da trâu, da bò hoặc da nai bào mỏng và đều là nhạc cụ thuộc chi gõ và phương pháp kích âm là cầm dùi gõ vào mặt trống.

Trống của người Nùng có nhiều kiểu dáng, kích cỡ hơn người Tày nhưng có 2 loại là phổ biến:

Trống cao
Trống dẹt

Trống cao chuyên dùng trong đội nhạc rủ tử. Thân trống được làm bằng khúc gỗ khoét rỗng bên trong, cao khoảng 45 cm, đường kính 23 cm. Mặt trống phía trên được bịt bằng da, phía dưới để hở, cắt vát thành 3 chân. Mặt trên được bịt da bằng cách ghim chặt vào thân trống theo cách đóng đinh, hai phía để thừa hai miếng da hình tam giác khoét hai lỗ để cắm dùi. Dùi trống làm bằng gỗ kiểu dùi trần. Trống rủ tử của người Nùng cũng như của người Tày được sử dụng trong ngày Tết Nguyên đán, ngày hội lồng tồng. Trống hoà cùng với thanh la, não bạt làm nhạc cụ đệm cho múa sư tử, đệm tiết tấu cho các trò diễn trong ngày hội Lồng Tồng.

Loại Trống dẹt thường sử dụng trong đội nhạc của các thầy tào. Tuy là trống dẹt nhưng mỗi đội nhạc của các thầy ở các địa phương có hình dáng kích cỡ khác nhau và đều có tên gọi chung là troong tào, tổng tào. Trống dẹt được làm bằng một khúc gỗ ngắn khoét rỗng bên trong, chiều cao khoảng 10 cm đường kính mặt trống 23 cm. Hai mặt đều bịt bằng da, đặc biệt phần da ở thân trống được đục thành những lỗ nhỏ tạo kiểu dáng độc đáo. Trống được đánh bằng một dùi gỗ, kiểu dùi bịt vải.

Hát Sli là một làn điệu đặc trưng của người Nùng.
Hát Sli là một làn điệu đặc trưng của người Nùng.

Hát Sli Giang – Nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Nùng

(TH-Cinet-DTV)

Hát Sli rất phong phú và hấp dẫn, nhưng thể hiện đậm nét thế giới tâm hồn và truyền thống văn hoá của cộng đồng người Nùng phải kể đến điệu Sli Giang.

Cùng với những phong tục, tập quán đặc sắc, các dân tộc Nùng (Bắc Kạn) còn được biết đến thông qua những làn điều dân ca giao duyên truyền thống; trong đó có điệu hát Sli nói chung và điệu Sli Giang của nhóm người Nùng Giang nói riêng.

Hát Sli là một làn điệu đặc trưng của người Nùng, song điệu Sli của mỗi nhánh dân tộc Nùng lại có sự khác nhau. Nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Phàn Slình có Sli Phàn Slình, Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu… Nội dung của hát Sli nói chung, hát Sli Giang nói riêng rất phong phú và hấp dẫn, thể hiện đậm nét thế giới tâm hồn và truyền thống văn hoá của cộng đồng người Nùng trên địa bàn.

Sli Giang có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng. Những năm trước đây, hát Sli Giang ở huyện Na Rì không được phổ biến rộng rãi, chủ yếu được lưu truyền từ những người cao tuổi cho các thế hệ sau trong các gia đình Nùng Giang. Một vài năm trở lại đây, cùng với các hoạt động bảo tồn lễ hội, phong tục truyền thống của các dân tộc thiểu số, chính quyền huyện Na Rì cũng chú trọng và dành nhiều ưu tiên cho việc lưu giữ, bảo tồn làn điệu dân ca truyền thống của các dân tộc, trong đó có điệu hát Sli Giang.

Điệu Sli có nhiều cách hát khác nhau. Hát Sli của mỗi nhánh dân tộc Nùng lại có những nét độc đáo riêng. Song, dù là Sli Giang, Sli Phàn Slình hay Sli Sình Làng… thì mỗi câu hát, mỗi âm điệu đều thể hiện thế giới tâm hồn phong phú, độc đáo của cộng đồng dân cư. Đơn cử như Sli Giang có thể hát đối, hát đơn hay hát xướng trong các ngày hội, ngày lễ, đám cưới, ngày vào nhà mới…

Đặc điểm của Sli Giang là âm điệu luyến láy, rõ lời, dễ nghe và dễ đi vào lòng người. Hát Sli Giang ngoài việc ví, đối, lời hát sli còn được coi như tiếng hát giao duyên. Trong lời hát của điệu Sli Giang luôn có sự liên tưởng, ví von, thông qua những hình ảnh cụ thể để nói lên tâm tình con người. Dù lời hát nói về cây cối, trăng sao, năm tháng… thì cuối cùng vẫn là để nói về tình cảm, tâm trạng và nguyện vọng của con người. Khi hát Sli không cần nhạc cụ hay điệu múa đi kèm. Người hát có thể hát bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là có đối tượng để hát đối, hát cùng hoặc là đối tượng được hướng đến trong bài hát.

Để gìn giữ điệu Sli Giang của dân tộc Nùng, ngoài việc thành lập các Câu lạc bộ Văn hoá nghệ thuật dân tộc, thì việc truyền dạy lại cho thế hệ trẻ là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ quan trọng của cấp Ủy, chính quyền và Ngành Văn hóa – Thông tin huyện Na Rì trong thời gian tới là tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích, tự hào cho những thế hệ sau đối với những làn điệu dân ca, dân vũ nói chung và điệu Sli Giang của dân tộc Nùng Giang nói riêng.

Hát Soong Hao.
Hát Soong Hao.

Tiếng hát Soong hao của người Nùng Phàn Xình

Đến vùng đất vải Lục Ngạn, Bắc Giang, hẳn chúng ta không quên được những lời hát giao duyên ngọt ngào, đằm thắm nơi đây. Những câu hát bắc nên nhịp cầu lương duyên cho các đôi trai gái. Người Nùng Phàn Xình gọi đó là hát Soong hao.

Theo tiếng Nùng, Soong hao nghĩa là hai ta, đôi ta. Đây là lối hát giao duyên có từ lâu đời của dân tộc Nùng và đã trở thành cây cầu bắc mối lương duyên cho các đôi trai gái đến với nhau, yêu nhau và kết thành chồng vợ.

Khác với nhiều dân tộc thiểu số khác, hát Soong hao của dân tộc Nùng không có nhạc đệm. Tuy nhiên, không vì thế mà nó kém đi sức hập dẫn, say đắm, ngọt ngào. Đối với người Nùng, những tiếng hát ấy đã ăn sâu vào tâm khảm họ và tồn tại từ bao đời nay.

“Pê hạc pén ma cà nả sở
Kin càng say toong bô mi ho”

Dịch là:

“Tôi gặp được bạn trong phiên chợ này
Hỏi xem bạn đã có người yêu chưa”

Hát Soong Hao.
Hát Soong Hao.

Hát giao duyên, đám cưới và ngày thường là những điệu hát chính của Soong hao. Các nhóm trai gái Nùng từ 5 – 7 người thường rủ nhau đi chợ phiên, khi trăng rằm, khi xuân đến để hát với nhau. Trong khi hát, trai ngồi một bên, gái ngồi đối diện. Qua những canh hát tập thể kéo dài, nếu tìm được bạn ưng ý, các nhóm tách nhau ra để hát đôi. Lúc này, họ sẽ hát những bài mang tính tâm sự, thổ lộ nỗi lòng và những lời sâu kín từ trái tim.

Hát Soong hao ngày thường (hát trong nhà) thường là khi đến chơi nhà người quen và được nhóm hát ở đó mời. Đầu tiên là những câu hát đối đáp sẵn có. Sau đó, để diễn tả tình cảm của mình, người hát đã ứng khẩu, hát với nhau những lời say đắm nhất. Cứ thế, hết đôi này đến đôi kia, hát Soong hao kéo dài đến hết cả đêm, sang ngày hôm sau. Chính nhờ những câu hát ấy mà nhiều đôi đã thành vợ thành chồng.

Bên cạnh đó, hát Soong hao trở thành một phần không thể thiếu trong đám cưới của người Nùng. Theo phong tục của dân tộc Nùng, khi chọn phù dâu và phù rể, nhà trai, nhà gái phải chọn người có ngoại hình đẹp, bản thân và gia đình tốt nhưng nhất thiết phải hát hay để có thể nắm chắc phần thắng khi thi hát và tạo không khí sôi nổi, vui vẻ trong đám cưới. Mỗi cuộc hát Soong hao có trình tự riêng tuỳ thuộc vào tâm trạng người hát hoặc quan hệ chủ – khách.

Ngày nay, hát Soong hao không chỉ là lời hát gia duyên nồng nàn của trai gái người Nùng mà còn được người dân nơi đây ứng dụng vào các phong trào văn nghệ, các cuộc vận động. Vì thế, không ít lời mới được ra đời, và nội dung của lối hát này cũng vì thế mà phong phú lên và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của các bà con dân tộc Nùng.

Chuẩn bị đồ cúng.
Chuẩn bị đồ cúng.

Lễ hội cầu mùa của đồng bào Nùng, Lạng Sơn

(TH-Cinet-DTV)

Cầu mùa là một trong những lễ hội đặc sắc của dân tộc Nùng (Lạng Sơn), được tổ chức với ý nghĩa cầu cho mùa màng bội thu, làm ăn no đủ, người người khỏe mạnh.

Ở Lạng Sơn người Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các dân tộc của tỉnh. Bản thân dân tộc Nùng được chia thành nhiều nhóm địa phương với tên gọi thường gắn liền với địa danh nơi di cư hoặc trang phục: Nùng Cháo, Nùng An, Nùng Phàn Slình, Nùng Cúm cọt, Nùng Inh, Nùng Hua lài… Chính vì vậy, phong tục tập quán của họ rất phong phú và đa dạng. Trong đó phải kể đến lễ hội cầu mùa.

Theo phong tục, cứ đến ngày chính hội, bà con dân bản lại chuẩn bị các lễ vật để dâng cúng các vị thần linh và thổ công thành hoàng. Mâm lễ vật trong đó không thể thiếu gà luộc, các loại bánh như: khẩu sli, bánh khảo, pẻng khô (bánh bỏng)… Đây chính là sản phẩm của những bàn tay lao động, những món ăn đậm đà hương vị quê hương.

Chủ lễ thực hiện các nghi thức khấn lễ.
Chủ lễ thực hiện các nghi thức khấn lễ.

Chính giờ lành, Pú-mo – người chủ lễ đại diện cho cộng đồng dân bản thắp nén hương thơm, dâng rượu và thực hiện các nghi thức khấn lễ, cầu cho năm mới “làm gì cũng được, ước gì cũng nên, mùa màng bội thu, trâu bò đầy chuồng, lộc phúc muôn nơi”…

Đặc biệt, nghi lễ được thực hiện để Thành hoàng tiếp nhận thông qua 3 lần xin tén (xin âm dương) của chủ lễ: lần 1 mời Thành hoàng về hưởng lễ vật do con cháu dâng lên; lần 2 Thành hoàng đồng ý phù hộ cho dân làng được 1 năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi; lần 3 thể hiện sau khi Thành hoàng “quang lâm giá đáo, hưởng lộc” và đã về trời.

Múa kỳ lân trong lễ cầu mùa.
Múa kỳ lân trong lễ cầu mùa.

Sau các nghi thức cúng lễ thành kính, kỳ lân vào múa hội trong tiếng nhạc rộn ràng cùng những câu lượn, câu si, câu then hòa ngây ngất, mời gọi khắp nẻo đường. Những màn múa vui bằng các trò khỉ (lòng ná lình), vượn người (lò hán), đười ươi (báo đông) cho đến các bài võ cổ truyền dân tộc bắt mắt người xem, tôn lên tinh thần thượng võ.

Bên cạnh đó, những trò chơi như: tung còn, đẩy gậy, kéo co, chơi yến. Ngoài ra đồng bào còn hát cho nhau những câu sli slong hàu (tức là hai mình) của người Nùng Phàn Xình trong những ngày hội cầu mùa; chơi trò “lảy cỏ” (trò chơi chuyện)… tất cả tạo nên những âm thanh rộn rã, tiếng cười vui náo nhiệt hòa trong chén rượu men lá ngây ngất làm cho không khí ngày hội thêm tưng bừng.

Trong không khí rộn ràng, nô nức của ngày xuân, hình ảnh con kỳ lân (kỳ lằn) của đồng bào xứ Lạng xuất hiện để cầu chúc năm mới may mắn, bình yên cho dân bản. Đó còn là một biểu tượng sinh động của mùa xuân, một nét đắc sắc, riêng có của xứ Lạng.

Thầy cúng làm các nghi lễ cúng thần Rừng.
Thầy cúng làm các nghi lễ cúng thần Rừng.

Lễ cúng Thần rừng của người Nùng ở Hà Giang

(TH-Cinet-DTV)

Cúng Thần rừng là một lễ thức dân gian mang tính cộng đồng đặc sắc của người Nùng ở Hà Giang, được tổ chức nhằm cầu chúc một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu…

Trong ý thức người Nùng ở Hoàng Su Phì, rừng cấm là nơi thần rừng cư ngụ và để có cuộc sống no đủ, gia đình được khỏe mạnh, không đau ốm thì dân làng không được phép xâm phạm vào nơi ở của thần rừng, không được chặt cây, lấy củi, săn bắt thú… hàng năm, vào tháng hai hoặc tháng tháng ba âm lịch, người Nùng ở khắp các thôn bản trong huyện lại cùng nhau tổ chức Lễ cúng rừng.

Để chuẩn bị cho lễ cúng Thần rừng, trước đó khoảng 1 ngày, các hộ gia đình trong toàn xã cử một người nam giới mang theo đồ lễ đến khu rừng cấm để đóng góp. Trong các vật phẩm thì có một số lễ vật không thể thiếu được đó là: Một con trâu (cứ 3 năm thì cúng một lần), một con lợn từ 50kg trở lên, 4 con gà trống, rượu và cơm xôi đỏ để làm lễ cúng. Ngoài ra, còn có hương, tiền, bạc được làm từ giấy rơm hoặc giấy dó. Các lễ vật được bày trên 4 đàn lễ gồm: Đàn lễ cúng Hoàng Vần Thùng và 3 đàn lễ cúng các cận thần của Hoàng Vần Thùng là ông Tí Táo, ông Bảo, ông Liều.

Chỉ có đàn ông mới được phép tham gia lễ cúng rừng.
Chỉ có đàn ông mới được phép tham gia lễ cúng rừng.

Thầy cúng tiến hành tuần tự các bài cúng đối với từng lễ vật dâng lên thần rừng và tổ tiên, báo cáo thần rừng từng lễ vật dâng thần, xin thần rừng làm chứng. Nội dung của phần cúng này là mời thần rừng về dự lễ cúng, liệt kê những lễ vật mà dân làng dâng lên và mong các vị thần đón nhận. Bài cúng kết thúc cũng là lúc thần rừng và các vị thần đã tề tựu đầy đủ và chấp nhận những lễ vật mà dân làng dâng lên. Bài cúng thể hiện lòng biết ơn thần linh đã che chở cho dân làng, hàm ý mong thần rừng phù hộ cho một năm mới mưa thuận gió hòa, để mọi người có sức khỏe dồi dào, cửa nhà êm ấm, làm ăn phát đạt.

Sau khi tiến hành các nghi thức cúng mang tính bắt buộc như: Nhập đàn, cầu phúc, cầu lộc, nhận lễ sống, nhận lễ chín, tiễn Thần rừng xa giá về Cản Nhủng thì số lễ vật sẽ được dành một ít để chế biến làm đồ lễ và làm thức ăn sau khi tế lễ, số còn lại được chia đều thành các phần nhỏ cho mỗi gia đình một ít, sau khi nhận số thịt này, mọi người đem về làm lễ vật để tiếp tục cúng thần nông tại khoảng sân bằng ngay trước gian giữa của miếu thờ. Toàn bộ số lễ vật còn lại được chế biến và ăn uống ngay tại khu rừng cấm.

Cúng xong, dân làng tiến hành chặt thịt để nấu ăn ngay tại rừng.
Cúng xong, dân làng tiến hành chặt thịt để nấu ăn ngay tại rừng.

Tiếp đến Phần hội diễn ra, trong đó không thể thiếu được điệu múa ngựa – điệu múa mang đậm màu sắc tín ngưỡng của dân tộc Nùng. Cùng với ý nghĩa muốn dâng lên Hoàng Vần Thùng những đồ dùng, dụng cụ và phương tiện sinh hoạt hàng ngày thì với những động tác uốn lượn mềm dẻo linh hoạt, hòa trong tiếng nhạc chuông rộn rã cho thấy sự điêu luyện trong nghệ thuật trình diễn và tính độc đáo của các đạo cụ của người Nùng. Qua đó, khiến cho lễ hội cúng rừng trở lên sinh động nhưng không kém phần huyền bí giữa một không gian chốn rừng thiêng mà hàng ngày vốn âm thầm tĩnh lặng.

Trước khi ra về, tất cả mọi người tham gia lễ cúng đều đến vái tạ trước bài vị Hoàng Vần Thùng để thể hiện sự tôn kính đối với những bậc tiền nhân.

Nghi thức cúng Thần rừng của người Nùng ở Hoàng Su Phì đã thể hiện những nét văn hóa độc đáo riêng, tạo nên sự đa dạng trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung và của tỉnh Hà Giang nói riêng mà chúng ta cần phải giữ gìn. Thông qua Lễ cúng Thần rừng cũng làm cho nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ rừng và nguồn nước được tốt hơn. Bên cạnh đó xét về khía cạnh lịch sử thì Lễ cúng thần rừng chính là kho tài liệu quý báu về tinh thần gắn kết cộng đồng của các tộc họ người Nùng trước một thiên nhiên bao la rộng lớn mà cũng đầy rẫy những bất trắc khó khăn luôn rình rập.

Người Nùng tổ chức Lễ khao tổ vào dịp tân gia hoặc vào những ngày lễ lớn của gia đình trong năm.
Người Nùng tổ chức Lễ khao tổ vào dịp tân gia hoặc vào những ngày lễ lớn của gia đình trong năm.

Lễ khao tổ của người Nùng, Bắc Giang

(TH-Cinet-DTV)

Lễ khao tổ là dịp để người Nùng ôn lại nét đẹp trong phong tục của dân tộc, giáo dục thế hệ trẻ nhớ tới cội nguồn của gia đình, dòng họ, đồng thời thể hiện tính nhân văn, tính cộng đồng…

Người Nùng ở Bắc Giang tổ chức lễ khao tổ vào bất cứ tháng nào trong năm, tuy nhiên vào dịp cuối năm, khi Tết đến xuân về, công việc đồng áng đã xong xuôi là thời điểm thích hợp nhất để làm lễ. Lễ khao tổ có thể tổ chức vào dịp tân gia hoặc vào những ngày lễ lớn của gia đình trong năm.

Buổi lễ khao tổ được diễn ra trọn vẹn trong một ngày, thành phần không thể thiếu là pháp sư, họ sẽ giúp gia chủ chủ trì buổi lễ. Trước khi vào nghi lễ chính, pháp sư cúng để mời thầy thánh của mình về chứng giám buổi lễ. Sau đó, pháp sư tiếp tục thực hiện các bài cúng để mời tổ tiên của gia chủ. Thường lễ khao tổ sẽ mời tổ tiên chín đời của gia chủ gồm cả nội, ngoại. Trong quá trình đi mời tổ tiên pháp sư sẽ thực hiện một cuộc trò chuyện dài với tổ tiên của gia chủ từ đời thứ nhất tới đời thứ chín, pháp sư phải trình bày đầy đủ và khéo léo để làm sao mời được đầy đủ chín đời tổ tiên của gia chủ về dự lễ.

Hành trình của pháp sư đi mời tổ tiên cũng như một đội quân hùng hậu, có ngựa, kiếm, giáo mác và ấn. Muốn vượt qua những chặng đường gian nan đòi hỏi sự cao tay của người pháp sư qua những bài cúng của mình. Trong khi cúng mời tổ tiên, pháp sư cầm một giá gạo trong có đựng chiếc áo của gia chủ, điều này để các cụ tổ tiên nhận được chính xác vía của con cháu và về tham dự buổi lễ.

Buổi lễ trở nên tấp nập và phần chuẩn bị đầy đủ hơn khi pháp sư mời được tổ tiên về tới gia đình của gia chủ. Đến phần này, con cháu trong gia đình phải lập một bàn thờ tổ tiên, bàn thờ được dựng lên có năm cây bói (cây lau) cột xung quanh, được che bằng một tấm vải trắng, tượng trưng cho việc con cháu đã chuẩn bị một buồng khách trang trọng dành cho tổ tiên của mình.

Bên trên bàn thờ vẫn là bát hương, rượu và cơm nếp được gói thành gói riêng. Chiếc bàn này dành cho tổ tiên chín đời nội của gia chủ. Phía dưới bàn là một mâm dành cho người dẫn đường chỉ lối cho tổ tiên vào nhà.

Hai mâm bên dưới là mâm nội ngoại của gia chủ, được trải trên tàu chuối, phía bên trái là mâm bên ngoại, bên phải là mâm bên nội và mâm của mụ sinh, mâm nào cũng có rượu và cơm nếp.

Lễ khao tổ như một bữa tiệc cuối năm vui vẻ, ấm cúng, thể hiện tình đoàn kết, gắn bó giữa người với người.
Lễ khao tổ như một bữa tiệc cuối năm vui vẻ, ấm cúng, thể hiện tình đoàn kết, gắn bó giữa người với người.

Phía bên ngoài có một mâm dành cho người canh gác để buổi lễ được diễn ra an toàn, ngoài sân một mâm che ô dành cho những khách vãng lai tới xem buổi lễ. Lúc này pháp sư tiếp tục cúng để báo cáo lại với tổ tiên con cháu đã đặt mâm đúng vị trí không phạm tới tổ tiên, mọi vị trí đều đã được tẩy uế sạch sẽ, mời tổ tiên về nhận lễ.

Sau đó là lễ trao sinh tức là mời tổ tiên nhận lễ con cháu dâng, lễ này gồm gà, lợn sống, được tiến hành ở hai không gian trong nhà và ngoài sân, song song với việc cúng của pháp sư con cháu ở ngoài sân chuẩn bị hành lễ cắt tiết gà, lợn.

Những người được chọn để hành lễ đã được kiêng cữ vài ngày trước khi buổi lễ diễn ra. Khi pháp sư thực hiện nghi lễ cúi đầu tức là xin tổ tiên nhận lễ, sau đó ra hiệu cho con cháu bên ngoài hành lễ. Trong quá trình cúng lễ pháp sư kể lại quá trình chín đời dòng họ sinh sống đặc biệt là của gia chủ làm lễ. Điều đó giúp giáo dục con cháu nhớ và biết ơn tổ tiên mình.

Khi mời tổ tiên dùng lễ chín gồm gà luộc, pháp sư sẽ dùng lời lẽ trong bài cúng của mình để mong tổ tiên hiểu tấm lòng con cháu. Lúc này pháp sư đứng lên thực hiện nghi lễ, gia chủ đứng phía sau để rót rượu mời tổ tiên.

Sau những lời thỉnh cầu với tổ tiên pháp sư làm lễ tiễn tổ tiên. Nghi lễ tiễn gồm một con gà tượng trưng cho quà đi đường về của tổ tiên. Khi con gà được tung ra bên ngoài sân là tổ tiên cũng đã lên đường hành trình đi về. Nghi lễ tiễn tổ tiên kết thúc là lúc lễ sống mới được mang xuống bếp chế biến.

Đặc biệt trong buổi lễ khao tổ gia chủ không chỉ mời anh em trong họ mà có thể mời những người khách thân thiết của gia đình đến. Nó như một bữa tiệc cuối năm vui vẻ, ấm cúng, thể hiện tình đoàn kết, gắn bó giữa người với người. Mọi người cùng hàn huyên câu chuyện của năm cũ, chia sẻ bàn bạc những dự định của năm mới… Cũng chính vì vậy, lễ khao tổ của người Nùng vẫn luôn được dân tộc Nùng coi trọng và gìn giữ như một giá trị quý báu.

Mâm cỗ ngày Tết của bà con dân tộc Nùng.
Mâm cỗ ngày Tết của bà con dân tộc Nùng.

Phong tục rửa bàn thờ đón giao thừa của người Nùng, Cao Bằng

(TH-CinetDTV)

Phong tục rửa bàn thờ đón giao thừa, cúng tổ tiên trong những ngày Tết được người Nùng ở Cao Bằng gìn giữ và coi trọng. Điều đó không chỉ mang yếu tố tâm linh kính trọng ông bà, tổ tiên mà còn mang những giá trị văn hoá dân tộc đặc trưng.

Ở xã Phúc Sen (Quảng Uyên), 100% hộ gia đình là dân tộc Nùng An sinh sống. Người Nùng nơi đây đón giao thừa với những phong tục rất đặc trưng và độc đáo, trong đó, có phong tục cổ truyền xông, rửa bàn thờ gia tiên trước thời khắc chuyển giao sang năm mới.

Từ chiều ba mươi Tết, không khí tấp nập, nhộn nhịp đón mừng tất niên đã tràn ngập khắp các xóm, làng của người Nùng. Trên bàn thờ tổ tiên của các gia đình, những mâm cỗ đầy đủ hơn, tươm tất hơn để đón thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới trong sự sung túc, an vui đã sẵn sàng.

Đối với người Nùng, giao thừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là thời khắc đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, mà còn là dịp để con cháu thể hiện tấm lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên, những đáng bậc tiền nhân sinh thành ra mình. Đúng thời khắc giao thừa, người trụ cột chính trong gia đình sẽ thắp một nén nhang lên bàn thờ tổ tiên để báo hiệu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới đã đến. Những lễ vật như thịt gà, thịt lợn, xôi ngũ sắc sẽ được dọn lên bàn thờ để mời tổ tiên tới hưởng lộc cùng con cháu.

Mỗi dịp Tết đến, người Nùng đun nước lá bưởi thơm để rửa bát hương, xông bàn thờ và đồ lễ thắp hương đón năm mới.
Mỗi dịp Tết đến, người Nùng đun nước lá bưởi thơm để rửa bát hương, xông bàn thờ và đồ lễ thắp hương đón năm mới.

Tiếp đó là lễ xông hơi để “rửa ban thờ”. Trước khi hạ bát hương từ bàn thờ xuống để lau, rửa, chủ nhà thắp hương báo với ông bà, tổ tiên, sau đó dồn toàn bộ số chân hương và tro cũ gói vào một bọc giấy cất cao lên hàng rào gần nhà rồi cắm 3 nén hương lên trên bọc giấy. Nước dùng để lau, rửa bát hương được đun ấm từ lá bưởi thơm rồi phơi khô bát hương, khi bát hương đã khô, chủ nhà cắt giấy bản thành vòng tròn cho vào dưới đáy bát hương để lót và đặt tro mịn vào bát hương. Tiếp đó, dùng khăn sạch lau dọn toàn bộ khu vực xung quanh bàn thờ để chuyển đặt bát hương về vị trí cũ rồi xếp bánh kẹo, hoa quả, bánh chưng…, lên thắp hương và thắp hương liên tục không để tắt. Từ tối ba mươi Tết đến hết ngày mùng ba, mùng bốn Tết, trên bàn thờ luôn luôn đặt một con gà trống đã được làm thịt để thắp hương; hằng ngày cúng cơm 2 bữa liên tục cho đến khi hoá vàng.

Rửa bàn thờ là phong tục có từ rất lâu của người Nùng nơi đây. Họ qua niệm khi xông, hơi tỏa ra từ chậu nước chứa lá thơm sẽ làm cho bàn thờ gia tiên thơm tho hơn, dễ chịu hơn. Những cái xấu của năm cũ sẽ trôi đi, đón một năm mới trong sạch đẹp, an khang hơn. Làm xong lễ “rửa bàn thờ” bà con đi tới từng gia đình để chúc tết, xông nhà. Chúc cho nhau năm mới sức khỏe, an khang và thịnh vượng.

Mỗi dân tộc đều có những phong tục đón giao thừa riêng, đón xuân riêng, nhưng đối với đồng bào Nùng thì đây có lẽ phong tục độc đáo nhất ngày xuân chỉ ở nơi đây mới có. Đó là phong tục
văn hóa ngày tết hay và độc đáo nên cần được gìn giữ và bảo tồn.

Phụ nữ Nùng được nghỉ ngơi, thoải mái vui chơi trong ba ngày Tết.
Phụ nữ Nùng được nghỉ ngơi, thoải mái vui chơi trong ba ngày Tết.

Độc đáo phong tục “Trọng vợ” trong Ngày Tết của người Nùng ở Lào Cai

(TH-Cinet-DTV)

Trong ba ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc Nùng (Lào Cai), phụ nữ trong gia đình được nghỉ ngơi, ăn chơi rất thoải mái, rũ bỏ mọi vất vả thường ngày…

Người Nùng Lào Cai phân bố chủ yếu tại ba huyện Mường Khương, Bắc Hà và Si Ma Cai. Mặc dù không thuộc chế độ mẫu hệ, song trong số cộng đồng 54 dân tộc, người Nùng vốn nổi tiếng với tập tục “trọng vợ”, đề cao phụ nữ. Đây là dân tộc có nhiều phong tục tập quán đặc sắc; trong đó, việc tôn vinh người phụ nữ trong ba ngày Tết nguyên đán được coi là nét đẹp văn hóa được bảo tồn và gìn giữ cho đến ngày nay.

Phụ nữ người Nùng từ nhỏ đến tuổi trưởng thành luôn phải làm lụng trên nương rẫy, ruộng đồng để giúp đỡ ông bà, cha mẹ công việc đồng áng, chăn nuôi lợn gà… Khi đi xây dựng gia đình, theo bổn phận làm dâu, ngoài công việc lao động sản xuất đồng áng còn phải gánh vác nội trợ gia đình, nuôi dạy, bảo ban con cái.

Thời gian ăn tết của người Nùng diễn ra tương đối dài từ ngày 28 tháng Chạp cho đến hết rằm tháng Giêng. Việc chuẩn bị phải được tiến hành trước đó nhiều ngày. Đặc biệt trong những ngày 29, 30 Tết người phụ nữ tất bật và vất vả nhất. Ngoài sửa sang bàn thờ, dán giấy đỏ, dọn dẹp nhà cửa sân vườn, lo thức ăn cho gia súc, gia cầm, từ ngày 29 đã phải gói bánh chưng, ngâm gạo giã bánh dày, nấu xôi, chuẩn bị thực phẩm ngày tết… Để ghi nhận công lao “một nắng hai sương” của người phụ nữ trong gia đình suốt một năm, các bậc tổ tiên khi xưa của người Nùng đã hình thành phong tục “biến phụ nữ thành bà hoàng ăn chơi suốt ba ngày tết trọng đại của dân tộc”.

Theo đó, kể từ khi bắt đầu đón giao thừa cho đến hết ngày mồng 3 Tết, mọi công việc nội trợ, bếp núc lợn gà… đều chuyển giao cho người đàn ông thực hiện. Trong ngày Tết cổ truyền, người Nùng có phong tục làm mâm lễ cúng gia tiên sáng mồng một, cúng thổ địa sáng mồng hai và sáng mồng ba hóa vàng tiễn các ông tổ bà tiên trở về nơi ở. Các buổi sáng làm lễ đều phải thức dậy từ rất sớm, trước khi trời sáng. Mặc dù công việc bếp núc vất vả nhưng người cha, người chồng, người con trai đều tự giác làm việc, người nào việc ấy để cho các bà mẹ, người vợ, người con gái được ngủ.

Khi làm mâm cúng (mổ gà, nấu cơm và chế biến các loại thức ăn…) cũng đều làm rất nhẹ nhàng, khe khẽ tránh động đến giấc ngủ các “bà hoàng”. Khi làm lễ cúng xong thì đun nước nóng, pha nước vào chậu rửa mặt (hoặc rửa chân) mời họ dậy đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo mới ngồi vào mâm cỗ đã được dọn sẵn. Trong lúc ăn, kể cả có khách người phụ nữ cũng chỉ phải rót nước, rượu và gắp thức ăn mời, không phải phục vụ đứng dậy bưng bê.

Sau khi ăn uống xong, người phụ nữ diện quần áo mới đi chơi thỏa thích, khi nào đến bữa người đàn ông đều tự nấu cơm rồi chờ họ về dùng bữa. Sau đó, đun nước nóng cho các bà mẹ, bà vợ, con gái (cháu gái) rửa chân tay trước khi đi ngủ. Tất cả các loại gia súc, gia cầm (trâu, ngựa, lợn, gà..) trong ba ngày tết đều do “nửa kia” đảm nhiệm hoàn toàn. Có thể nói trong ba ngày tết nguyên đán cổ truyền, phụ nữ trong gia đình được nghỉ ngơi, ăn chơi rất thoải mái, rũ bỏ mọi vất vả thường ngày.

Tập tục “trọng vợ” của người Nùng nói chung chứa đựng những quy chuẩn về các giá trị đạo đức, văn hóa tiến bộ. Việc duy trì và khôi phục tập quán tốt đẹp này của người Nùng sẽ góp phần không nhỏ vào việc xây dựng gia đình hạnh phúc – gia đình văn hóa ở mỗi thôn bản địa phương của tỉnh Lào Cai.

Trang phục truyền thống nam, nữ dân tộc Nùng.
Trang phục truyền thống nam, nữ dân tộc Nùng.

Trang phục dân tộc Nùng

(TQ-DTV)

Bộ y phục của người Nùng được cắt may từ vải đen nhuộm chàm, phần lớn chúng không có nhiều hoa văn và đường nét. Đặc biệt, nam nữ người Nùng đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếc răng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng.

Từ xưa tới nay, cả nam và nữ đều mặc một loại quần cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân và các đường viền chỉ màu tập trung rõ nhất ở tà và gấu áo.

Nam giới người Nùng thường mặc áo dài ngang hông, tứ thân, may áo gần sát người, tay áo dài và rộng, cổ áo khoét tròn, áo có 7 cúc và thường có 4 túi hoặc 2 túi. Trong khi đó, trang phục của phụ nữ Nùng phong phú và đa đạng hơn.

Phụ nữ Nùng mặc áo năm thân màu chàm, áo ngắn đủ che mông, áo được may rất rộng cả phần thân và tay, giúp cho cử động được thoải mái. Chiếc áo của phụ nữ Nùng được trang trí bằng cách thêm miếng vải khác màu vào cổ tay áo và phía trước ngực, thông thường là vải đen đắp lên áo chàm.

Trang phục người Nùng An.
Trang phục người Nùng An.

Ngày nay, họ mặc cả loại áo 5 thân và 4 thân. Áo ngắn 4 thân có cổ áo tròn, xẻ ngực, nẹp và gấu áo rộng, hai túi nhỏ ở vạt trước, cài 9 hàng cúc vải ở nẹp áo. Loại áo này phần lớn dùng mặc trong nhà, đi lao động hay mặc trong áo dài năm thân. Chỉ riêng nhóm Nùng Dín thì áo ngắn 4 thân lại là loại áo mặc chính, còn loại áo 5 thân may ngắn, chỉ vừa che kín bụng, dùng mặc trong nhà, khi đi ngủ, mặc lót trong loại áo 4 thân khi đi ra khỏi nhà.

Màu sắc trên trang phục dân tộc Nùng cũng khá đa đạng, từ màu xanh nhạt, đến xanh thẫm, tím than, xanh đen rồi phổ biến nhất là màu chàm.

Bên cạnh áo, váy cũng là một bộ phận quan trọng, tạo nên nét đặc sắc của trang phục truyền thống Nùng. Váy của người Nùng phân rõ thành cạp váy, giải buộc váy, thân váy và gấu váy. Nhiều khi họ gọi cạp váy là đầu váy, còn gấu váy là chân váy. Thân váy được ghép lại từ 4 mảnh, gấu váy được đáp thêm vải khác màu, vừa cho gấu váy cứng vừa làm đẹp. Khi mặc, người ta gấp phần váy thừa ra phía trước hoặc phía hông. Khi đi chợ, đi thăm viếng, người ta để gấu váy phủ thấp chấm mắt cá chân, còn khi đi làm thì kéo gập váy lên cao cho tiện và sạch sẽ hơn.

Nghệ thuật may váy của người Nùng đáng chú ý nhất là của tộc người Nùng Dín. Họ có cắt may váy kiểu xoè xếp nếp, váy tạo thành bởi hai lớp vải, lớp ngoài dày và cứng hơn, còn lớp trong thì mỏng và mềm. Váy không khép kín hai mép vải dọc thân váy lại mà để hở khi mặc, mép nọ đè chồng lên mép kia, làm cho người mặc vẫn có cảm giác kín đáo.

Trang phục người Nùng Dín.
Trang phục người Nùng Dín.

Kết cấu của váy người Nùng Dín được tạo nên từ cạp váy, đầu váy, thân váy và gấu váy. Cạp váy nối với đầu váy, hai bên tạo thành hai dây vải dài dùng để thay cho thứ dây lưng hay giải rút, thắt cho váy giữ chặt vào eo lưng. Đầu váy thường là mảnh vải khác màu, trắng hay xanh, khâu liền một phía với thân váy, phía kia với cạp váy. Đầu váy có chiều dài khoảng gấp rưỡi vòng bụng, nhưng lại ngắn hơn rất nhiều chiều ngang của vải thân váy. Do vậy, khi khâu lại với nhau, thân váy phải xếp nếp sao cho đều, khi mặc, các nếp xếp gối nhau đều đặn chảy dài theo chân váy. Khi đi làm, để cho gọn ghẽ, dễ cử động, người ta túm một túm vải thân váy ở phía sau, buộc lại tạo thành cục gọi là phàn phái (túi vải), từ đó mới có tên gọi là Nùng U hay Nùng phàn phái.

Bên cạnh đó, dây lưng cũng là một bộ phận quan trọng để hoàn thiện bộ trang phục người Nùng. Loại phụ kiện này có sự khác nhau giữa các nhóm. Nhóm Nùng Dín có dây lưng dệt bằng sợi tơ tằm, trên mặt vải dệt những đường nét hoa văn hình thang song song, hình răng cưa, quả trám, lượn sóng, hình chim cách điệu… Khi mặc, quấn dây lưng quanh bụng, hai đàu dây dắt mối ở hai bên hông. Trong khi đó, dây lưng của phụ nữ Nùng Lòi bằng sợi bông dệt và nhuộm chàm, hai đàu dây thả mối phía sau dài chấm bắp chân. Dây lưng của nhóm Nùng An thì tuyền một màu xanh chàm, còn phụ nữ Nùng Xuồng thì thắt nhiều vòng thắt lưng ra ngoài áo dài, trên đó có dắt dây xà tích bằng đòng hay bạc, nổi rõ trên nền thắt lưng chàm.

Phụ nữ Nùng thường dùng hai loại khăn đội đầu là khăn thường gọi là bẩu qạ và khăn chỉ đội trong khi cưới xin, hội hè thì gọi là bẩu chịp. Ngoài ra, trang phục của phụ nữ Nùng còn phải kể tới tạp dề, xà cạp, đệm vai, giầy vải và một số đồ trang sức làm bằng kim loại đeo trên người. Người Nùng đeo vòng cổ, vòng tay, trâm cài tóc, dây chuyền, vòng tai… vừa để cho đẹp, vừa thể hiện quan niện tín ngưỡng các vị thần linh ở núi rừng Tây Bắc thiêng liêng.

Đường vào Phia Chang, Đỏ Cọ tuyệt đẹp với hai hàng đá xếp thật khéo nhằm bảo vệ rau màu khỏi sự phá phách của gia súc.
Đường vào Phia Chang, Đỏ Cọ tuyệt đẹp với hai hàng đá xếp thật khéo nhằm bảo vệ rau màu khỏi sự phá phách của gia súc.

Nét văn hóa dân tộc Nùng Phúc Sen

Không chỉ nổi tiếng với nghề rèn, hai bản Phia Chang, Đỏ Cọ (Xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) tuyệt đẹp ở từng ngõ xóm với những hàng rào đá, những vật dụng bằng đá, đặc biệt mỗi cây xanh được bảo vệ cũng bởi một hàng rào đá.

Không chỉ ruộng nương, vườn tược, nhà cửa… được bảo vệ bởi những hàng đá tự nhiên xếp cao từ 40 cm đến hàng mét mà cả những hàng cây xanh nơi chăn thả gia súc cũng được xếp đá bao quanh gốc tránh sự phá phách của trâu, bò, ngựa…

Điểm đặc biệt những hàng đá đều được xếp chồng lên nhau một cách khéo léo mà không cần bất kỳ chất kết dính nào. Theo bà Hoàng Thị Uyên (76 tuổi), người dân của bản cho biết thói quen dùng đá làm các vật dụng, hàng rào có từ thời nào không rõ, nhưng từ khi bà về làm dâu ở bản đã thấy rồi.

Từng cây xanh trong những hàng cây ở bãi chăn thả gia súc của bản đều được bà con người Nùng An nơi đây xếp những hàng đá bao quanh, tránh cho trâu, bò, ngựa phá phách. Những vòng tròn đá dưới bóng mát cây xanh lại là nơi ngả lưng của dân bản mỗi buổi chăn trâu, ngựa.

Điểm đặc biệt là những viên đá được xếp lên nhau mà không cần bất cứ chất kết dính nào nhưng không hề dễ rơi.
Điểm đặc biệt là những viên đá được xếp lên nhau mà không cần bất cứ chất kết dính nào nhưng không hề dễ rơi.

 

Từng con ngõ, mỗi vườn nhà của người dân Phia Chang, Đỏ Cọ đều hiện hữu những hàng rào đá xếp.
Từng con ngõ, mỗi vườn nhà của người dân Phia Chang, Đỏ Cọ đều hiện hữu những hàng rào đá xếp.

 

Không thiếu một gốc cây nào trên bãi chăn thả không được người dân xếp đá bảo vệ khỏi sự phá phách của đàn gia súc.
Không thiếu một gốc cây nào trên bãi chăn thả không được người dân xếp đá bảo vệ khỏi sự phá phách của đàn gia súc.

oOo

Người Nùng ở Việt Nam:

 

Văn hóa đặc sắc của người Nùng An ở Pác Rằng:

 

Lễ Hội Quảng Uyên – Dân tộc Tày-Nùng:

 

Lễ cấp sắc của người Tày – Nùng:

 

Lễ Hội Chọi Bò Của Dân Tộc Nùng Ở Xã Mã Ba-Hà Quảng-Cao Bằng:

 

Tết Thanh Minh Của dân tộc Tày, Nùng:

 

Hát Then, Tày- Choang (Zhuang), Quảng Tây, Trung Hoa:

 

Hát Then, Tày- Choang (Zhuang), Quảng Tây, Trung Hoa:

 

Múa truyền thống dân tộc Choang (Zhuang):

 

Múa dân tộc Choang (Zhuang):

 

Dân ca Choang (Zhuang):

 

Dân ca Nùng/Choang (Zhuang):

 

Dân ca Nùng/Choang (Zhuang):

 

Múa Sư Tử của người Nùng Phàn Slình thôn Nà Sla:

 

Múa Lân trong lễ hội Lồng tồng của người Nùng ở Bình Gia – Lạng sơn:

 

Hát Sli Soong Hao – Dân tộc Nùng:

 

Hát Sli – Bac Soi Cham:

 

Hát Soong Hao – xã Tân Hoa – 1:

 

Hát Soong Hao – xã Tân Hoa – 2:

 

Hát Soong Hao – xã Tân Hoa – 3:

 

Hát Then – dân tộc Nùng:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s