Tag Archives: Văn

Ủi Đồ


Ủi cái cổ áo trước, rồi 2 cái tay, thân trứơc, thân sau. Trung bình khoảng 5 phút xong một cái áo sơ mi của anh, 2/3 trên thẳng thớm hơn 1/3 dưới (chả là lúc nào anh cũng phải đóng thùng đi làm mà 😛

Đến áo của mình thì hạ nhiệt bàn ủi vì áo mình toàn là vải mỏng manh, nhẹ nhàng, lại có nhiều đăng ten, họa tiết. Ủi bên trong rồi ủi bên ngoài. Lúc mua áo hay may áo mình thường đòi hỏi nhiều ở đường kim mũi chỉ, để những lúc ủi đồ cũng dễ chịu với cái đẹp từ trong ra ngoài.

Rồi đồ của các con, nhỏ hơn, nhỏ hơn cho đến những “món” cuối cùng của con gái 3 tuổi. Để riêng qua một bên cái này bị đứt chỉ, cái kia bị mất nút, cái nọ còn dơ phải giặt lại. Mẹ hay đánh các con một roi để biết công người giặt đồ khi ăn uống, chơi nghịch lấm lem quần áo là vậy.

Cái bàn ủi! Cám ơn mày đã làm bạn với tao. Mày đã già và cũ lắm rồi. Hôm bữa lửa bốc cháy chỗ cái đuôi mày tao đau lòng lắm. Đón mày ở tiệm sửa điện về mà như đón người thân ở bệnh viện.

Cái lưng của mình ơi. Biết nàng đau nên ta ngồi rất thẳng, thẳng thì thẳng nhưng đau thì cứ đau. Thôi kệ, mọi người mặc đồ được ủi đều mang một tí đau của mình. Nhưng mà cũng đáng công làm đẹp cho những niềm yêu.


Nguyễn thị Phương Thảo

Tất cả những điều tốt đẹp

Cậu nhóc học lớp 3 đầu tiên tôi dạy ở trường Saint Mary tại Morris,Minn.Tất cả 34 học trò đều thân với tôi,duy chỉ có Mark Eklund là khác biệt.Vẻ ngoài tươm tất,nhưng với suy nghĩ” hạnh-phúc-để-được-sống” làm cho tính nghịch ngợm thi thoảng của cậu bé rất ngộ nghỉnh.

Mark nói liên hồi.Tôi phải nhắc nhở suốt rằng nói chuyện riêng là không được chấp nhận.Tuy nhiên điều làm tôi ấn tượng nhiều nhất chính là cách đáp lại thành thật của nó mỗi khi tôi chỉnh cách xử sự xấu đó.”Cảm ơn cô đã nhắc nhở em”Ban đầu tôi không hiểu rõ lắm,nhưng chẳng bao lâu tôi trở nên quen với việc nghe điều đó nhiều lần một ngày.

Một buổi sáng sự kiên nhẫn của đi đến giới hạn khi Mark nói một việc quá thường xuyên,và sau đó tôi phạm phải sai làm của giáo viên mới vào nghề.Tôi nhìn nó và nói,”Nếu em còn nói nữa,cô sẽ dán miệng em lại.”

Chưa đầy mười phút sau Chuck thốt lên,”Mark lại đang nói chuyện nữa ạ.”Tôi không yêu cầu bất kì học trò nào giúp tôi trông chừng Mark.Nhưng kể từ khi tôi đưa ra hình phạt trước lớp,tôi buộc phải thực hiện.

Tôi nhớ cảnh đó như thể nó đã diễn ra vào buổi sáng đó.Tôi đi đến bàn,cố tình mở ngăn kéo và lấy ra 1 cuộn băng dính.Rồi tôi tiến đến bàn Mark mà không nói một lời,xé hai mảnh băng dính và làm thành chữ X trên miệng cậu bé.Sau đó tôi quay lại trước lớp.Khi tôi ghé mắt xem Mark đang làm gì,nó đang nháy mắt với tôi,Chính là nó!Tôi bắt đầu cười.Cả lớp hoan hô khi tôi đến lại Bàn của Mark,lột lớp băng keo và nhún vai.Câu nói đầu tiên của nó là,”Cảm ơn cô đã sửa sai cho em.”

Vào cuối năm học tôi được đề nghị dạy toán trung học. Các năm học trôi qua,và tôi biết Mark lại ở trong lớp tôi.Cậu bé đẹp trai hơn bao giờ và rất lịch sự.Bởi vì cậu phải chú ý vào lời hướng dẫn của tôi trong môn”toán mới”,khi học lớp 9 cậu không nói nhiều như hồi lớp 3.

Một buổi sáng thứ sáu,tôi có cảm giác mọi việc không ổn lắm.Chúng tôi phải làm việc cật lực về một khái niêm mới cả tuần,và tôi thấy đám học trò đang kiệt sức, chán nản-và cáu kỉnh với người khác.Tôi cần phải chấm dứt việc cáu kỉnh này trước khi nó đi quá xa. Vì vậy tôi hỏi chúng liệt kê tên những học sinh khác trong lớp học lên hai mặt giấy,để khoảng trống giữa mỗi tên. Sau đó tôi bảo chúng viết ra giấy những điều đẹp nhất chúng có thể nói về mỗi bạn cũng lớp chúng có thể nghĩ đến.

Cả lớp cần đến cả một tiết để hoàn thành bài tập,và khi đám học trò rời khỏi phòng,mỗi đứa nộp giấy cho tôi,Charlie mỉm cười.Mark nói,”Cảm ơn cô đã dạy em.Chúc ngày cuối tuần tốt đẹp.”

Tối thứ bảy đó,tôi viết tên của mỗi học sinh lên một tờ giấy đơn riêng biệt,và liệt kê những điều bọn trẻ nói về một bạn trong lớp.Vào thứ hai tôi đưa mỗi học sinh một danh sách viết về chúng.Chẳng mấy chốc,toàn bộ lớp mỉm cười. “Thật ư?Tớ chưa từng biết điều đó lại có ý nghĩa với người khác !Tớ không biết những người khác thích tớ nhiều như thế,” tôi nghe tiếng thầm thì.

Không một ai đề cập đến những tờ giấy đó nữa.Tôi không bao giờ để ý liệu bọn trẻ có thảo luận về nhau sau giờ học hay kể với bố mẹ hay không,điều dó chẳng có vấn đề gì.Bài tập đã hoàn thành tốt mục tiêu.Đám học trò lại hãnh diện về chính mình và các bạn khác.

Nhóm học sinh ấy cứ tiếp tục.Vài năm sau, khi tôi đi nghỉ về , cha mẹ đón tôi ở sân bay.Trên đường về nhà, Mẹ hỏi tôi những câu thường lệ đại khái là về chuyến đi,thời tiết và những kinh nghiệm ở trường.Cuộc trò chuyện có những khoảng lặng. Mẹ liếc sang nhìn cha và nói: “Anh?” Cha tôi hắng giọng như thường lệ trước khi nói điều gì quan trọng. ”Nhà Ekunds gọi đến tối qua.” ”Thật hả cha?” Tôi nói. ”Con đã không nhận được tin gì về họ mấy năm nay. Không biết biết Mark thế nào rồi.”

Cha trả lời điềm tĩnh:” Mark đã chết ở Việt Nam,” cha nói.”Lễ tang tiến hành vào ngày mai, và cha mẹ cậu ta rất muốn con đến.”

Trước kia, tôi chưa từng thấy một sĩ quan trong quan tài bao giờ.Trông Mark thật đẹp và vô cùng chín chắn.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ vào khoảnh khắc đó là, Mark, tôi sẽ tặng cậu tất cả băng dính trên thế giới miễn là cậu ta có thể nói chuyện với tôi.

Nhà thờ chật ních những người bạn của Mark.Mục sư đọc những bài kinh cầu nguyện thường lệ, và lính kèn gõ những tiếng nhẹ. Từng người một đi vòng quanh chiếc quan tài lần cuối và rắc những giọt nước thánh.
Tôi là người cuối cùng cầu nguyện. Khi tôi đứng đó, một trong những người lính thay mặt người hộ tang, đến gần tôi.”Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không?” Anh ta hỏi. Tôi chỉ gật đầu tiếp tục nhìn chăm chăm vào chiếc quan tài.”Mark đã nói về cô rất nhiều.” Anh ta tiếp lời.

Sau lễ tang, hầu hết những cậu bạn cùng lớp Mark trước kia đi thẳng về nông trại nhà Chucks dùng bữa trưa.Cha mẹ Mark đã ở đó,rõ ràng đang chờ tôi.”Chúng tôi muốn đưa cho cô vài thứ”,cha Mark nói, và lấy trong túi ra một cái ví.”Họ tìm thấy vật này trên người Mark khi nó chết.Chúng tôi nghĩ cô có lẽ sẽ nhận ra nó.”

Cha Mark mở ví , cẩn thận lấy ra hai mảnh giấy viết đã sờn và bị gấp đi gấp lại nhiều lần. Không cần nhìn tôi cũng biết đó chính là những mảnh giấy mà tôi đã liệt kê tất cả những điều tốt mà bạn Mark nói về cậu ấy. “Cảm ơn cháu rất nhiều,” Mẹ Mark bảo. “Như cháu thấy đó, Mark trân trọng mảnh giấy đó.”

Bạn học của Mark vây quanh chúng tôi. Charlie cười bẽn lẽn và nói “Em vẫn giữ danh sách của mình. Nó ở ngăn trên cái bàn làm việc của em ở nhà.” Vợ Chuck nói: “Chuck đã nhờ tôi đặt nó vào album cưới.” “Em cũng có,” Marilyn nói. “Nó ở trong nhật kí của em”. Rồi Vicky, một học trò khác, lấy cái danh sách mòn và nhàu nát từ quyển sổ tay ra và nói: ’Khi nào em cũng mang nó theo.” Vicky nói không chớp mắt: “Em nghĩ tất cả chúng em đều giữ danh sách của mình.”

Đó là lúc tôi ngồi bệt xuống và khóc. Khóc vì Mark và vì bạn Mark- những người sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa.

Hồng Hải – Nhất Thương- Vĩnh Thanh dịch

.

All The Good Things

He was in the first third grade class I taught at Saint Mary’s School in Morris, Minn. All 34 of my students were dear to me, but Mark Eklund was one in a million. Very neat in appearance, but had that happy-to-be-alive attitude that made even his occasional mischievousness delightful.

Mark talked incessantly. I had to remind him again and again that talking without permission was not acceptable. What impressed me so much, though, was his sincere response every time I had to correct him for misbehaving. “Thank you for correcting me, Sister!” I didn’t know what to make of it at first, but before long I became accustomed to hearing it many times a day.

One morning my patience was growing thin when Mark talked once too often, and then I made a novice-teacher’s mistake. I looked at him and said, “If you say one more word, I am going to tape your mouth shut!”
It wasn’t ten seconds later when Chuck blurted out, “Mark is talking again.” I hadn’t asked any of the students to help me watch Mark, but since I had stated the punishment in front of the class, I had to act on it.

I remember the scene as if it had occurred this morning. I walked to my desk, very deliberately opened my drawer and took out a roll of masking tape. Without saying a word, I proceeded to Mark’s desk, tore off two pieces of tape and made a big X with them over his mouth. I then returned to the front of the room. As I glanced at Mark to see how he was doing he winked at me. That did it! I started laughing. The class cheered as I walked back to Mark’s desk, removed the tape and shrugged my shoulders. His first words were, “Thank you for correcting me, Sister.”

At the end of the year I was asked to teach junior-high math. The years flew by, and before I knew it Mark was in my classroom again. He was more handsome than ever and just as polite. Since he had to listen carefully to my instructions in the “new math,” he did not talk as much in ninth grade as he had in the third.
One Friday, things just didn’t feel right. We had worked hard on a new concept all week, and I sensed that the students were frowning, frustrated with themselves – and edgy with one another. I had to stop this crankiness before it got out of hand. So I asked them to list the names of the other students in the room on two sheets of paper, leaving a space between each name. Then I told them to think of the nicest thing they could say about each of their classmates and write it down.

It took the remainder of the class period to finish the assignment, and as the students left the room, each one handed me the papers. Charlie smiled. Mark said, “Thank you for teaching me, Sister. Have a good weekend.”

That Saturday, I wrote down the name of each student on a separate sheet of paper, and I listed what everyone else had said about that individual. On Monday I gave each student his or her list. Before long, the entire class was smiling. “Really?” I heard whispered. “I never knew that meant anything to anyone!” “I didn’t know others liked me so much!”

No one ever mentioned those papers in class again. I never knew if they discussed them after class or with their parents, but it didn’t matter. The exercise had accomplished its purpose. The students were happy with themselves and one another again.

That group of students moved on. Several years later, after I returned from vacation, my parents met me at the airport. As we were driving home, Mother asked me the usual questions about the trip, the weather, and my experiences in general. There was a light lull in the conversation. Mother gave Dad a side-ways glance and simply says, “Dad?” My father cleared his throat as he usually did before something important. “The Eklunds called last night,” he began. “Really?” I said. “I haven’t heard from them in years. I wonder how Mark is.”

Dad responded quietly. “Mark was killed in Vietnam,” he said. “The funeral is tomorrow, and his parents would like it if you could attend.”

I had never seen a serviceman in a military coffin before. Mark looked so handsome, so mature. All I could think at that moment was, Mark, I would give all the masking tape in the world if only you would talk to me.
The church was packed with Mark’s friends. The pastor said the usual prayers, and the bugler played taps.

One by one those who loved Mark took a last walk by the coffin and sprinkled it with holy water.
I was the last one to bless the coffin. As I stood there, one of the soldiers who had acted as pallbearer came up to me. “Were you Mark’s math teacher?” he asked. I nodded as I continued to stare at the coffin. “Mark talked about you a lot,” he said.

After the funeral, most of Mark’s former classmates headed to Chucks farmhouse for lunch. Mark’s mother and father were there, obviously waiting for me. “We want to show you something,” his father said, taking a wallet out of his pocket. “They found this on Mark when he was killed. We thought you might recognize it.”
Opening the billfold, he carefully removed two worn pieces of notebook paper that had obviously been taped, folded and refolded many times. I knew without looking that the papers were the ones on which I had listed all the good things each of Mark’s classmates had said about him. “Thank you so much for doing that.” Mark’s mother said. “As you can see, Mark treasured it.”

Mark’s classmates started to gather around us. Charlie smiled rather sheepishly and said, “I still have my list. It’s in the top drawer of my desk at home.” Chuck’s wife said, “Chuck asked me to put this in our wedding album.” “I have mine too,” Marilyn said. “It’s in my diary.” Then Vicki, another classmate, reached into her pocketbook, took out her wallet and showed her worn and frazzled list to the group. “I carry this with me at all times,” Vicki said without batting an eyelash. “I think we all saved our lists.”

That’s when I finally sat down and cried. I cried for Mark and for all his friends who would never see him again.

Unknown Author

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Hi Vọng

Bóng tối bủa vây khắp căn phòng kín mít, không có lấy một khe hở nào để ánh sáng dù nhỏ nhoi có thể len vào. Bóng tối đen đặc cứ đập vào mắt gây nhức nhối. Có cảm giác như bị mù.

Nó ngồi đó, bó gối nhìn vào màn đêm u tối, im lặng nghe trái tim Nó đập từng nhịp, từng nhịp. Nó liên tưởng tới một lúc nào đó, trái tim của Nó mệt mỏi, nằm im và không muốn đập những nhịp đập đều đặn đó nữa. Tuyệt vọng, chán chường.

Nó không biết bao nhiêu đêm rồi mình thức trắng. Không phải Nó không muốn ngủ nhưng giấc ngủ đến với Nó cứ chập chờn, đáng sợ. Mới vừa nhắm mắt, Nó đã mơ thấy ác mộng, những cơn ác mộng kinh hoàng mà tỉnh dậy Nó không thể lý giải được tại sao. Nó cũng không biết mình đã ngồi như thế trong bao lâu. Mọi thứ đối với Nó dường như đã ngừng lại. Trong Nó không còn chút ý niệm nào về không gian, thời gian kể từ buổi sáng hôm đó.

Mọi thứ xảy ra quá nhanh, nhanh đến nỗi làm cho Nó không kịp cảm nhận được chuyện gì đang diễn ra. Từ hôm đó đến giờ, trong đầu Nó lúc nào cũng văng vẳng một câu hỏi ” tại sao?”. Nó đi tìm mọi lý do nhưng cũng không thể trả lời cho câu hỏi của mình. Nó ép bản thân tin rằng đấy chỉ là một sự nhầm lần, rằng chuyện đó là của người có cái tên giống Nó. Nó tự huyễn hoặc mình rằng không bao giờ chuyện đó có thể xảy ra với Nó… Còn nhiều, rất nhiều lý do Nó tự bào chữa cho mình.

Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Dù cho Nó có cố tình không chấp nhận, thì cái sự thật hiển nhiên đó vẫn đang đeo bám Nó ngày qua ngày. Nó bàng hoàng, đau đớn và xót xa cho cái số phận của mình. Bởi Nó sinh ra trên đời này đã là một sai lầm, tồn tại đến giờ phút này lại càng sai lầm hơn nữa. Cái suy nghĩ ước gì mình chưa từng được sinh ra lại quay về trong tâm trí của Nó. Nó mất phương hướng. Nó cứ quay cuồng mãi với sự đắn đo, chấp nhận hay từ bỏ. Nếu chấp nhận, Nó sẽ phải rất dũng cảm, phải có đủ bản lĩnh để đối mặt với nỗi đau về thể xác và tâm hồn. Còn nếu từ bỏ, mọi chuyện hết sức đơn giản, nhẹ nhàng nhưng Nó sẽ bị mang tiếng là kẻ hèn nhát, Nó sẽ làm cho trái tim của những người yêu thương Nó đau đớn. Nó sẽ làm cho Chị, người mà Nó kính trọng và yêu quý thất vọng. Đó là điều Nó không hề muốn. Gọi điện cho Chị, Nó khóc. Nó là đứa rất bản lĩnh, dù gặp phải chuyện gì cũng chưa bao giờ để lộ cảm xúc ra ngoài. Nhưng với chị dường như Nó không che dấu gì cả. Nó khóc như một đứa trẻ. Khóc với nỗi ấm ức đè chặt trong lòng. Chỉ có Chị mới có thể hiểu được tâm trạng của Nó mà chính bản thân Nó cũng chẳng hiểu nổi. Chỉ có Chị mới có thể kéo Nó lên khỏi bờ vực mà Nó đang tìm cách lao xuống.

Hai tuần điều trị thử nghiệm, Nó tưởng đâu mình đã chết. Những cơn đau về thể xác hành hạ Nó. Nó gắng chịu đau, cố quên đi cái cảm giác nhức nhối xâm chiếm Nó từng giờ từng phút. Bác sĩ hỏi Nó có đau lắm không, Nó chỉ cười nhăn nhó. Tác dụng phụ của thuốc còn khiến Nó mơ màng như bị mộng du, nằm trong bệnh viện mà Nó cứ ngỡ mình đang ở tận đâu đâu. Nó cố ngủ. Trong giấc ngủ vội vã, Nó thấy đôi chân mình chênh vênh , đứng ở một nơi thật tối, thật đáng sợ. Có hàng ngàn khuôn mặt gớm giếc, kỳ lạ đang nhìn Nó, cái nhìn như muốn hỏi Nó là ai, tới đây làm gì. Tỉnh dậy rồi mà Nó còn cảm thấy những khuôn mặt đó đang hiện hữu quanh đây, nhìn xoáy vào ruột gan Nó.

Nằm trong viện, nó chứng kiến nhiều mảnh đời còn bất hạnh hơn mình. Chứng kiến lằn ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Bên khu B, cái Nga vừa mới qua đời. Hồi sáng Nó còn mang sang tặng cái Nga một con gấu bông, vậy mà chiều nay, chị y tá mang con gấu về trả lại cho Nó. Nó bàng hoàng và tự giận mình đã không kịp nói lời tạm biệt với người bạn đặc biệt đó.

Cảm xúc lẫn lộn, Nó bỗng chốc thấy sợ, sợ màn đêm, sợ cái chết sẽ ập xuống đầu Nó bất kỳ lúc nào. Sợ những bóng ma vây quanh Nó khi đêm xuống, sợ sự cô đơn đang xâm chiếm trái tim bé nhỏ. Trong đời Nó, Nó chưa từng trải qua cảm giác như thế này bao giờ. Cảm giác như bị bỏ rơi, bị bỏ lại chốn này một mình. Tủi thân, Nó muốn khóc nhưng không thể khóc, nước mắt cứ nghẹn lại trong cổ họng. Nó sợ lắm. Nỗi sợ hãi đó như một động lực mãnh liệt, đẩy Nó ra khỏi bóng tối u uất, xua tan những ý nghĩ vẩn vơ trong tâm trí Nó. Nó bước ra ánh sáng, ngẳng mặt nhìn cuộc đời và môi nở nụ cười ngạo nghễ.

Vậy là giờ Nó đã biết mình phải làm gì. Nó sẽ chấp nhận sự thật. Nó sẽ đối diện với chính bản thân mình. Nó sẽ tìm cách để có thể thoát ra khỏi cái định mệnh của mình. Nó sẽ đương đầu với những gì đang chuẩn bị xảy đến. Bởi Nó cũng đã nhận thấy mình không hề đơn độc. Bên cạnh Nó còn có Chị, có tình yêu thương của Chị dành cho, có sự quan tâm của nhiều người bạn mới. Sự quan tâm chân thành mà Nó chưa bao giờ được nhận trong đời mình. Niềm hy vọng dù nhỏ nhoi đang len lỏi vào suy nghĩ của Nó. Không phải định mệnh tạo ra Nó, mà chính Nó sẽ tạo ra định mệnh cho mình. Thay đổi tư duy tích cực hơn, Nó sẽ làm được điều đó.

Nó chợt nhớ những ý tưởng về tư duy tích cực trên trang web quen thuộc đã trở thành món ăn tinh thần hàng ngày đã dần giúp nó thay đổi tư duy từ tiêu cực bi quan đã theo hướng tích cực và lạc quan hơn. Cái giây phút tình cờ khi nó gõ vào phần tìm kiếm của google: Hạnh Phúc là gì? Những ai có thể hưởng được đặc ân ấy? Thế rồi tiêu đề bài viết: ” Để hạnh phúc: buông xả và tha thứ “ hiện ra giữa bao nhiêu tiêu đề khác. Định mệnh dun dủi cho nó click vào cái link ấy để rồi nó đến với ngôi nhà của yêu thương của hi vọng như những mầm xanh. Và những thay đổi đã xảy ra từ trong sâu thẳm tâm hồn nó.

Nếu không có sự thay đổi kì diệu ấy, nó đã chọn cách giải quyết cuộc đời, chấm dứt nỗi đau, vĩnh biệt bóng ma của quá khứ và nỗi sợ hãi theo cách ấy: dại dột và hèn nhát.

Đâu đó trong đầu nó vọng lên một câu nói về đau khổ đọc được khiến nó suy nghĩ :

Đau khổ là một phần của đời sống…..
Rõ ràng là chúng ta không thể tránh đau khổ hơn là tránh ăn uống ngủ nghỉ. Chúng ta chỉ có thể học cách xử lý với đau khổ thế nào khi chúng đến mà thôi. Càng trải nghiệm đau khổ, chúng ta càng trưởng thành ra, càng già dặn ra, càng khôn ngoan ra.
” ( Trần Đình Hoành)

Và nó đã bắt đầu nhận rõ hình bóng mình trong một bài viết khác, Những Ngọn Nến Cho Đời:

Tuy nhiên khi chúng ta đã trưởng thành, dù chỉ mới vài bước trong tư duy tích cực, chúng ta bắt đầu cảm nhận được rất rõ ràng quyền lực của tư duy tích cực trong việc chuyển hóa đời mình. Và đời của những người khác.” (Trần Đình Hoành)

Ánh mặt trời đang lấp ló những tia nắng rực rỡ đầu tiên, báo hiệu một ngày ấm áp sau những đêm lạnh giá. Đâu đó ngoài kia có tiếng chim hót líu lo đón chào ngày mới.


Nguyễn Thanh Mai

Leo_pretty

Lớp Mười Hai

Quân nể Nhi, vì dù sao Nhi cũng là lớp trưởng từ hồi lớp 10. Nhi không học giỏi nhất. Không xinh đẹp nhất. Nhi còn hơi đanh đá nữa. Nhưng mọi chuyện vào tay Nhi đều trở nên suôn sẻ kỳ lạ. Quân nghĩ là mình để ý Nhi. Tất nhiên ở đây không có chuyện lãng mạn như “chàng lớp trưởng và nàng lớp phó”. Vì lớp trưởng là Nhi còn lớp phó học tập là Quân. Giang sơn cũng khác. Quân học lớp Lý, còn Nhi học lớp Văn.

Lớp Lý chơi thân với lớp Văn chẳng phải do hợp ý nhau mà là do “duyên nợ”. Khối 12 có bốn lớp chuyên. Lớp Toán rất cá tính, lớp Anh rất điệu đàng. Lớp Lý hơi cù lần, còn lớp Văn đích thị là những bà cụ non nhiều chuyện và đanh đá mà Nhi là một ví dụ điển hình. Lịch sử qui định vậy rồi.

Để cân bằng sinh thái thì một lớp toàn con trai phải có một buổi học chung với một lớp toàn con gái cho đỡ chán. Lý và Văn chung nhau môn ngoại ngữ. Toán và Anh chung nhau môn văn. Bởi duyên nợ và bởi ông bà xưa nói nồi nào úp vung nấy nên lớp Lý phải gắn bó với lớp Văn thôi.

Hôm kỷ niêm 10 năm thành lập, trường tổ chức cắm trại trên bãi dương cạnh bờ biển và kết hợp thi văn nghệ. Lớp Lý không có nhân tài ca hát nên Quân chưa biết tham gia bằng tiết mục gì. May quá, Nhi đĩnh đạc sang gặp Quân để cứu bồ:

– Lớp tui có kịch bản rồi nhưng thiếu diễn viên, tui muốn mượn một người bên lớp ông.

– Kịch gì?

– Bí mật, ông đừng lo. Hát thì tui dở nhưng dựng kịch tui có khiếu lắm à…

Quân ngẫm nghĩ. Phải kiếm thằng nào ra dáng một chút, dù gì cũng là đại diên của lớp.

– Ninh được không? Nó đẹp trai nhất lớp tui.

– Không được. Nó không hợp vai – Nhi dứt khoát – Tui thích thằng Hoàng hơn.

– Trời, cái thằng gầy tom mà còn ẻo lả nữa.

– Nhưng tui thấy nó tiềm tàng khả năng diễn xuất. Ông yên tâm đi.

Thế là mỗi ngày, hết tiết 6, những kịch sĩ và đạo diễn của lớp Văn kéo theo thằng Hoàng lên khu nội trú tập kịch. Bí mật hết sức. Giống như tụi nó đang chuyển thể “Điệp vụ bất khả thi” sang kịch nói không bằng.

Tối hôm diễn, thiếu điều Quân muốn té xỉu khi nhìn thấy thằng Hoàng diện váy dài, độn bong bóng hai bên ngực, đội tóc giả thắt bím, đóng vai một cô gái õng ẹo đỏng đảnh đi coi bói chuyện tình duyên. Lão thầy bói ranh ma gắn râu đen đeo mắt kính đen đích thị là Nhi. Ban giám khảo cười nghiêng ngả, đám lớp Toán thích chí gõ xoong chảo rầm trời, còn lớp Lý đứa nào đứa nấy cứ ôm bụng bò lăn bò càng ra đất mà cười.

Quân phải công nhận Nhi dựng kich và đóng kịch có duyên hết biết. Nhưng tác phẩm “vĩ đại” của lớp 12V – 12L chỉ đạt giải ba, đúng giá năm chục ngàn, đủ cho Nhi đãi hai lớp một chầu ốc luộc. Thằng Hoàng tí ta tí tởn ra mặt với các danh hiệu “đệ nhất danh hài” mà mấy lớp đàn em đặt cho nó, muốn tỏ vẻ ta đây là nghệ sĩ chân chính, vừa ăn vừa cấm cẳn:

– Hài kịch dù xuất sắc vẫn không được xem trọng bằng chính kịch tầm thường… Thật không công bằng.

Quân vừa tức cười vừa bực mình, hỏi:

– Sao mày không kể chuyện mày đóng vai con gái. Việc gì phải giấu như mèo giấu cứt vậy.

– Bà Nhi nói tao mà hé ra bà cắt lưỡi liền – vừa liếc Nhi nó vừa nói nhỏ với Quân – Nhưng mà cũng phải công nhận nhỏ Nhi có mắt xanh thiệt nghen mày. Nó kêu tao giống Thành Lộc. Bây giờ tao mới thấy là cũng… giống thiệt.

Hết mấy trò chơi tập thể, lớp Lý ầm ĩ kéo sang trại lớp Văn ăn ké món chè khuya. Ngoảnh đi ngoảnh lại, không thấy Nhi đâu, Quân tìm quanh quẩn, thấy Nhi ngồi bó gối trên bãi cát ngắm sao.

– Sao bà không lo dọn dẹp với tụi nó, ỷ thế lớp trưởng hả?

– Trời! Có hai chục cái ly, 13 cái chén, bốn cái nồi, hai cái tô, 5 cái đĩa mà tới 9 người phụ nữ đảm đang giành nhau rửa kìa, tui nhào vô làm tụi nó mới ý kiến á. Tui chán quá. Kêu thi nấu ăn không ai chịu đi, thi cắm hoa cũng không, vậy mà có mặt lớp ông, bà nào cũng muốn giành chức “phụ nữ đảm đang” hết trơn…

Quân phì cười, khẽ khàng ngồi xuống cạnh Nhi. Đêm ở biển bình yên. Chỉ có tiếng sóng rì rầm và sao trời. Nhi chợt nói nhỏ:

– Sao tui thấy nhớ bà ngoại quá. Nhà ngoại tui cũng kề biển vậy nè. Nhưng biển không đẹp bằng, chiều tối nào bà tui cũng phải đi cào ốc. Ông không biết đâu. Tui lớn lên rồi đi học đến bây giờ cũng nhờ mấy con ốc của ngoại.

Quay sang nhìn thấy mắt Nhi long lanh, nhưng Quân chỉ biết lặng thinh. Có lần nghe thầy Tuấn hiệu phó nói hoàn cảnh của Nhi rất buồn. Bố mẹ và đứa em trai mới sinh đã mất vì tai nạn cách đây mười năm. Nhi sống với ông bà ngoại, rồi ông Nhi mất vì ung thư gan. Khó khăn, nhưng Nhi có chí và học chăm lắm. Tốt nghiệp cấp II thủ khoa, giải nhì môn Văn quốc gia, được tuyển thẳng vô trường chuyên của tỉnh, vậy mà thầy cô và bà ngoại phải động viên dữ lắm Nhi mới chịu lên tỉnh học, vì sợ để ngoại ở nhà một mình. Mấy đứa ở cùng phòng nội trú của Nhi kể, mỗi buổi sáng, Nhi ăn đúng nửa ổ bánh mì, tiền học bổng gửi về cho ngoại hết chứ không mua sắm gì, và luôn cười tíu tít như người hạnh phúc nhất trên đời. Ít khi Nhi thơ thẩn như bây giờ. Tự nhiên Quân thấy thương Nhi lạ.

– Mấy đứa lớp ông đâu hết rồi?

– Tụi nó đang bắt còng ngoài kia kìa.

– Mình ra đó đi. Tui cũng thích bắt còng lắm.

Nhi đứng lên, chạy về phía biển, nơi những ánh đèn pin của bọn thằng Nam, thằng Ninh đang dò đếm từng bước trên bãi cát. Quân đi theo, chầm chậm, nhìn dáng Nhi chạy nghiêng nghiêng trên cát, tóc tung bay, dịu dàng và đơn độc làm sao.

Thi tốt nghiệp xong, hai lớp tổ chức liên hoan ngay trên khoảng đất sân xi măng trước khu nội trú, bên hông trường. Dốc hết quỹ lớp và học bổng tháng cuối cùng, tiệc chia tay có đủ nem nướng, bia hơi. Dù sao cũng là đêm cuối, chiều mai đã bắt đầu có đứa vào Sài Gòn luyện thi rồi.

Uống không quen nên chẳng mấy chốc đầu óc đứa nào cũng lâng lâng. Thằng Hoàng lăn ra nền ngủ tít thò lò. Mấy đứa lớp Lý chuồn lên phòng học. Còn lại thầy Cường, quản lý khu nội trú và dăm ba đứa “chì” nhất, trong đó có Nhi và Quân.

Thầy Cường hơi gật gù, nắm chặt tay Quân:

– Mai mốt mấy em đi rồi. Thầy nhớ tụi bây lắm. Thầy dặn, hôm nay uống cho vui thôi chứ vô Sài Gòn rồi đừng có nhậu nhẹt. Thầy nghe nhiều người nói sinh viên bây giờ nhiều đứa bê tha dữ lắm. Tương lai trong tay mình. Giống như xây nhà, xây lên cũng mình mà đạp đi cũng mình thôi. Nhớ trân trọng tương lai để dăm ba năm sau về đây cho thầy nở mày nở mặt, nghe chưa?

Quân dạ. Rồi im lặng quay sang nhìn Nhi và bọn thằng Ninh đang hát, giọng lào khào vì bia và la hét quá nhiều. “Về đây đứng bên máy trường xưa, thấy như mình trôi trong ngày cũ, bồi hồi nhớ tiếng nói thầy cô, thoáng trong lòng, một nỗi buồn qua”. Mặt Nhi đỏ bừng lên dưới ánh lửa, mắt Nhi long lanh. Chưa bao giờ Quân thấy Nhi đẹp và thân thiết như bây giờ.

Đột nhiên, Nhi đứng dậy rồi đến ngồi cạnh Quân:

– Nè, nói thiệt đi, ông để ý ai trong lớp tui phải không, sao chiều giờ thấy ông thẫn thờ vậy?

– Ừ.

– Trời đất, tui đoán tầm bậy tầm bạ mà trúng tùm lum tà la nghen. Ai vậy ? Nói đi tui giúp đỡ cho.

Quân hít một hơi thật sâu.

– Bà chớ ai.

– Cái gì???- Nhi trợn mắt.

Lỡ đâm lao rồi, Quân phải theo lao luôn:

– Đúng ra, tui để ý Nhi lâu rồi, từ hồi Nhi mới vô trường. Mới đầu tui thấy Nhi ít nói, dễ thương. Ai dè Nhi làm lớp trưởng, hay nạt nộ, hay trợn mắt nên sau đó tui thấy Nhi …hết dễ thương. Bây giờ mới thấy Nhi dễ thương lại…

Nhi im lìm, mắt đăm đăm nhìn về mấy đứa con trai lớp Lý đang hát om sòm chẳng thèm để ý gì đến hai thủ lĩnh đang thì thầm với nhau bên cạnh đống lửa, mặt đầy căng thẳng.

– Nhi thấy sao? Quân đánh bạo.

– Tui hả? Tui thấy… nói chung lớp Lý cũng dễ thương. Tui thấy…nói chung…ông cũng dễ thương. Umh…Có gì mai tui trả lời ông nghen.

Nhi cười. Lửa nhảy nhót trong đôi mắt. Rồi Nhi quay sang nhìn đám bạn, cao giọng hát “Ai mang đến gần trời lưu luyến. Mà cứ yêu thương nhau hoài. Bao nhiêu kỷ niệm qua ngày tháng, sao không lúc nào nhạt phai”.

Sáng sớm, Quân lò dò xuống sân đã thấy Nhi ngồi bên hồ cá nhỏ cạnh phòng để xe của khu nội trú, tay cầm cuốn sách lịch sử. Tóc Nhi mới gội, xõa ra, bóng mướt và đen nhánh. Trông dịu dàng lạ. Nghe tiếng chân, Nhi ngẩng lên, cười, Quân ngượng nghịu:

– Hồi tối say quá.

– Ừ.

– Tụi Quân phải về phòng thầy Cường ngủ.

– Vậy hả?- Nhi vẫn chúi đầu vào sách, chân đong đưa, miệng nhóp nhép, tay chìa miếng bánh mì ra mời Quân.

– Nhi. Chuyện hồi tối…

– Chuyện gì? Nhi ngơ ngác.

– Chuyện… Quân nói… Nhi không nhớ thiệt hả?

– Hình như không… Nhưng mà chuyện gì?

Trời! Làm gì có buổi liên hoan chia tay lần thứ hai để Quân có cơ hội nói lại. Bây giờ giữa thanh thiên bạch nhật, mắt Nhi lại tỉnh queo như vầy, có cho vàng Quân cũng không dám nói.

– Ờ… Bà viết lưu bút tui nghen?

Quân rút quyển sổ tay ra, lòng thấy đau đớn khôn tả:

– Nhi à?

– Gì?

– Bà là người cuối cùng. Viết nhiều nhiều nghen.

– Vậy tui giữ luôn, thi đại học xong tui trả hén. Có khi lúc đó mới có nhiều chuyện để viết. Đồng ý không?

Nhi cười tươi rói, mắt lấp lánh. Quân thấy hoang mang quá. Có thật là Nhi không nhớ hôm qua Quân nói gì không ta?

Đông Vy

Thơ Không Vần

Có ai nói rằng thầy giáo là người làm vườn chăm bón cây đời. Tôi nay đã là người làm vườn, cũng tại ngôi trường Quế Sơn này, tôi không quên cái ngày tôi hãy còn là một thứ trái xanh. Không chỉ là trái, hãy còn là hoa. Không chỉ là hoa, hãy còn là một nụ mầm. Có vui vẻ gì chăng khi tôi nhắc lại cái ngày lũ chúng tôi đói áo đói cơm cố níu ghì con chữ. Cái ngày lũ học trò chúng tôi chung đèn chung sách, chung mộng đẹp, chung quần áo đến trường, chung cả những đặc điểm lẽ ra là phải riêng: Chung hắc lào, ghẻ ngứa, chung cả bệnh phù chân. Ôi cái thời vinh quang và đói khổ. Đói khổ thuộc về chúng tôi. Vinh quang cũng thuộc về chúng tôi. Có nụ mầm xưa chỉ kịp se mình làm chiếc lá xanh, thành chiếc lá vàng, lá rụng. Song cũng có nụ mầm đã kịp cho đời quả ngọt, kịp rụng xuống để mọc lên thành kĩ sư, bác sĩ, công nhân… Và tôi, từ cây đời ấy, nay lại mọc lên thành người làm vườn. Một vụ mùa bội thu của thầy cô.

Tôi nhớ về những người làm vườn năm xưa ấy. Thầy Cao Thiệp, hiệu trưởng, rất hấp dẫn chúng tôi mỗi câu chuyện dưới cờ. Đôi tay tài hoa của thầy Thu dạy toán, nét chữ cứ đều như cấy, và vòng tròn tròn hơn cả com pa. Thầy Thuyết đến lớp và ra lớp làm chuẩn mực cho bác phu trường điểm từng tiếng trống. Thầy Quang dạy văn, và chúng tôi thực sự đã được học văn… Và còn nhiều,nhiều những thầy những cô, trực tiếp hoặc chưa trực tiếp dạy chúng tôi con chữ, song mỗi ánh mắt, mỗi dáng đi cũng là một chấm, một nét vẽ nên cuộc đời chúng tôi hôm nay.

Tôi trở về trường Quế Sơn không vì trôi theo dòng khẩu hiệu “ tiếp tục sự nghiệp trồng người”. Mà tôi đã về, tự nguyện, có thể buồn, có thể vui, mà không thể dửng dưng. Nay đã hai mươi năm rồi tôi sống trong giấc mơ xưa, giấc mơ làm thầy giáo. Mộng đời thật đẹp, mà đời cũng thật gian nan. Có lúc vỗ cánh bay, có lúc đi khập khiễng. Có lúc làm người hào phóng. Cũng có lúc xót xa nhìn ánh mắt vợ con.

Ngày ấy tôi chỉ gặp thầy cô tôi vào những giờ lên lớp, những bữa cơm tập thể của thầy tôi chưa hề biết đến. Chúng tôi tưởng thầy giáo thì khỏi phải ăn. Khu tập thể giáo viên chỉ dành riêng cho những người độc thân, chúng tôi nghĩ thầy giáo thì chẳng cần có vợ. Và tôi đã chiêm ngưỡng ánh hào quang đơn độc và tinh khiết của thầy cô mình như trẻ em thích thú ngắm nhìn các vì sao xa.

Nay tôi đã về lại trường xưa mà khắc khoải làm thầy, nhớ oặn lòng về thầy cô , bè bạn. Thương và nợ những thầy, những cô, những đời thường đã cố hóa thân thành những vì sao xa xcho chúng tôi chiêm ngưỡng. Tôi thực sự hiểu cái giá để được làm thầy. Tôi hiểu, nhà văn thì có quyền chọn cửa để hóa thân- hiện thực hay lãng mạn. Nhà giáo chỉ duy nhất một độc chiêu chân truyền của bổn môn: Làm kiểu người lí tưởng.

Tôi về lại trường xưa làm một người thầy. Giữa bài giảng văn chợt nao nao nhớ về thằng bạn, thằng ấy giờ phiêu bạt phương trời để lại trong lòng tôi câu thơ nhoi nhói:

Cây phượng tương tư nối những hiên trường
Cho bên nớ bên ni cùng tâm sự


Cây phượng già năm xưa vẫn còn đó, khó nhọc với thời gian nhắc tôi nhớ lời thầy tôi thủ thỉ “chỉ cây phượng già hiểu người năm cũ, cứ âm thầm trút nhỏ một mùa thu.”

Tôi lại về trường Quế Sơn gắng gỏi làm thầy, qua đèo Le nhớ mùa sim chín muộn, nhớ con bé miệt mài cắm cúi để lưng đèo còn đọng giọt mồ hôi.

Nhớ ơi là nhớ! Thương ơi là thương!

Cậu học trò năm xưa lại về trên bục giảng. Chập chững làm thầy, khó nhọc làm thầy. Tôi đã dạy các em tôi những điều tôi chưa làm được. Tôi mời các em cùng tôi theo đuổi lí tưởng làm người. Lắm lúc rạng rỡ vui khi có những học trò vượt qua mình mà vươn vai hóa thành Phù Đổng. Thi thoảng buồn khi bạn bè xưa lối hẹn, bỏ cuộc, hoặc đành lòng làm một thứ hoa ôi!

…Rồi sau tôi , còn có cả một thế hệ học trò. Các em sẽ viết tiếp về thầy cô mình ngày ấy. Yêu toán, yêu luôn mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Yêu văn, cố nhịn ăn để có vóc dáng hao gầy. Yêu lí, yêu cả những ai thật thà gan góc… Còn yêu, sẽ yêu hơn những thầy, những cô đã khiêm nhường hóa thân cho các em có một ngày mai.

Hai mươi năm kỉ niệm, hai mươi năm làm thầy, với tôi, trường lớp đã là một thứ của riêng, vừa muốn phô phang, vừa muốn âm thầm cất giấu. Nói ra và im lặng. Một thứ ngôn ngữ dở dang. Nhưng tôi vẫn chưa đi hết một đời nhà giáo. Hãy để thời gian viết tiếp những dòng xanh về chốn sinh thành. Và những dòng tâm sự của tôi, ước ao sao hãy cứ là tiếng nói của trẻ thơ vừa rời khỏi vòng nôi- bập bẹ khuyết mòn ý tưởng. Song rất mực chân thành. Như một bài thơ không vần. Mùa tặng mình. Tôi khe khẽ xướng ngâm.


Quế Sơn, Nguyễn Tấn Ái.

Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!

Chào các bạn,

Bài văn dưới đây của Hạnh Nguyên thì chắc là không đi thi được, vì người đọc chẳng hiểu hết được nó, hoặc chẳng hiểu tí nào. Chính mình cũng chẳng hiểu được nhiều, chỉ suy đoán thôi.

Tuy nhiên mình thấy đoản văn toàn ẩn ngữ này có sức thu hút rất mạnh của một bức tranh siêu thực, mà người xem có thể thấy được cảm xúc mãnh liêt, kéo mình vào bức tranh, mặc dù không thế nói chính xác là bức tranh vẽ gì.

Mình post bài này lên như là một thí nghiệm, nhờ các bạn cho phản ứng trung thực thế nào. Thành thât nhé. Nếu đa số các bạn cho điểm âm thì cả hai chú cháu mình cùng sai. Nếu đa số các bạn cho điểm 10 thì hai chú cháu sẽ có dịp đi ăn kem.

Các bạn đọc và phản hồi nhé.

Cám on mọi người trước.

Hoành

.

“Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!”

Nó lao ra khỏi nhà với đôi mắt ướt sũng, chỉ kịp nghe thấy tiếng kêu đói thảm thương của lũ mèo con. “Xin lỗi… tau hok thể” – Đôi mắt nó chỉ kịp ánh lên điều cuối cùng trước khi rơi vào khoảng không gian như đang o bế trước mặt. Vô hồn.
abstract art 1
Bầu trời chùng xuống, những sắc cam rực rỡ cũng không làm vực dậy nổi đôi bờ mi nhắm nghiền của nó.. Nó chờ cho đến lúc đôi mắt xám kiệt sức, gục xuống, cắm mình vào màu đỏ ngập ngụa bóng hoàng hôn. Những chiếc lá lảo đảo, rơi xiên xiên như bị kiệt sức… rồi cắm xuống đất thở phào. Kết thúc một đời xanh. Đôi vai nó run lên bần bật giữa những cơn gió xoắn chiếu nhau, lạnh cóng. Gió lạnh hay lòng người nguội lạnh. Bất thần rồi chợt tan chảy theo cái nhìn xa xăm. Nó lặng lẽ cúi mình thấp xuống, thấp đến nổi nó muốn hoá thành những bông cầu gai, lăn mãi, lăn mãi xuống chân đê, tấp vào dòng nước lạnh giá hoặc may mắn hơn, nương nhờ đất mẹ… rồi con của chúng cũng lại lăn tiếp… lăn về với nước. Như loại ếch… không sao thoát nổi kiếp sống hai mang.

Ba- người nó luôn kính trọng, thần tượng, sẽ phải chấn dứt trong chiếc vòng số tám. Số tám xoay đều… đối xứng. Số tám ám ảnh trong những cơn mộng mị… Ngay cả trong những cơn mơ, bình yên cũng không về bên nó. Những giấc mơ mang tên Ba: Nó sợ hãi và ngồi đó, miệng muốn hét lên nhưng không được, tê dại. Trơ đôi mắt ngơ ngác của một con mèo con nhìn chiếc xe đen vút đi… vút đi… mang theo ba nó, mang theo cả hy vọng của nó.

Một trận gió vụt qua, rát bỏng như một cái tát. Cả rừng lá dưới chân nó lao xao, lồng lộn, tách khỏi mặt đất, búng mình suốt mặt hồ tạo thành những khoanh tròn cứ lan rộng… rộng mãi.

Mỗi chiếc lá là một mảnh vỡ, trải trên đất thành từng mảng, từng mảnh thứ màu đỏ cay nhức nhối và ràn rụa trong buổi chiều thu.

*      *      *

*

Lá rơi.

Thời gian trôi.

Con chim sẻ trú đông rách tiếng hót

“Tôi đã ở đây bao lâu rồi?”
“Rất lâu! À không, đủ lâu…”

Phải, tôi đã ở đây đủ lâu để chứng kiến một câu chuyện. Một câu chuyện trong hốc kẹt của không gian và thời gian.

Câu chuyện về những cây bút chì được gọt tỉa kĩ càng trong đêm khuya, rồi lại được xếp kĩ càng vào những ngăn kéo như che đậy một điều gì đó. Đôi mắt bất thần nhìn vào bức tường nhắng nhịt những vết cào xước trước mặt, tim nó nhói lên những cảm xúc kì quặc quen thuộc. Sao lại là quen thuộc? Bởi đêm nào cũng thế, vẫn là những cảm xúc đó… dào dạt và bất tận. Căn phòng vốn trống trải đột nhiên trở lên chật chội. Nỗi buồn ở khắp mọi nơi, thấm vào trong hơi thở và vào cả những thứ vô hình đang hiện hữu nơi đây, như tôi. Bàn tay nó chảy ra thứ màu quen thuộc, bàn tay siết mạnh vào lưỡi dao như đang bóp nghẹt tất cả. Đau buốt, nó giật mình ném con dao ra khỏi con tay nhầy nhụa máu. Nó lại lao vào phòng tắm, cố gắng rửa sạch đi cái màu tanh bẩn trước khi mẹ thấy. Nó vớt nước lên mặt cho đến khi không còn nhận ra đâu là nước mắt. Nó nhợt nhạt soi mình vào gương. Nó cười điên dại nén nước mắt, máu vẫn chưa chưa chịu ngưng, đỏ úa. Nó nhếch nhát từng bước về phía tủ, cố lôi lên những gói bông trắng muốt và băng bó, nó làm công việc này một cách vô thức. Quá quen!

“Một người đàn ông cũ kĩ dắt một con chó trắng đến đây, đến khoảng không gian này, khoảng không gian giữa những cây lá đỏ của một công viên. Một ông già với râu tóc bạc phơ, bạc theo màu da nhăn nhúm, một con người cổ kính mang theo một con chó đến vùng trống ngập ngụa sắc đỏ của lá và hoàng hôn rồi cột nó vào một gốc cây nào đó.

Lão đến.

Lão cột.

Cuối cùng, lão đi, bỏ lại sau lưng con chó và một vùng màu đỏ thẫm.”

erosion
Một giấc mơ kì lạ. Nó lẩm nhẩm điều gì đó nghe không rõ và lại mơ. Tôi ở đấy, trong giấc mơ. Nó bừng tỉnh. Nó đưa đôi mắt nhìn tôi hãi hùng nhưng cũng đầy mê hoặc. Nó chạm nhẹ, xuyên những ngón tay. Thảng thốt, nó nhìn tôi định thần hơn. Nó cười:

–         Tôi lại mơ thấy bạn?

–         Tớ là ma. Bạn có sợ ma không?

–         Chỉ có ma sợ người thôi. – Vô thức nó trả lời

“Chỉ có ma sợ người” – tôi thấy thích câu này… Đúng!  Tôi sợ… những con người vô hình… trong cuộc sống thực. Tôi sợ nó.

–         Và bạn ở đây theo dõi tôi. – Nó nói như thấy có ai nhún hộ vai mình.

–         Không… bạn theo dõi tớ.

–         Tôi không hiểu. Tại sao tôi lại theo dõi bạn, tôi không biết bạn? Tại sao tôi lại mơ thấy bạn, tại sao bạn lại cho tôi thấy con chó trắng. Bạn vô tình quá chăng? – Ánh mắt nó đột nhiên quắt lên màu giận giữ.

–         Tớ không vô tình… tớ chỉ vô hình thôi. Cậu không vô hình… nhưng cậu vô tình. Tớ là một phần tìm kiếm của cậu. Chúng ta theo dõi lẫn nhau. Vì chúng ta tìm kiếm nhau. Con chó là ai? lão là ai? Là giấc mơ. Tại sao bị cột? vì lão muốn nó tự thoát ra và xoay chuyển cuộc sống phụ thuộc. Lão đại diện cho ai? Cho số phận. Con chó là ai? Tớ nghĩ cậu biết.

Nó nhìn sững sờ vào tôi, những lời nói trong suốt tan vào thinh không nhưng lại vang vọng vào lòng nó. Con chó là nó. Và nó đang vô tình trong cuộc sống. Tôi lại vô hình! Thế là đủ. Ngóp nghét trong những giấc mộng thực và ảo của nó thế là đủ. Tôi cần phải đi. Những con người vô tình sắp tan biến.

Bản Promise vang lên trong căn phòng. Lời hứa với ba được thực hiện. Những ngón tay lướt nhẹ trên cây dương cầm phát ra thứ âm thanh trong suốt, vút lên, xé toạt những sầu bi, những oán hận trong căn nhà. Những lời nói giả dối mang đầy hương tiền bạc bị cuốn phăng ra khỏi óc, để lại hình ảnh ba nó ôm con hiền lành yên bình. Mẹ sững sỡ nhìn nó từ khung cửa sổ, giọt nước mắt khô khốc lăn trên khuôn mặt gầy mòn. Tóc nó xoã nhẹ tung bay trong bình minh

Một chiếc lá khẽ đu mình vọt vào khoảng không bất tận. Tiếng hót bị rách của con chim sâu vút lên. Trong trẻo lạ kì.

Phan Nguyên

Đi trắng về đen

Đôi khi dạo chơi phơ phất đâu đó nơi quen thuộc ta lại chợt nhặt được đôi điều mới lạ mà xưa kia vô ý chẳng nhận ra.
Đây là câu chuyện tôi nhặt lại trong vườn cổ học:
dogchasingman
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà mặc áo trắng, nửa đường gặp mưa ước hết. Người quen cho mượn cái áo thâm.
Bố về nhà, con chó nhà vừa cắn vừa đuổi. Bố giận toan cầm gậy đánh. Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
“ Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta đột nhiên đổi màu lông thành đen thì em có lấy làm lạ không?”

Không biết lỗi tại phía nào?
Nghĩ cái sự con người ta lạ ngay cái chỗ nết người, thường thì nhạy lắm cái sự người ta xoay ra chiều khác, mà cái sự mình đổi khác thì cứ tỉnh như nhiên! Thế là cố chấp và ích kỉ lắm. Giá như lúc nào cũng sẵn một người anh bên mình như Bố để cảnh tỉnh mình.

Lại nữa, cái màu mè sơn phết bên ngoài còn có cơ nhận ra mà tránh, còn cái đen từ ruột đen ra, mình còn không biết, nói chi anh em!

Mà phàm phu tục tử thì chẳng chấp làm gì. Đôi lúc hiền nhân quân tử mà cũng cứ bị cái sự được không cao thấp của đời nó hoặc cho đến mê mới hại. Anh cả của đọt chuối non có lúc chê Nguyễn Công Trứ bị hoặc bởi chữ danh ngẫm mà có lí!

Mà có riêng gì tướng công Uy Viễn, tội nghiệp Nguyễn Tiên Điền chọn cho mình tên tự Tố Như hẳn giàu hàm ý, vậy mà cũng có lúc cứ đau đắm đuối trong một nỗi niềm hư ảo:

Dao ức gia hương thiên lí ngoại
Trạch xa đoạn mã quí đông lân

Tạm dịch:

Quê nhà xa hút mù khơi
Đời xe ngựa, thẹn với người thuở xưa!

Ý hẳn cũng mong cái sự khác mình nhiều lắm!
Xin lượng thứ!
heartcarvedintotree
Cũng xin lượng thứ khi kể một chuyện không vui, một nhà thơ từ một “kiếp phôi pha” cho đến khi rời cái bậc tam công của mình vẫn còn oán “chúng nó tiếc gì cái chức cố vấn mà không cho miền giữ”( theo phóng sự của Phùng Quán).

Ô hay, hành trình làm người khó giữ thiên lương cho lành vững!

Ngẫm mà thương Vương Xương Linh, đỗ tiến sĩ, đi làm quan xa, chỉ lo ngai ngái cái lòng mình trên hoạn lộ, chỉ sợ cố nhân ngày về chẳng còn nhận mặt nhau mà chí tình nhắn gửi:

Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Tạm dịch:

Bạn xưa dù hỏi, rằng ta
Lòng trong vẫn giữ như là thuở nao!

Lại nhớ cụ Nguyễn Khuyến dù thương Dương Khuê đến thế mà khi khóc Vân Đình tiến sĩ lại lẫn trong tiếng tình thống thiết một lời trách khôn nguôi:

“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.”

Khi nói những lời này, lòng cứ ngùi ngùi nhớ dăm thằng bạn, lại thon thót giật mình không biết cái tôi giờ đã ra sao?
Một chút phản tỉnh giữa ngày đời bận rộn, không biết có đại ngôn tật hô không thế?
Mà e khi to tiếng lớn giọng thì đã khác ngay từ cái giọng của mình, chao ôi!
Mà Dương Bố chỉ có một Dương Chu, tôi thì còn có cả anh em mình, ta hãy nhắc nhau sống từng ngày đời cho thật!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chuyện của những đêm tối trời

Ở quê, thuở chưa xa, những đêm không trăng mênh mông là đêm tối, sự sống lu bu quần tụ quanh những ngọn đèn dầu. Và lũ trẻ có được cái thú háo hức nghe những chuyện li kì rùng rợn.

Chuyện ma le
ghost1
Chú Bốn góa vợ, không phải chú không có vợ, mà vợ chú chết rồi. Mà cái việc chú có vợ cũng là chuyện “hên”. Một cô gái không biết từ đâu đến làng mót khoai, thấy nhà chú một mẹ một con, xin ở nhờ, rồi thành vợ chú.
Ai cũng khen cô tốt nết, tốt người, lại khéo vá may. Từ ngày có cô dâu, cái cơm tấm áo nhà mẹ con chú Bốn tươm tất hẳn. Chỉ khổ ba năm rồi mà chưa có mụn con, mà chú Bốn ngày một xanh xao. Thương chồng, vợ chú dành cơm cho chú, không ăn hột nào.
Có tiếng dè bỉu: “Chỉ làm bộ, không ăn sao người hồng hào béo tốt mặn mắt thế, khéo ở nhà ăn vụng.”
Mẹ chú Bốn sinh nghi, một bận giả bộ đi làm đồng, nửa buổi quay về rình sau hè.
Cô dâu vẫn chăm chỉ vá áo. Bỗng một cơn gió thổi tung rẻo vá.
Rồi cái lưỡi cô dâu cứ thế le ra dài thườn từ chổ ngồi đến mảnh vải có chừng vài sải.Cô nhặt mảnh vải bằng lưỡi!
Mụ gia chết điếng người.
Mụ cầu phù thủy. Phù thủy mách: Ma le dễ trị, nó không ăn cơm, chỉ hút tinh khí người, ban đêm thường đi ăn thêm phân gia súc. Rồi cho một lá bùa.
Đến đêm, mụ gia qua giường con dâu, thấy chỉ còn cái xác rỗng, phần đầu và ruột đâu mất!!! Mụ đem lá bùa dán nơi cổ, rồi lật úp xác lại. Xong về giường nằm.
Nửa khuya mụ nghe có tiếng gào khóc trên mái hiên, con dâu đòi mở cửa cho nó vào nhà. Mụ sợ ngồi tho lo một xó,Chú Bốn vẫn ngủ mê mệt.
Gần sáng, con ma bay đi đâu mất. Chỗ cái xác chỉ còn dúm giẻ rách.
Chú Bốn về sau khỏe mạnh như thường, chỉ cái không có vợ nữa, ai hỏi chú cười hề hề bảo: Ngủ với ma đã đời ông địa rồi, không nghiện người nữa!
.

Chuyện ma bù cào
ghost
Các bạn có biết cái cào năm răng dùng để cào cỏ không? Ở quê gọi là cái bù cào.
Tiếng đồn ở dốc Bà Giáo có con ma răng dài mặt đỏ, ai cũng sợ, gọi là ma bù cào.
Vì sợ nên lúc chạng vạng thì trên dốc tuyệt không có bóng người. Ai có chuyển bụng cũng chờ đến sáng hôm sau.
Một vị khách có việc ngang đường, không dám lên dốc, đành ghé nhà bên đường xin nghỉ qua đêm. Một lát, lại có người xin ở lại, cùng một lí do. Hai ông khách bàn nhau: Mình có hai người, trời chưa tối lắm, cũng có thể cùng nhau vượt dốc. Mặc chủ nhà ngăn cản, hai ông khách lên đường.
Càng đi, đường càng vắng, gió càng lạnh. Một người đã bắt đầu sợ, nói với người kia:
Sợ quá, hay hồi nãy ở lại, nghe nói chỗ ni kinh lắm.
Người kia bảo: Đừng lo, có tôi đây, anh xem con ma kia có đáng sợ như tôi không?
He!!!Trên mặt là hai cục lửa đỏ lòm lòm, hai cái nanh dài như hai cái tay vượn!
Sáng hôm sau người đi đường thấy một cái xác còng queo, tái nhợt không còn hột máu.
Dốc Bà Giáo từ ngày san đồi lấp hố, đường nhựa phẳng lì, chẳng biết con ma bù cào đi đâu không rõ.
Chỉ biết mấy chú ngồi xác cầu cơ thỉnh thoảng la hét cào cấu, mặt xanh dờn,máu chó chổi rể phải đập tới tấp mới xả nổi. Ấy là ma bù cào nhập xác.

Hề, chuyện hoang đường kiểu này ở quê còn nhiều lắm, không kể sợ thất thoát. Nếu bạn đọc có hứng thú thì xin cho biết, sẽ còn nhiều chuyện như rắn hiển linh, phù thủy bị quỉ vật… Tha hồ.
Xin cam đoan rằng chỉ kể vui, không thật đến trăm phần trăm đâu.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Đêm Dài

ĐÊM DÀI

    Kính tặng Tú Xương

Nam Định.

Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm
Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm

Cuối thế kỉ 19 không còn yên tĩnh nữa, cái tin mừng ông hoàng giáp làng Vị Hạ tỉnh Hà Nam vừa vinh qui không đắp đổi dồn dập nghững nỗi kinh hoàng: Hà thành thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương rồi liên tiếp thủ khoa Huân , hoàng giáp Phạm Văn Nghị tuẫn tiết; hòa ước Hác- măng ô nhục, Tự Đức băng hà.

Sĩ tử rụt rè gà phải cáo.

Trên đường đê, dấu cũ của con sông Vị Hoàng phố cổ thành Nam, một thư sinh bước đi thiểu nảo.

Căn nhà ba gian tường gạch trát đất vữa đứng sùm sụp sau một hàng trúc lơ thơ.

Đến ngoài bờ trúc, nho sĩ dừng lại, thở dài. Trong nhà mấy đứa con nít túa ra, vừa chạy vừa reo:

Thầy đã về.

Trái với vẻ hớn hở của lũ trẻ, nho sĩ chậm rãi sờ đầu từng đứa: Thằng Bái, thằng Bột, thằng Bành, con Thục.

Gói quà là mấy nắm xôi lạc mua vội từ góc phố, chút vớt vát của một mùa thi Hương thất bát.

Bà Tú vẫn chưa về. Ông Tú ngồi bắt bằng trên bộ ngựa đợi vợ, rít một khói thuốc lào.

Đợi vợ trong nỗi buồn mà xót bà Tú tất bật chợ đời.

Một quãng đồng mênh mông quạnh vắng, vùng Nam Định trắng xóa là nước ngày đông, chang chang là nắng ngày hạ. Bà cứ như một chấm trắng nhỏ giữa trời chiều. Chao! Cái cánh cò lẻ loi đó lặn lội chắc đã nửa đời, rồi chắc cũng lặn lội kì hết nửa phần còn lại. Phố Nam Định từ Tây sang tấp nập trên bến dưới thuyền. Những con tàu viễn dương khổng lồ nuốt từng tấn than đen no bụng, ầm ì nhả khói, lừng lững ra khơi. Những con thuyền thủ công nhọc lòng đi khơi đi lộng dạt về bến mới. Bến cá trong cái nhỏ bé nhọc nhằn của mình cũng không kém phần chao chát eo sèo.Một người phụ nữ chừng dưới ba mươi, mặt lành da trắng, thị vuốt ngược một giọt mồ hôi, tức tửi lách mình bưng bê giữa đám người nhốn nháo. Chao ôi! Ai dám nghĩ đó là bà Mẫn, vợ của đấng tú tài nổi tiếng tài hoa. Chao ôi! Nhớ cái ngày bà về làm dâu mới rình rang nở mặt:

Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ
Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ

Ông tu tát nhà cao cửa rộng toan để cho dâu
Chồng lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ.

Năm ấy là năm Ất Dậu ( 1885).

Những tưởng rồi Tú Xương đỗ đạt, võng tía lọng vàng, danh thơm bốn bể, bà cũng thơm lây:

Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.

Nào ngờ… con gái dòng dõi thi thư nổi tiếng làng Lương Đường tỉnh Hải Dương nay lại hàng tôm hàng cá thế này, chao ôi! Eo sèo mặt nước buổi đò đông!

Ngồi nghĩ mình lận đận, tám khoa nhẵn mặt chỉ vớt vát nổi cái tú tài, nghĩ mà xót đồng tiền mồ hôi nước mắt của bà vợ lắm!

Và kì này mùa thi năm Đinh Dậu( 1897), sĩ tử buồn hiu. Một vì văn tinh từ trời cao vừa rơi rụng, vì văn khúc ứng vào Tuy Lí Vương Miên Trinh.* Cái văn nghiệp nước nhà đến kì hỏng bét.

Kì thi phú. Tú Xương đắt chí cái thơ mà hụt hẫng cái trường:

Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
.

Kì văn sách, quan trường một phường bợ đít Đu – me lại học đòi nói câu cửa khổng: “ Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
TruongNamĐinh
Tú Vị Xuyên chấm bút, huơ liền một mạch, nét bút lông cứ xoắn lên nền giấy hoa tiên, phần phật như gió lại ran rát như lửa:

Dân ta hỏng rồi

Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Xã tắc ta hỏng rồi

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vua ta hỏng rồi, quí sĩ tử cứ ngóng lời ông nghè làng Yên Đỗ mà rõ việc

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

Tú nộp quyển, chệnh choạng ra khỏi trường thi, lần ruột tượng ghé bà hàng nước, đồng tiền kẽm rơi đánh keng trên nền gạch, mấy đồng xu đã hoen gỉ xanh với mùi muối cá bà Mẫn gom góp từ những phiên chợ chiều.

Chợt mi mắt vị tú tài cay cay.

Tiễn chân cô mất dăm đồng lẻ
Sờ bụng thầy không một chữ gì!

Hỏng kì này là chẵn năm.

Tú Xương ngồi chong đèn thu mình trên gác ván, nghĩ lại câu chuyện Đặng Tử Mẫn thì thào khi chiều: Phan Bội Châu đã ra Bắc, lên Phồn Xương, chắc là để gặp Đề Thám.

Tú ngẫm lại đôi lần trò chuyện cũng Phan danh sĩ. Miệng rồng mắt sư tử, con người chọc trời khuấy nước ấy ngang nhiên mang cái án “hoài hiệp văn tự” ngao du bốn bể, kết giao cùng nhân sĩ hào kiệt Bắc Nam. Cũng là kẻ sĩ mà thẹn mình chưa được cái khí cốt Bội Châu. Ngẫm một đời văn nhược tài hoa, một đời phong nguyệt tình hoài, một đời nổi tiếng được cái chơi ngông phá bĩnh, cũng hoài phí một kiếp đầu thai nhầm thế kỉ. Tú thở dài, chấm bút nắn nót những dòng thơ cuối đời:

Chập tối trông ra ngỡ sáng lòa
Đêm sao đêm mãi thế ru mà
Kìa kìa ai kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lộn nhà.


NGUYỄN TẤN ÁI

* Tuy Lí Vương Miên Trinh mất ngày 18 tháng 11 năm1897.

Bùa Yêu

Chim xa còn nhớ lối về
Bậu ra là dứt ước thề được sao
Nợ trầu cau trả chiêm bao
Người gieo tiếng dữ, người đau giọng tình
Ví dù, bến nước sân đình
Trăm năm… bậu hết thương mình, mình thương!
(Vĩnh An)

I. Mụ Hoàng

Bên nhà tôi, về hướng tây, có nhà mụ Hoàng. Mẹ cấm tôi qua chơi,không biết tự bao giờ, từ hồi tôi mười ba, mười bốn chưa? Từ hồi thằng chim thằng cò tôi đã nhu nhú nên trai chưa?
Mụ Hoàng góa chồng, không phải chồng chết, mà còn sờ sờ bên trời Tây. Lão là sĩ quan cảnh sát, vượt biển đông từ hồi chiến tranh còn ì ầm ở cửa Xuân Lộc, mụ thành gái góa.
Gái một con trông mòn con mắt, vắng chủ nhà gà vọc riêu tôm, mụ Hoàng thành cái gai trong mắt đám đàn bà con gái. Nổi gió nổi bão tự bận mụ thuốc một gã trai tơ.
thomoc

Thanh thợ mộc, khéo tay, mau miệng, mắt dài mi dài như gái, quảy thùng dùi đục đến đâu y như là Thanh làm nên một tình sử đến đó. Vậy mà sau khi chạm trổ xong bốn chân giường nhà mụ Hoàng ,Thanh chẳng đi đâu nữa. Nghe nói chiếc giường để bên hướng đông, có cửa sổ hóng gió, Thanh nằm nghỉ một giấc trưa, mơ màng thế nào mà tỉnh dậy chân tay còn bủn rủn, người cứ rỗng như ống thù đủ, mất cả chí tang bồng. Nghe nói Thanh ngủ mê, mụ Hoàng lấy một sợi tóc cột ngang ngực Thanh, lại dấm thêm chút nước miếng nơi lỗ rốn. Rồi Thanh lú lẩn.
Thanh hai mươi hai, mụ gần ba mươi, vậy mà thành nhân ngãi, đúng là mụ có bùa yêu!

II. Chuyện Hạnh

Tránh trời sao khỏi nắng mưa, mụ Hoàng không thuốc tôi, mà Hạnh con mụ lại thân tôi lăm lắm.
Bận ấy con bò nhà bé Hạnh lạc mất ở núi cấm. Bọn trẻ cùng bầy chẳng đứa nào động chân đi tìm.Mấy đứa trẻ quá rành, mặt trời gần lặn là giờ bùa yêu rất thiêng, dại gì mà đụng vào mẹ con mụ phù thủy. Hạnh bưng mặt khóc.
trau
Tôi đánh trâu đi sau cùng, ngoái lại, động lòng. Se sẽ tách bầy, tôi quay lại. Chẳng tìm ra bò, bé Hạnh sợ bị mẹ phù thủy đánh, lại bưng mặt khóc. Tôi đành phải dỗ, rồi đưa Hạnh về. Hú hồn, hóa ra con bò no cỏ bỏ về chuồng.
Mụ Hoàng ra, vẫy tôi vào, tôi thụt lùi rồi co giò chạy biến.
Không biết bùa phép có di truyền không mà tự đó tôi đâm nhớ Hạnh, nhớ hoài đôi bờ vai tròn lẳng rung bần bật mỗi khi Hạnh khóc, nhớ hoài đôi mắt to tròn lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác. Hạnh tình như cũng đã. Một bận tôi đau, không dong trâu lên đồi được, vừa sâm sẩm tối đã thấy Hạnh thập thò ngoài bờ dậu, vẫy tôi ra, trao cho chùm dủ dẻ vàng ươm chín mọng.

Tôi hỏi:
-Mẹ Hạnh có bùa yêu phải không?

Hạnh gật.
– Nó như thế nào?
– Không biết. Nghe nói nó dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo. Mẹ không cho Hạnh biết.
Tôi không tin rằng Hạnh không biết, nên mỗi bận ngồi bên Hạnh, mắt cứ nhìn trô trố, cố tìm xem nơi nào trên người Hạnh dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo không.
Thấy tôi quanh quẩn hoài với mấy cái bùa yêu, Hạnh mách:
-Nghe mẹ với chú Thanh hay nói chuyện gì mà miếu cô Châu. Hay mẹ dấu bùa yêu sau núi, chổ miếu cô Châu ấy.
Chuyện cô Châu là một bi tình. Đẹp gái, hát hay, múa giỏi. Trai làng mê lắm. Ác nghiệt, cô lại mê anh thợ may đã có vợ. Bị bắt ghen, cô Châu ốm ba tháng, buồn đến da xanh cổ cao. Cô thắt cổ chết trên đồi chổ miếu hoang, thề bắt tất cả những đàn ông đã có vợ làm chồng.
mieu
Một buổi trưa trên đồi tôi đưa Hạnh lại chổ miếu cô Châu. Ngôi miếu hoang tàn không nhang khói lại càng nhuốm màu thê lương. Lom khom tìm hoài, đủ thứ đá lắm hình thù màu sắc mà không có cái nào trong trong dẹt dẹt cho ra vẻ bùa yêu. Mệt quá, ngồi nghỉ. Hạnh tựa vào tôi thiếp đi tự lúc nào không rõ.Nhìn Hạnh bầu má hồng hồng, mi mắt dài lim dim, nỡ nào mà khách sáo. Tôi tìm được bùa yêu trong túi áo của Hạnh.

III. Đoạn kết

Huyền thoại hồi ấu thơ tôi giữ mãi, mà huyền thoại thì không thật bao giờ.
Tôi nhảy xổm từ đồng cỏ vào văn chương trà rượu rồi sa đà mê mãi. Lá bùa yêu rơi rồi đâu đó ở kí ức xa xăm. Một hôm nghe tin Hạnh có chồng, đâu đã dăm năm.
Ngày Hạnh chết, tôi không về viếng đưa được. Thằng Hùng, đứa si Hạnh một đời đến giờ vẫn chưa lấy nổi vợ, kể với tôi:
-Mày đi học, nghe nói léng phéng với mấy đứa thị thành phải không? Hạnh đòi mụ Hoàng bí quyết bùa yêu, mụ giận tát cho mấy cái. Hạnh ức bỏ đi Nam làm thợ nhuộm, bắt chồng dắt về nhà. Hạnh mang thai, cứ lang thang quanh quẩn bên miếu cô Châu, ai cũng cho là điềm gỡ. Rồi sinh khó, mẹ mất, con mất.
Có người bảo “ đời cha ăn mặn đời con khác nước”, mụ Hoàng bắt nhiều gã trẻ, con mụ trả nợ thay cho mụ.
Có người bảo: Hạnh có bầu mà không cử, cứ quanh quẩn hoài chổ hoang quạnh, bị cô Châu vọc.
Lại có người bảo cái nghề thợ nhuộm độc hại, cái khó bó cái đời, tội nghiệp!
Hùng bảo tôi:
– Sao mày đớn thế? Hạnh chết mà không về đưa linh nó, tao biết nó chết uất vì mày.
Rồi lại bảo:
– Thôi cũng được. Giá mày lớn xớn đi đưa khóc đểu, dễ chừng tao thịt mày quá.
Tôi biết Hùng nói thật.

Rock
Hạnh ơi! Cô Châu ơi! Mụ Hoàng ơi! Bùa yêu là mấy tội, mà hồng nhan lại mấy người. Thề có đất trời, tôi chưa tìm được bùa yêu.
Nếu có thì tôi cũng thuốc tôi luôn, để tôi biết si tình, yêu Hạnh một đời mà không so đo hơn thiệt.
Tôi chỉ nghe bùa yêu là tội lỗi.
Mà chừ mới thấm thía không mang được chút ngải yêu trong tim người mới lại càng tội lỗi.
Tôi đi rửa mặt, để có một quyết định sạch sẽ, mai tôi sẽ về thăm miếu cô Châu. Rồi về nhà mẹ Hoàng, viếng Hạnh.

Nguyễn Tấn Ái.