Trung Quốc toan tính quân sự gì ở Biển Đông?

(Dân trí) – Bị hấp dẫn bởi trữ lượng dầu lửa và khí đốt khổng lồ dưới lòng biển và lợi dụng những điểm yếu của các bên tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa, hải quân Trung Quốc đã từng mở đợt tấn công để hòng chiếm quần đảo này.

Dưới đây là bài viết trên tạp chí Foreign Policy của Jim Holmes, giáo sư về chiến lược tại Trường Hải quân Mỹ và là đồng tác giả của nghiên cứu “Red Star over the Pacific: China’s Rise and the Challenge to U.S. Maritime Strategy” (Sao đỏ trên Thái Bình Dương: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và thách thức đối với chiến lược hải dương của Mỹ)

Bị hấp dẫn bởi trữ lượng dầu lửa và khí đốt khổng lồ dưới lòng biển và lợi dụng những điểm yếu của các bên tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã mở đợt tấn công hải quân để chiếm quần đảo này. Để hợp thức hóa hành động của mình, Bắc Kinh đã viện đến bằng chính lịch sử, mà dựa chủ yếu vào chuyến thăm đảo vào thế kỷ 15 của đô đốc Zheng dưới thời đại nhà Thanh, trong khi tuyên truyền ra rả về “chủ quyền không thể chối cãi” đối với hầu hết Biển Đông.

Cuộc tấn công chiếm đóng đó là sự thật, diễn ra vào ngày 17/1/1974.

Lịch sử có thể không lặp lại chính xác hoàn toàn, nhưng vần điệu thì vẫn thế. Trung Quốc đã tận dụng điểm yếu của chính quyền miền nam Việt Nam trước đây để chiếm Hoàng Sa. Và giờ đây, Quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) lại công bố kế hoạch triển khai quân đồn trú ở “thành phố Tam Sa” mà Trung Quốc vừa đơn phương thành lập trên đảo Phú Lâm của Hoàng Sa, Việt Nam. Chính thức được thành lập vào ngày 24/7/2012, Trung Quốc cho hay “Tam Sa” sẽ là trung tâm hành chính cho các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển lân cận.

Đây là động thái mới nhất trong chiến dịch bành trướng của Trung Quốc trên mọi vùng biển và các quần đảo trong “đường chín đoạn” liếm gần như toàn bộ Biển Đông, trong đó có cả những vùng biển rộng lớn thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước Đông Nam Á. Trong tháng này, một tàu khu trục nhỏ của Trung Quốc đã mắc cạn trong EEZ của Philippines, sau khi được cho là đã nổ súng xua đuổi các ngư dân Philippines. Vụ việc xảy ra vào cuối tháng sáu, thời điểm hải quân Trung Quốc tuyên bố sẽ khởi động “các cuộc tuần tra tác chiến” trên các vùng biển tranh chấp.

Một lần nữa Bắc Kinh lại đặt tay vào vũ khí. Tuy nhiên, không giống như vụ việc năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc có hành động tương tự vào thời điểm ngoại giao thời bình có vẻ như đang tạo cơ hội tốt cho họ. Đây là “chính sách ngoại giao cây gậy nhỏ” – ngoại giao pháo hạm không công khai phô bày pháo hạm.

Những nhà chiến lược Trung Quốc đã có cái nhìn rộng về sức mạnh của đại dương, bao gồm cả hàng hải phi quân sự. Năm 1974, bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc đã dựng lên “Cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa” (nguyên văn cụm từ theo tiếng Trung) như là chiến thắng của “hải quân nhân dân” – mỹ từ dành cho ngư dân đã hành động như là bộ phận bổ trợ cho hải quân. Các đội tàu cá có thể tới những vị trí và làm những việc mà đối thủ hoặc phải phản ứng hoặc phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình. Những đội tàu không được trang bị vũ khí này từ các cơ quan tương tự như lực lượng bảo vệ bờ biển được nâng lên một bậc. Và hạm đội Hải quân PLA, được trang bị máy bay chiến thuật, tên lửa, tàu tấn công trang bị tên lửa và tàu ngầm, yểm trợ phía sau.

Bắc Kinh có thể củng cố thêm tuyên bố của mình đối với “đường chín đoạn” bằng cách triển khai tàu do thám, tàu của các cơ quan ngư nghiệp, hoặc tàu hải giám trên danh nghĩa bảo vệ các ngư dân của mình trên các vùng biển nước này tranh chủ quyền. Và làm như vậy Trung Quốc ít bị mang tiếng là “bắt nạt” quá đáng những nước yếu hơn, không cho các cường quốc khác trong khu vực có cớ can thiệp. Nhưng tại sao Trung Quốc lại không thực hiện chính sách đầy hứa hẹn như vậy?

“Cây gậy nhỏ” gây mất thời gian

Bởi chính sách ngoại giao cây gậy nhỏ làm mất nhiều thời gian. Nó phải cần tạo ra “thực tế” trên thực địa, như kiểu Tam Sa, và sau đó là thuyết phục người khác rằng thách thức những “thực tế” này là vô nghĩa. Bắc Kinh có động cơ, phương tiện và cơ hội để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nhưng nước này không thực hiện. Các nước tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông đang tăng cường vũ trang. Họ có thể dùng quân sự để đối đầu với đe dọa của Trung Quốc, hoặc ít nhất là khiến Trung Quốc phải chịu tổn thất nếu bị áp đặt. Và các nước Đông Nam Á  đang tìm kiếm sự giúp đỡ từ những cường quốc bên ngoài, như Mỹ. Mặc dù Washington không có quan điểm hỗ trợ chính thức về vấn đề tranh chấp biển, nhưng nước này bày tỏ chia sẻ “một cách tự nhiên” với các nước ASEAN. Các nước như Philippines là đồng minh ký hiệp ước với Mỹ, trong khi Mỹ đang tìm cách “kết thân” với các nước khác khi dịch chuyển chính sách sang châu Á-Thái Bình Dương.

Vì vậy lãnh đạo Trung Quốc có thể cho rằng họ phải hành động ngay bây giờ hoặc sẽ mất cơ hội mãi mãi để thực hiện tham vọng độc chiếm toàn bộ Biển Đông của mình. Họ cho rằng các biện pháp trực tiếp có vẻ như mang lại ít hậu quả hơn, nên chấp nhận bất cứ giá nào, mức độ nguy hiểm nào và tổn thất ngoại giao nào trong thời gian ngắn.

Động cơ của Trung Quốc đặc biệt vẫn không hề thay đổi trong suốt nhiều thập niên. Thậm chí, bản đồ “đường 9 đoạn” còn in trên một ấn phẩm từ những năm 1940, chứ không phải là điều mà họ mới mơ đến trong những năm gần đây. Chính quyền Tưởng Giới Thạch đã xuất bản nó trước khi chạy tới đảo Đài Loan và hiện Bắc Kinh sử dụng.

Kể cả bây giờ cũng như trước kia, tấm bản đồ đã thể hiện rõ tham vọng của Trung Quốc. Trữ lượng dầu mỏ cùng khí đốt tự nhiên nằm bên dưới lòng biển luôn ám ảnh những lãnh đạo Trung Quốc có chủ trương mở rộng hàng hải, mà nổi bật nhất là Đặng Tiểu Bình. Nhiên liệu và các nguyên liệu thô khác vẫn rất quan trọng với dự án phát triển quốc gia của Trung Quốc 3 thập kỷ sau khi Đặng Tiểu Bình phát động nó.

Động lực phá thế bao vây của các siêu cường cũng ảnh hưởng tới chiến lược của Trung Quốc. Tới cuối những năm 1970, Đặng Tiểu Bình tin rằng Liên Xô đang theo đuổi “chiến lược quả tạ” nhằm đưa hải quân Liên Xô thành lực lượng thống trị ở Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Eo Malacca là điểm kết nối với hai đại dương và Mátxcơva đã đàm phán để có các căn cứ quân sự ở Cam Ranh và Đà Nẵng của Việt Nam. Và Bắc Kinh muốn ngăn chặn liên minh Nga-Việt. Trên thực tế PLA đã tiến hành cuộc tấn công biên giới Việt Nam năm 1979, phần lớn vì lý do này.

Các nhà chiến lược Trung Quốc liên tục lo âu về sự bao vây của Mỹ, đặc biệt là khi Mỹ “chuyển trục” sang châu Á. Với Trung Quốc, nguy cơ cũ có vẻ như lại tái hiện.

Danh dự cũng là một động cơ thúc đẩy tham vọng của Bắc Kinh. Lấy lại danh dự của Trung Quốc sau “một thế kỷ sỉ nhục” dưới bàn tay của những nhà chinh phạt biển là động cơ chính cho hành động của Trung Quốc năm 1974. Và điều đó vẫn còn tới ngày nay.

Kỳ vọng trong dân chúng Trung Quốc cao ngất trời. Ngoài ra, Trung Quốc lại có ưu thế vượt trội về hải quân, quân sự so với bất kỳ đối thủ riêng rẽ nào ở Đông Nam Á. Philippines không thể nói là sở hữu lực lượng không quân, trong khi tàu tuần duyên của lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ thải ra là hạm đội tàu chiến mạnh nhất nước này. Trái lại, Việt Nam có chung đường biên giới với Trung Quốc và có một đội quân lớn mạnh. Năm ngoái, Hà Nội đã công bố kế hoạch củng cố lực lượng hải quân bằng mua 6 tàu ngầm lớp Kilo do Nga sản xuất, được trang bị ngư lôi, tên lửa hành trình chống hạm. Tuy nhiên, hạm đội này chưa được chuyển giao. Chính vì thế mà Trung Quốc chớp thêm cơ hội này.

Washington đã công bố kế hoạch “tái cân bằng” Hải quân Mỹ, chuyển 60% lực lượng tới Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nhưng việc tái cơ cấu này rất khiêm tốn. Hơn một nửa hải quân Mỹ đã ở trong khu vực và tiến trình tái cân bằng diễn ra chậm chạp, kéo dài tới 8 năm. Nhóm 4 tàu chiến nhỏ duyên hải của Mỹ được điều tới Singapore (chiếc đầu dự kiến tới vào mùa xuân này) cũng không tạo ra được thế cân bằng ngay tại Đông Nam Á. Những tàu này không được thiết kế chiến đấu trong các trận chiến chống hải quân PLA. Tuy nhiên, khi đã thiết lập được nguyên tắc hầu hết hải quân Mỹ coi Thái Bình Dương và châu Á là nhà, thì Washington luôn có thể đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, chuyển thêm lực lượng hoặc thậm chí đàm phán để có thể tiếp cận các căn cứ ở trong và quanh Đông Nam Á. Bắc Kinh thừa biết điều này.

Bắc Kinh có thể đã tự đưa ra kết luận rằng ngoại giao kiên nhẫn sẽ tước mất tham vọng của họ ở Biển Đông. Trong mắt Trung Quốc, tốt nhất là hành động ngay bây giờ và vừa để ngăn chặn một cuộc cạnh tranh. Với họ, bài học năm 1974 là: Thời gian là tất cả.

Vũ Quý

Theo Foreign Policy

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s