Danh mục lưu trữ: Mây Trắng Dinh Phoan

Tuy Hòa thức giấc

 
Có thể nói cả Tuy Hòa đã thức dậy trong lúc cả Tuy Hòa còn đang ngon giấc. Cổ văn bảo rằng Dương quý phi càng đẹp bội phần lúc ngái ngủ. Tuy Hòa cũng vậy. Đáng yêu biết bao cái thành phố nhỏ này lúc nửa tỉnh nửa mơ.

Một góc nào đó của Tuy Hòa quả là không ngủ suốt đêm, nhưng lúc này, hầu hết phố phường nội thị đến xóm làng điền dã còn đang say sưa hồn mộng. Vài ba tiếng gà gáy lưa thưa. Khung trời đầy sao. Nhẹ nhàng cơn gió chuyển sang ngày. Từ các làng vùng ven, Ngọc Lãng, Phú Lễ, Phú Lâm, Phước Hậu, Ninh Tịnh, Liên Trì… rau và hoa khắp ngả đổ về. Không có một tiếng nói lớn. Bởi trong lúc tinh sương tĩnh túc này những lời nho nhỏ đã đủ nghe. Hay là do trân trọng thiên nhiên, chẳng ai nỡ phá vỡ cái không khí bình yên đạt đạo? Cả tiếng móng ngựa kéo xe gõ trên đường dường như cũng không gõ mạnh. Lóc cóc, lóc cóc… đều đều, trầm trầm điệu nhạc.

Continue reading Tuy Hòa thức giấc

Nghĩ về những thành xưa

 

Trần Huiền Ân

Từ 1471 đến 1597, đâu có gì là lâu lắc, thế nhưng lịch sử vùng đất quê tôi đầy những dấu tồn nghi. Nội cái tên tiểu vùng đã làm nhiều nhà khảo sử phân vân. Theo TS Nguyễn văn Huy, một nhà dân tộc học có nhiều công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì Phú Yên là đất Aryaru cũ. Vậy thì thành ấy là cái thành gì chứ. Sao lại Thành Hồ. Chúng ta gọi theo Đại Nam nhất thống chí. Rõ ràng là các vị sử quan nhà Nguyễn đã áp đặt tên Việt cho thành Chăm, bảo rằng: “Tương truyền thành này do người Chiêm xây đắp, tục danh là Thành Hồ. Thuở đầu khai quốc, triều chúa Nguyễn, Lương văn Chánh bạt phá thành này, nay nền cũ vẫn còn”.

Continue reading Nghĩ về những thành xưa

Xuôi Dòng Đà Rằng


Về tới Phú Yên, sông Ba chảy song song với quốc lộ 25. Nhưng từ ranh giới tỉnh Gia Lai hai bên còn cách nhau khá xa. Tuy vậy, đi giữa những đồi tranh, giồng đế bát ngát, những rừng mằng lăng đến mùa lột vỏ để lộ lớp da non xanh xám, những đám vừng đến mùa khoe lá đỏ rực…mặc dù không thấy, chúng ta vẫn biết, đâu đó…ở phía nam dòng sông Ba đang hăm hở về xuôi.

Continue reading Xuôi Dòng Đà Rằng

Mây Trắng Dinh Phoan

Hầu hết sông ở Phú Yên có chung đặc điểm, nhập dòng lại và chảy ra biển bằng một cửa. Biệt lệ chỉ có sông Cái. Là hợp lưu của sông La Hiên, sông Kỳ Lộ, sông Trà Bương, sông Cô và mấy nguồn suối nhỏ nữa, về tới hạ lưu nó lại chia ra nhiều nhánh, chảy ra hai nơi: vịnh Xuân Đài và đầm Ô Loan. Những nhánh sông như những ngón tay trong bàn tay châu thổ xòe rộng níu giữ phù sa, mỗi mùa mưa lụt lại bồi đắp cho thêm màu mỡ. Nơi đây là vùng đất xưa, từ thuở Lưu thủ Văn Phong vâng lệnh Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên, coi như hoàn thành cái ước vọng xây dựng cõi Nam Hà từ sông Linh Giang đến núi Thạch Bi, để Trấn thủ Nguyễn Phước Vinh tiếp tục củng cố sự ổn định vững bền cơ nghiệp. Nơi đây là đất lành, trên bước đường thiên di tìm nắng ấm đàn chim Việt dừng lại khá lâu để xây tổ vầy đàn. Và từ nơi đây hơn bốn mươi năm sau Hùng Lộc hầu đem quân vượt qua đèo Hổ Dương mở mang dinh Thái Khang.

Continue reading Mây Trắng Dinh Phoan

Một Thoáng Cù Mông


Cù Mông là dãy núi chạy theo hướng tây-đông làm ranh giới cho hai tỉnh Bình Định – Phú Yên ở Nam Trung Bộ, nơi núi gặp Biển Đông là mũi Cù Mông, giữa đường thiên lý trên núi là đèo Cù Mông và phía nam dưới chân núi là vịnh Cù Mông.

Ngày xưa, cả vùng bắc Phú Yên gọi chung tên Cù Mông. Đây là điểm đầu tiên trong bốn điểm năm 1597 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đem lưu dân người Việt vào định cư: Cù Mông (châu thổ sông Tam Giang), Bà Đài (châu thổ sông Cái), Bà Diễn (châu thổ sông Đà Rằng) và Bà Niễu (châu thổ sông Bàn Thạch).

Continue reading Một Thoáng Cù Mông

Hột muối bỏ biển


* Một tài nguyên quý trời ban.

Lúc sắp lâm chung, chúa Tiên có dặn dò chúa Sãi rằng: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có Hoành sơn và Linh giang hiểm trở, phía nam có Hải Vân sơn và Thạch Bi sơn vững bền.. Núi sẵn vàng sắt, biển nhiều cá muối, thật là nơi trời để cho người anh hùng dụng võ…”.

Trong lời di huấn trên, nhìn nhận theo địa thế thì hiểm trở là để bảo vệ lãnh thổ, vững bền là để xây dựng quốc gia, xét về tài nguyên thiên nhiên thì vàng sắt trong lòng đất cần yếu cho công cuộc kiến thiết, phát triển, cá muối nơi biển khơi đáp ứng nhu cầu nuôi sống muôn dân.

Continue reading Hột muối bỏ biển

Theo dòng Thuận Quảng


Tiên kiết nhân tâm thuận.
Hậu thị đức hóa chiêu.

Đó là hai câu đầu trong một bài ngũ ngôn của một vị tham mưu trình chúa Sãi khi đề cử hai hổ tướng Thuận Nghĩa hầu và Chiêu Võ hầu cầm đầu một chiến dịch an dân. Khởi nghiệp từ Thuận Hóa, sách lược của chúa Tiên ban đầu là Thuận và Hóa, từ đó củng cố thế lực trên nền tảng Quảng Đức và phát triển theo chiều hướng Quảng Nam.

Continue reading Theo dòng Thuận Quảng

Nhặt lá bàng

Ở nơi nào nhỉ của Hà Nội, tác giả Đôi bạn đã nhìn xuống để chăm chú quan sát những đứa trẻ nhặt lá bàng vào một tối mùa đông?

Bây giờ là mùa hè nhưng Hà Nội chợt dịu lại. Mặt trời lặn bên kia Hồ Tây một khối hồng xinh xắn. Rồi cơn mưa nhỏ làm cho chân trời bàng bạc màu sương khói.

Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây Hồ

Continue reading Nhặt lá bàng

Thác Bản Giốc – Động Ngườm Ngao


Về Cao Bằng, khi ngỏ ý muốn đi xem một thắng cảnh sẽ được giới thiệu ngay: thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao. Hai nơi này gần nhau và cùng trong huyện Trùng Khánh.

Thác Bản Giốc cách thị xã Cao Bằng 91km, muốn đến đây phải theo ĐT 206 qua huyện Hòa An (thị xã Cao Bằng nằm giữa lòng huyện này), một đoạn ngắn của huyện Trà Lĩnh  rồi huyện Quảng Uyên.

Continue reading Thác Bản Giốc – Động Ngườm Ngao

Rượu Uống Thìa

Có những câu ca dao thoáng nghe như tự đối nghịch.

Cao Bằng gạo trắng nước trong
Ai lên đến đó không mong ngày về

Không mong khác với không muốn. Không mong ngày về là không được về, không có ngày về. Sao lại thế – trong khi nơi này gạo trắng nước trong?
Continue reading Rượu Uống Thìa

Về Phát Diệm

Hôm đến di tích Lam Kinh, khi đi qua một chiếc cầu, người hướng dẫn cho biết: cầu này thời xưa xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, bên trên có mái lợp như mái nhà, bên dưới là cầu, ngày nay mái lợp không còn.

Loại cầu này đã gặp ở Hội An với Chùa Cầu. Gọi là Chùa Cầu vì chùa đồng thời là một chiếc cầu bắc ngang qua một con lạch. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cây cầu dài 12m. Công trình này được người Nhật xây dựng khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII. Một bên đầu cầu có tượng con chó, đầu bên kia là tượng con khỉ.

Cầu ngói Ninh Bình

Đến Thừa Thiên nghe câu ca dao:

Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui

Hay

Ai về cầu ngói Giạ Lê
Cho tôi theo với thăm quê bên chồng

Cầu ngói Thanh Toàn ở thôn Vân Khê huyện Hương Thủy, cũng là cầu có mái che bên trên lợp ngói âm dương. Người dân ở đây cho biết cầu do một cung phi thời nhà Nguyễn bỏ tiền ra làm để tỏ lòng yêu quý quê hương, nơi bà đã được sinh trưởng. Còn một Giạ Lê nữa là Giạ Lê Gót, chuyên làm bồ cót, tiếng địa phương là gót.

Ở Cao Bằng cũng có cầu ngói mới làm, trên đường vào mộ Kim Đồng.

Chúng tôi chợt nhớ đến những chiếc cầu này khi về Phát Diệm. Huyện Kim Sơn đang trong tầm mắt mọi người, gần và xa rất nhiều nhà thờ. Những thánh giá màu trắng bạc nổi lên khắp cả  bầu trời, trông cao vút. Đoạn đường dài khoảng 4km dọc theo sông đào. Dưới sông có những chiếc thuyền với hình dáng khá dài. Nhiều cây cầu bắc qua sông, có một cây cầu bên trên lợp mái ngói, nằm giữa khoảng đồng không. Cầu có hai nhịp, hai bên thành là lan can, hai bên đầu cầu là lối đi xi măng nối với gờ xi măng của con đường có bậc cấp bước xuống sông. Một cây phượng không cao lắm đang nở hoa đỏ rực. Gặp chiếc cầu chúng tôi cảm thấy thêm niềm vui như gặp lại người bạn cũ trước khi bước vào một trung tâm lớn của Thiên Chúa giáo nước nhà: Phát Diệm.

Vào năm 1862, Phát Diệm chỉ có một ngôi nhà thờ lợp bằng tranh. Năm 1871, được một ngôi nhà thờ khác rộng rãi hơn. Năm 1891 thì có nhà thờ nguy nga tráng lệ. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo, khi đường nét Đông phương với lối mái uốn cong của các điện, các chùa phối hợp hài hòa vào một cơ sở tôn giáo xuất phát từ Tây phương. Toàn thể nhà thờ rộng 22 mẫu, chia làm hai khu vực chính: khu nhà thờ và khu nhà chung.

Nhà thờ Phát Diệm

Nhà thờ chánh tòa dài 80m, rộng 24m, cao 18m, bao gồm 48 cột lim, mỗi cột chu vi 2,40m. Bàn thờ là một khối đá liền dài 3,10m, rộng 0,80m. Thánh đường phân làm 9 gian với ngũ môn (5 lối ra vào). Có những phù điêu bằng đá mô tả cuộc đời của Chúa Giê-su. Trong Phương đình treo một quả chuông nặng 150kg, cao 1,90m. Nhà nguyện Trái tim Đức Mẹ bốn mái cong, có lầu gác, từ nền đến cột tất cả đều bằng đá, chung quanh lối đi lót đá. Bốn ngôi nhà thờ nhỏ thờ: Trái tim Chúa Giê-su, Thánh Gioan, Thánh Giu-se và Thánh Phê-rô. Trước mặt nhà thờ là một hồ nước rộng 4 mẫu, trên đảo nhỏ giữa hồ có tượng Chúa cao 3m.

Điều đặc biệt nữa ở đây là có những câu đối chữ Hán, bởi linh mục chủ trương xây dựng nhà thờ Phát Diệm là một bậc uyên thâm Nho học. Đó là một người trải bao gian khổ vẫn nguyện dâng hiến trọn đời cho Đức Tin: Linh mục Phê-rô Trần Lục, tục gọi là Cụ Sáu, từng có tên là Hữu, Triêm, sinh năm 1825 tại Mỹ Quan huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, tức xứ Kẻ Dừa, được thụ phong linh mục năm 1860, được bổ nhiệm Chánh xứ Phát Diệm năm 1865, tạ thế 1899, thọ 75 tuổi.Tên Trần Lục là do vua Tự Đức đổi khi phong cho ngài chức Trấp an và ban kim khánh, kim tiền. Vua Đồng Khánh phong ngài là Tham tri bộ Lễ sung Khâm sai Tuyên phủ sứ, vua Thành Thái gia phong Thượng thư bộ Lễ, vua Khải Định truy tặng Phát Diệm Nam tước.

Về Phát Diệm không thể không nhắc đến Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, một người văn võ song toàn, kinh bang tế thế, luôn luôn theo đúng đường lối Nho giáo là nhập thế, hành động, khuyến khích nam nhi cố gắng tạo nên công danh, sự nghiệp, nhưng về mặt lãng mạn, trữ tình thì chẳng những không kém thua ai mà còn hơn hẳn thiên hạ bao nhiêu bậc. Đậu giải nguyên, từng phục vụ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, với công cuộc dinh điền ông đã lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình).

Ngẫm lại đời ông biết bao nỗi thăng trầm, từng làm đến Thượng thư bộ Binh cũng từng bị hạ xuống đi tiền quân hiệu lực như một binh nhì, vẫn giữ tròn tiết tháo. Bản chất kẻ sĩ của ông là:

Trong lăng miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương

Cho dẫu có pha một chút ngậm ngùi khi trách ông xanh:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Cũng chất ngất nét hào sảng và tràn đầy sự tự tại.

Trong chúng ta, khi cảm thấy bất phùng thời, ai chẳng muốn làm một cây thông như vậy.

Trần Huiền Ân

Thành nhà Mạc – Đền vua Lê

Trong ca dao thời trước, xứ Lạng cũng là nơi đáng sợ. Người phụ nữ sợ cho mình không thích ứng với môi trường mới, bị tàn phai nhan sắc:

Cổng phía Tây thành nhà Mạc ở Tuyên Quang
    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Má hồng đổi lấy mặt xanh đem về

Còn sợ cho đức ông chồng, ý trung nhân thay lòng đổi dạ, vì ở đây chẳng những cảnh đẹp, còn có người đẹp:

    Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em
    Tay cầm bầu rượu nắm nem
    Mảng vui quên hết lời em dặn dò…

Bây giờ thành phố Lạng Sơn là thủ phủ của tỉnh Lạng Sơn, Đồng Đăng là thị trấn. Chợ Kỳ Lừa ở giữa thành phố, người mua kẻ bán đông đảo tấp nập vì Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu nội địa, còn các cặp chợ nữa. Cặp chợ là chợ biên giới, bên này chợ, bên kia cũng chợ. Nàng Tô Thị không còn, chỉ là bức tượng phục chế, chùa Tam Thanh trước động Tam Thanh cũng đổi mới nhiều quá! Vậy thì nên đi thăm thành nhà Mạc, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng dầu sao vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa…

Năm 1592 nhà Mạc rút lên mạn ngược, đặt thủ phủ tại Cao Bằng, xây đắp nhiều thành lũy kiên cố, ở Cao Bằng, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Phải chăng những thành lũy này đã góp phần không nhỏ trong việc phòng thủ, chống lại các cuộc tấn công của quân đội vua Lê chúa Trịnh để giữ được phần lãnh thổ Bắc triều tồn tại đến năm 1677?

Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn

Thành ở Tuyên Quang ngay tại trung tâm thị xã, bên tả soi bóng xuống dòng sông Lô uốn lượn, bên hữu đối diện dãy núi Là hùng vĩ. Ngày xưa thành hình tứ diện, trổ ba cửa ở ba mặt, mặt bắc không có cửa, bên trong có quả đồi cao khoảng 40 thước, đặt kho chứa gạo, muốn lên phải qua 197 bậc đá và cua một đường vòng. Chung quanh thành là hào sâu 1,5m, phía bờ sông không có. Di tích hiện tại gồm hai cổng thành ở phía tây, phía nam và đoạn tường dài 140m. Gạch xây thành nung bằng thứ đất có quặng sắt rất cứng, trên mặt đổ đất.

Thành ở Lạng Sơn (nay thuộc phường Tam Thanh) số phận cũng không hơn. Hiện còn một cổng thành và hai đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn nằm giữa hai đỉnh đồi. Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại. Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng, hai đỉnh đồi bén nhọn trẻ trung, linh hoạt. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp. Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ.

Di tích đền vua Lê trong thành nhà Mạc ở Cao Bằng

Thành ở Cao Bằng càng không may, vì nó là hoàng cung, nên phải mất tên từ lâu, nay gọi là đền vua Lê, có diện tích 37,5 ha, cách thị xã 11km về phía tây bắc, thuộc làng Đền xã Hoàng Tung huyện Hòa An.

Nguyên hồi năm 1038 Nông Tồn Phúc cát cứ vùng này, xưng đế hiệu, đặt tên nước là Trường Sinh. Năm sau, vua Lý Thái Tông thân chinh dẹp yên, nhưng đến năm 1041 con Nông Tồn Phúc là Nông Trí Cao lại dấy binh, đặt tên nước là Đại Lịch, vua Lý Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long, rồi dùng chính sách chiêu an tha cho về phong làm Quảng Nguyên mục, sau gia phong tước Thái Bảo. Năm 1048 Nông Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, đem quân sang đánh nước Tàu, chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhà Tống phải cử tướng Địch Thanh thảo phạt. Bị thất bại, Nông Trí Cao chạy trốn sang nước Đại Lý và bị bắt giết. Về sau rút lên đây, nhà Mạc lập cung điện tại Gò Long trong thành Nà Lữ của Nông Trí Cao. Vậy thành nhà Mạc Cao Bằng đã có từ thời Lý.

Khi nhà Lê dứt được họ Mạc, năm 1862 Trấn thủ Cao Bằng Lê Văn Hản đổi làm đền thờ vua Lê Thái Tổ. Ngày nay, dấu vết chỉ là hai con đường phía đông và nam cao hơn mặt đất một ít, vài ba phiến đá khối chữ nhật, dài khoảng 1m, rộng từ 50 đến 80 phân, dày 20 đến 30 phân. Chỗ như hào sâu là cổng thành, bên ngoài mỗi cổng có một ụ đất, có lẽ là điếm canh hay trạm quan sát để kịp thời báo động chăng?

Đền vua Lê cũng đổ nát hết rồi, bậc đá đi lên đầy cỏ rác, tường sập từng mảng, để lộ chỗ vá víu. Trong đền một lư hương lớn đặt trên bệ. Bên ngoài một cây ngọc lan cao, những cây đa cây si thấp hơn.

Tại Cao Bằng còn có đền Kỳ Sầm thờ Nông Trí Cao. Hội đền vào ngày mười tháng giêng. Câu đối ở cửa gian chính bên trong chứng tỏ người dân ở đây rất tôn sùng Nông Trí Cao, coi như vị vua có cao vọng nhưng chưa thực hiện được hoài bão:

    Đế nghiệp vị thành nhân dĩ lão
    Vương phong giáp tích quốc đồng hưu.

Các đền miếu ở Cao Bằng còn thờ Hưng Đạo đại vương, các vị nhân thần địa phương, các tướng lãnh nhà Lê bỏ mình nơi chiến địa, các công nương nhà Mạc bị thảm sát và Quan Công (Quan Vân Trường). Nói chung dân chúng kính trọng lòng dũng cảm, đức trung hậu và thương xót những thân phận không may. Trong đền Phúc Tăng ở Bản Nưa xã Hồng Việt huyện Hòa An đặt bốn bát hương, thờ hai vị lão nông họ Hoàng và họ Lê có công trị thủy giúp dân, cùng hai vị tướng đối lập nhau, một người là Hoàng Triều Hoa tướng nhà Lê lên dẹp nhà Mạc, một người là tướng nhà Mạc tử trận ở Lũng Pản. Sự kiện này do Tri phủ Hoàng Đức Mỹ (Cử nhân sung Hàn lâm viện biên tu) chủ trương từ đầu thế kỷ XX và được dân chúng tán đồng, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc sau một thời gian chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hội đền Phúc Tăng vào ngày mồng 2 tháng 3.

Ngày nay, những người vãn cảnh có ý thức không khỏi ngậm ngùi trước biến cuộc tang thương, sẽ lắng hồn tìm trong lịch sử biết bao bài học quý giá.

Trần Huiền Ân

Về Tây Giai

Băng nhạc trong xe đang phát một bản tình ca về một mối tình dang dở. Nay anh về chốn xưa…ngỡ ngàng, nuối tiếc.  Điệp khúc ấy nhắc đi nhắc lại khiến tôi có cảm tưởng như là chuyện lòng của tôi. Đây là quê tôi và nay tôi về chốn xưa…ngổn ngang bao nhiêu hoài niệm.

Đường đi Vĩnh Lộc đất sỏi rộng rãi, có đoạn trải dài một màu đỏ khá tươi. Hai bên đường nhìn tận xa xa những ngọn đồi thấp, phẳng nhấp nhô nối tiếp nhau, thỉnh thoảng xen vào một mặt hồ, một vũng đầm. Gần sát là mía và sắn. Mía xanh mượt lá, sắn cao hơn đầu người. Buổi sáng trời âm u, gió se se khô, thoáng lạnh. Đứng ở Cầu Kiểu nhìn xuống dòng Sông Mã thuyền đậu san sát. Nơi chân trời dãy núi màu lam với những đỉnh nhọn kỳ vĩ.

Sử ký Giáo khoa thư lớp Sơ đẳng có hình vẽ thành nhà Hồ. Nhớ lại, trong trí tưởng thấy nó nhỏ nhoi. Nhưng giờ này tôi thật sự ngạc nhiên, bởi không có một sự chuẩn bị trước cho tâm lý, chẳng hạn một cánh đồng rộng để nhìn thấy từ xa. Vừa mới hết xóm nhà thành xưa đã sừng sững trước mặt. Màu rêu phong đen sẫm phủ lên mặt đá khiến cho phế tích vừa uy nghi,  đường bệ vừa lạnh lùng, hoang vắng.

Sử gia Lệ Thần viết: “Quý Ly định dời kinh đô vào Thanh Hóa cho dễ đường thoán đoạt, bèn sai quan vào xây thành Tây Đô ở động Yên Tôn, xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tục gọi là Tây Giai. Đến năm Bính Tí (1396) Quý Ly bắt Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô…”

Chúng tôi bước vào Cửa Nam, có ba cổng. Hai cổng hai bên chỉ thấp nhỏ hơn cổng giữa một ít, độ chín với mười. Cổng thành xây cuốn, xếp đá theo hình múi cam. Từ  Cửa Nam  một con đường chạy thẳng ra Cửa Bắc. Người đi honda, người đi xe đạp, có tốp phụ nữ gánh gồng, có tốp học sinh đồng phục. Giữa đường, hai con rồng đá không còn nguyên vẹn. Chỗ ấy là bậc thềm cung điện xưa…

Cửa Bắc chỉ có một cổng. Chúng tôi trèo lên mặt thành quan sát. Tường thành xây bằng đá, cao chừng 5 mét, rộng chừng 3 mét, một phần đã bị sụt lở. Mỗi tảng đá xây có kích thước một bề độ 0,8 m đến 1m, một bề độ 1,5m. Kích thước ấy dễ làm ta choáng ngợp. Trong các cổ thành Việt Nam như Cổ Loa, Hoa Lư đều xây bằng đất, chỉ có Tây Giai là xây bằng đá. Chúng tôi thong thả đi trên mặt thành từ Cửa Bắc sang Cửa Tây. Mặt thành kín cỏ, có những lối mòn. Hiện tại nó là một con đường.

Tôi lại nhớ trên Giáo Dục tạp chí, chuyên san của Nha Học chính Đông Dương có truyện Thành Tây Giai với Bình Khương nương kể rằng: “Lúc Hồ Quý Ly cho xây thành thì có một Cống sinh được cử vào chỉ huy công việc. Vợ của Cống sinh, bà Bình Khương theo chồng vào đây, ngày đêm nhỏ nhẹ khuyên chồng: ‘Ta là người của nhà Trần, không nên tận lực phò tá nhà Hồ?’. Từ đó Cống sinh xao lãng công vụ và bị kết án tử hình để làm gương. Bình Khương nương chạy đến bên thành than khóc, phản đối, hai bàn tay bà lún sâu vào mặt thành đang xây. Để tránh những tác động vào dân phu bất lợi cho công việc, vua nhà Hồ hạ lệnh chôn sống bà vào thành”. Truyện dẫn thêm câu ca dao :

Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ.
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây

và chú thích “Hồ Hán: trỏ Hồ Hán Thương, Hồ Tây: trỏ (kinh đô) nhà Trần”.

Chúng tôi đến Cửa Tây. Phần mặt bằng ngay trên cửa không còn, chỉ còn phần vòm cong. Bên ngoài thành là đồng ruộng khá màu mỡ, những mái nhà xa xa màu ngói mới. Sát chân thành nhiều khối đá ngổn ngang, hai cây cau vươn cao. Phía trong vòm cong có hai đường rãnh, có lẽ dùng lắp các cánh cửa. Từ Cửa Tây chúng tôi đi qua Cửa Đông bằng con đường thẳng góc với trục  Nam-Bắc lúc nãy thành chữ thập. Trong vòng thành ruộng xen lẫn với nhưng ao nước tưới. Những luống cao trồng bắp, giữa các luống là rãnh sâu xuống, trồng đủ loại rau. Tất cả một màu xanh hiền lành, dễ thương…

Cửa Đông cũng chỉ có một cổng và chỉ còn phần vòm cong như Cửa Tây. Có chỗ sườn đất thoai thoải do mặt thành đổ xuống, dưới chân thành một đàn gà con bươi tung tóe mớ rơm mới. Vài cậu bé chăn bò, vài phụ nữ quang gánh…họ chỉ cho tôi đền thờ Bình Khương nương.

Đền thờ, hoặc là ngôi miếu nhỏ, dưới tàn cây không cao lắm. Mái ngói cũ đầy xác lá, tường loang lổ, cửa khóa, hai cột trước giả làm trụ biểu thấp…Có một điều gì đó rất lạ trong niềm xúc động. Không ngờ hôm nay được đứng trước nơi hồi tám tuổi đọc thấy trong sách, xa lắc xa lơ, một tuần lễ trước chưa hề nghĩ là mình sẽ đến đây. Tôi đang ngơ ngác thì thấy sát trên mặt thành sau đền có tấm bia, rộng độ ba tấc, cao độ năm tấc, mặt đá đã rạn, phần nhô lên có dòng chữ  “Trần triều cống sinh Bình Khương nương đại quân chi…” , chữ cuối cùng bị đất lấp, chắc chắn là chữ “mộ”. Chúng tôi phân vân: Tại sao nươngđại quân ?

Phải nhờ đến sách của cụ Vệ Thạch. Trong Hán Việt từ điển cụ giảng chữ  “quân” ấy là: “Vua – Làm chủ – Người đồng bối gọi nhau là quân – Vợ gọi chồng – Thiếp gọi thê”. Phải chăng sau khi  nhà Hồ thua trận, rồi nhà Lê lấy lại giang sơn, một người thiếp của Cống sinh đến dựng bia nơi Bình Khương nương bị chôn sống vào thành, gọi bà là “đại quân”?

Quay lại nơi đôi rồng đá nghỉ chân trò chuyện về Hồ Quý Ly, nhân vật xuất chúng trong lịch sử, nhưng đương thời không được toàn dân quý trọng, yêu mến. Có lần ông đã bỏ chạy khi vua Trần Duệ Tông tử trận ở Đồ Bàn, có lần ông đã giả dối khóc lóc vớí vua Trần Nghệ Tông để che  đậy chủ tâm và loại trừ Đế Hiển…Trên bình diện chung thì ông đã có những sách lược lớn, cải cách lớn về hành chánh, kinh tế, quân sự…để mong đưa đất nước tiến lên. Tiếc rằng “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà, trí sử nhân tâm chi oán bạn”(Bình Ngô đại cáo) nên nhà Hồ đã thất bại. Đến giờ phút cuối Quý Ly còn giết Ngụy Thức. Cho nên khi vua tôi bị giặc bắt ở núi Cao Vọng có tương truyền là do một con cáo trắng chỉ đường. Sau đó khi Bình Định vương bị vây khốn thì có tương truyền nhờ một con cáo trắng đánh lạc hướng giặc Vương mới thoát được. Ngày nay trong đền thờ vua Lê ở Lam Kinh có bàn thờ “Bạch y thần nhân”. Dân gian đã đưa quan niệm “ơn đền oán trả” vào dã sử và bổ sung cho chính sử.

Bây giờ trời bỗng nắng, nắng vàng đậm, đẹp và ấm. Những chiếc bóng của chúng tôi hiện ra, đổ dài trên đường đi, trên mặt ruộng cùng với bóng những người qua lại. Chợt ai đó đọc lên câu đố :

Nắng ba năm ta không bỏ bạn
Mới mưa một ngày bạn vội bỏ ta

Và giảng là : Cái bóng của ta.

Tôi hiểu…Hơn một tuần trong chuyến du khảo này chúng tôi chỉ gặp mưa và thời tiết âm u…Làm sao không mừng được. Hôm nay giữa lòng Tây Giai, được nhìn thấy tận mắt…thành lũy của một triều đại qua bao lớp lớp phế hưng, đền mộ của một bậc liệt nữ tuy ngày thơ ấu chỉ được xem qua trên sách báo còn đọng lại ấn tượng sâu xa trong ký ức…và trong buổi chiều mùa đông bỗng nhiên hửng nắng, chúng tôi gặp lại bóng mình như gặp lại cố nhân…Thật thú vị biết bao. Tôi muốn nói vậy với đôi rồng đá xương cốt thịt da đang rạn nứt theo thời gian vẫn cố gắng tồn tại…

Trần Huiền Ân

Dấu đá chưa mờ

Hơn sáu mươi năm trước, Nguyễn văn Cổn có bài thơ Nước tôi, thể song thất lục bát, trừ hai khổ mở đầu và kết luận, còn lại mỗi khổ bốn câu nói về một nhân vật quan trọng trong lịch sử hay một di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào văn học nghệ thuật nước nhà. Đoạn ca ngợi Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành như sau:

Ngọn cờ lau mở thời vương bá
Động Hoa Lư dấu đá chưa mờ
Nước non có tự bao giờ?
Đinh Tiên Hoàng dựng cõi bờ mấy phương?
Quân nhà Tống tìm đường chiếm cứ
Lê Đại Hành chống giữ giang sơn
Tranh phong những trận mê hồn
Quân thù khiếp sợ dám còn vãng lai…

Hôm ấy, chúng tôi từ Ngọc Lặc, Lam Kinh xuống Hoa Lư. May mắn là thời tiết đổi thay, trời mùa đông đang se lạnh bỗng nhiên ấm áp. Trong khi tâm trí tôi nhẩm lại mấy câu thơ trên thì mơ hồ văng vẳng như có tiếng ai hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu. Dấy binh lấy lau làm cờ…”. Thế hệ chúng tôi là học trò và thế hệ học trò của chúng tôi bài hát này được phổ biến rộng rãi, thường là bài hát chính thức của các Liên đội mang tên Đinh Bộ Lĩnh, đứng nghiêm hát khi vừa vào lớp, sau đó là hiệu lịnh “Học sinh ngồi!”. Chúng-tôi-học-trò và học-trò-chúng-tôi thường thích thú khi đóng vai Đinh Bộ Lĩnh:

Khác thường từ thuở còn thơ.
Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau

để rồi:

Hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua.
Bốn phương thu lại một nhà.
Mười hai sứ tướng đều là quét thanh”

    (Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cái đẹp của vị anh hùng niên thiếu này là cái đẹp đơn giản trong không gian hoành tráng và tinh thần tự tại, lồng lộng nắng gió…trên đồi rộng, dưới trời cao…dễ khiến lòng ta say sưa. Ai lúc tuổi thơ chưa có một lần say sưa cùng Đinh Bộ Lĩnh hãy thử xem lại: Có phải là thiếu sót không?

Trên đường rẽ vào đền hai vua Đinh – Lê bên trái là núi Yên Ngựa. Mộ vua Đinh trên đó. Chúng tôi rất tiếc là không trèo lên được, đành đứng ngước nhìn, cũng như lúc ở Thanh Hóa đứng bên quốc lộ nhìn mộ Bà Triệu tận lưng chừng ngọn núi cao. Khung cảnh Hoa Lư trông thật rực rỡ. Từ những ngọn cỏ dưới chân đến những tàn cây trên đỉnh đồi tròn đều cùng màu xanh và điểm thêm chút vàng để giống như màu lá mạ, chỗ này mạ non, chỗ kia mạ già. Hoa Lư có cái thế đắc địa xứng đáng với 42 năm là kinh đô nước Đại Cồ Việt trẻ trung, tiếp nối và xây dựng căn bản vững chắc cho thời đại tự chủ do Ngô Quyền mở đầu (chỉ có sáu năm, còn lại là cát cứ tao loạn). Hoa Lư xinh xinh như “mộng ban đầu”, như “tuổi đôi mươi”… để khi đất nước vào độ trưởng thành già dặn dưới thời vua Lý Thái Tổ có một Thăng Long ngàn năm văn vật.

Đền thờ vua Đinh ở làng Trường Yên Thượng.

Trường Yên đầu dựng đô thành.
Cải nguyên là hiệu Thái Bình từ đây

(Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cổng ngoài (Ngọ môn quan) có ba gian lợp ngói, mặt trong cổng ghi bốn chữ “Tiền triều phụng khuyết”. Qua một sân ngắn vào đến cổng trong (Nghi môn) với bốn trụ biểu, hai trụ bên ngoài cao hơn hai trụ bên trong, hai bên là cây cao bóng mát, là hồ sen. Hết chính đạo đến sân rồng, giữa sân có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi. Nhưng tôi thích nhất là hai con nghê bằng đá xanh nguyên khối, tác giả đã tạo cho nó bộ mặt rất vui, không trịnh trọng như rồng, không đài các như phụng, nó có vẻ thật hồn nhiên, thật dễ thương, như tuổi thơ của chúng ta, của mọi người – trong đó có cả Đinh Tiên Hoàng đế.

Bái đường năm gian, bàn giữa thờ vua Đinh. Một bên là tượng Đinh Liễn quay mặt về nam, một bên là Đinh Toàn và Hạng Lang quay mặt về bắc. Tượng đồng vua Đinh với chòm râu dài và thưa. Tôi mong tìm thấy ở một bên tường hay đâu đó…nếu có bức tranh hay cụm tượng cờ lau tập trận thì sẽ hay hơn biết bao!

Đền thờ vua Lê cách đây khoảng nửa cây số, thuộc làng Trường Yên Hạ, nhìn xuống sông Hoàng Long, có núi Đèn trước mặt, núi Đìa sau lưng. Kiến trúc cũng tương tự: gian nhà dài, trụ biểu, vườn hoa, cây cỏ, hai dãy nhà vọng, non bộ “Phượng ấp” và non bộ “Long mã”. Cổng vào đề chữ Trường Xuân linh tích. Ở sân rồng gần gian giữa của bái đường cũng có long sàng bằng đá. Tượng Thái hậu Dương Vân Nga bên trái tượng vua Lê, bên phải là tượng Lê Long Đĩnh. Đệ nhất công thần Phạm Cự Lượng thờ ở tòa Thiêu hương.

Nhớ lại lời các tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca nói về vua Đinh:

Nội đình năm vị nữ quân.
Nặng tình kiêm ái quên phần di mưu

mới thấy rằng Dương Vân Nga thật có phúc. Bốn vị nữ quân kia tên tuổi, số phận thế nào…chắc không ai biết. Để qua một bên những lời xưa nay khen chê phần nhiều đánh giá Dương Thái hậu qua địa vị,  để qua một bên chuyện chính sự và chuyện miệng đời, cái hơn người của bà là đã yêu và được yêu bởi hai bậc anh hùng vĩ đại. Trong lịch sử nước ta bà là người duy nhất có hai đời chồng làm vua. Hai ông vua đều sáng danh. (Chuyện bà Ngọc Bình chỉ là chuyện kể, hơn nữa bà Ngọc Bình không thấy sử sách ghi “danh phận”).

Điều khác nhau giữa hai đền thờ là đền vua Đinh có tượng đôi rồng chầu trên nóc, đền vua Lê thì không. Người chủ trương việc này suy nghĩ thế nào mà cho xây dựng như vậy? Lê Đại Hành Hoàng đế cũng là một vị vua, tuy rằng nối nghiệp Đinh Tiên Hoàng đế nhưng vẫn có chiến tích lẫy lừng, công lao chống ngoại xâm phương Bắc và tạo dựng uy thế với lân quốc phương Nam, đâu kém công lao trừ nội loạn? Lời Phạm Ngự Lượng khi tôn phò (theo sử chép) thiết tưởng đã đánh giá đúng về con người Đại Hành.

Rời Hoa Lư, một lần nữa ngẩng trông núi Yên Ngựa, riêng tôi một lần nữa nhớ đến bài hát  Anh hùng xưa, thêm vào đó “Với tiếng gió Hoa Lư ơi, với tiếng gió Hoa Lư ơi…”. Quả thật trời Hoa Lư đang đầy ắp mênh mang nắng và gió…

Trần Huiền Ân

Ngọc Lặc: Rượu ngon và canh lá đắng

Văn thư, sách vở, bản đồ ghi là Ngọc Lạc, nhưng đến nơi nghe gọi và thấy các bảng hiệu ghi là Ngọc Lặc. Cả hai tên cùng tồn tại.

Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai

Các xã trong huyện Ngọc Lặc đều có tên hai chữ Hán: Thạch Lập, Phúc Thịnh, Mỹ Tâm, Ngọc Sơn, Ngọc Khê vv…Các làng thì một số có tên hai chữ Hán như Lập Thắng, Điền Sơn…còn hầu hết là tên một chữ: Làng Ngán, làng Chạy, làng Nhớ, làng Quên, làng Thi, làng Mới, làng Mỏ, làng Móng, làng Chả, làng Thượng, làng Hạ, làng Vải, làng Mốc, làng Mí, làng Beo vv…Nghe rất vui nhưng tìm hỏi xuất xứ không ai biết rõ. Cũng như mọi người nói về vua Lê một cách kính cẩn, gọi là “cố Lê Lợi”, nhưng những chuyện xưa”năm tê năm tặc” chỉ còn truyền khẩu một cách mơ hồ. Những khe Sống, đồng Chó…người nói thế này, người nói thế nọ, rất khác nhau.

Thị trấn Ngọc Lặc nằm giữa cánh đồng, bốn bên là những dãy núi đỉnh nhọn đâm lên trời cao dáng vẻ trông thật hùng vĩ, đường bệ hơn hết là núi Sắt. Trung tâm thị trấn là chợ Phố Cống. Từ chợ đi ra có phố Lê Lợi rồi phố Lê Lai. Gọi là phố nhưng đường không rộng lắm, hai bên đường nhựa vẫn là bùn đất, rơm rạ vương vãi. Tuy vậy cũng đủ các mặt hàng: tạp hóa, quần áo, giày dép, xe máy…Và có dịch vụ trang trí nội thất, trang điểm cô dâu, quán cà phê vang tiếng nhạc. Thức ăn bày bán khá nhiều trong chợ là những thúng nhộng tằm, con nhộng lớn, màu xanh nhạt.

Nhiều loại nhà cửa xen lẫn nhau: nhà gác, nhà ngói, nhà lợp lá cọ – là thứ lá gồi trong thơ Tú Xương “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi”. Lá cọ làm kỹ lợp đến 20 – 30 năm chưa hư, sơ sài thì cũng phải 10 năm. Khi các bác sĩ đang làm cho chương trình Y tế cộng đồng tại đây đề nghị đồng bào cho biết về ngôi nhà mà họ mơ ước thì câu trả lời là những “nhà ngói bằng” – tức là nhà đúc. Giới thiệu kiểu nhà ngói ở miền xuôi, họ cười cười bảo: “Nhà xây mà có mái, lợp ngói thì đâu có hơn gì lợp lá cọ?” Ra khỏi trung tâm thị trấn vào các bản đồng bào Mường là nhà sàn với những cột bằng cây luồng, một loại cây họ tre, lớn hơn, dài hơn, suôn hơn tre. Cửa lên nhà cũng ở phía chái nhưng không chính giữa như nhà sàn Tây Nguyên mà dịch qua bên trái.

Xã Mỹ Tâm - Ru Mường

Sau lưng phố là ruộng chia thành nhiều luống nhỏ, luống này chín vàng, luống kia tươi xanh, luống nọ đã gặt. Trong một cánh đồng có thể thấy nhiều giai đoạn thời vụ trên những mảng màu khác nhau, nổi bật bên nhau. Vài ba con trâu đi trên đường phố, chiếc mõ mang ở cổ kêu lóc cóc lóc cóc, đến đoạn trống chưa có nhà trâu rẽ xuống ruộng.

Buổi sáng mùa đông ấy dứt mưa đã mấy hôm, trời chợt có gió hong khô và nắng lên ấm áp. Đường vào bản đã ráo, bước trên mặt đất mềm thấy bàn chân êm êm. Mặt hồ Đầm Thi gợn từng nếp sóng lăn tăn. Bãi sỏi bờ suối màu vàng sậm, hoa pháo nở đỏ từng xâu dài. Không khí thoáng đãng, hít thở thật nhẹ nhàng. Phong cảnh có nét gì đó rất thoáng và rất lạ giống như những truyện đường rừng của Lan Khai. Thỉnh thoảng có tiếng còi xe cũng dịu dàng. Trẻ em sạch sẽ, xinh xắn và lễ phép, gặp chúng tôi chào hỏi vui vẻ. Chỉ còn một ít người già mặc y phục dân tộc Mường, nam nữ thanh niên đều mặc Âu phục. Phụ nữ bới tóc cao, con gái để tóc dài, xõa ra hoặc kẹp lại bỏ sau lưng.

Ở đây rượu rất ngon và hình như người nào cũng sành về rượu. Ngồi uống rượu bỗng nhớ chuyện xưa. Thời Lê Lợi khởi binh, lực lượng nòng cốt ban đầu hẳn là đồng bào vùng Ngọc Lặc, Thọ Xuân. Biết bao nhiêu là gian khổ, “khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một lữ” đã cùng chia nhau chén rượu nghĩa tình. “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm…”, nguyên bản Bình Ngô đại cáo như thế và các dịch giả đã diễn nôm thành “Gắn bó một lòng phụ tử rót rượu ngọt để khao quân” hoặc ”Mở tiệc khao quân chén rượu ngọt ngào, khắp chiến sĩ một lòng phụ tử”… Đầu giao hưởng sĩ…Đem rượu được biếu đổ xuống lòng suối để ba quân cùng nếm, rượu hòa nước lã bỗng hóa ra chén rượu ngọt ngào…

Buổi tối đến Ngọc Lặc chúng tôi được thưởng thức ngay món canh lá đắng. Hôm sau có dịp nhìn tận mắt loại cây ấy. Lá đắng là tên gọi đúng vị của nó, mọc từ thân ra, có hình dạng giống như lá sắn mì. Từ cuống chính tỏa thành chín cuống phụ, mỗi cuống phụ một lá, thân lá dài từ 5,6cm đến 20cm, rộng độ 4-5cm, chỗ gần cuống tròn hơn, thân lá nhọn, hai mặt lá đều màu xanh đậm. Lá đắng nấu với thịt nạc băm nhỏ. Mới ăn vào đắng lắm. So với canh lá đắng thì canh khổ qua (không luộc chần) chẳng thấm thía gì. Vậy mà khi đã nuốt xong, vị đắng tan hết, còn lại vị ngọt. Ăn lần thứ nhất có thể chưa cảm nhận được canh lá đắng ngon thế nào, sau lần thứ hai đã thấy nhớ, lần thứ ba và những lần tiếp theo sẽ không quên món canh độc đáo này của Ngọc Lặc…

Trần Huiền Ân

Chiều Lam Kinh

Từ Thanh Hóa theo quốc lộ 47 đi về hướng tây, ruộng đồng và xóm làng nối tiếp. Núi Vọng Phu xa mờ in màu xanh đậm hơn lên nền trời có dáng người mẹ dắt con rõ hơn núi Mẹ Con ở tây bắc Khánh Hòa, đi trong đồng Tuy Hòa (Phú Yên) thấy hai đỉnh cao thấp liền nhau, đúng nghĩa Mẹ/Con chứ không hề bồng bế, ngóng trông.

Đã đến Lam Kinh, trời chiều đầy mây xám âm u. Một vài tia nắng lóe lên rồi tắt ngấm. Không gian thật tĩnh mịch. Ở đây có dấu vết của một khúc mương rộng. Người hướng dẫn bảo đó nguyên là con sông đào, tên là sông Ngọc. Ông Lê Hối, tiền bối ba đời của vua Lê Lợi từ Ngọc Lặc đưa gia đình về đây xây dựng cơ ngơi. Sông dẫn nước về cái hồ gọi là Hồ Tây. Bắc qua sông có cầu Bạch Ngọc, thượng gia hạ kiều. Năm 1433 điện Lam Kinh được xây dựng, sau đó là những bia, mộ các vua Lê, nay thuộc xã Xuân Lâm huyện Thọ Xuân, huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Thanh Hóa. Qua khỏi sông đào thấy một hố trũng sâu, được biết xưa là một giếng nước lớn.

Cung điện Lam Kinh còn lại là một bãi cỏ rộng. Rải rác khắp bãi cỏ, xếp hàng ngay ngắn là những phiến đá táng chân cột, phần dưới hình vuông mỗi cạnh chừng 6 tấc, phần trên là khối viên trụ nội tiếp, màu đen xám, nhẵn láng. Vài ba con rồng đá không còn đủ hình dạng, con thì vỡ đầu, con thì mất thân, con thì rạn nứt. Nhìn những chân cột ta có thể hình dung được bề thế nguy nga của cung điện Lam Kinh ngày ấy. Nền phía trong cao hơn, và như để chống đỡ sự đổ nát, có chất một dãy bao cát mà phần lớn đã mục rách, trông thật thảm thương! Một vài người dân nói: “Cho đến năm 1960 cung điện Lam Kinh còn khá tốt, sau đó mới bị dỡ phá”. Chúng tôi nhìn chung quanh, nhận biết khá rõ ràng dấu tích của chân thành. Ở một góc là cây đa già tua tủa rễ phụ. (Mấy năm sau, xem truyền hình thấy Lam Kinh được trùng tu, tôi mừng thầm. Không phải mừng việc trùng tu mà mừng mình được đến Lam Kinh khi còn là phế tích hoang tàn, khỏi phải chứng kiến một Lam Kinh mới toanh, chẳng biết chỗ nào thật chỗ nào giả). Trong nhà bảo tàng có trưng bày mấy viên gạch xây thành, khối chữ nhật có hai lỗ vuông để đóng chốt lại với nhau, ghi số đo: dài 75cm, rộng 20cm, cao 15cm, nặng 43kg. Gạch nền cung điện lớn hơn, dài 85cm, rộng 40cm, cao 15cm, nặng đến 85kg.

Vào trong nữa là mộ vua Lê Thái Tổ. Qua khỏi hàng trụ biểu đến vòng thành thấp. Nền sân lát gạch. Bốn con voi quay đầu vào mộ. Hai bên mỗi bên một hàng các con vật: kỳ lân, tê giác, ngựa, cọp. Rồi hai vị quan văn võ. Tất cả đều bằng đá, nét chạm khắc có phần đơn sơ. Mộ vua hình chữ nhật, xây gạch, không có hoa văn, họa tiết. Một bệ nhỏ hình chữ nhật để cắm nhang. Dẫu là mộ thật hay mộ giả thấy cũng rất giản dị, hết sức giản dị.

Bia Vĩnh Lăng dựng ở phía trước, góc ngoài thành nơi có cây đa già. Nhà bia mới xây lại, phía trước thềm còn dấu hai chân cột cũ. Bia thì người hướng dẫn nói vẫn là bia xưa, cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Chân rùa đội bia có 6 móng, móng cuối bị khuyết, nhỏ hơn. Hình rồng chạm trên bia trông giống con rắn, nhỏ và dài, uốn lượn gấp khúc nhiều đoạn, chân có 3 móng. Tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội có một bia Vĩnh Lăng phục chế, đường nét còn mới, sắc sảo.

Bên kia đường đi Ngọc Lặc là lăng mộ của các vua Lê Thái Tông, Thánh Tông, Hiển Tông, Túc Tông và bà Ngọc Dao… hoang vu hơn. Có chỗ bia đã mất chỉ còn con rùa và con rùa cũng không có đầu!

Chiều đang xuống nhanh. Trên tàn cây những con ve sầu réo dài từng khúc ca buồn. Bãi cỏ sẫm màu lại, gần với màu của những khối đá chân cột. Vài ba con bò vừa bước đi chậm chạp vừa nhởn nhơ gặm cỏ. Rừng núi Lam Kinh dần dần chìn ẩn trong màn sương đang dần dần hiện lên. Người già nhất trong nhóm chúng tôi, ông Ba Nhữ, mắt mơ màng đọc hai câu thơ Thanh Quan:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Trần Huiền Ân

Về đất tổ

“Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gây dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm quận bản đồ mênh mông
Trứng rồng lại nở ra rồng
Ngàn thu con cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Suối kia uống nước hỏi dòng từ đâu?…”

Nhớ lại lịch sử thời dựng nước, chắc chắn mỗi người chúng ta đều tự hỏi như thế. Và ai ai cũng muốn ít nhất có một lần về thăm đất tổ cội nguồn.

Từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 về hướng tây bắc, tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng trung du Bắc Bộ. Buổi sáng hôm ấy thật êm đềm. Trời xanh không quá cao tạo cái cảm giác gần gũi. Những ngọn đồi tròn, thấp, rải rác khắp nơi. Đồng ruộng vì thế không còn trải rộng, nhưng lại có vẻ linh hoạt hơn. Bắp, khoai, sắn nước, rau cải…đều xanh mượt, nhưng mỗi loại một màu xanh riêng, tạo ra từng ô đậm nhạt khác nhau, trông mát mắt. Thỉnh thoảng còn thấy một hai cái lô cốt ẩn mình trong cỏ, rêu phong, chứng tích của một thời khói lửa.

Đường qua huyện Mê Linh. Chỉ hai tiếng Mê Linh cũng đủ gợi lên những trang sử oanh liệt của hai vị nữ anh hùng dân tộc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống nhà Đông Hán. Qua Hương Canh với ngôi đình trên 300 năm, qua thị xã Vĩnh Yên, đường chuyển sang hướng tây để gặp sông Lô. Xe chạy dưới cầu rồi vòng lên. Mơ hồ trong gió như  vang vọng bản trường ca đầy hào khí và cũng rất trữ tình.

Thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ Phú Thọ. Sông Lô gặp sông Hồng tạo ra điểm gặp của Phú Thọ – Vĩnh Phúc – Hà Tây. Đi mươi cây số nữa là tới đền Hùng, thôn Cổ Tích, xã Hi Cương, huyện Phong Châu. Ai đã thuộc những câu thơ xưa từ bài học thuộc lòng trong ký ức thiếu thời, khi nhìn núi Ngũ Lĩnh không thể không nhẩm đọc:

…Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương…


Trước khi đến “ba tòa” tức là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, phải qua đền Trình gần chân núi. Bên trên cổng đề bốn chữ “Cao sơn cảnh hành”, ở bốn trụ có hai câu đối. Từ chân núi đến đền Hạ thoai thoải 225 bậc cấp. Các bậc cấp xây cao bằng nhau (một tấc rưỡi) vừa với bước chân người lớn tuổi. Cho nên không mấy ai ngần ngại khi nghe tiếng gọi của tiền nhân:

Đường mây sẵn bậc leo lên
Rõ ràng lăng miếu Mẹ Tiên Cha Rồng…

Ở đền Hạ có Thiên Quang thiền tự, tương truyền tại nơi này Mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm con, có cây đại 500 năm, cây vạn tuế 3 nhánh 700 năm. Lên thêm 168 bậc cấp nữa đến đền Trung, có cây đại 700 năm. “Trăm năm trong cõi người ta…” một đời người đâu có nghĩa gì so với cổ thụ. Nhưng điều quan trọng là sự nghiệp một đời người còn có gì để lại cho các thế hệ mai sau khi thân xác đã về cùng cát bụi.
Nói đến cổ thụ có khi không đồng nghĩa với đại thụ. Cây vạn tuế ở đền Trung không có được tầm vóc như cây đại ở Côn Sơn, tương truyền do Trần Nguyên Đán trồng đã 600 năm, hoặc cây đại trước chùa Hoa Yên núi Yên Tử 700 năm, trông khắc khổ mà kiêu hùng. Những cây tùng 700 năm dọc Đường Tùng Yên Tử thì cao vút cao, ngọn vẫy mây trời, dưới gốc rễ trồi lên cùng sỏi đá.

Cũng theo tương truyền, chỗ đền Trung là nơi tổ chức cuộc thi các món ăn và Hoàng tử Lang Liêu đã dâng vua món bánh chưng bánh giầy. Ở sân đền có đặt 9 tảng đá, tảng lớn nhất chính giữa, 8 tảng nhỏ hơn xếp vòng chung quanh, tượng trưng nơi ngày xưa Vua Hùng và các Lạc hầu Lạc tướng ngồi trên các tảng đá bàn việc nước, vua ngồi giữa, văn võ chung quanh. Từ 9 tảng đá thô sơ nơi sân đền Hùng đến 9 chiếc đỉnh chạm khắc công phu trước Thế miếu Huế, đất nước biết bao thăng trầm để đến hôm nay…

…Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây…

Đi tiếp 102 bậc nữa đến đền Thượng: “Kính thiên Linh điện”. Kiến trúc đền Thượng cũng như các đền Hạ, Trung. Ngôi đền dài, bên trên đôi rồng chầu, trước có bốn chữ “Nam Việt tích tổ”. Sau đền là sân rộng, bóng cây che mát. Cạnh đền Thượng có “Hùng Vương lăng” là mộ vua Hùng thứ sáu. Sau khi Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân bay về Trời, vua Hùng thứ sáu cởi áo vắt lên cây kim giao rồi hóa tại đây. Nguyên xưa là mộ, đến thời đầu triều Nguyễn xây thành lăng như hiện nay, hai tầng mái uốn cong bốn góc.

Không quay lại lối cũ, cứ tiếp bước đi xuống là đền Giếng nằm ở chân núi, phía đông nam. Trong đền có giếng Ngọc, một lần nữa nói theo tương truyền, các Công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi xuống lòng giếng chải tóc, bịt khăn. Ngày nay, do du khách đến đây thường thả những tờ bạc xuống lòng giếng để cầu phúc cầu tài…người ta phải đặt một tấm gương trong suốt bên trên, e rằng sự giao hòa giữa Trời-Đất, Âm-Dương đã phần nào bị hạn chế.

Trước đền Giếng là một hồ sen. Bên ngoài hồ sen, bước qua vòm cổng đưa ta trở về cùng cõi đời thường sau khi đã gởi lòng theo dấu chân dĩ vãng. Ngoái lại, thấy bốn chữ “Trung sơn thiên bửu”, đôi câu đối, hai trụ biểu nổi trên màu cây lá.

Hình như tại đây ai ai cũng bâng khuâng dừng bước, đưa tầm mắt nhìn tận xa xa. Cả cõi kinh đô Phong Châu bao la hùng vĩ “Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang”, gồm cả Phú Thọ, Vĩnh Phúc và một phần Hà Tây hiện nay (Sơn Tây). Một ngàn năm trước, bốn ngàn năm trước…đứng ở đây vẫn là ngọn núi ấy, dòng sông ấy, Tổ tiên để lại cho con cháu. Bên trong trang lịch sử vinh quang thời Hùng Vương còn có những trang tình sử. Và một cảnh rất đẹp, rất thơ là cảnh Mỵ Nương Ngọc Hoa hạ giá cùng Sơn Tinh:

…Quỳ lạy cha già bên kiệu bạc
Thương người thương cảnh xót lòng đau
Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác
Nàng kêu: Phụ vương ôi! Phong Châu !…

(Nguyễn Nhược Pháp)

Khốc như nữ tử vu quy nhật”. Công chúa không khóc, chỉ kêu lên, hẳn là tiếng kêu nho nhỏ, nghe như tiếng chim rừng Nghĩa Lĩnh.

Trần Huiền Ân

Ngôi trường của mẹ

Hồi ấy, làng Vân Hòa của tôi có trường công liên hương tại ấp Phước Hậu, nhưng làng quá rộng, từ nhà tôi ở ấp Bình Trị, hay ấp Bình Điền lân cận đến Phước Hậu đi bộ mất nửa buổi, vì vậy đa số trẻ con hai ấp này không đi học được. Nhỏ tuổi thì không đủ sức đi, tìm nhà quen gởi trọ cũng bất tiện. Lớn lên một chút thì còn lo giúp đỡ công việc gia đình, chăn trâu, dọn vườn, bẻ thơm… Để giải quyết việc này, cha tôi xin phép mở một “gia đình học hiệu” và cất gian trường bên cạnh nhà. Tuy nói là gia đình học hiệu nhưng thực tế cha tôi tìm thầy mời về dạy chương trình lớp Năm và lớp Tư cho cả trẻ con hai ấp Bình Trị, Bình Điền. Tôi còn nhớ thầy Vưu người Tuy Hòa và thầy Liên người tận ngoài Quảng Bình. Mẹ tôi có một gánh hàng xén, mỗi tháng chín phiên bán ở Chợ Đồn. Mọi chi phí cất trường, đóng bàn ghế, bảng đen, mua sổ sách bút mực cho thầy, việc ăn ở của thầy tại nhà tôi đều do mẹ tôi lo liệu, trích từ lợi tức trong gánh hàng xén ấy. Giữa tháng mẹ tôi “kiểng” thầy số tiền lương.

Học sinh chẳng những được học miễn phí, không phải đóng góp một khoản nhỏ nào, còn được tổ chức sinh hoạt như trường công, có bầy đàn, ca hát, tập các trò chơi, tìm dấu đi đường… Mấy môn này thì trẻ con thôn quê dễ rành lắm. Thay vì công bố vị thứ hàng tháng mẹ tôi xin thầy công bố vị thứ hàng tuần vào mỗi chiều thứ bảy. Trò nào học giỏi được thưởng. Phần thưởng là giấy manh, thước gạch, bút chì, ngòi viết và mực viên… cũng do mẹ tôi cung cấp. Hồi ấy chưa có tập vở, học trò dùng giấy manh đóng vở, tự gạch dòng bút chì để chép bài, làm bài. Ngòi viết có nhiều loại, chúng tôi gọi theo hình dạng là ngòi viết lá tre, ngòi viết rông, ngòi viết bầu và ngòi viết ễn. Mực viên dùng hai màu xanh và tím, một loại giống như viên thuốc aspirine, một loại viên hơi tròn. Mấy trò thường xuyên được thưởng thì giấy bút mực dư học cả năm, khỏi phải mua. Học ở đây xong, đứa nào cha mẹ cho học tiếp thì ra Phước Hậu vào lớp Ba, đứa nào không có điều kiện phải ở nhà thì cũng ít nhiều đã biết đọc biết viết.

Hai anh em tôi nhỏ nhất, cùng học một lớp. Thầy cho ra chơi là chạy vào nhà tìm kẹo bánh. Tôi rất thích loại kẹo bạc hà đựng trong ve thủy tinh hình giống như trái bầu, mỗi lần đi Dinh mẹ tôi mua về cho một vài ve. Cùng lớp, có mấy trò con trai ở Bình Điền lớn tuổi, đứng gần bằng thầy, dân làm ruộng đen thui và chắc nịch. Mấy trò con gái dân Xóm Chợ thì trắng trẻo ẻo lả… Chúng tôi hơn họ ở chỗ có một bộ “giáo khoa thư” và nhiều lúc được mẹ lật sách ra chỉ cho những hình vẽ, giảng giải. Thành ra trước khi biết chữ anh em tôi đã thuộc lòng, tranh nhau đọc câu: ”Sách này do Nha Học chánh Đông Pháp giao cho các ông Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Nhà nước giữ bản quyền. Cấm không ai được in lại”, đã có những tờ tranh vẽ hình bà Trưng bà Triệu cỡi voi, ông Đinh Bộ Lĩnh bẻ bông lau làm cờ đánh giặc…

Học 24 chữ cái rồi vần xuôi, vần ngược, ráp vần, tập đọc… Vần xuôi nghe như cầu kinh, vần ngược nghe như thần chú. Khi biết đọc sách chỗ nào không hiểu tôi đem hỏi mẹ, được mẹ giảng giải rõ ràng. Bây giờ đã quên hết, chỉ còn nhớ hai chuyện. Chuyện thứ nhất, trong sách có hình vẽ một ông cỡi ngựa và nhiều người đang cuốc đất gánh đất hay làm gì đó, ghi là “Chánh tổng coi đê”. Con đường trước nhà tôi thỉnh thoảng có đồng bào dân tộc thiểu số cỡi voi đi qua. Voi, gọi là “ông bồ” tai to vòi dài… lạ lắm, cách ăn mặc của “thằng nài”, cái ống điếu, tiếng nói lơ lớ…cũng lạ lắm, vui lắm. Lúc ấy thường gọi chung đồng bào các dân tộc thiểu số là “người Đê”. Mỗi lần như vậy lũ trẻ chúng tôi gọi nhau đi “coi Đê”. Tôi lấy làm lạ, tại sao ông Chánh tổng cũng đi “coi Đê” như lũ nhóc chúng tôi. Mẹ tôi mới giảng cho biết về những con đê bên sông ngoài Bắc, trong hình là ông Chánh tổng đang trông coi dân chúng đắp sửa đê. Chuyện thứ hai, khi đọc bài “Trầu Cau” có câu “…người vợ chết hóa ra dây trầu không leo ở cây cau…”. Rõ ràng trong hình vẽ dây trầu quấn vào cây cau sao lại nói dây trầu không leo ở cây cau? Mẹ tôi giảng lại cho biết, xứ mình gọi là dây trầu thì ngoài Bắc gọi là dây trầu không.

Trong một năm thầy Liên dạy chúng tôi học hết chương trình lớp Đồng ấu và Dự bị để ra trường công liên hương học lớp Sơ đẳng (lớp Ba). Đầu năm 1945, chuẩn bị thi bằng Sơ học yếu lược, mỗi trò được cấp một giấy căn cước, dưới có chữ ký quan Tuần vũ tỉnh Phú Yên Trần văn Lý. Chữ ký dài, đầy đủ và rõ ràng, gần chữ v (văn) có một chữ v khác bằng bút chì màu đỏ. Tôi nói với mẹ: Quan Tuần vũ ký sai phải sửa lại chữ v. Mẹ tôi giảng cho biết đó là chỗ một thầy thông thầy phán đã xem trước, thấy đúng, làm dấu để quan Tuần vũ ký chứ không phải sai và sửa.

Tôi nhớ mãi chuyện này vì đây là lần cuối cùng chuyện trò cùng mẹ. Học lớp Ba tôi phải ở trọ, chủ nhật sau về thì mẹ tôi bệnh, rồi bệnh nặng và qua đời. Đau thương trùm lên gia đình tôi. Tiếp theo là những biến cố dồn dập của đất nước… Gia đình tôi rời khỏi làng Vân Hòa và xa cách mộ phần mẹ.

Bây giờ, mỗi khi hồi ức về mẹ, tâm tưởng tôi vẫn là tâm tưởng đứa trẻ lên bảy lên tám… Tôi tự hỏi: Bao nhiêu bạn bè thời thơ ấu ấy, nay ai còn ai mất, ai lưu lạc phương trời, ai đang ở làng quê, ai đã thành ông bà nội ngoại, kẻ giàu sang, người nghèo khó… Giữa bao nhiêu bận rộn của cuộc sống, có lúc nào họ nhớ lại những ngày học tại “nghĩa thục” của mẹ tôi không? Có lúc nào họ nhớ lại hình ảnh mẹ tôi không? Tôi nghĩ rằng họ không phải là kẻ bạc!

Trần Huiền Ân

Văn và Hoa

Trong một buổi hội thảo về văn xuôi, nhà văn Cao Duy Thảo có phát biểu rằng văn chương không thể có phế phẩm, vì phế phẩm văn chương không thể dùng làm bất cứ thứ gì, việc gì. Một mớ gạch vỡ, ngói bể… còn đem làm nền, lót đường được. Miếng gỗ cưa hỏng, đục hỏng… còn đun bếp được. Nhả bánh “hư bột hư đường” hạ giá thành thức ăn gia súc. Văn chương mà hỏng chỉ vứt đi, vứt đi.

Vâng. Làm văn chương hỏng, bị vứt đi, thật tội nghiệp cho tác giả. Mất biết bao nhiêu tâm trí và công sức. Có thể tác giả đầy nhiệt tình nhưng thiếu khả năng, hoặc do một điều kiện khách quan tác động. Hóa ra cơ sự…

Cái đáng sợ trong văn chương đối với quần chúng là loại văn chương giả. Sự kiện éo le, hấp dẫn, từ ngữ bóng bẩy, cú pháp điêu luyện… tác giả tài tình như một phù thủy điều khiển âm binh, sai khiến những điều không thật này múa may, khoa trương làm lóa mắt người đọc và không ít người đọc bị mắc lừa, xúc động thật sự, có khi đi đến mê muội tin theo các điều giả ấy.

Ngược lại không phải không có trường hợp chính phẩm văn chương bị chê là khô khan, đơn giản, không khơi gợi được tình cảm nơi người đọc. Ở đây có thể ví như món ăn bổ mà không ngon, không khoái khẩu người thưởng thức nên không được ưa chuộng. Cũng có thể nói rằng như thế chưa phải là văn chương, bởi vì hai tiếng văn chương đã có ẩn ý là phải hay, mà đã là hay thì nội dung và hình thức song toàn.

Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy cái gì là giả không thể tồn tại lâu dài, cũng như cái gì là thật không thể chìm khuất mãi. Một lúc nào đó, người đọc nhận ra ngay những éo le, hấp dẫn, bóng bẩy kia chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài và người đọc hối hận: Tại sao lúc ấy ta lại tin như vậy, lại xúc động đến thế? Một khi đã “ngộ” những người đọc này càng khinh bỉ loại văn chương giả. Kẻ bi quan không còn chút niềm tin gì đối với văn chương, kẻ lạc quan gia công đi tìm điều thật.

Nói chuyện văn chương lại liên tưởng đến hoa.

Từ lâu có nhiều loại hoa giả. Lúc đầu còn thô thiển, càng ngày với kỹ thuật tinh vi nhiều loại hoa giả còn đẹp hơn hoa thật. Cùng với hoa thật, hoa giả đóng một vai trò quan trọng trong việc trang trí, khánh tiết. Có người chê hoa giả, cho là đồ giả thì không đáng quý, chẳng cần khen chê.

Cha tôi có bài thơ vịnh hoa giả:

Mượn tên đẹp đẽ cũng như ai
Cũng trúc, cũng lan, cũng thược, mai
Tết tới đua chen cùng chúng bạn
Xuân về hớn hở khắp trong ngoài
Nữ công chị hỡi trau tria với
Thưởng khách chàng ơi chớ phụ tài
Đành phận không hương nhưng có sắc
Đã từng lên án lại lên đài

Thật tình tôi không hiểu rõ ngụ ý của bài thơ là khen hay chê hoa giả, giả sử chê thì chê một cách khéo léo. Chỉ thấy rõ là khen tài người làm ra hoa, với quan niệm xưa đây là việc thủ công của nữ giới.

Nghĩ lại thì hoa giả đâu phải là hoa giả mà là sự phối hợp giữa mỹ thuật và kỹ xảo, người ta dùng một số nguyên liệu nào đó tạo ra một vật giả làm hoa, giống như hoa. Tác giả những hoa này nói thật nó là hoa giả, không đánh lừa người mua, vậy nó là “hoa giả thật”, nó không phải là hàng mị, hàng giả, hàng thứ phẩm, phế phẩm, hàng hỏng. Thích hay không thích là tùy ý từng người.

Hoa giả, nói cụ thể là hoa vải, hoa giấy, hoa ni-lông gì đó… là kết quả của sự bắt chước, mô phỏng, con người bắt chước trời đất, mô phỏng thiên nhiên mà tạo ra. Nó có cái nhược là không phải hoa thật hái từ cành cây, nó có cái ưu là là dùng được lâu, giữ cái đẹp được bền, không tàn, nên đỡ phải thay đổi, chứ theo giá cả bây giờ chưa chắc đã đỡ tốn.

Nhưng sở thích con người thường nhanh chóng thay đổi. Người sành điệu chơi hoa thật phải thay hoa luôn thì chơi hoa giả cũng phải thay luôn, nếu không sẽ bị “quê”, bị lạc hậu.

Hạng nghèo như tôi, không có tiền mua hoa thật và hoa giả, hai loại đều đắt cả. Thôi thì hái hoa dại trời cho, mọc ở bờ suối, vệ đường, sáng cắm, chiều bỏ… Cũng có màu sắc như ai và tự nghĩ rằng mình đây cũng biết yêu hoa, thưởng hoa như thiên hạ.

Trần Huiền Ân

Người Xưa và Hoa Mai

Trong một bức tranh ta tưởng tượng, có lẽ nên tưởng tượng là phấn tiên trên giấy nhung, cụ Tiên Điền vẽ cảnh cuối xuân bên Tàu:

    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một bức tranh khác, ta tưởng tượng là tranh thủy mặc, bác Vũ Đình Liên vẽ cảnh đầu xuân ngoài Bắc:

    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    . . .
    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa

Còn Phương Nam? Mùa xuân có hoa mai. Nhưng không phải riêng Phương Nam, trong văn học nghệ thuật Á Đông với bộ tứ bình “mai – lan – cúc – trúc”, hoa mai là tượng trưng mùa xuân.

Ngày xưa, không ai đem cây mai trồng trong chậu, như thế là giam hãm cái khí tiết thanh cao của mai. Cây mai là của trời đất, ủ sương, phơi nắng, dãi dầu cùng thảo mộc sơn khê. Chợt gặp người lính trạm bên đường, ta bẻ vội một cành mai, thay lá thư gởi thăm bạn cố tri. Hoa mai còn tượng trưng cho phái đẹp nên những bức tranh vẽ hoa mai bao giờ cũng có cành giao nhau thành chữ “nữ”.

Có những tác phẩm lấy hoa mai làm rường cột cho câu chuyện như Nhị độ mai, Mai đình mộng ký… Ngoài ra từ văn chương bác học của các đại danh đến văn chương bình dân, hoa mai được nhắc đến rất nhiều, trong nhiều sự hòa hợp, hơn hẳn các loài hoa khác.

Mai đi với trúc:


    – Mai khai phú quý, trúc báo bình an
    – Thờ ơ gió trúc mưa mai
    – Chắc rằng mai trúc lại vầy
    – Một nhà sum họp trúc mai
    – Ai đi đường ấy hỡi ai
    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Mai đi với hạc:


    – Nghêu ngao vui thú yên hà
    Mai là bạn cũ hạc là người quen

    – Hỡi người mình hạc xương mai
    Ở miền thị tứ tìm ai chốn này?


Mai đi với tuyết:


    – Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mai đi với liễu:


    – Gió đưa liễu yếu mai oằn
    Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai

Mai đi với cúc:


    – Nét buồn như cúc điệu gầy như mai

Mai đi với điểu:


    – Xem thơ biết ý gần xa
    Mai hòa vận điểu điểu hòa vận mai

Vân vân… Còn nhiều nữa.

Đi tìm một nhành mai, ai đã võ vẽ đọc thơ đều cúi đầu khi gặp Mãn Giác thiền sư:

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
    (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
    Đêm qua, sân trước, một nhành mai)

Ngải Tuấn Mỹ, đời nhà Thanh có câu đối tặng Phó sứ Việt Nam Nguyễn Tư Giản đã được truyền tụng rộng rãi:


    Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Ca ngợi hoa mai, nhưng cái thần tình của câu đối nằm ở vế trên, chuyện thập tải luân giao. Ông Viên Linh đã dùng vế ấy ghi nơi hộp thư tạp chí Thời Tập xuất bản trước năm 1975 tại Sài Gòn. Hộp thư không chỉ ghi những bài đã nhận mà là nơi giao lưu giữa người chủ trương, tòa soạn với bạn viết, bạn đọc. Ông Viên Linh là người có tài làm hộp thư, nhiều câu trả lời dí dỏm, rất hay. Mở tờ Thời Tập tôi cũng như nhiều người trước hết đọc mục hộp thư.

Trong Vang bóng một thời, truyện viết về thú chơi thả thơ, ông Nguyễn Tuân dẫn câu:

    Mộ thượng mai khai xuân hựu lão
    Đình biên hạc khứ khách không hoàn

Vẫn là mai đi với hạc. Vế dưới khiến ta nghĩ đến Hoàng Hạc lâu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Vế trên cho ta hình dung ra cảnh không phải sầm uất cũng không phải hoang sơ, một cảnh xuân thật độc đáo. Hoa mai nở trên mộ, nét xuân càng già dặn.

Lúc nhỏ, mỗi khi trời tạnh mưa, nhìn dấu chân mèo chân gà đi trên sân ướt, cha tôi hay đọc câu đối, tôi không biết của người hay của ai:


    Võ hậu đình tiền, miêu túc mai hoa, kê túc trúc
    Dạ thanh thiên thượng, tinh hình đạn tử, nguyệt hình cung

Vế dưới bình thường: Đêm thanh, trên trời, những vì sao giống như viên đạn, mặt trăng giống như chiếc cung.

Vế trên thật hay: Sau cơn mưa, trước sân, dấu chân mèo in hình hoa mai, dấu chân gà in hình lá trúc.
Cái nhìn của tác giả thật sắc sảo, kết hợp giữa hình ảnh thực tế gần gũi ngay trước mắt là dấu chân mèo, dấu chân gà với ước lệ của thi và họa: hoa mai và lá trúc.

Tái bút: Ở trên tôi có nhận xét về câu đối này: “Vế dưới bình thường”. Nay thấy không phải là bình thường. Mờ sáng ngày 17-9-2009 (29 tháng 7 năm Kỷ Sửu âm lịch) tôi đi bộ dọc bờ sông Chùa (một phụ lưu của sông Đà Rằng trong phạm vi thành phố Tuy Hòa) chợt nhìn lên bầu trời, thấy còn vầng trăng mỏng, thật mỏng, chỉ là một đường cong, và chỉ duy nhất một ngôi sao cạnh đó, rõ ràng là tinh hình đạn tử nguyệt hình cung. Vế này tuy không xuất sắc như vế trên nêu lên hình ảnh dấu chân mèo và dấu chân gà, cũng chứng tỏ khả năng quan sát của tác giả thật độc đáo.

Trần Huiền Ân

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Bài Đồng Dao Gọi Nắng

Chào các ban,

Hôm nay Ngọc Hoa hân hạnh giới thiệu đến các bạn nhà văn Trần Huiền Ân ở Phú Yên, với Bài Đồng Dao Gọi Nắng, trích từ cuốn tạp bút MÂY TRẮNG DINH PHOAN do nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành.

Trần Huyền Ân có thơ in riêng từ 1967 (ông sinh năm 1937) và đến nay có cả thảy 11 tác phẩm gồm thơ, truyện, biên khảo…

Hân hạnh chào đón nhà văn Trần Huiền Ân vào Vườn Chuối vui chơi cùng các Chuối.

Chúc mọi người một ngày tươi vui!

Tôn Nữ Ngọc Hoa

.

BÀI ĐỒNG DAO GỌI NẮNG

Trần Huiền Ân

Thật ra không một bài đồng dao nào có tên. Nhưng chẳng lẽ khi sưu tập gọi là “Bài không tên số 1, số 2 v.v…”, như vậy e mang tội “đạo đề” các nhạc sĩ, nên tôi tạm đặt cho mỗi bài một tên.

Bài này tạm mang tên Gọi nắng. Lúc nhỏ chúng tôi thường đọc nghêu ngao vào mùa đông, những ngày mưa dầm vừa dứt, trời bắt đầu hanh nắng, cái nắng rất nhẹ, màu vàng nhạt yếu ớt và như sẵn sàng tắt ngay khi gió đến. Đọc như là để khuyến khích thúc giục ông Trời nắng lên, hứa hẹn đem lại cho ông Trời một số điều lợi.

Nắng ông nắng, nắng ông nắng
Bắt cá trắng con ông ăn
Cất nhà con ông ở
Chừa cửa sổ con ông chun
Trải chiếu bông con ông ngồi.

Tìm hiểu nghĩa theo câu chữ thì:

– Nắng ông nắng: có tính cách một lời khuyến khích “Hãy nắng lên, ông Trời, nắng lên”.

– Bắt cá trắng con ông ăn: Cá trắng là món cá đồng ở thôn quê. Về màu sắc có phân biệt: cá trắng rằn vảy màu rằn và cá trắng chỉ có một đường đậm giữa thân. Cá trắng kho với nghệ, lá gừng, là món ăn mặn mà ngon miệng trong tiết đông. Ông Trời cũng như người đời, cưng con, nên những lời hứa hẹn này đều nhắm vào con ông Trời. Bắt cá trắng cho con ông Trời ăn chớ không phải để mời ông Trời. Ai bảo trẻ con thôn quê khờ dại? Rõ ràng là sành tâm lý quá đi chứ!

– Cất nhà con ông ở: Ông Trời là bao trùm thiên hạ, có cõi trời, nhà trời, cổng trời, cửa trời, đèn trời, màn trời… đủ hết, nhưng không nghe con ông có gì cả. Đâu thấy ai chỉ nhà của con ông Trời ở chỗ nào? Mấy anh uống rượu khi say huênh hoang nói dóc:
Hiu hiu gió thổi đầu non.

Mấy thằng uống rượu là con ông Trời.

Nhưng mấy thằng đó làm sao là con ông Trời được? Dân gian nào biết vua là “thiên tử”! Phải chăng dân gian không hề có ý niệm con ông Trời là đấng uy nghi đường bệ, chỉ tưởng tượng con ông Trời là ông Trời con, phá gia chi tử, chẳng biết chuyện nhà cửa thế nào? Vậy thì hứa hẹn cất nhà cho con ông Trời ở là đúng.

– Trải chiếu bông con ông ngồi: Thông thường người dân thôn quê chỉ dùng chiếu trơn, không có in chữ nghĩa hoa văn gì. Chiếu bông (chiếu hoa) để dành khi có đám giỗ, trải lên phản bày mâm cỗ dâng cúng và khi có khách quý đến nhà. Được ngồi trên chiếu bông là người đem đến niềm vinh dự cho gia chủ, được đón tiếp trang trọng. Trải chiếu bông mời con ông Trời là hợp lý.

Thế còn chuyện: Chừa cửa sổ con ông chun? Tại sao con ông Trời không đi cửa chính mà thích chun cửa sổ? Bởi vì con ông Trời là Tia Nắng. Những ngày trời động ta thường đóng chặt cửa sổ, khi mưa tạnh gió tan rồi cửa sổ được mở toang cho ánh nắng ấm áp tràn vào nhà, đem lại niềm vui cho mọi người. Như vậy trong những điều hứa hẹn, có điều là dựa theo sở thích của con người (ăn có món cá trắng, ở có nhà đàng hoàng, ngồi chơi trên chiếu bông), chỉ riêng điều này mới thật sự dành riêng cho con ông Trời: chừa cửa sổ để Tia Nắng chiếu rọi vào nhà. Có thể tia nắng ấy chiếu rọi lên mặt chiếc chiếu bông lâu nay hơi ẩm mốc vì xếp lại vừa được trải ra.

Nắng cuối mùa đông là nắng chuyển sang xuân. Ánh nắng ba tháng mùa xuân như công ơn ông bà cha mẹ rọi xuống nuôi xanh từng ngọn cỏ. Thơ Mạnh Giao bên Tàu:

Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đáp tam xuân huy?

Và truyện Kiều:

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn
Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Từ bài đồng dao ngô nghê liên hệ đến văn chương bác học của các đại gia, ta hiểu được giá trị của Tia Nắng mùa đông. Đây mới thật đúng là con ông Trời, gần gũi, thân mật đem lại cho chúng ta sự ấm áp. Chúng ta hãy cùng mở rộng những khung cửa sổ tâm hồn để đón chào những Tia Nắng.

Cái thâm thúy bình dân phải chăng ở đó?