Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 1 (PHẦN 11)

Người dịch: Trương Lương Vinh
Biên tập: Đào Thu Hằng

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 1: Không Có Lựa Chọn Nào Khác Ngoài Năng Lượng Tái Tạo (Phần 11)

1E. Sự huy động toàn lực: Thay đổi năng lượng là một thách thức chính trị tập thể

Trong cuốn sách của mình, Kế hoạch B (Plan B), tác giả Lester Brown, nhà sáng lập của Viện Worldwatch (một tổ chức nghiên cứu môi trường toàn cầu -ND) và giám đốc hiện tại của Viện Chính Sách Trái Đất tại Washington, đòi hỏi một sự thể hiện chính trị với sức mạnh và tốc độ xứng đáng ngang với một sự huy động thời kỳ chiến tranh, để tác động đến việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo.

Ông nhắc lại cho chúng ta nhớ, vào đầu năm 1942 sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, và tuyên bố của Hitler về chiến tranh chống lại Mỹ vào năm 1941, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã làm thế nào để vận động quân đội và bắt đầu sản xuất hàng loạt tàu chiến, máy bay chiến đấu và xe tăng ngay lập tức, tuyên bố rằng “không ai dám nói điều này là không thể“. Những hành động này bao gồm một lệnh cấm gần ba năm trong hoạt động kinh doanh xe hơi cá nhân, cho phép ngành công nghiệp ô tô tập trung toàn bộ công suất vào sản xuất các phương tiện cần thiết cho chiến tranh.21

Một sự biểu hiện vượt trội về sức mạnh cũng phải được đòi hỏi để kết thúc cuộc chiến tranh trong đó năng lượng hạt nhân và hóa thạch chống lại những cơ hội tương lai của nền văn minh nhân loại, dù là điều này chỉ tương tự với sự huy động toàn lực thời kỳ chiến tranh quân sự của Roosevelt.

Sự huy động hiện tại cho việc chuyển đổi năng lượng đòi hỏi một cách tiếp cận hoàn toàn khác với cách của Roosevelt, bởi vì chúng ta đang đối mặt với những đối thủ hoàn toàn khác biệt: chúng ta cần phải nhắm vào việc sản xuất các công nghệ mới, tổ chức lại hoàn toàn cấu trúc kinh tế, một nền văn hóa mới của cách vận hành sản xuất trong một cơ cấu mới – một cơ cấu tổ chức được giải thoát khỏi những sự can thiệp theo định hướng của Nhà nước trong các quyết định của công ty. Mục đích của việc này là để vượt lên chủ nghĩa cơ cấu Nhà nước đối với ngành cung cấp điện năng truyền thống.

Tuy nhiên, Roosevelt là một ví dụ điển hình về mẫu người lý tưởng trong việc chủ động tập hợp tất cả sức mạnh cần thiết thông qua các phương pháp độc đáo. Ông đã không muốn bị buộc phải nói rằng “thật không may chúng ta không đủ sức chiến đấu với sự hung hăng của Nhật Bản và của Hitler Đức bởi vì điều này đòi hỏi quá nhiều đến cấu trúc kinh tế hiện hành của chúng ta“. Cũng như vậy, chúng ta phải không được sẵn lòng cho phép các chiến lược huy động cho việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo được thực hiện phụ thuộc vào – và tương thích với – những quyền lợi và cấu trúc của nguồn cung cấp năng lượng truyền thống. 

Chúng ta không thể xoa dịu các thế hệ tiếp theo, buộc họ phải đối phó với những hậu quả thảm khốc của năng lượng hóa thạch và hạt nhân, viện cớ rằng:Mặc dù chúng tôi đã có thể tránh được những thảm họa bằng cách tạo sự thay đổi sang năng lượng tái tạo, chúng tôi đã phải tính đến những quyền lợi đối lập. Điều đó đã quan trọng hơn. Chúng tôi xin lỗi về sự bất tiện này”.

Mọi chiến lược cho sự chuyển đổi năng lượng yêu cầu những trở ngại phải được vượt qua, tuy những trở ngại này khác biệt đối với từng quốc gia khác nhau. Bởi vì các nguồn năng lượng tái tạo tự nhiên thay đổi từ vùng này đến vùng khác, không thể có chiến lược toàn cầu đồng nhất cho sự thay đổi năng lượng. Văn hóa độc quyền của hệ thống cung cấp điện truyền thống, với mức độ tương đồng rõ rệt khi so sánh trên bình diện quốc tế, sẽ trở thành vô số các nền văn hóa năng lượng tái tạo.

Vì lý do này, chiến lược huy động đối với năng lượng tái tạo phải được nhắm đến chủ yếu ở cấp độ cá nhân – không phải vì lý do nhỏ hẹp, chủ nghĩa dân tộc, nhưng bởi vì mỗi chiến lược cần phản ánh nguồn năng lượng tái tạo tự nhiên của mỗi quốc gia, cũng như cấu trúc kinh tế và hệ thống pháp luật riêng, cả hai đều ràng buộc chặt chẽ với nguồn cung cấp năng lượng truyền thống trong nhiều phương diện.

Thêm vào đó là những giai đoạn khác nhau của sự phát triển kinh tế mà các quốc gia trải qua. Chúng ta có các quốc gia đang phát triển, các quốc gia nghèo và các quốc gia công nghiệp đã phát triển, những quốc gia có thị trường cấu trúc điện hoàn thiện và những quốc gia khác chỉ với mạng lưới thưa thớt. Một số quốc gia là nhà xuất khẩu năng lượng, số khác nhập khẩu năng lượng, một số quốc gia lớn với mật độ dân số thấp, một số quốc gia nhỏ khác nhưng với mật độ dân số cao.

Vì vậy sự chuyển đổi tổng quát sang năng lượng tái tạo không thể dựa trên một chiến lược duy nhất, áp dụng cho tất cả, mặc dù các sáng kiến thành công như Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo của Đức (EEG) có thể được sử dụng như một hình mẫu cho nhiều quốc gia. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng chỉ có thể áp dụng ở nơi đã có mạng lưới cơ sở hạ tầng, và chỉ dùng cho cung cấp điện hoặc khí đốt. Nhưng việc mở rộng mạng lưới điện để bao phủ toàn bộ quốc gia (điều đang thiếu ở nhiều nước đang phát triển) nhằm mục đích huy động sử dụng năng lượng tái tạo là điều không bao giờ còn cần thiết nữa.

Thật vậy, điều này (sự mở rộng mạng lưới điện -ND) sẽ làm chậm đáng kể việc thực thi phát triển năng lượng tái tạo. Hơn nữa, chúng ta không chỉ đang phải đối phó với việc cung cấp điện và thị trường điện, mà còn với nhu cầu về nhiệt và cung cấp nhiên liệu, quy định thị trường, quy hoạch khu vực, xây dựng pháp lý và luật về thuế và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đối diện với câu hỏi về khả năng chính trị của mỗi quốc gia để hành động phù hợp với Hiến pháp riêng của đất nước đó.

(còn tiếp)

Tham khảo:

21 Lester Brown, Plan B 2.0 (New York 2006) p254ff

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 6 thoughts on “Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 1 (PHẦN 11)”

  1. “Nhưng việc mở rộng mạng lưới điện để bao phủ toàn bộ quốc gia (điều đang thiếu ở nhiều nước đang phát triển) nhằm mục đích huy động sử dụng năng lượng tái tạo là điều không bao giờ còn cần thiết nữa.”

    Không những là không bao giờ còn cần thiết, mà còn là không nên.

    Mình nghĩ rằng phi tập trung, nhắm vào địa phương hay từng cá thể (entity), nên là chiến lược chính của NLTT. Đây không những là chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp NLTT và còn là chiến lược quốc phòng cho mạng lưới năng lượng quốc gia, vì phi tập trung thì bảo đảm được sự toàn vẹn của mạng lưới trong chiến tranh và thiên tai.

    Thích

  2. Em cảm ơn anh Hoành, đúng là điểm anh vừa nêu rất quan trọng: “phi tập trung, nhắm vào địa phương hay từng cá thể (entity), nên là chiến lược chính của NLTT“, vì phi tập trung thì bảo đảm được sự tự chủ. Với cách sử dụng điện truyền thống đã quá quen thuộc cho nên sự đầu tư ban đầu cho tự chủ này cần can đảm và hiểu biết về các nguồn năng lượng.

    Em xin làm rõ thêm về Đạo luật EEG mà Hermann Scheer nói trong phần này: “Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo của Đức (EEG) có thể được sử dụng như một hình mẫu cho nhiều quốc gia. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng chỉ có thể áp dụng ở nơi đã có mạng lưới cơ sở hạ tầng, và chỉ dùng cho cung cấp điện hoặc khí đốt“, bởi vì Đạo luật này có liên quan đến việc nối điện sản xuất từ NLTT vào lưới điện quốc gia, nhưng khi và chỉ khi đã có mạng lưới này chứ không mở rộng thêm, vì không cần thiết như anh Hoành đã nhấn mạnh.

    Ba nguyên tắc chính của EEG:
    1) Đầu tư bảo vệ thông qua sự đảm bảo ưu đãi giá (feed-in tariffs) và điều kiện nối lưới cho điện từ năng lượng tái tạo (NLTT).
    – Theo chính sách này, mỗi kilowatt-giờ được tạo ra từ các cơ sở NLTT được nhận được một biểu giá ưu đãi chi phí cố định. Hệ thống biểu giá này gần đây đã được sửa đổi để bây giờ cũng bao gồm một hệ thống cao cấp cạnh tranh trên thị trường.
    – Mạng điều hành được yêu cầu phải ưu tiên nối điện từ NLTT này vào lưới điện quốc gia ở mức độ ưu tiên cao hơn điện từ các nguồn thông thường (điện hạt nhân, than và khí đốt).
    – Những cơ sở vận hành nhà máy NLTT trên nguyên tắc nhận được 20 năm đảm bảo cho việc thu mua thanh toán cho điện sản xuất theo công nghệ cụ thể của họ.
    – Doanh nghiệp vừa và nhỏ được cấp giấy phép mới để tiếp cận thị trường điện, cùng với các chủ đất tư nhân.

    2) Không tính chi phí vào công quỹ của Đức.
    – Chương trình thúc đẩy điện từ NLTT này vẫn tiếp tục cần thiết cho đến hiện tại. Mức giá ưu đãi của EEG cho thấy điện từ gió, thủy điện, năng lượng mặt trời, sinh khối và năng lượng địa nhiệt thực sự vẫn đang có chi phí cao.
    – So với các loại nhiên liệu hóa thạch, chi phí ngoại vi của năng lượng tái tạo không có hoặc rất thấp,chẳng hạn như chi phí thiệt hại cho xã hội, môi trường, khí hậu và sức khỏe con người.
    – Mức giá điện ưu đãi cho NLTT đến gần đây được coi là không có trợ cấp, bởi vì giá điện đó không được trả bằng thuế chi từ công quỹ của Đức mà được trả bằng mỗi người tiêu dùng như một phụ phí EEG được bao gồm trong hóa đơn tiền điện.
    – Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền hay là “ai tiêu thụ nhiều hơn, trả tiền nhiều hơn” có hiệu lực, trách nhiệm được chuyển đến cho người tiêu dùng (với sự đồng thuận của công chúng). Trong năm 2013, tổng chi phí EEG lên tới 20.4 tỷ EUR. Trong năm 2014, các khoản phụ phí EEG đã được thiết lập ở mức giá 6.24 cent/kWh.
    – Một số sự cắt giảm phụ phí EEG được áp dụng cho các ngành công nghiệp nặng (hay còn gọi là kế hoạch cân bằng đặc biệt).

    3) Thúc đẩy đổi mới bằng cách giảm dần ưu đãi giá
    Chính sách ưu đãi giá ở Đức giảm trong khoảng thời gian thường xuyên để gây áp lực chi phí đối với nhà máy phát điện năng lượng tái tạo và nhà máy sản xuất công nghệ. Sự cắt giảm trợ cấp (gọi là “degression”) áp dụng cho các nhà máy mới. Do đó, người ta hy vọng, công nghệ đang trở nên hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn.

    Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/German_Renewable_Energy_Act

    e. Hường

    Thích

  3. Tks Hường,

    Anh có cảm tưởng một đạo luật EEG như thế ở VN chí có thể xảy ra khi electric monopoly của VN muốn đầu tư vào một giàn solar hay windpower vĩ đại để đưa điện vào mạng điện quốc gia có sẵn.

    Tuy nhiên với WTO, VN sẽ phải cho các công ty năng lượng tái tạo nước ngoài cùng điều kiện ưu đãi. Và như vậy thì VN sẽ chẳng hăng hái về việc đó.

    Cho nên, anh nghĩ rằng việc đẩy mạnh một đạo luật như EEG không nên là một phần quan tâm của những người muốn thúc đấy NLTT tại VN, mà nên tập trung vào việc kiến tạo một thị trường của các điểm thu năng lượng và phát điện phi tập trung taị các địa phương, cũng như các chính sách pháp lý và chính trị để hỗ trợ một thị trường như vậy.

    Thích

  4. Hi chị Hường, anh Hoành và team dịch,

    Em xin được tham gia thảo luận với ạ.

    Em chưa hình dung rõ lắm ý anh Hoành trong 2 đoạn: “Mình nghĩ rằng phi tập trung, nhắm vào địa phương hay từng cá thể (entity), nên là chiến lược chính của NLTT…” và “nên tập trung vào việc kiến tạo một thị trường của các điểm thu năng lượng và phát điện phi tập trung taị các địa phương, cũng như các chính sách pháp lý và chính trị để hỗ trợ một thị trường như vậy.”

    Có phải ý anh là: Nếu mình là một doanh nghiệp NLTT, thì điểm tập trung của mình là làm cho các hộ gia đình có thể tự sản xuất điện phải không ạ?

    Nếu vậy thì mình không chỉ bán và lắp ráp các máy móc NLTT. Mà cần có quỹ để giúp người dân trả các chi phí máy móc đầu tiên.

    Để làm được điều này thì mình (doanh nghiệp NLTT) và người dân cần nhà nước giúp một tay. Bằng cách miễn các loại thuế cho mình; cho mình và người dân được ưu tiên vay tiền…

    Dạ, có phải ý anh và cả team là như vậy không ạ?

    Thích

  5. Em đồng ý với anh Hoành, với hệ thống NL độc quyền như VN hiện nay, khi thị trường NL tái tạo chưa có vì bị chèn ép thì việc đổ công sức xây dựng một đạo luật như EEG là không có tác dụng. VN vẫn giữ hệ thống NL độc quyền thì một đạo luật EEG hay 10 đạo luật EEG thì cũng không cải thiện được nhiều tình hình thị trường.

    Em nghĩ là nếu VN đã có thị trường rồi thì copy hay adopt những điểm cơ bản của EEG đã là rất tốt và chỉnh sửa sao cho phù hợp với hệ thống thuế và thu nhập

    Xuất phát điểm về hệ thống kinh tế và chính trị của Đức và VN khác nhau cơ bản. Cho nên Scheer cũng đã nói rõ tùy vào hoàn cảnh từng nước.

    Thích

  6. Em cảm ơn anh Hoành và ý kiến thảo luận của cả nhà,

    Em đã hiểu rõ điểm anh Hoành và Hằng nói: “Một đạo luật EEG như thế ở VN chỉ có thể xảy ra khi electric monopoly của VN muốn đầu tư vào một giàn solar hay windpower vĩ đại để đưa điện vào mạng điện quốc gia có sẵn.” Và điều này chính lại là sự cản trở và làm chậm quá trình phát triển tự nhiên, với lợi thế phi tập trung của NLTT. Tác giả có đề cập đến điều này như là một chiến thuật trì hoãn trong Chương 2.

    Điểm Thu Hương nêu rất đúng: “Nếu mình là một doanh nghiệp NLTT, thì điểm tập trung của mình là làm cho các hộ gia đình có thể tự sản xuất điện”. Tuy nhiên như Thu Hương nêu ra điểm về tài chính: (1) các công ty kinh doanh không phải là từ thiện, mà phải có lợi nhuận và (2) vậy mình có cần có quỹ để giúp người dân trả các chi phí máy móc đầu tiên?

    Theo chị hiểu ý anh Hoành về “chính sách pháp lý và chính trị để hỗ trợ một thị trường như vậy” thì cần hướng đến thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp NLTT, với những ưu đãi hợp lý (về các loại thuế và thủ tục) để có thể giúp giá của các công nghệ này giảm xuống mức có khả năng thanh toán của người dân, đồng thời tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp NLTT để có được công nghệ và giá tối ưu.

    Ngoài ra rất cần sự chủ động hiểu biết của người dân để thúc đẩy thị trường NLTT:

    (1) cho dù có đủ khả năng tài chính để sử dụng NLTT hay không, người dân phải có hiểu biết và sẵn sàng muốn dùng NL sạch nếu có cơ hội hơn hẳn so với NL truyền thống và hiểu rõ những tác hại môi trường của việc cung cấp điện truyền thống, việc phổ biến kiến thức như chúng ta đang làm là cho mục đích này.

    (2) Phải làm thế nào để VN có được sự đồng thuận như 90% người dân Đức sẵn sàng cho sự tăng giá điện để chính sách EEG có hiệu lực (tuy nhiên như Hằng nói đó là do khi đó ở Đức thị trường NLTT đã phát triển). Với hoàn cảnh VN hiện nay thì mức độ sẵn sàng đó thể hiện ở chỗ biết được giá trị của máy móc NLTT trên thị trường và nếu có đủ khả năng tài chính thì hướng đến sử dụng những công nghệ này.

    Hi vọng với sự tập trung tư tưởng của chúng ta cho vấn đề này có thể tạo nên một phong trào cho NLTT,

    e/c Hường

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s