Tag Archives: Văn

Vệt vằn của cọp

VỆT VẰN CỦA CỌP

Trần thị LaiHồng

dịch The Tiger’s Stripes của Võ Đình*

Ngày xửa ngày xưa, bộ lông là niềm hãnh diện của cọp.  Trong bóng cây rừng, dưới ánh trăng, toàn thân cọp là một khối vàng uy nghi uyển chuyển uốn lượn.

Nhưng ngày nay, cọp khoác những vệt đen vằn vện làm hỏng cả bộ mã óng mượt toàn hảo ngày nào.  Với cọp, những vệt vằn vện đẹp đẽ đó ngó chẳng ra chi mà là dấu vết một trận đòn chí mạng.  Tuy nhiên, rồi cọp cũng quen sống với những vệt vằn vện này.  Và mỉa mai thay, những vệt vằn vện đó lại giúp cọp thêm dễ dàng trốn lẩn.  Ẩn mình trong đám cỏ tranh hay náu thân sau lùm cây chằng chịt, cọp lẫn vào cây cỏ, chẳng thể nào thấy được.

Tuy nhiên, khoan vội nghĩ là hồi còn nguyên bộ lông thẫm vàng óng mà cọp lại ít đáng khiếp sợ hơn. Cọp nổi danh nhanh nhẹn, uy vũ, tàn bạo, và tham lam.  Ai cũng biết sư tử no mồi chẳng buồn giết nữa.  Nhưng cọp thì khi nào cũng sẵn sàng tấn công.

*

Chính con thú đó đe dọa cư dân một làng vùng núi nọ.  Lâu nay dân làng sống yên ổn trong công việc hàng ngày, cho đến lúc nỗi hãi hùng bùng nổ như núi lửa.  Chưa đầy một tuần, cọp về làng ba lần.  Một con nghé, một con nghé nữa, rồi một con heo bự lần lượt biến.  Dân làng sợ hãi, hoang mang.  Con mãnh thú – dấu chân rất lớn rành rành để lại – hẳn là một con thú vô cùng xảo trá quỷ quyệt, nhanh nhẹn, và dũng mãnh.  Tấn công lặng lẽ không gây tiếng động, vì lũ chó mọi khi vẫn canh gác cẩn mật thế, lại im hơi lặng tiếng khác thường.  Những vòng rào tre bao quanh mấy căn nhà chẳng hề xiêu vẹo chút nào.

Một người dân làng lo mất gia súc, giận dữ đích thân canh thức cùng hai chàng trai khác đợi suốt đêm rình tên cọp sát thủ. Đối đầu ba tráng đinh giáo mác sắc nhọn, cọp rút chạy về rừng sau khi lẹ làng tàn bạo vồ một người.  Nạn nhân vỡ sọ chết tức tưởi tại trận.

Từ đó, Vua Cọp –  Chúa Sơn Lâm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Khái với vóc dạng gồ ghề – được cả làng nhắc nhở trong hãi hùng, khiếp sợ và căm hận.  Và cọp tung hoành hùng cứ toàn vùng thung lũng.

Lâu nay Vua Cọp để mắt đến một con trâu mộng đen mập hàng ngày cày ruộng dưới sự điều khiển của một bác nông dân.  Từ sau đám cỏ và bụi rậm trên đồi cao, Vua Cọp quan sát.  Cọp chưa muốn vội tấn công.  Cọp nghĩ:  “ Nếu con trâu mộng to mập dường ấy có bộ sừng nhọn hoắc dường ấy coi bộ mạnh vậy để tui phải đắn đo suy đi tính lại trước khi vồ nó, thì tên lực điền dũng mãnh kia hẳn phải nguy hiểm lắm mới làm chủ sai bảo được con trâu chứ !”

Ngày lại ngày, Vua Cọp càng nôn nóng.  Nhưng thay vì xuống núi tuôn vào cánh đồng liều một trân đẫm máu, cọp quỷ quyệt đủ khôn để vẫn ẩn mình chờ cơ hội.

Một buổi sáng, bác nông dân ra đồng như thường lệ, nhưng coi bộ bỏ quên vật gì ở nhà, để con trâu ở lại một mình trên ruộng.  Từ xa, cọp chăm chú theo dõi.  Một ý tưởng nẩy lóe trong đầu.  “Ta sẽ xuống lân la thân thiện với con trâu, và sẽ bất thần chộp khi nó chẳng ngờ.  Rồi ta sẽ dấu trâu trong bụi rậm.”  Vừa nhẹ nhàng bước, cọp vừa nghĩ tiếp: “Và khi tên lực điền trở lại, ta sẽ “xử lý” hắn khi không còn con trâu để trông cậy !”

Uyển chuyển nhanh nhẹn, Vua Cọp đến gần trâu, cố làm ra vẻ tử tế dịu ngọt: “Bậu trâu ơi !  Nghe nè !  Tui đến với bậu không có ý làm hại bậu đâu.  Tui chỉ muốn hỏi bậu mấy điều lâu nay cứ bận tâm hoài …”

Dầu khiếp đảm, con trâu hiền lành giữ bình tâm.  “Ồ, ông bạn đó à !  Ông bạn Chúa Sơn lâm !  Thiệt tử tế hết sức !  Có chuyện chi tui làm được nào ?”

“Ơ bậu ơi !”  Cọp nói, trong khi tiến thủ trong vị thế sẵn sàng thình lình nhảy vồ trâu, “Lâu nay tui ngưỡng mộ bậu lắm.  Khỏe quá !  Siêng quá !”  Cọp ngước mắt lên trời.  “Thiệt tui không thể tưởng nổi làm sao bậu kéo cái cày nặng nề này được.  Rồi cách bậu làm việc nữa !  Từ sáng sớm tửng bưng đến tối mịt chỉ nghỉ chút xíu vào trưa !  Tui nghĩ bậu thiệt tuyệt, tuyệt, bái phục bậu …”

Dầu khiếp hãi, trâu cũng khoái lắm.  Đấy, chính Vua Cọp đứng trong bùn ruộng đích thân ca ngợi trâu, con vật kéo cày hèn mọn !  Nhưng trâu không quên cảnh giác.  Hễ cọp nhích chân là trâu cũng nhích chân.  Vua Cọp luôn luôn đối đầu với cặp sừng lớn cong vút, nhọn lễu, chĩa thẳng vào mặt.

Cọp lập lại: “Tui nghĩ bậu thiệt dễ nể.  Có điều chẳng phải vì chủ của bậu, bác nông dân …”

Trâu lùi lại : “Chủ tui làm sao, hở ông bạn Vua Cọp?”

“Ờ … họ khoan họ rị, bậu ơi !  Tui nghĩ là bậu để ông ấy khai thác bậu cạn tàu ráo máng.  Tui chẳng biết ông ta sẽ làm thế nào mà kéo cái cày nặng nề này nếu không có bậu giúp.  Nhưng ông ta xử tệ với bậu, quá tệ.  Hò tắt hò rì túi bụi !  Cứ ra lệnh riết !  Rồi cái roi tre trong tay ông ta nữa … Ông ta quất cố mạng vào mông bậu từng ba bước một !  Tàn nhẫn !  Hung bạo quá là ông chủ của bậu.  Nếu tui là bậu thì …”

Nhưng cọp bị trâu ngắt lời.  Trâu chẳng muốn nghe ai nói xấu ông chủ mình.  Trâu ôn tồn:  “Ông bạn lầm rồi.  Ông ấy là một người tốt.  Ông phải ra lệnh để tui biết mà đi chứ.  Còn cái roi ông ấy dùng chẳng phải để đánh tui đau !  Da tui dày cộp nên cái roi ấy nhằm nhò chi !  Ngoài ra, ông ấy chăm sóc tui tử tế, cho tui rơm ăn và chuồng ở.  Cố nhiên ông ấy là chủ tui vì ông có trí khôn.”

“Trí khôn ?”  Vua Cọp nhảy nhổm lên, xích lại gần.  “Trí khôn là cái chi chi vậy cà?   Tui chưa hề nghe.  Trí khôn ngó ra làm sao?”

Trâu ngúc ngoắc đầu, chĩa sừng ngay mặt cọp.  “Tui không biết.  Tui cũng chưa hề tận mắt thấy cái trí khôn ra làm sao cả.  Nhưng tui biết ông ấy có trí khôn vì ai cũng nói thế.  Họ nói vì vậy mà ông ấy rất có uy thế và minh mẫn.  Nhân tiện lát nữa ông ấy trở lại đây, ông bạn có thể hỏi ông ấy về cái trí khôn.”

Tính tò mò của cọp nổi dậy.  Lần này cọp không cẩn thận như mọi khi. Cọp quyết định đợi bác nông dân trở lại.

Vừa ló dạng từ khúc quanh đường làng, bác nông dân chạm mặt cọp.  Nhưng từng được chỉ bảo cách ứng phó với tình hình như vậy, bác biết là không nên bỏ chạy.

Trâu cất tiếng gọi:  “Ông chủ ơi !  Bạn tui đây là Ông Vua Cọp nè.  Anh ta đòi coi cái trí khôn của ông !  Xin ông vui lòng cho anh ta coi cái trí khôn của ông đi !”

Cọp phụ họa theo: “Bác cho tui coi với nào !  Tui muốn coi cái trí khôn của bác, xin coi một lần thôi !  Có phải cái trí khôn giúp bác thông minh và có uy quyền không ?  Sao tui chẳng có cái trí khôn đó ???”

Hoàn hồn sau cơn khiếp hoảng, bác nông dân giang hai tay lên: “Được !  Được !  Chào ông cọp !  Sao ông không tới sớm một tí trước khi tui chạy về nhà lấy mo cơm trưa ?  Để tui biết mà đem cái trí khôn trở lại cho ông coi.  Nó bự lắm nặng lắm không phải lúc nào cũng kè kè vác theo bên mình.  Tui luôn luôn để trí khôn ở nhà.”

Cọp tiu nghỉu.  Nhưng nỗi thất vọng của cọp không làm hắn quên mục đích xuống núi là làm thịt cả con trâu mộng mập ú và bác nông dân kia.  Bây giờ cọp đứng gần chẳng thấy trâu mập người mạnh và nguy hiểm như nhìn từ xa.  “Ta có thể vồ chúng ngay bây giờ, ngay trên thửa ruộng này!”  Vừa nghĩ vậy, cọp vừa quật đuôi, sửa thế vồ mồi.

Bác nông dân nhanh nhẹn:  “Ồ!  Được rồi !  Được rồi !  Đừng ra bộ khổ sở vậy ông ơi !  Ông đã mất công từ rừng ra đây, tui không để ông về tay không chẳng thấy được cái trí khôn.  Tui sẽ trở lại ngay tức thì !”  Bác dợm chân, nhưng chưa được mươi bước, vội quay lại:  “Chiều ý Ngài Chúa Sơn Lâm, tui sẽ về nhà lấy cái trí khôn.  Nhưng tui không muốn để Ngài một mình với con trâu của tui.  Ai phụ tui cày ruộng nếu Ngài ăn thịt con trâu của tui?”

Cọp gầm gừ phản đối chẳng có ý làm thịt trâu, nhưng bác nông dân quyết không rời bước.  Bỗng bác hả hê vỗ đùi đen dét:  “Được rồi!  Nếu Ngài quyết tâm thấy cái trí khôn của tui cho kỳ được, thì Ngài hãy chịu khó để tui buộc Ngài vào gốc cây kia nhé?  Có vậy tui mới chẳng lo chi về con trâu của tui.”

Vua Cọp đảo mắt nhìn bác nông dân rồi nhìn con trâu, rồi lại nhìn bác nông dân rồi lại nhìn con trâu.  Coi chúng thiệt yếu hèn đối với cọp.  Bây giờ có ông chủ, trâu trở lại hiền lành thuần thục.  Trâu đứng đó, đầu hơi cúi xuống, mắt trầm tư đượm buồn.  Cọp nghĩ: “Và cái anh chàng nông dân kia !  Cái anh chàng yếu đuối kia !  Ta phải thấy cái trí khôn của hắn mới được.  Ta sẽ cướp cái trí khôn của hắn, rồi ăn tươi nuốt sống cả hai.”  Quyết tâm xong, Vua Cọp bằng lòng nghe lời bác nông dân.

Bác nông dân bắt cọp đứng thẳng trên hai chân sau, úp bụng ôm sát thân cây gần đó, lấy giây thừng lớn trói vòng con vật vào thân cây.  Vừa buộc chặt nút thắt cuối, bác tháo ngay cái cày khỏi lưng trâu, lấy hết sức lực thẳng cánh nện lên mình cọp.  Cọp đau đớn giận dữ gầm thét vang làng chuyển xóm.

Cuối cùng, cọp vùng vẫy thoát được một chân sau, chống lên thân cây, gồng mình ráng sức bứt đứt giây trói.  Nhưng thay vì quay lại vồ mồi, cọp cúp đuôi dông tuốt một mạch về rừng.

Kể từ đó cọp không còn như trước.  Vì cố ráng vùng thoát, cọp đã làm những vòng giây trói siết chặt phát nhiệt nóng đốt xém bộ lông vàng thành những vệt vằn vện quanh mình.

Bây giờ cọp mới hiểu cái trí khôn của con người là gì, nên thêm quỷ quyệt và là kẻ thủ không đội trời chung với loài người, trở thành con vật chuyên giết người ăn thịt.

Chẳng bao giờ cọp rời hang núi lúc ban ngày để mầy mò quấy nhiễu đám gia súc và chủ của chúng.  Bộ lông trên mình với những vết vằn vện luôn nhắc cọp nhớ đến mưu trí của loài người.

Xin bổ túc thêm phần cuối chuyện liên hệ đến con trâu, không có trong nguyên bản tiếng Anh.

Thấy chủ xử sự dùng trí khôn dạy một bài học để đời cho Vua Cọp, trâu khoái quá hả họng cười lăn cười bò, ngã bổ chửng vào gốc cây, va bập mõm vào tảng đá, gãy trọn cả hàm răng trên.  Và từ đó, trâu không có hàm răng trên nữa.  Cũng từ đó, ta có câu tục ngữ “chởm hởm như trâu mất hàm côi”**, ý chế nhạo chẳng có gì mất cả, vì vốn đã không có rồi.

*  Nguyên bản tiếng AnhThe Tiger’s Stripes của Võ Đình, trong tập chuyện kể dân gian Việt Nam có minh họa The Toad is The Emperor’s Uncle/Con Cóc là Cậu Ông Trời, nhà xuất bản Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1970

**  Côi có nghĩa là trên, tiếng Việt xưa, còn dùng tại vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh và Quảng Bình/Quảng Trị/Thừa Thiên

A long time ago, the tiger’s coat was a source of great pride to him.  In the shadows of the forest, under the moonlight, the great feline’s body was an undulating and powerful mass of glittering gold.

But today, he loathes the irregular black stripes which mar his once perfect fur.  To him, these beautiful stripes look like nothing but the marks of a cruel slashing whip.  Nevertheless, he has learned to live with them.  And ironically, these very marks have made him even more elusive.  Lurking in the elephant grass or crouching behind a thicket, the tiger, blending into his surroundings, is all but invisible.

Let no one think for a moment, however, that when the tiger’s coat was of a uniform golden brown he was any less fearsome.  His reputation for swiftness and power, cruelty and greed was already established.  It is well known that a lion which has just eaten never kill.  The tiger, though, has always been ready for attack.

*

It was such an animal which had been terrorizing the population of a whole mountain village.  The people had been living peacefully in their day-to-day routine when suddenly fear erupted like a volcano.  In less than a week the tiger had visited their hamlet three times.  A calf, another calf, then a prize pig disappeared.  The villagers were afraid and puzzled. The large beast – his footprints were enormous – was a particularly cunning, swift, and strong one.  The raids had taken place noiselessly, because the dogs, usually vigilant, had kept quiet.  The bamboo fences surrounding the houses had remained undisturbed.

Afraid of losing any of his cattle, one man angrily mounted guard himself and, with two other men, waited all night for the killer.  Confronted by three men armed with spears and swords, the tiger beat a quick retreat, but not before he had swiftly and savagely struck one of the men.  The victim died of a fractured skull.  By now, the Tiger King, so name for his huge size, had become the most feared and hated creature in the whole valley. There, he reigned supreme.

For quite some time, the Tiger King had had his eyes on a big black buffalo he saw almost every day, pulling the plow in the field for its master.  From behind the grass and bushes of the hill, high above the village, the Tiger King often gazed down at the working team.  But as yet, the Tiger wanted no battle with them.  He thought, “If the big buffalo with his sharp horns seems so strong that I think twice before attacking it, how dangerous and powerful the man must be to remain its master!”

As the days passed the Tiger King became more and more impatient.  Still, instead of going to the field and risking a bloody fight, he was cunning enough to remain hidden and wait for the right moment.

One morning the farmer came to his rice field as usual, but apparently having forgotten something, he disappeared after a moment, leaving his buffalo behind.  From afar, the tiger watched all this.  “I will go and try to make friends with the buffalo,” the Tiger King thought suddenly, “and strike him when he least suspects it.  Then I’ll hide him in the bush,” he thought again, on the way down to the field, “and when the man returns, I will handle him without his buffalo’s help!”

Swiftly, the Tiger King approached the buffalo, trying to look as gentle as he could.  “Listen, friend, I have come with no harmful intentions.  I only want to ask you something which has been bothering me for some rime.”

Although frightened, the good buffalo remained calm.  “Oh, it’s you, friend Tiger!  How nice to see you!  What is this that I can do for you?”

“Well, friend buffalo.” The tiger said, maneuvering himself all the while into a good place from which to leap at the unsuspecting buffalo. “I have been admiring you for a long, long time now.  Your strength!  Your industry!”  The tiger raised his eyes toward heaven.  “How you can ever pull this heavy plow is beyond me.  And the way you work!  From dawn to dusk with but a short, short break at noon!  I think you are wonderful, friend buffalo, wonderful, admirable …”

Despite his fear, the buffalo was pleased.  Here was the Tiger King himself, standing in the mud of the field, praised him, the lowly plow-piller!  But he did not relax his guard.  Every time the tiger moved, he, too, moved.  The Tiger King always found the huge, curved, sharp horns facing him.

“I think you are admirable,” the Tiger King repeated.  “If it were not for your master, the farmer –”

“What of my master, friend Tiger?”  The buffalo inquired, somewhat taken aback.

“Well, now, don’t take offense, friend buffalo. I think you have been letting yourself be injustly exploited by that man.  I don’t know what he would do to pull this heavy plow without your help.  But he treats you badly, very badly.  Go!  Stop!  Left!  Right!  All those orders!  And that bamboo cane in his hand … He whips you every three steps you take!  What a cruel, hard man!  If I were in your place, I would …”

But the Tiger King was interrupted. The buffalo did not like to hear his beloved master abused.

“You are wrong, my dear friend,” he said to the Tiger King.  “The man is as good as he can be.  He has to give orders so I will know where to go.  And his whip is not meant to hurt me!  My skin is too thick for that wisp of bamboo!  Besides, he is kind and gives me food and ahelter.  And, of course, he is my macter because he has intelligence.

“Intelligence!”  interjected the Tiger King, edging closer.  “What’s that?  I have never herad of it before.  What does an intelligence look like?”

Shaking his head, the buffalo faced the tiger with hic horns.  “I don’t know.  I really don’t!  I have never seen it myself.  But I know he has it because people talk about it.  They say that that’s why he is so powerful and clever.  By the way, he will be back any moment now, and you could ask him about it yourself.”

The Tiger King’s curiosity was aflame.  For once he was not as cautions as he should be.  He decided to wait for the man’s return.

As soon as the farmer rounded the corner of the path, he came face to face with the tiger.  But having taught what to do in such a situation, the man knew better than to turn on his heels and run.

“Master!” the buffalo called to him, “Here is my friend, Tiger.  He asks to see your intelligence!  Won’t you please show it ti him?”

The Tiger King chimed in: “Show it to me, Farmer!  I want to see it, just for once. Is it true that it helps you to be clever and powerful? Why then haven’t I got it?”

Completely recoved now from the initial shock, the farmer threw his hands up:  “Well, well, good morning Mister Tiger, sir!  Why in heaven didn’t you come a bit earlier, before I went home to fetch my lunch?  I certainly would have brought my intelligence back to show you.  It’s too big and too heavy to carry around you know!  I always leave it at home.”

The tiger was thoroughly disappointed.  But his disappointment did not make him forget the the real reason he was there was to assault both buffalo and man.  Now that he was seeing them at close quarters, they didn’t look as big and dangerous as they had from afar.  “Perhaps I could try to take them on right here and now,” the Tiger King thought, and his tail began to quiver as it always did before an attack. … But quickly the farmer said to the tiger:   “Oh, all right, all right!  Don’t look so miserable, sir!  Since you came here all the way from the jungle, I don’t want you to go back without having seen it.  I’ll return in a moment.”  Thereupon the farmer turned on his heel and started home.  But before going to a dozen feet, he retraced his steps hurriedly and said to the tiger. “But look here!  To oblige you I’m willing to go all the way home to get my intelligence. But I don’t want to leave you alone here with my buffalo.  Who would help me plow my fields if you ate up my buffalo?”  The tiger protested vigorously that he had no intention of doing so, but the farmer was adamant and refuse to leave.

Suddenly the man slapped his thigh triumphantly.  “Well, if you want to see my intelligence so much, why don’t you let me tie you up to this tree here?  Then I wouldn’t worry about my buffalo.”

The Tiger King looked at the man, then at the buffalo, then back at the man, then back at his buffalo.  More than ever, they seemed so mild, so humble to him.  Now that his master was back, the buffalo was behaving in his usual docile, gentle way.  He was standing there with his head slightly bent down, his eyes thoughtful and sad.  “And the farmer!  That puny man!” thought the Tiger King.  “I have to see this fellow’s intelligence.  I will take it from him and then I will kill and eat them both.”  Having made up his mind, the Tiger King agreed to the farmer’s proposal.

Making the tiger stand upright against the trunk of a nearby tree, the man began to encircle the animal with yards of strong rope.  No sooner was the final knot tied than the farmer quickly unfastened the heavy plow from his buffalo, and with all his strength started to beat the captive tiger who roared in pain and fury.

Finally, maddened to the extraordinary strength, the Tiger King managed to get one of his hind feet against the tree and in one incredible push broke the strong binding rope.  But instead of turning upon his intended victims, he ran desperately for his life.

*

The tiger has never looked the same.  Having struggled so hard to free himself, he forced the rope to sear his fur, burning dark lines all over his body.

Because he knows now what man’s intelligence is, the tiger has become an even more treacherous and bitter enemy, an eternal “man-eater.”  Never again will he dare come down from his mountain lair in daylight to molest the domestic beasts or their masters.  His marred fur is always there to remind him of man’s cunning.

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Chỉ vì…

Thuyên Lam ngồi thừ trước thau quần áo đầy ngộn. Không khí ngột ngạt, oi bức khiến cô cảm thấy khó thở và mệt mỏi. Lam ngước lên hít vài hơi thở sâu rồi lại cúi xuống với công việc của mình. Tiếng con Bi Sắc sủa vang làm cô giật mình. Chống tay vào đầu gối lấy đà, Lam đứng dậy đi ra mở cửa. Cánh cửa vừa bật ra, Vi Hạ như một cơn gió ùa ào nhà, cùng lúc cái loa thường nhật của cô họat động tích cực :

_ Thuyên Lam, đóan thử xem, tao mua cho mày cái gì đây ? Có cả quà cho tụi nhỏ nữa nè, à mà tụi nó đâu hết rồi ?

Lam vừa cười vừa lắc đầu :

_ Mày thiệt. cái tánh chắc đến chết vẫn còn nguyên, mở miệng là ào ào, không kịp trả lời mày cho dủ nữa đó.

Vi Hạ cười :

_ Thì cái bản tính của tao là vậy rồi, khó bỏ lắm mày ơi ! Mày không nghe người ta nói “ Người chết cái nết vẫn còn “ à ? Mày đang làm gì đó ? Làm gì thì cũng bỏ đó đã, ngồi chơi với tao, có đến hai năm rồi tụi mình mới gặp lại nhau, phải không Lam ?

Lam kéo ghế ngồi xuống đối diện với Vi Hạ.Với tay lấy bình nước trà cô rót mời bạn. Vẫn Vi Hạ với một trường âm sắc của mình :

_ Sao ? Tụi nhóc vẫn khỏe hả ? Tố Nga có thi đậu đại hoc không ?

Thuyên Lam thóang buồn khẽ nói :

_ Cháu nó nghỉ học rồi.
_ Cái gì ? Cháu nó học giỏi lắm mà, sao dể nó nghỉ học, uổng vậy ?

Lam nhìn bạn không giấu vẻ u uẩn :

_ Tao không đủ khả năng cho nó học tiếp, mày thấy đó, nó còn bốn đứa em vẫn còn di học cả, tao chạy ăn cho chúng còn vất vả, làm sao lo đủ chi phí các khỏan. Con bé có hiếu lắm, nó thấy tao cực quá nên đòi nghỉ học ở nhà phụ má.

Vi Hạ thở dài đánh sượt :

_ Hồi đó tao nói mà không nghe, đẻ cho cố vào.

Thuyên Lam khổ sở :

_ Mày đừng trách tao chứ Hạ. Tao có muốn đâu, tại ổng cứ muốn tao sanh cho được một thằng con trai, thế mà tòan thị mẹt.
_ Lão muốn thì bảo lão đẻ. Sao ông trời không đày các lão làm đàn bà thử xem, có còn lên giọng được không ? Chỉ biết cho thỏa cái lòng mình, vợ khổ mặc vợ, đàn ông thật là quá ích kỷ.
_ Mày chưa phải làm vợ, mày nói cứng được, chứ vào lồng rồi không nói cứng được thế đâu, không thuận tình thí sớm tan cửa nát nhà thôi

Vi Hạ bỗng nhìn Lam chăm chú rồi gặng hỏi :

_ Nói vậy có nghĩa là mày đang hạnh phúc ?

Thuyên Lam chợt bối rối, cô vội quay đi, giọng lấp liếm :

_ Ừ thì tao vẫn hạnh phúc đấy thôi.
_ Đừng giấu tao Lam à, mày nên nhớ cái nghề của tao là giỏi bắt mạch tâm lý lắm đó nha.
_ Ưm…ừ thì cuộc sống mà, có ai được cái gì là tòan vẹn đâu, cũng phải có lúc này lúc khác chứ. Mà thôi, mày đừng có tra gạn tao nữa, ở lại ăn cơm luôn nhé ?
_ Thôi thôi, tao ăn rồi. Suy cho cùng chỉ sống độc thân như tao là khỏe, chẳng phải chiều lụy ai, chẳng phải lo nghĩ gì, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, không ai điều hành được mình hết.
_ Bây giờ còn trẻ thì thế, chứ mai mốt về già, không có con cái nó chăm sóc lúc đau lúc ốm, khi đó mới biết khổ đó nương à.

Vi Hạ xua tay , bật mấy câu thơ ứng khẩu :

    Chồng là nợ con là nần
    Rước vạ về làm khổ cái thân
    Quẩn quanh cứ hết cơm lại áo
    Xó bếp vùi lâu cũng thành đần

Đọc xong Vi Hạ nói :

_ Mỗi người có môt quan niệm riêng về cuộc sống, Chưa chắc mày đúng, không hẳn tao sai, quan trọng là có tìm được cho mình sự dễ chịu ha không. Con cái ư ? có thì cũng tốt, nhưng thử hỏi, khổ sở mấy chục năm ròng, mong nhờ chúng vài năm về già chắc đã được. Mà cũng chẳng có ai trên đời này sinh con để mong chuyện nhờ con cả. Nuôi chúng lớn khôn, chúng tự lo đựoc cho bản thân chúng đã là phước đức lắm rồi. Chuyện tạo hoá thì cứ đời nọ tiếp đời kia vậy thôi. Còn tao, tao tính rồi, thời đại bây giờ ngày càng dịch vụ hoá, cứ vào khoảng sáu mươi tuổi, đóng một cục vào một Trại dưỡng lão hay một dịch vụ y tế nào đó, khoẻ thì đi chơi, ốm về đấy nằm họ có nhiệm vụ phải chăm sóc, lại là chăm sóc tốt nữa, rồi làm luôn một cái giấy hiến xác, khi đến lúc có người đến dọn. Thế là khoẻ, chẳng phải cậy nhờ, phiền hà ai.
– Nếu thế được thì quá tốt, chắc tao cũng làm vậy cho khoẻ thân.
– Giờ mày gông trên xiềng dưới vầy rồi, làm sao được mà làm.

Thôi, mỗi người mỗi cảnh mỗi suy nghĩ. Có điều, làm gì thì làm, mày cũng phải chú ý đến sức khỏe một chút. Dạo này mày ốm đi nhiều đấy, lão Nhất Tiêu không bồi bổ gì cho vợ sao ?

Thuyên Lam né tránh đôi mắt bạn :

_ Tao vẫn khỏe re việc gì phải bồi bổ.
_ Ủa mà lão đâu ? Buổi trưa không về nhà ăn cơm à ?
_ Chắc hôm nay có cuộc nào đó vói anh em, chứ mọi ngày vẫn về nhà ăn cơm mà.
_ Mày mà không chỉnh đốn lại tòan diện coi chừng mất chồng đó nha. Đàn ông vốn mắt to hơn lòng mà, Nhất Tiêu lại đang rất phong độ nữa Thôi, ghé thăm mày một chút, giờ tao di đây, hôm nào rảnh rỗi rủ mày đi sắm ít đồ nhé.

Vi Hạ nói xong thì vội vã đứng dậy, cô không để ý thấy mặt bạn vừa tái đi. Lam tiễn bạn ra cửa, nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn của bạn mà thở dài “ Ngày xưa mình vẫn tự hào là hơn nó, bây giờ thì…”

Gửi xe xong, khóac cái túi thổ cẩm lên vai, Vi Hạ thong dong bước vào khu chợ. Dãy hàng quần áo ngày chủ nhật đông tấp nập, sắp đến Giáng sinh rồi mà. Vi Hạ muốn mua cho mẹ con Thuyên Lam ít bộ đồ mới, tội nghiệp những dứa trẻ, quần áo cứ chuyền từ đứa này đến đứa khác. Tiêu chuẩn hàng năm mỗi đứa chỉ có hai bộ đồ mới mà Lam còn không dám mua lọai vải tốt, ngay cả bản thân Lam cũng chỉ quanh quẩn vài cái somi đã bạc, Hạ thấy thương cho bạn quá. Ngày xưa Lam là một khối nam châm của các chàng, một trong những hoa khôi của trường Tổng hợp, Hạ cũng đã ngầm ghen tị, thế mà giờ…Đã vốn ngại chuyện hôn nhân, thấy cuộc sống của Lam, Hạ càng sợ. Len trong dòng người một lúc, Vi Hạ chọn được một số vừa ý, đang đứng chờ người bán hàng gói lại, chợt Hạ nghe mọt giọng nói quen quen :

_ Em thích cái áo này không ? Anh thấy có vẻ hợp với em đó.
_ Nhưng màu này trông già quá anh ạ .

Nhìn về phía phát ra tiếng nói ấy, Vi Hạ sửng sốt :

_ Anh Nhất Tiêu …

Cặp mắt cô mở to hơn khi thấy người phụ nữ đi cùng Nhất Tiêu không phải là Thuyên Lam. Nhất Tiêu giật nảy người khi nhìn thấy Vi Hạ, mặt anh ta tái đi, lắp bắp :

_ Ủa…Vi Hạ đi chợ hả ?

Hạ không trả lời mà nhìn chằm chằm vào mặt Nhất Tiêu, làm anh ta càng lộ rõ vẻ luống cuống bất an. Nhìn thấy gói hàng mà người bán đang trao vào tay Vi Hạ, Nhất Tiêu hỏi cho có chuyện :

_ Hạ mua đồ cho ai mà nhiều thế ?

Đã hiểu ra vấn đề nên Hạ xẵng giọng :

_ Tôi mua để tặng vợ con anh đấy, tội nghiệp những đứa bé, chúng không có diễm phúc được chăm sóc.

Biết tính Vi Hạ, Nhất Tiêu cố nén :

_ Cảm ơn cô, thôi tôi đi trước nhé .
_ Khoan, anh chưa được đi, khi chưa giới thiệu cho tôi biết người bạn mới của anh là ai, để tôi được hân hạnh làm quen chứ ?

Cô gái đi cùng Nhất Tiêu có ý ngượng, vội kéo tay anh ta :

_ Thôi, mình về đi anh, em mệt lắm rồi.

Sẵn bản tánh cương trực, thẳng thắn, lại tức thay cho Thuyên Lam, Vi Hạ đâu dễ dàng dể hai người đi một cách êm thấm như vậy được, cô đứng sấn đến trước mặt cả hai, giọng giận dữ :

_ Nhất Tiêu. Anh là một thằng đàn ông khốn nạn. Ngày xưa anh khó khăn lắm mới lấy được Thuyên Lam, bây giờ hoa héo nhụy tàn, anh đi tìm cái mới. Anh còn có lương tâm trách nhiệm của một thằng đàn ông không ? Còn cô nữa, hẳn cô cũng biết rõ anh ta đã có vợ, vậy sao cô còn ngang nhiên xông vào phá hạnh phúc gia đình người khác, không lẽ cô không tìm nổi một người đàn ông cho riêng mình sao ?

Nhất Tiêu thẹn quá hóa giận, anh ta to tiếng :

_ Cô im đi, cô không có quyền chen vào chuyện của tôi. Nể cô là bạn vợ tôi, tôi bỏ qua đó, nếu cô còn nhiều chuyện thì đừng trách..
_ Thì anh làm gì tôi chứ ? Cũng chính vì tôi là bạn vợ anh nên tôi mới phải tốn hơi nhọc sức, nếu không, có các vàng tôi cũng không thèm xía vào chuyện tồi tệ thế này đâu. Anh đừng tưởng anh ngon lành mà hăm dọa tôi. Cái lọai đàn ông như anh khác gì lòai ong, khi còn mật thì rúc đầu vào hút, khi hết mật rồi thì quay ra đốt, anh…

Biết không lại nổi cái miệng Vi Hạ, lại thêm xung quanh những người hiếu kỳ đang đông dần. Nhất Tiêu kéo vội cô gái đi, không nói lời nào nữa. Vi Hạ cũng quày qủa đi ra chỗ gửi xe.

Thuyên Lam nước mắt giàn giụa, đôi vai rung lên từng hồi. Vi Hạ vẫn chưa nguôi cơn giận :

_ Không việc gì mà Lam phải khóc vì hắn, cho hắn một trận để hắn biết thế nào là lễ độ, đừng có hiền quá mà để người ta ăn hiếp.

Lam nghẹn ngào qua dòng lệ :

_ Vô ích thôi Hạ à, để làm gì cơ chứ, mình không đáp ứng được điều anh ta mong muốn thì đành chịu thôi…
_ Anh ta mong muốn điều gì ?
_ Một đứa con trai…Thuyên Lam lại khóc nấc lên.

Vi Hạ la lên :

_ Hắn đang ở thời đại nào đây chứ ? Đến giờ phút này mà vẫn còn ra giọng trọng nam khinh nữ à ? Như vậy, hắn không hề xem vợ là một người bạn đời, một người đồng cam cộng khổ vói hắn, mà chỉ là một cái máy đẻ, một thứ dụng cụ để thực thi ý muốn của hắn, một khi không đạt dược ý muốn thì có quyền thẳng tay vứt bỏ sao ? Không được, phải yêu cầu pháp luật can thiệp, không thể để cho những lọai dàn ông đó lộng hành, muốn chà đạp, dày xéo ai cũng được.

Thuyên Lam vội níu ta Hạ nài nỉ :

_ Vi Hạ à ! Tao biết mày vì tao mà tức giận, nhưng tao xin mày đừng làm gì hết, đừng Hạ à…

Hạ trố mắt nhìn Lam :

_ Mày chấp nhận chuyện đó dễ dàng vậy sao ?
_ Tao tin có một ngày anh ấy sẽ trở về. Mày hiểu cho tao, những đứa con tao cần có cha , cho dù chúng nó là con gái nhưng cũng là con của anh ấy , anh ấy sẽ quay về mà …

Nhìn vẻ mặt đau khổ tội nghiệp của bạn, Vi Hạ thừ người ra, ngồi phịch xuống cái ghế gần đó. Cô chợt hiểu chuyện gia đình thật quan trọng với một người phụ nữ, và vì sao người đàn bà lại có thể dễ dàng tha thứ cho chồng, dù họ có phải chịu đựng nhièu thiệt thòi và đau khổ đến đâu. Và Hạ biết, không thể đem tâm trạng và hòan cảnh của mình ra ứng dụng vào người khác được. Cơn giân đã trôi đi, còn lại trong Vi Hạ lúc này là tâm trạng thương cảm và nể phục người bạn gái yếu đuối của mình. Ôm lấy bờ vai gầy guộc của bạn, Hạ buồn buồn nói :

_ Lam đã nói vậy thì thôi, Hạ không ý kiến gì nữa, Lam hãy cố gắng chờ đợi điều Lam muốn, chỉ hy vọng anh ta còn sót lại một chút lương tâm.

Thuyên Lam gạt nước mắt gật đầu :

_ Lam sẽ cố gắng, tin rắng sẽ có ngày anh ấy hiểu ra. Chỉ vì anh ấy là con trai một…

Nhìn Thuyên Lam, Vi Hạ thấy cám cảnh cho cái thân phận đàn bà, không biết đến bao giờ xã hội mới thay đổi được cái định kiến ấy.

Thiên Kiều vừa bước vào nhà liền quẳng cái ví rồi lăn ra giường khóc ngất, Nhất Tiêu cuống quýt dỗ dành :

_ Thiên Kiều, anh xin lỗi, anh xin lỗi mà, tại anh…

Thiên Kiều vùng tay Nhất Tiêu ra hét lên :

_ Anh đi đi, đi ngay đi …tôi nhục nhã quá rồi…
_ Đừng vậy mà em, anh yêu em thật lòng mà, anh chỉ có em thôi, em đừng xua đuổi anh tội nghiệp, nín đi em, nín đi mà…

Thấy dỗ bằng miệng không ăn thua, Nhất Tiêu ôm chòang qua người Thiên Kiều, và mặc cho Kiều vùng vẫy cào cấu đến xước mặt. Nhất Tiêu vẫn cố gắng chiu đựng, lát sau đuối sức, Kiều dừng lại thở hổn hển, Nhất Tiêu hôn nhẹ vào môi cô thì thầm :

_ Thiên Kiều, anh yêu em, anh yêu em sốt đời…

Lòng tự ái của đàn bà được ve vuốt, Thiên Kiêu nằm im, hơn nữa cô vừa nghe cái bào thai trong bụng mình quẫy nhẹ. Thấy Kiều đã chịu yên, Nhất Tiêu mừng rơn, quên cả cái đau bị cào, anh ta âu yếm hỏi :

_ Cưng của anh, hết giận anh rồi phải không ?

Kiều còn giả nư quay mặt đi không nói. Nhất Tiêu tìm môi cô và lần tay vào trong áo cô, buộc cô phải mở mắt ra. Nhìn thấy những vết xước trên mắt Nhất Tiêu, Kiều hốt hỏang:

_ Trời … Anh có đau không ?
_ Không, không đau, chỉ cần em không giận, không đuổi anh là được rồi.

Thiên Kiều lườm dài một cái :

_ Ông thì khéo miệng lắm. Nhưng mà em không chịu nhục như vậy một lần nữa đâu nha, anh làm sao thì làm đó.
_ Yên tâm đi, sẽ không có chuyện đó lần thứ hai đâu.

Kiều chợt lo lắng :

_ Nhưng mà vợ anh…
_ Cô ta không dám động đên một cái lông chân em đâu, anh không ly dị là may lắm rồi, biết điều còn tốt, chứ làm ẩu thì…
_ Sao nghe nói ngày xưa khó khăn lắm anh mới lấy được chị ấy.
_ Chuyện ngày xưa thì nghĩa lý gì chứ. Có thế nào đi nữa mà không sinh cho anh được thằng con trai thì cũng vứt đi.
_ À, vậy ra chỉ vì thằng con trai mà anh mới đến với em, nếu em cũng sinh con gái thì sao ?
_ Bậy nào, em khác chứ. Em trẻ trung đáng yêu, lại có trình độ, học thức, chứ đâu có nhếch nhác như cô ta. Nưng anh chắc chắn em sẽ sinh con trai mà. Đừng lo.
_ Người ta đã phải sinh nở và lo toan cho năm đứa con, thì làm sao bì với em được. Em mà thế thì cũng có khác gì đâu.
_ Thôi không nói chuyện đó nữa, mệt óc. Giờ tới chuyện mình nè ..
_ Á …anh từ từ thôi…

Nhất Tiêu tái mặt khi nghe trưởng phòng hành chính kêu lên kiểm tra ngân quỹ. Một lỗ hổng khá lớn đủ để Nhất Tiêu đếm lịch vài năm. Lổ hổng đó lâu nay biến dần thành những thứ vật dụng đắt tiền trong nhà Thiên Kiều Mồ hôi nhỏ giọt Khi Nhất Tiêu đến gần cánh cửa trưởng phòng, đôi chân như muốn trì lại. Trong ba mươi sáu chước chỉ có một chước hay. Anh ta bỗng quay người bỏ chạy thật nhanh. Tông cửa đánh rầm, Nhất Tiêu lao vào nhà gọi váng :

_ Thiên Kiều…Thiên Kiều…nguy rồi…

Chợt Nhất Tiêu đứng sững nơi phòng ngủ, Thiên Kiều đang nhìn anh ta bằng đôi mắt đờ đẫn, trong tay cô là một tờ giấy. Không có thời gian đẻ hỏi, Nhất Tiêu giật mảnh giấy đưa lên mắt. Đó là tờ giấy siêu âm, hai chữ “Con gái” đập vào đầu anh ta như một nhát búa tạ. Nhất Tiêu từ từ khụy xuống, hai tay ôm đầu bất động …

Thiên Kiều chưa kịp định thần thì ngòai cửa có tiếng bước chân nhiều người, tòan thân cô như tê liệt khi những người mặc cảnh phục đọc lệnh bắt và xốc Nhất Tiêu lên lôi đi.

_ Nguyễn Vũ Thuyên Lam.

Nghe đến tên, Thuyên Lam vội bảo các con :

_ Đến phiên mẹ con mình vào thăm ba rồi kìa.

Nhất Tiêu bàng hòang khi nhìn thấy vợ và năm đứa con gái tay xách nách mang vào thăm nuôi. Cổ họng anh ta nghẹn cứng lại, cố gắng lắm anh ta mới có thể giữ được bình tĩnh, nhưng vẫn không thể mở miệng nói được lời nào. Thuyên Lam nhỏ nhẹ :

_ Anh đừng lo lắng nhiều, yên tâm cải tạo tốt , thời gian sẽ qua mau thôi.

Nhất Tiêu cúi đầu, những giọt nước mắt đàn ông rơi xuống. Lam lại nói :

_ Em và các con luôn chờ anh trở về.

Tố Nga , cô con gái lớn gọi anh :

_ Ba ơi ! Tui con nhớ ba lắm, ba mau về với tụi con nha ba.

Ngước mắt nhìn những đứa con vô tội, Nhất Tiêu nghẹn ngào :

_ Ba xin lỗi các con…chỉ vì…

Đàm Lan

Bài Đồng Dao Gọi Nắng

Chào các ban,

Hôm nay Ngọc Hoa hân hạnh giới thiệu đến các bạn nhà văn Trần Huiền Ân ở Phú Yên, với Bài Đồng Dao Gọi Nắng, trích từ cuốn tạp bút MÂY TRẮNG DINH PHOAN do nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành.

Trần Huyền Ân có thơ in riêng từ 1967 (ông sinh năm 1937) và đến nay có cả thảy 11 tác phẩm gồm thơ, truyện, biên khảo…

Hân hạnh chào đón nhà văn Trần Huiền Ân vào Vườn Chuối vui chơi cùng các Chuối.

Chúc mọi người một ngày tươi vui!

Tôn Nữ Ngọc Hoa

.

BÀI ĐỒNG DAO GỌI NẮNG

Trần Huiền Ân

Thật ra không một bài đồng dao nào có tên. Nhưng chẳng lẽ khi sưu tập gọi là “Bài không tên số 1, số 2 v.v…”, như vậy e mang tội “đạo đề” các nhạc sĩ, nên tôi tạm đặt cho mỗi bài một tên.

Bài này tạm mang tên Gọi nắng. Lúc nhỏ chúng tôi thường đọc nghêu ngao vào mùa đông, những ngày mưa dầm vừa dứt, trời bắt đầu hanh nắng, cái nắng rất nhẹ, màu vàng nhạt yếu ớt và như sẵn sàng tắt ngay khi gió đến. Đọc như là để khuyến khích thúc giục ông Trời nắng lên, hứa hẹn đem lại cho ông Trời một số điều lợi.

Nắng ông nắng, nắng ông nắng
Bắt cá trắng con ông ăn
Cất nhà con ông ở
Chừa cửa sổ con ông chun
Trải chiếu bông con ông ngồi.

Tìm hiểu nghĩa theo câu chữ thì:

– Nắng ông nắng: có tính cách một lời khuyến khích “Hãy nắng lên, ông Trời, nắng lên”.

– Bắt cá trắng con ông ăn: Cá trắng là món cá đồng ở thôn quê. Về màu sắc có phân biệt: cá trắng rằn vảy màu rằn và cá trắng chỉ có một đường đậm giữa thân. Cá trắng kho với nghệ, lá gừng, là món ăn mặn mà ngon miệng trong tiết đông. Ông Trời cũng như người đời, cưng con, nên những lời hứa hẹn này đều nhắm vào con ông Trời. Bắt cá trắng cho con ông Trời ăn chớ không phải để mời ông Trời. Ai bảo trẻ con thôn quê khờ dại? Rõ ràng là sành tâm lý quá đi chứ!

– Cất nhà con ông ở: Ông Trời là bao trùm thiên hạ, có cõi trời, nhà trời, cổng trời, cửa trời, đèn trời, màn trời… đủ hết, nhưng không nghe con ông có gì cả. Đâu thấy ai chỉ nhà của con ông Trời ở chỗ nào? Mấy anh uống rượu khi say huênh hoang nói dóc:
Hiu hiu gió thổi đầu non.

Mấy thằng uống rượu là con ông Trời.

Nhưng mấy thằng đó làm sao là con ông Trời được? Dân gian nào biết vua là “thiên tử”! Phải chăng dân gian không hề có ý niệm con ông Trời là đấng uy nghi đường bệ, chỉ tưởng tượng con ông Trời là ông Trời con, phá gia chi tử, chẳng biết chuyện nhà cửa thế nào? Vậy thì hứa hẹn cất nhà cho con ông Trời ở là đúng.

– Trải chiếu bông con ông ngồi: Thông thường người dân thôn quê chỉ dùng chiếu trơn, không có in chữ nghĩa hoa văn gì. Chiếu bông (chiếu hoa) để dành khi có đám giỗ, trải lên phản bày mâm cỗ dâng cúng và khi có khách quý đến nhà. Được ngồi trên chiếu bông là người đem đến niềm vinh dự cho gia chủ, được đón tiếp trang trọng. Trải chiếu bông mời con ông Trời là hợp lý.

Thế còn chuyện: Chừa cửa sổ con ông chun? Tại sao con ông Trời không đi cửa chính mà thích chun cửa sổ? Bởi vì con ông Trời là Tia Nắng. Những ngày trời động ta thường đóng chặt cửa sổ, khi mưa tạnh gió tan rồi cửa sổ được mở toang cho ánh nắng ấm áp tràn vào nhà, đem lại niềm vui cho mọi người. Như vậy trong những điều hứa hẹn, có điều là dựa theo sở thích của con người (ăn có món cá trắng, ở có nhà đàng hoàng, ngồi chơi trên chiếu bông), chỉ riêng điều này mới thật sự dành riêng cho con ông Trời: chừa cửa sổ để Tia Nắng chiếu rọi vào nhà. Có thể tia nắng ấy chiếu rọi lên mặt chiếc chiếu bông lâu nay hơi ẩm mốc vì xếp lại vừa được trải ra.

Nắng cuối mùa đông là nắng chuyển sang xuân. Ánh nắng ba tháng mùa xuân như công ơn ông bà cha mẹ rọi xuống nuôi xanh từng ngọn cỏ. Thơ Mạnh Giao bên Tàu:

Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đáp tam xuân huy?

Và truyện Kiều:

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn
Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Từ bài đồng dao ngô nghê liên hệ đến văn chương bác học của các đại gia, ta hiểu được giá trị của Tia Nắng mùa đông. Đây mới thật đúng là con ông Trời, gần gũi, thân mật đem lại cho chúng ta sự ấm áp. Chúng ta hãy cùng mở rộng những khung cửa sổ tâm hồn để đón chào những Tia Nắng.

Cái thâm thúy bình dân phải chăng ở đó?

Lộc Xuân

Rời nhà cô Lan Mai ba chân bốn cẳng chạy. Không phải vì sợ đêm như đang nuốt chửng vóc hình nhỏ nhắn của em bằng bóng tối đêm ba mươi kỳ bí càng kỳ bí hơn với những đốm nhang lấp lóe ở cổng nhiều nhà. Không phải vì ngọn gió cứ chực ném ngược em về phía vừa ra đi. Em nôn nóng về mau với mẹ để còn kịp đi chợ hoa tết trước khi người ta thu dọn và cũng vì một lý do khác nữa.

Đây không phải là lần đầu Mai đi một mình trên đoạn đường này khi mọi người quây quần trong nhà . Mỗi chiều sau giờ tan học,Mai đều ghé lại hiệu tạp phẩm của cô Lan để trông nhóc Bi chừng ba tiếng đồng hồ. Bi lên ba, là đứa con hiếm muộn nên vợ chồng cô hết sức cưng chiều. Cô không cho Bi đi nhà trẻ như mọi gia đình. Cô cũng không nhờ bà nội hay bà ngoại ở quê lên trông nom mà tự chăm sóc Bi. Cửa hàng cô khá đắt khách nên có hai chị sinh viên thay nhau phụ bán hàng nhưng không ai nhận làm việc buổi tối. Một lần đến mua xà phòng cho mẹ,thấy cô Lan vừa lui tới lấy hàng vừa bón cơm cho Bi. Bị thu hút bởi gương mặt kháu khỉnh của thằng nhóc Mai đã giành việc. Thật bất ngờ. Bi mến Mai lạ lùng. Chú bé cười ngặt nghẽo khi Mai trêu đùa, há miệng ăn liên tục. Khi Mai ra về Bi khóc đòi theo

Từ đó mỗi chiều trên đường đi học về Mai đều ghé lại chơi với Bi một lúc. Việc này khiến cô Lan nảy ý nhờ Mai trông Bi từ năm rưỡi đến tám rưỡi là lúc chú Hùng chồng cô trở về từ phòng mạch nha khoa của chú, cũng là lúc cô phải đóng cửa tiệm lo cơm nước cho cả nhà. Cô chịu các khoản đóng góp ở trường nơi Mai đang học lớp bảy.

Được mẹ đồng ý Mai trở thành bán thành viên trong gia đình cô Lan. Tối nay khách mua tấp nập. Cô Lan không ngớt tay. Khi nhìn lại đồng hồ thì đã chín giờ. Bi vừa thiếp ngủ trong chiếc nôi xinh xắn. Kéo Mai lại gần, cô khoác lên vai em chiếc áo ấm kiểu mới đỏ thắm cười bảo “ Của cháu đây. Quà thưởng học sinh giỏi học kỳ một và cả thành tích chăm em Bi nữa nhé.”

Không giấu nỗi niềm vui Mai sung sướng cảm ơn cô Lan rồi vù chạy về với chiếc áo em hằng ao ước. Món quà của tin cậy, quí mến. Món quà khiến chân Mai như khoẻ hơn, chạy không biết mệt.

* * *

Nhưng mẹ vẫn chưa về. Mai lo lắng. Em hết lau chùi tấm ảnh ba trên bàn thờ,thắp nhang thì thầm khấn vái lại quay ra lau dọn cái bàn gỗ đã sạch, rửa mấy cái cốc đã trong vắt rồi vuốt mãi tấm giấy khen mới nhất trên tường. Sao mẹ lâu vậy nhỉ?

Thường ngày mẹ về sau Mai chừng non tiếng đồng hồ. Hôm nay Mai về trễ hơn do cô Lan chiều khách muộn mua hàng tết.Cô bảo “Chắc vì ít tiền, phải cân nhắc lắm họ mới mua giờ này. Mình chịu khó để người ta được có tết”. Mai thấy tính thương người của cô giống mẹ nên em chẳng nài hà gì. Hay mẹ đã xong việc và đang đi mua hoa vạn thọ. Vậy là không cho Mai cùng đi như đã hứa. Thế thì phải giận mẹ mới được. Ồ. Không. Giận mẹ sao đành. Mẹ thương Mai lắm mà. Mỗi sáng mẹ dậy sớm, khảo bài cho Mai, đôi khi giảng giải thêm nhất là môn văn học. Có mẹ gợi ý Mai làm bài tập làm văn dễ và hay hơn. Lúc nào phát bài cô Thảo đều đem bài của Mai đọc cho cả lớp nghe. Bạn bè thầm ước được như Mai. Mai phục mẹ lắm. Làm lụng vất vả như vậy mấy khi được đọc sách báo mà mẹ sửa lỗi chính tả cho Mai chính xác không kém gì cô giáo. Mẹ còn thuộc cả một số bài thơ Mai đang học.

Có lần Mai hỏi thì mẹ bảo ngày xưa ông ngoại muốn mẹ học thật giỏi, thi đậu vào trường sư phạm và chính mẹ cũng mong vậy nhưng do ông ngoại buồn phiền vì cậu Tường ham chơi bỏ nhà đi biệt đã lâm bệnh nặng mẹ phải nghỉ học chăm sóc ông ngoại. Khi ông mất thì kinh tế sa sút hẳn, mẹ đành làm thợ thủ công kiếm sống. Mơ ước của cả mẹ và ông ngoại đă không thể thành sự thực được. Rồi ba mẹ thành vợ thành chồng khi tuổi đã nhiều. Sinh Mai xong họ đưa nhau đến một vùng heo hút của Tây nguyên lập nghiệp với mong ước đổi đời. Ai ngờ Ba lâm bệnh mất đột ngột khi Mai mới lên bốn khiến hai mẹ con chơ vơ. May có người bà con xa tình cờ gặp đã đưa hai mẹ con đến thành phố bán hàng quà rong rồi quay sang phục vụ nước non cho hàng cá hàng rau trong chợ. Tổ phụ nữ nơi hai mẹ con thuê căn phòng tạm trú thấy mẹ là người cần cù chịu khó lại neo đơn nên đã thu xếp hợp đồng làm ở công ty vệ sinh thành phố.

“ Mẹ khổ thật” Mai nói thầm. Càng nghĩ Mai càng thương mẹ, thấy mẹ thật tuyệt. Mai được tới trường, được thầy khen bạn quí là do có mẹ. Sống bên mẹ Mai cũng nhu mì chăm chỉ, lễ phép và hay đỡ đần các bạn chẳng khác mẹ mấy. Mai cũng yêu thiên nhiên cây cỏ như mẹ.

A! Phải rồi. Tối nay mẹ chỉ một mình trên đường Cây bàng . Cô Nên đã nhờ mẹ đỡ tay cho cô vì cô mới làm đám cưới với chú Đắc, cần tỏ bổn phận làm dâu trong dịp tết nhất. Vậy mà chẳng nhớ ra sớm lại còn trách mẹ nữa. Chết thật. Gió thế này lá rụng phải biết. Mẹ ơi ! Mẹ đừng giận, đừng lo. Con sẽ ra giúp mẹ ngay đây mà, rồi mẹ con mình đi mua hoa vạn thọ mẹ nhé.

Đốt thêm nén nhang trên bàn thờ, khép vội cửa Mai lao vụt ra hướng đường Cây bàng không kịp để ý hai người đang lặng lẽ dắt xe đến gần lối nhà mình.

* * *

Tiếng cười nói lao xao làm chị Lý ngừng tay. Dưới ánh sáng hắt từ bóng đèn ở cổng tu viện, chị thấy Seour Tĩnh đang đi ra cùng một tốp người ăn mặc lịch sự. Soeur đang tiễn họ. Khi bóng khách đã khuất, quay sang chị Seour dịu dàng pha chút ngạc nhiên hỏi sao bây giờ chị còn ở đây.

Chị Lý rất quí Seour. Những khi làm ca sáng, xong việc ngoài đường chị tranh thủ thời gian còn lại giúp nhổ cỏ bắt sâu ở các bồn hoa phần sân trước tu viện. Có khi chị xin phép đưa Mai vào để Mai biết thêm một cuộc sống khác, nhất là cây cỏ ở đây. Seour thì mến tính chân chất, nhu hoà, chịu thương chịu khó của chị. Tuy nhiên gặp nhau lúc này là điều không ai nghĩ tới.. Đứng gần cô hơn Soeur hỏi thêm về kết quả học tập của Mai và việc chuẩn bị Tết của hai mẹ con. Chị nhỏ nhẻ thổ lộ nỗi phấp phỏng trong lòng về chậu hoa ngày tết của mình. Với nụ cười bí mật, seour kéo hẳn chị vào trong, băng qua khoảng sân tràn hương hoa đến cuối vườn. “ Con thích chậu nào cứ chọn. Coi như quà muộn cho hai mẹ con. ”Chỉ về hướng trái,seour vui vẻ nói: “ Năm nay có thêm người phụ, tu viện trồng được nhiều hoa hơn. Con cứ tự nhiên. Đừng ngại.”

Vừa nói như khuyến khích, Seour vừa chọn giúp chị chậu cúc vạn thọ vàng tươi, hoa đều như xếp. Chị ngỡ ngàng. Không ngờ niềm vui lại đến trong giờ cuối năm tất bật này. Vậy là ước mơ nhỏ nhoi đã là hiện thực trước mắt. Giấu giọt nước mắt chực trào, chị lúng túng cảm ơn rồi chào tạm biệt. Chị biết Seour cần thời gian để chuẩn bị chầu lễ đón năm mới.

Ôm chậu hoa trong tay chị muốn hét thật to như hồi còn nhỏ được bà nội cho miếng đường phèn nhỏ xíu dành riêng để ông nội uống trà mà cô vẫn thèm thuồng nhưng không dám mè nheo. Cánh hoa cọ vào má êm êm.Mùi hăng hắc quen thuộc của lá bị giập gãy ùa vào khứu giác khiến chị thấy dễ chịu hẳn. Chị kêu thầm “ Mai ơi ! Mẹ con mình có hoa rồi. Không phải đi mua hoa vét nữa. Mẹ sẽ gắng nhanh tay về với con ngay.”

Gió có vẻ bớt. Hàng cây như đang mơ mộng, đang vẫy tay chia vui với chị

Cầm lấy chổi cô hăng hái gom nốt đám lá còn lại rồi thu dọn đồ đạc. Thận trọng đặt chậu vạn thọ lên xe đẩy, chị hăm hở quay xe sau khi đứng nhìn lại với vẻ hài lòng con đường mình vừa chăm chút . Sáng mai đi trên con đường tinh tươm này có lẽ không ai hay rằng một cổ tích nho nhỏ vừa đươc ghi tại đây.

Làn gió nhẹ ùa tới xua nỗi mệt nhọc. Mở khẩu trang vệ sinh, hít thật sâu chị nghĩ thầm “Ngày xưa …”

Đang bồi hồi chị bừng tỉnh với tiếng reo thân thuột “ Mẹ ơi ! ” cũng vừa lúc Mai hào hển lao đến “ Biết mẹ một mình,con đến giúp để còn đi mua hoa nữa mẹ nhé ”,

Tiếng Mai ríu rít. Ánh mắt em rạng rỡ khi bắt gặp màu vàng lộng lẫy của chậu hoa rồi bất ngờ xụ xuống như lá mướp gặp nắng “Con đền mẹ đó. Không cho con ra chợ hoa với. Mới đó mẹ đã quên.”

Vuốt tóc Mai thay lời dỗ dành, chị âu yếm nhìn con và nhận thấy nét vui ngập tràn ánh mắt dù Mai đang dỗi. Chắc con bé sắp giành một ngạc nhiên thú vị nào đó. Kéo kín cổ áo ấm của Mai cô mắng yêu con rồi vừa đi vừa rủ rỉ về gốc tích chậu hoa. Mai sung sướng cười vang cũng để thầm xin lỗi mẹ luôn. Và không nén nỗi niềm vui em khoe mẹ món quà như ý mà em định đến nhà mới “ bật mí ”. Niềm xúc động khiến chị chậm bước lại. Mai ngạc nhiên. Tưởng mẹ không hài lòng vì mình đã nhận quà khi mẹ chưa cho phép, em bối rối hẳn. Hiểu ý con, chị mĩm cười. Mai mừng thầm, đẩy nhanh xe cho mẹ. Mãi chuỵện hai mẹ con rẽ sang lối nhỏ vào nhà lúc nào không hay.

* * *

Từ ngoài ngõ họ hoảng hốt khi phát hiện có hai bóng đen vụt nhô lên từ ánh sáng lờ mờ. Mai thét lên sợ hãi: “Mẹ ơi. Có ma” vừa ôm cứng lấy mẹ.

Trời đang lạnh mà hai mẹ con túa mồ hôi. Thu hết can đảm chị Lý siết chặt Mai như một sự bảo vệ, nhìn trân trân. Ma thì không tin nhưng kẻ gian thì có thể. Cô run rẩy gần như muốn quị xuống.

“ Nên đây Lý ơi, cả anh Đắc nữa.”

Một trong hai “ con ma ” lên tiếng giải thoát nỗi sợ hãi đang thít lấy hai mẹ con.

“ Chao ôi !Suýt nữa chết khiếp. Sao không ở nhà cúng giao thừa mà tới đây. Lại đi cả hai người, cụ ở nhà một mình sao được ”.Thở phào sung sướng, chị Lý xởi lởi chào bạn như khoả lấp nỗi ngượng vì sự yếu bóng vía của mình vừa mở cửa. Giúp đẩy xe vào mé hiên trái,cô Nên hồ hởi “Xong hết rồi. Bà cụ còn giục nữa đó. Ui chao ! Hoa đâu đây ? Cũng kịp ra chợ hoa nữa à ? Mà sao giống nhau thế này. Anh Đắc ơi đến mà xem ” .

Kịp mặc chiếc áo ấm đỏ thắm mới tinh Mai ùa ra và hớn hở reo lên khi chú Đắc nghiêng người để lộ chậu vạn thọ “ Mẹ ơi ! Đẹp quá. Giống nhau quá, như anh em sinh đôi. Chắc do một người trồng thôi”.

“ Mai ơi! Để mẹ cháu nghỉ ngơi tí. Áo mới đẹp quá. Cô chú có cả quà cho cháu nữa đấy. Lại đây nào. ” Chú Đắc âu yếm gọi Mai.

* * *

Thì ra hai chậu hoa do cùng một người trồng thật.

Tu viện đường Cây bàng là nơi chú Đắc nhận chăm sóc cây cảnh. Sẵn đất còn trống chú xin phép Seour Tĩnh trồng thêm ít hoa vạn thọ. Không ngờ được thời tiết ủng hộ, góc sau của tu viện trở thành thảm hoa vàng lộng lẫy. Seour cho chú quyền được sử dụng một nửa. Chú đem tặng xóm giềng và người thân. Hôm qua nghe vợ trầm trồ về sở thích và ý định của mẹ con Mai, chú đã chọn chậu nhiều hoa nhất giành lại. Bây giờ hai chậu vạn thọ đầm ấm đứng bên nhau khác nào tình cảm của họ. Rốt cuộc mỗi người đều được hưởng niềm vui, niềm hạnh phúc. Càng thú vị hơn khi niềm vui toả từ những gì mình dành cho người khác. Được thấu hiểu, được sẻ chia thì dù một biểu hiện nho nhỏ cũng làm ấm lòng, càng quí hơn giữa lúc năm cùng tháng tận. Không ai bảo ai, ba người lớn miên man …

Mai phá tan không khí đột nhiên chùng lại bằng giọng sôi nỗi khiến họ cười vang “ Mẹ ơi ! Chừng nào cô Nên với chú Đắc có em bé mẹ cho con sang bế nhé.” “Còn cô chú sẽ là ba mẹ thứ hai của Mai được không?” Chú Đắc trìu mến kéo Mai vào lòng, nhìn sang vợ chờ ánh mắt đồng thuận. “Vậy con sẽ gọi chú là ba Đắc và cô là má Nên, phải không mẹ?” Mai liếng thoắng.

Tiếng cười của họ quyện trong không khí ấm cúng tạo nên mối giao cảm tốt lành giữa trời đất và con người khiến khoảnh khắc giữa năm cũ và năm mới trong căn phòng nhỏ bé tuềnh toàng trở nên lung linh.

“ Sau giao thừa cả bốn người mình cùng đi hái lộc xuân nhé.”

Cô Nên cao giọng đề nghị.

“Ấy ! Đừng cô ơi. Cô giáo con bảo ai cũng đua nhau hái lộc đầu năm như vậy thì sẽ không còn vẻ đẹp và sự sống cho cây trong phố nữa.” Mai giẫy nẫy. “Phải đó” chị Lý hưởng ứng con gái. “Vả lại hai chậu hoa và cả chiếc áo đẹp này chính là lộc rồi còn gì ” Vẫy Mai sang đứng giữa sắc vàng chị tiếp lời. “Cả Mai nữa chứ. Mai là cành lộc đẹp nhất của mẹ Lý, mẹ Nên và ba Đắc. Mình sẽ chăm cho chồi lộc này vươn thành muôn cành xanh tươi. Mọi người đồng ý với tôi không?” Chỉ vào Mai chú Đắc nói giọng hân hoan.

Tiếng pháo tay hưởng ứng giòn giã nỗ cùng lúc chuông các chùa và nhà thờ trong
phố vang lên.

Năm mới đã sang .

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Hai Đứa Trẻ

Thằng bé đội một cái mũ ngược vành ra đằng sau, vai đeo một cái bao, tay cầm một cái móc dài đang lui cui bới trong thùng rác cạnh hông nhà con bé. Con bé đang ngồi hý hóay hộp con số đồ chơi, bất chợt quay nhìn thấy, nó vội chạy ra hét tóang :

_ Mày làm cái gì đấy ?

Thằng bé giật mình, nhưng khi nhìn thấy người vừa quát chỉ trạc tuổi thì nó không sợ hẵi mà khinh khỉnh :

_ Tao lượm đồ.

Con bé ngạc nhiên :

_ Tòan là rác vứt đi, có gì mà mày lượm ?
_ Có chứ , như cái này này…

Vừa nói nó vừa giơ lên lon sữa không mà mẹ con bé vừa vứt vào khi sáng. Con bé nhíu mày :

_ Thế mày nhặt cái ấy để làm gì ?
_ Để bán lấy tiền, cả cái này nữa này. Nó lại giơ lên một cái vỏ lon bia.
_ Những cái ấy có bán được nhiều tiền không ?
_ Cũng được mấy trăm.
_ Hay nhỉ ! Tòan là đồ vứt đi thế mà cũng bán dược tiền. Thế còn những cái gì bán được nữa ?
_ Vỏ chai bia, những cái túi lylon cả những thứ bằng nhựa nữa, nhiều lắm thấy mới nói được.

Con bé như chợt nhớ ra thứ gì, nó chạy vù vào nhà, một lúc chạy ra, tay cầm cái bô
nhựa đã cũ, chìa vào mặt thằng bé :

_ Mày có lấy cái này không ?

Thàng bé tóet miệng cười :

_ Lấy chứ, của mày ngồi ị hả ?
_ Ừ , nhưng mà tao lớn rồi, tao không ngồi nữa. Con bé cũng cười
_ Thôi tao đi nha.
_ Mai mày lại đến nhé, tao xem có cái gì, tao cho mày.
_ Ừ

Con bé tần ngần nhìn theo thằng bé vừa đi vừa bỏ cái bô vào cái bao cũng bẩn thỉu như bộ quần áo nó đang mặc trên người.

Thằng bé vừa lấp ló bên trụ cổng, con bé đã hớn hở chạy ra, nó đưa cho thằng bé cá một túi lylon lớn đựng đầy những thứ đồ chơi bằng nhựa, cùng những chiếc vỏ chai mà mẹ nó vứt trong góc bếp từ lâu. Thằng bé vui mừng hỏi :

_ Sao mày có nhiều thế ?
_ Tao tìm được hôm từ qua cơ. Mày vào đây chơi với tao đi.
_ Cổng khóa thế này làm sao tao vào được ?

Con bé nhìn quanh rồi reo lên :

_ A, có một chỗ này, mày chui vào dược không ?

Thằng bé gật đầu, nhưng vừa vạch chỗ chân rào ra, nó chợt dừng lại :

_ Thôi tao không vào đâu.
_ Sao thế ?
_ Sợ bố mẹ mày lắm.
_ Bố mẹ tao đi làm hết rồi, đến trưa mới về cơ.

Thăng bé nghe vậy thì chui tót ngay vào. Nó bỏ cái bao xuống, ngơ ngác nhìn quanh vẻ thèm muốn, nó chép miệng :

_ Nhà mày đẹp quá !
_ Thế nhà mày không đẹp à ?
_ Tao đâu có nhà.
_Thế mày ở đâu ?
_ Ở cửa rạp chiếu phim ấy. Nhưng mà tới chừng người ta hết chiếu phim mới có chỗ ngủ – Giọng thằng bé bỗng vui hơn – Nhưng mà tối nào tao cũng được xem phim không mất tiền.
_ Không mua vé làm sao vào được ?
_ Chú bảo vệ dắt tao vào.
_ Sao bố mà không mua nhà cho mày ?
_ Tao không có bố, tao chỉ có mẹ thôi.
_ Thế mẹ mày có đi làm không ?
_ Không, mẹ tao đi bán vé số đến tối mới về. Thôi tao đi đây.
_ Mai mày lại đến chơi với tao nhá.
_ Ừ, mai tao lại đến.

Con bé bẻ đôi chiếc bánh mì đưa cho thằng bé một nửa, nói :

_ Mày ăn đi, mẹ tao cho tao, tao để dành chờ mày đó.

Thằng bé cầm ngay nửa bánh cắn một miếng to, nhai nhồm nhòam rồi tấm tắc :

_ Bánh ngon quá, sao mày không ăn đi ?
_ Tao uống sữa rồi nên không đói, mày ăn nữa không ?

Thằng bé đã nhanh chóng ngốn hết phần bánh của mình, nghe bạn hỏi, nó gãi đầu ậm ự …

_ Tao…tao…
_ Mày còn đói chừ gì, mày ăn hết đi này.
_ Nhưng tao ăn hết, mày đói thì sao ?
_ Tao còn cả hộp bánh quy trong nhà kia.

Thằng bé chặc lưỡi :

_ Mày sướng quá.

Bỗng có tiếng xe máy rù đến, con bé hốt hoảng :

_ Chết ! Bố tao về…

Thằng bé tái mặt chạy vội ra chỗ chân rào, nhưng không kịp, tiếng xe đã dừng trước cổng cùng tiếng quát :

_ Đứa nào đấy ?

Hai đứa trẻ run lên vì sợ. Người đàn ông xô cổng đánh rầm đi vào, túm lấy cổ áo thằng bé gằn giọng :

_ Mày vào đây làm gì ? Muốn ăn cắp hả ?

Thằng bé líu cả lưỡi :

_ Cháu…cháu không…
_ Đi ngay, không được bén mảng vào đây nữa nghe chưa ?

Ông ta buông tay, thằng bé chúi nhủi, vội gượng dậy chạy ù ra cổng. Ông bố quay sang nhìn con gái đang nước mắt lưng tròng, hét :

_ Ai cho mày đem những đứa đấy vào nhà hả ? Nó ăn cắp hết thì sao ? Không được chơi với tụi “ khố rách áo ôm “ đó nghe chưa ?

Con bé bị bố nó kéo vào nhà mà nó cứ ngóai mặt về hướng thằng bé vừa chạy. Nó chợt òa khóc không phải vì bị bố mắng.

Con bé ngồi bên cửa sổ, mắt cứ đăm đăm dõi ra đường. Đã nhiều ngày rồi không thấy thằng bé đến, con bé buồn hẳn đi. Nó không hiểu sao bố nó lại gọi thằng bé là khô rách áo ôm? Nó mong thằng bé đến để hỏi. Nhưng chờ mãi, chắc thằng bé sợ bố nó lắm rồi nên không dám đến nữa. Bỗng con bé nhổm dậy, ai như thằng bé thì phải. Đúng rồi, cái dáng loắt choắt với cái bao kia thì nó không lầm được. Con bé giơ tay vẫy rồi rít :

_ Mày ơi …lượm đồ ơi !

Thằng bé đã nghe thấy tiếng gọi, nhưng nó đứng xa xa khẽ lắc đầu. Con bé cuống quýt :

_ Mày đừng sợ, bố tao đi rồi. Mày vào đây với tao đi.
_ Thôi tao không vào nữa đâu, nhỡ bố mày về bố mày đánh chết tao.
_ Thế tao chui ra với mày nhá ?
_ Mày chui ra bẩn quần áo đấy.
_ Bẩn, chốc thay bộ khác.

Dứt câu thì con bé đã chui ra đến ngòai. Nó kéo bạn đến dưới gốc cây phượng, ngồi xuống trong bóng mát rồi hỏi :

_ Mày tên là “ khố rách áo ôm “ à ?
_ Không. Tao tên Lượm mà. Sao mày lại hỏi thế ?
_ Tao nghe bố tao nói thế thì tao hỏi mày vậy thôi.
_ Chắc bố mày thấy áo tao rách thì gọi là “ áo rách “ chứ gì. Còn mày tên gì ?
_ Tao tên là Thúy Hoa . Thôi, tụi mình chơi cái gì đi.
_ Mày biết chơi bắn bi không ?
_ Không. À , chơi dạy học đi. Tao làm cô giáo, mày làm học trò, chịu không ?

Thằng bé cười thật tươi, gật đầu lia lịa :

_ Ừ tao thích học lắm đó. Nhưng mà có giấy có bút đâu ?
_ Viết ra đất cũng được.
_ Ừ, để tao di kiếm cái que đã nha.

Giây lát, hai đứa trẻ như nằm bò ra đất. Con bé lanh chanh :

_ Chữ a mày viết sai rồi, viết thế này cơ …thế …thế…
_ Tao viết được rồi, mày dạy chữ khác đi.
_ Đây là chữ b nhé, viết thế này này…đó…đó , thấy chưa ?
_ Vầy…vầy…đúng không ?
_ Đúng rồi đó, học thêm chữ nữa nhá ?…Ừ , nữa…

Thằng bé đến với vài vết xước trên mặt, con bé lo lắng :

_ Mày bị làm sao vậy ?
_ Hôm qua tao đánh nhau với thằng Còm, bị nó cào đó.
_ Mày đừng đi đánh nhau nữa, nhỡ nó đánh chết mày thì sao ?
_ Phải bon chen mới lượm dược đồ chứ.
_ “ Bon chen “ là sao ?
_ Tao không biết, chỉ nghe mẹ tao nói muốn sống thì phải bon chen. Mà không có tiền thì làm sao sống, nên tao phải đánh nhau thôi.
_ Thế đánh nhau là bon chen à ?

Thằng bé không biết trả lời sao bèn ừ đại. Con bé không nói gì, nghĩ ngợi một chút rồi chui qua chân rào vào nhà. Một lúc sau chui ra với một bình hoa bằng đồng rất đẹp, nhưng bám đầy bụi. Nó đưa cho bạn, nói :

_ Thôi hôm nay mày đừng đi bon chen nữa, đem bán cái này là có tiền rồi.

Thằng bé nhìn cái bình rồi lắc đầu :

_ Thôi, bố mẹ mày biết thì đánh tao chết.
_ Không biết đâu mà, tao thấy cái bình này bỏ trên nóc tủ lâu rồi, đâu có làm gì đến đâu. Mày cứ lấy đi mà.

Rồi không đợi thằng bé ưng thuận, con bé kéo cái bao ra bỏ chiếc bình vào.

Con bé run bần bật khi bố nó la ầm ĩ :

_ Mày đem đi đâu…cho ai…nói mau…Trời ơi trời ! Cái bình cổ của tôi, bao nhiêu là tiền. Có phải mày lại cho thằng ăn cắp ấy vào nhà không hả ? Hừ …tao phải đi tìm nó ngay…
_ Không…không mà bố….

Con bé thét lạc cả giọng, mẹ nó dỗ dành :

_ Con nói đi, có phải con cho nó không ? Hay nó vào nhà ăn cắp ?
_ Không, bạn ấy không ăn cắp mà…

Bố nó lại hét tóang lên :

_ Không ăn cắp à ? Bạn bè à ? Con tao không có bạn bè cái thứ ấy. Được rồi, mày không nói, tao cũng di tìm cho bằng được nó, nếu không tao sẽ cho mày một trận nên thân…

Thằng bé chợt hiện ra giữa cửa, giọng nó đầy nước mắt nhưng rắn rỏi

_ Bác không phải đi tìm cháu, cháu đem trả bác đây, nhưng mà cháu không có ăn cắp…

Nói xong, nó đặt cái bình xuống đất bỏ chạy một mạch. Bố con bé vồ lấy cái bình, quay ra tát con :

_ Mày thấy chưa ? Còn chối nữa thôi.

Mẹ con bé khẽ gắt :

_ Anh này, sao còn đánh con chứ ?

Con bé ngây người nhìn theo thằng bé quên cả khóc.

_ Sao mày lại đem trả lại cái bình ấy ?
_ Mẹ tao nói không được lợi dụng bạn bè, tao mà không đem trả thì mày ăn no đòn rồi.

Con bé im lặng một chốc, rồi như chợt nhớ ra chuyện gì đó, nó kêu lên

_ A, chủ nhật này lớp tao có liên hoan, mày đến trường với tao đi. Hôm đó có nhiều bánh kẹo lắm, tao lấy cho mày ăn, chịu không ?

Thằng bé lắc đầu quầy quậy :

_ Thôi thôi, tao không đến đâu.
_ Sao vậy ? Hôm đó tao cũng có múa nữa, mày đến xem tao múa.
_ Nhưng mà tao không có đồ đẹp để mặc, cô giáo không cho tao vào đâu.
_ Không sao đâu. Cô giáo tao hiền lắm. tao sẽ xin phép cô cho mày vào.
_ Lỡ xin không được thì sao ?

Con bé nghĩ ngợi một chút rồi quả quyết :

_ Được mà, nếu không được thì mày đứng ngòai cửa sổ, tao đưa bánh kẹo ra cho mày ăn, mày đi nhé.

Con bé xúng xính trong chiếc váy đầm màu hồng, hai cái nơ đỏ trên đầu làm nó xinh hẳn lên. Nó hết nhìn cái bàn dầy bánh kẹo lại ngóng ra ngoài cửa lớp. Cô giáo nó gõ cái thước lên bảng :

_ Các con trật tự đẻ cô còn bắt đầu chương trình văn nghệ chứ.

Con bé bỗng tươi nét mặt, nó chạy ra cửa ríu rít :

_ Tao chờ mày nãy giờ, cứ sợ mày không đến. Mày vào đây đi.

Thằng bé đứng nép vào bên cửa lớp lắc đầu :

_ Thôi, tao đứng đâ được rồi, tao không vào đâu.
_ Vào đi mà, tao sắp múa rồi…
_ Thì tao đứng đây xem cũng được mà…
_ Có chuyện gì đó hả Thúy Hoa ?

Nghe cô giáo hỏi, con bé vội khoanh tay :

_ Thưa cô, con xin phép cô cho bạn con vào lớp ạ.
_ Bạn con ?
_ Dạ , bạn con hay đi lượm đồ đó cô.

Cô giáo bỗng hiểu ra, cô khẽ gật dầu. Con bé mừng quýnh nắm tay thằng bé lôi vào. Thằng bé ngượng ngịu di theo. Những đứa trẻ khác òa lên cười . Con bé đanh đá :

_ Chúng mày không được chọc nó, nó là bạn tao.

Cô giáo mỉm cười nói với cả lớp :

_ Các con im lặng, hôm nay lớp ta có thêm một bạn mới, các con vỗ tay chúc mừng nào.

Tiếng vỗ tay rào rào vang lên, con bé sung sướng kéo thằng bé vào ngồi cùng bàn với mình.

Đàm Lan

Giấc Mộng

Vườn lan của ông Trần mấy hôm nay không hiểu tại sao lá cứ rũ xuống. Ông lo lắng vô cùng, nhất là gần đến ngày giao hàng cho khách chơi xuân.

Buồn bực, ông Trần lên phản nằm vắt tay lên trán suy nghĩ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng một làn gió nhẹ thổi tới, hương thơm dịu dàng cùng một thiếu nữ xinh đẹp y phục mầu hồng phấn mỉm cười cúi chào rồi vòng tay thưa:

– Tiểu nữ là sứ giả Phi Điệp, xin chuyển lời chào của Tứ Đại mỹ nhân trong vương quốc Hoa Lan và xin kính mời ông tới hội kiến.

Ông Trần vội vàng sửa sang y phục, vừa mừng, vừa lo, vừa hiếu kỳ theo chân Phi Điệp sứ giả. Nàng dìu ông lướt đi, chẳng mấy chốc đã tới một khu vườn như chốn địa đàng, khắp nơi đủ các loại lan quí khoe sắc đua hương. Chính giữa khu vườn là một đài cao kết bằng muôn vàn các loại hoa thơm cỏ quí. Bốn nàng tiên, mặt hoa da phấn đã chờ ông từ bao giờ. Sứ giả Phi Điệp cúi chào rồi giới thiệu với ông Trần:

– Nàng tiên y phục vàng mơ, quí phái, dáng điệu như vừa từ vũ hội quần tiên bước ra là Hòang Vũ. Nàng tiên xiêm y xanh ngọc kiêu xa là Thanh Lan. Nàng tiên trang phục tím đen, sang trọng thầm kín kia là Mặc Lan. Nàng thứ tư xiêm y vàng đậm, cao sang là Cẩm Tố.
Bốn nàng tiên mời ông Trần ngồi trên đôn cỏ. Sau khi mời ông cạn chén nước thơm vốn là những giọt sương mai đậu trên những cánh hoa lan, nàng Hoàng Vũ nhẹ nhàng nói:

– Từ lâu chị em chúng tôi đã biết tiếng ông Trần là người sành hoa, hoa lan do ông chăm sóc như được thổi hồn, thêm hương, thêm sắc.

Bốn nàng tiên nhìn nhau mỉm cười ý nhị, nàng Thanh Lan tiếp lời:

– Hôm nay chị em chúng tôi mạn phép mời ông tới đây, trước hết để tỏ lòng biết ơn của họ nhà lan và cũng xin được mạo muội giãi bầy đôi điều gan ruột: Hình như lâu nay do mải mê việc kinh doanh hoa lan, nên ông Trần có đôi chút lơi lỏng trong việc chăm chút cho chị em nhà lan dưới đó..?

Ông Trần nhột nhạt cả người, mồ hôi ướt đầm lưng áo. Đúng là lúc đầu bán đi những dò lan ông từng phải bỏ biết bao công sức và cả cái tâm vào đó, ông cứ ngơ ngẩn như đánh mất một kỷ vật vô cùng quí báu. Lâu nay khi thị trường hoa lan mở rộng, nhu cầu của giới chơi lan ngày càng nhiều, ông làm hàng loạt kiếm lời. Càng bán được nhiều, lợi tức càng lắm, ông coi hoa lan như phương tiện làm giàu, chứ không coi như những tác phẩm nghệ thuật như tiêu chí ông đề ra lúc mới vào nghề. Đôi khi ông không giấu được nụ cười mãn nguyện trước chồng tiền ngày một dầy lên. Đặc biệt là lâu nay khi phong trào chơi lan rừng rộ lên, ông tổ chức hẳn một đường dây khai thác. Khi nghe cánh sơn tràng nói đến việc để lấy được một dò lan quí, họ phải chặt hạ cả một cây cổ thụ mấy người ôm. Ông biết một cây cổ thụ đổ xuống đã là một điều xót xa, nhưng đau xót hơn là cả mấy chục cây khác cũng bị gẫy gục. Xong ông chặc lưỡi hít hà nuối tiếc đôi chút rồi lại bị những dò lan tuyệt mỹ và nguồn lợi khổng lồ mê hoặc nên quên đi tất cả…

Tiếng nàng Mặc Lan như gió thoảng:

– Chúng tôi vẫn biết ông Trần là người có tâm, mong ông đối xử với họ nhà Lan chúng tôi bằng cái tài cái tâm của một nghệ nhân chân chính. Mỗi dò lan khi đưa ra thị trường phải như một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho đời, góp phần hướng con người tới những giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ, nâng đỡ con người vượt lên những vướng bụi của cõi tục.

Nàng Cẩm Tố thâm trầm:

– Chị em chúng tôi xin tặng ông Trần cánh lan này, gọi là chút kỷ niệm của lần tri ngộ.
Rồi nàng nhẹ nhàng đặt vào tay ông Trần một cánh hoa lạ, mong manh và trong suốt như pha lê, hương thơm ngào ngạt. Ông Trần vừa đón lấy, cánh hoa chợt tan biến trên tay, bàn tay chợt ấm nóng lên như có dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể…

Ông Trần giật mình tỉnh giấc, hồ nghi sờ nắn đôi tay, đâu đây vẫn vương mùi hương thoát tục. Ông rảo bước ra vườn. Trăng sáng vằng vặc. Ông Trần nhẹ tay vuốt những chiếc lá lan đã ngả vàng, lạ chưa, những chiếc lá bỗng trở nên xanh biếc.

Ông Trần nghe như có tiếng phập phồng thỏang hơi thở nhẹ, có tiếng lách tách của những chồi non đang khẽ cựa mình, có tiếng thầm thì rạo rực của những nụ lan hé nở… những âm thanh quen thuộc thuở nào đã từng làm xao động trái tim ông.

Ông khoan khoái mỉm cười hít một hơi căng đầy lồng ngực. Cả vườn lan lá động rì rào, những chiếc lá rung rinh sáng ngời ánh bạc, hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết lan tỏa khắp khu vườn.

Một mùa xuân mới đã về!


Trần Vân Hạc

Hãy kiêu hãnh và tự do, như những chú gà rừng

    Tôi là chúa tể của chính tôi…
    (Benjamin Franklin)

Anh bạn 18 tuổi mấy hôm nay đang lên tiếng đòi tự do: được mua xe mới để tự lái đi học thay vì để ba đưa đón hoặc đón xe bus, được đóng cửa phòng khi tiếp bạn thay vì mở cửa như mẹ quy định, được thỉnh thoảng ngủ đêm lại nhà trọ của bạn cùng lớp khi có liên hoan thay vì phải về nhà trước mười rưỡi tối…

Bạn nói với tôi rằng thật quá “oải” với sự bảo bọc của cha mẹ. Thậm chí, mỗi lần cắt tóc bạn đều phải theo ba đến tiệm quen. Trong câu chuyện, bạn thú nhận rằng, cho đến tận hôm nay, bạn chưa bao giờ tự xúc cơm vào chén của mình. Đó là việc của mẹ, bà, hoặc cô giúp việc. Bạn chỉ việc bưng tô cơm đã xúc sẵn lên ngồi trước ti vi và ăn.

Đến năm mười bốn tuổi tôi vẫn chưa tự xếp quần áo cho mình. Tất cả đều là việc của mẹ. Giặt, phơi, xếp, ủi, treo lên móc. Mỗi sáng, tôi chỉ việc mặc những chiếc áo rất thẳng thớm tinh tươm để đến trường. Cho đến một ngày nọ mẹ đi vắng, và trời trưa đang nắng bỗng lắc rắc vài hạt mưa. Không cách nào khác, tôi phải làm. Lấy quần áo từ sào phơi, ôm vào phòng. Tôi chợt nhận ra quần áo vừa lấy từ sào xuống thật là thơm, một mùi hương mới mẻ, lạ lẫm, thanh sạch, “nóng giòn”. Mùi của nắng. Và lần đầu tiên trong đời, tôi ngồi xuống bên đống quần áo, lóng ngóng, bắt đầu xếp từng cái một.

Tôi chỉ muốn nói rằng …những ví dụ đó không hoàn toàn là những việc nhỏ nhặt.

Khi không tự làm điều gì đó cho bản thân – chẳng hạn như việc xúc cơm, với bạn, hay việc xếp quần áo, với tôi – ta có thể tận hưởng cảm giác thoải mái của sự bảo bọc (hay lười biếng), nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang đánh mất dần – từng chút – một điều rất có ý nghĩa với đời mình: bản năng độc lập.

Bản năng mạnh mẽ nhất của con người là học lấy những kỹ năng sống nhằm tự tồn tại. Vừa lọt lòng mẹ, chúng ta khóc oe oe đòi sữa, vì “con khóc mẹ mới cho bú”. Không có ai dạy cả, Rồi ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi…Rồi nhảy cú nhảy đầu tiên. Ngã cú ngã đầu tiên…Cha mẹ đứng quanh vỗ tay cổ vũ, khen ngợi. Nhưng chính chúng ta, dù bé nhỏ, mong manh như vậy, khi mới vài tháng tuổi đã tự mình làm nên những kỳ tích.

Hãy nhớ lại lúc bé thơ. Khi nào mẹ cho bạn cầm kéo cắt hình chiếc lá: đó là khi mẹ tin rằng bạn có thể cầm kéo mà không tự cắt vào tay mình. Ba mẹ không bế ẵm ta nữa, nếu ta đã biết đi, muốn tự đi một mình và quan trọng nhất là khiến ba mẹ tin rằng ta có thể tự đi một mình, biết vịn vào ghế, biết tự đứng dậy được khi vấp ngã. Có bao giờ bạn tự hỏi: tại sao cha mẹ có thể thả tay ra cho bạn đứng chựng khi bạn mới mười tháng tuổi, mà vẫn xúc cơm cho bạn khi đã mười tám tuổi. Nếu mẹ có thể xúc cơm cho bạn thì có gì lạ đâu nếu ba không yên tâm để bạn lái xe một mình…

Nếu chúng ta không chứng tỏ được rằng mình có thể tự làm, người khác sẽ tin rằng chúng ta không thể tự làm. Nếu bạn không tự làm được điều dễ dàng, cớ sao tôi phải tin rằng bạn có đủ trách nhiệm và nhận thức để làm điều khó hơn?

Trang Tử nói: “Gà rừng trong đầm cỏ đi mười bước mới nhặt được một hạt thức ăn, đi trăm bước mới uống được một ngụm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lồng” Chúng ta có giống được những con gà rừng không? Nếu chúng ta vì ưa thích thóc gạo bày sẵn mà chịu chui vào chiếc lồng. Rồi từ sau những song tre đó, chúng ta đòi trả tự do?

Từ xúc cơm, xếp quần áo, sách vở, đến chọn trường, chọn nghề, tìm việc, kiếm sống, chọn chồng chọn vợ, chọn tương lai… Chúng ta sẽ quá quen với việc được sắp sẵn. Chúng ta ưa làm việc đã được người khác lên kế hoạch hơn là tự mình vạch ra kế hoạch. Chúng ta chuộng thói quen hơn sáng tạo. Chúng ta chỉ vui khi có người tâng bốc, chỉ hết buồn nếu có người an ủi vuốt ve. Chúng ta thậm chí không muốn tự phân biệt sai đúng trừ khi có người làm thay. Chúng ta không thể làm chủ đời mình. Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa. Thậm chí, một con chim trong rất nhiều lớp lồng.

Như vậy đó, anh bạn! Không ai lấy mất tự do của chúng ta, chỉ có chúng ta tự nguyện đánh mất nó, thay vì cố gắng giữ lấy nó. Chúng ta, ở tuổi mười tám, thỉnh thoảng kêu gào rằng tại sao cha mẹ lấy hết tự do của con, mà quên rằng chính mình đã đánh mất tự do – từng chút một – từ lâu lắm. Khi được ai đó làm thay một việc nhỏ, và chúng ta chấp nhận việc ấy như điều hiển nhiên, nghĩa là chúng ta đã tự đan thêm một song tre cho chiếc lồng đời mình.

Tác giả Robert Fulghum từng trở thành best seller với một cuốn sách có tựa đề thú vị “Tất cả những gì tôi cần phải biết tôi đều được học ở nhà trẻ”. Đó là những nguyên tắc sống: chia sẻ, chơi công bằng, không đánh bạn, để đồ đạc vào chỗ cũ, không lấy những gì không phải của mình, dọn dẹp những gì bạn bày ra, nói xin lỗi khi làm tổn thương ai đó, rửa tay trước khi ăn, học một ít, suy nghĩ một ít, vẽ và hát và nhảy múa và chơi và làm việc một ít mỗi ngày, ngủ trưa, có ý thức về những điều kỳ diệu, cây cối và các con vật đều chết – và chúng ta cũng vậy, từ đầu tiên và quan trọng nhất cần phải học: quan sát.

Hãy đếm xem: 100 chữ. Những gì cần phải học chỉ như vậy. Chúng ta được học ở nhà trẻ nhưng đã đánh rơi dần trong quá trình lớn lên. Cũng như khi sinh ra, ta đã có sẵn bản năng độc lập nhưng lại đánh mất nó trong quá trình sống. Không có bản năng độc lập, chúng ta không thể nắm giữ được tự do. Nghĩa là trước khi đòi tự do, bạn phải tìm lại bản năng độc lập của mình.

Mọi thứ đơn giản hơn chúng ta tưởng. Thậm chí có thể nói rằng cuộc đời này rất giống một nụ hôn, nó có thể tệ hơn, hay tuyệt hơn nụ hôn trước đó, nó có thể khiến bạn hạnh phúc, cũng có thể làm bạn vỡ mộng, nó có thể khiến bạn nhận ra mình yêu, hay nhận ra mình hoàn toàn không yêu. Nó chứa đựng những bí mật mà bạn chỉ khám phá được sau khi đã hoàn thành.

Hãy tự mình hoàn thành, và bạn có thể nói bạn là chúa tể của chính mình. Như những chú gà rừng.

Hãy luôn luôn kiêu hãnh và tự do như những chú gà rừng.

Đông Vy và Phạm Công Luận

Chiếc bánh chưng

Mùng bốn tết, cả nhà đang ngồi quanh chiếc bàn ăn. Bà mẹ gắp ào chén con gái một miếng bánh chưng, cô bé vùng vằng :

_ Con đã ớn quá rồi mà mẹ cứ bắt con ăn mãi.
_ Này, lớn thêm một tuổi nữa rồi đấy nhá, nhõng nhẽo không sợ người ta cười cho à ?

Nhìn miếng bánh với vẻ chán chường, cô bé còn đang lưỡng lự thì ngòai cửa chợt xuất hiện một bà già ăn xin, tay dắt theo một đứa bé khỏang 4, 5 tuổi lò dò bước vào, cất giọng van xin :

_ Xin các ông các bà làm phúc cho bà cháu tôi đồng lẻ sống qua ngày …xin các ông các bà…
_ Thôi đi đi, gớm, mới đầu năm đã vào quấy rồi.

Ông chủ nhà xua tay nói. Đứa con trai ngồi gần đấy, thấy đứa trẻ tội nghiệp thì móc túi lấy ra tờ tiền lẻ bỏ vào cái nón rách của bà già. Bà già cúi đầu cảm ơn, nhưng đáng lẽ bà đi ra ngay thì bà lại đứng lại nhìn sựng lên bàn ăn. Miếng bánh chưng đập vào mắt bà. Đôi mắt hấp hem lộ rõ vẻ thèm muốn. Bà già ngập ngừng, do dự, nhìn lại đứa cháu đang bấu vào gấu áo, bà thu hết can đảm nói :

_ Cho tôi …xin một miếng bánh chưng, có được không ạ ?

Bà mẹ gắt tóang lên :

_ Cái bà này hay quá nhỉ, đã cho tiền rồi còn lải nhải gì nữa.

Bà già cúi mặt, lủi thủi bước đi, nắm tay đứa cháu đang cố ngoái lại nhìn miếng bánh chưng với vẻ thèm thuồng, nó nhệu nhạo :

_ Bà ơi ! Cháu đói…

Bà nó đưa tay quệt nước mắt, khẽ nói :

_ Ráng đi con, xin thêm được vài đồng nữa rồi bà mua bánh cho con ăn nhá.

Thằng bé lẽo đẽo di theo, tay vẫn bíu lấy cái gấu áo vá víu của bà nó.

Trong bàn ăn, cô bé buông đôi đũa xuống đứng dậy. Bà mẹ sửng sốt :

_ Sao chưa ăn đã đứng dậy rồi ?

Cô bé trả lời gọn lỏn :

_ Con không muốn ăn nữa.

Bà mẹ bực tức :

_ Người ta còn không có mà ăn, đây thừa mứa thế này thì không ăn

Cô bé nhìn vào mắt mẹ, hỏi gặng :

_ Mình thừa mứa thế sao mẹ không cho người ta được một miếng ?
_ Mày….

Cô bé cầm chiếc bánh chưng đi vòng hết phố nọ qua phố kia, đôi mắt dõi vào từng ngóc ngách các vỉa hè, cố tìm cho ra bà cụ già bà đứa trẻ hôm qua. Mồ hôi tuôn dài trên gương mặt ửng hồng vì nắng. Lần đầu tiên trong đời, cô bé mới thấy hết được ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong ngày tết. Trước đây cô bé từng nghe người lớn nói :

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

Và năm nào mẹ cũng gói bánh chưng, vừa gói vừa nói với các con đang quây quần chung quanh :

_ Tết mà không có cái bánh chưng thì không ra ngày tết.

Vậy mà có những người không có thịt mỡ, cũng chẳng dưa hành. Cây nêu tràng pháo lại càng xa vời hơn nữa, và không có cả đến một miếng bánh chưng, thế thì còn đâu là ngày tết. Hình ảnh còm cõi, nhẫn nhục và thiểu não của hai bà cháu ăn mày, khiến cô bé cảm thấy như chính mình có tội. Cái tội bất công của cộng đồng nhân lọai. Và chính điều đó đã thôi thúc cô bé, buộc mình phải tìm cho được họ, để được đặt vào tay bà lão ấy chiếc bánh chưng với một lời xin lỗi. Nhưng chân thì đã mỏi rã ra rồi, sức nóng của trời nắng chang chang khiến cô bé cảm thấy rất mệt và khát khô cổ. Nhưng cô bé vẫn đi, cô vẫn hy vọng là sẽ tìm thấy. Đến một ngã tư, vừa quẹo qua đầu phố, cô bé thấy ngay một đám đông vây quanh sự việc gì đó. Tò mò, cô bé cũng ghé vào xem. Bỗng cô bé kêu lên một tiếng :

_ Trời…

Trên nền đất, trước hiên của một ngôi nhà đóng kín cửa, bà lão ăn mày nằm co quắp, hai tay ôm bụng trong tư thế gập người. Bên cạnh bà là đứa trẻ đang lê lết với tiếng khóc kêu khàn đục :

_ Bà ơi…ch..áu…đ…ói…

Như vô thức, cô bé quỳ xuống trước mặt bà lão đã lìa cõi thế ấy, đặt trước bà cái bánh chưng, và vẫn như vô thức, cô cầm một nén nhang đốt sẵn ở đó cắm vào chiếc bánh, đôi môi run rẩy mấp máy, cô bé bỗng bật khóc và vụt bỏ chạy như bị ma đuổi. Nén nhang trên chiếc bánh vẫn đều đều nhả từng sợi khói mỏng…

Đàm Lan

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc

Núi ngàn Tây Bắc mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, đầy bí ẩn và đam mê, quyến rũ. Song mùa xuân có một vẻ đẹp không mùa nào có được. Trên nền xanh non mướt mát căng đầy nhựa sống, là những sắc mầu tinh khôi, hài hòa đến tuyệt đỉnh của các loại hoa rừng, mà mỗi sắc mầu, mỗi hương thơm như thấm đẫm, tan hòa trong thiên nhiên, trong mỗi bản mường, trên muôn sắc mầu thổ cẩm tay búp măng rừng thêu dệt, trên sắc má đào thơm thơm thiếu nữ và trong ánh mắt cười lung linh của người già, trẻ nhỏ, đơn sơ mộc mạc thế thôi nhưng say đắm lạ kỳ.

Tây Bắc núi non trùng điệp. Khi nàng xuân khoác tấm áo choàng như sương như khói nương ánh bình minh lướt trên đỉnh núi, lòng thung, bàn tay dịu hiền, ấm áp như bàn tay thân thương của bà, của mẹ, của em chạm vào vạn vật. Đất bỗng chuyển mình trong cồn cào sinh nở, những rừng cây thu mình lại tránh cái giá rét của mùa đông giá như thoáng ngỡ ngàng rồi bừng tỉnh e ấp những chồi xanh, những dòng suối đang nhẹ nhàng róc rách thì thầm bản tình ca mùa đông, bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, trên những cành cây xù xì thô ráp chợt hé muôn nụ xuân, ngơ ngác trước sự hoàn sinh diệu kỳ của vạn vật, rồi đua nhau bừng nở những bông hoa đầy hương sắc chào xuân mới.

Xuân Tây Bắc ngàn thứ hoa rừng, những hoa lê, hoa mận, hoa đào, hoa ban, hoa chuối, hoa dó, các loại lan rừng… những loài hoa có tên và không tên. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm nhung gấm ngồn ngộn sắc mầu, ngây ngất hương thơm, hôi hổi một sức sống diệu kỳ bất tận. Mỗi làn gió xuân nhẹ thổi, muôn sắc mầu lại hân hoan, nao nức trong những đợt sóng xanh reo vui đuổi nhau xa tít tắp. Những bông hoa dập dờn, thấp thoáng như muôn ngọn lửa ấm áp. Nếu hoa lê, hoa mận, hoa ban, hoa dó… trắng đến nao lòng, thì hoa đào phớt hồng lại như gợi bao nỗi niềm về một mùa hò hẹn. Mùa hoa mận đến sớm nhưng thật là độc đáo, vừa mới chiều qua đấy thôi, những nụ hoa còn e ấp, chúm chím nét cười duyên trên cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Bắc Hà (Lào Cai)… cho lòng người cứ thấp thỏm đợi chờ, vậy mà sáng xuân nay đã mênh mông một mầu trắng đến nghiêng cả đất trời.

Cái khoảng khắc diệu kỳ đến nao lòng ấy để lại trong ta một ấn tượng khó phai. Chỉ một bước chân mà cái khoảng cách của hai mùa Đông – Xuân bỗng trở thành gần gũi. Còn sắc hồng phơn phớt của hoa đào Tây Bắc lại như một thông điệp của mùa xuân. Đào Tây Bắc không rực rỡ kiêu sa, nhưng lại đi vào chiều sâu của không gian và thời gian và tình người đằm lắng. Những cánh hoa đơn hồng nhạt, dung dị, mà không kém phần thanh cao ấy chuyên chở cả mối tình bất tử. Người xưa đã dùng dòng máu từ trái tim yêu nhuộm thắm những bông hoa trên tấm thổ cẩm dệt bằng khát vọng một tình yêu trắng trong chung thủy mãi hồng trên khắp non ngàn và trái tim của người Tây Bắc.

Người Mông Tây Bắc còn gọi hoa này là “Tớ Dảy”, người Mông có câu:“Làm mùa xem hoa tớ dảy /Xây lứa đôi xem bàn tay”. Hội chơi núi đầu xuân – “Sài sán”, từng đôi trai gái Mông ô hồng nghiêng chao, đôi mắt huyền tình tứ, sắc hoa đào hồng trên má thắm, tiếng khèn, đàn môi, kèn lá thổn thức cả rừng xuân. Du khách chỉ một lần được chiêm ngưỡng hoa đào Tây Bắc chắc sẽ không khỏi trầm trồ thán phục vẻ đẹp dung dị nhưng thánh thiện ấy, để rồi ký ức cứ ùa về rộn rã trong nhịp vó ngựa của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi nhành đào báo tiệp tới Ngọc Hân công chúa và cứ tự hỏi: Có phải tự ngàn xưa hồn thiêng dân tộc đã hòa trong sắc hoa đào, nên những cánh hoa đào rơi như những giọt nước mắt hồng, khi quân giặc treo và bắn người anh hùng nhỏ tuổi Vừ A Dính vì không chịu chỉ nơi ở của du kích, cùng những hạt mầm của cây đào Tô Hiệu xanh biếc trên đá xám nhà giam đã bừng nở những mùa xuân bất diệt cho dân tộc?

Nếu hoa đào được coi là hoàng hậu của mùa xuân, thì hoa ban lại được coi là hoa của tình yêu, của lòng hiếu thảo. Người Thái Tây Bắc có bao nhiêu câu chuyện tình về hoa ban, câu chuyện nào cũng thấm đẫm một khát vọng về tự do hôn nhân và tình yêu đôi lứa. “Hoa ban nở thành người con gái Thái” – (Dân ca Thái), mỗi bông hoa năm cánh trắng ngần tỏa hương thơm dịu như búp tay em, trên nền lá xanh trung trinh hình tim hai nửa. Có phải vậy không mà từ bàn tay em gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, bông ngời sắc trắng, hóa thân trong muôn sắc mầu thổ cẩm, đến những dòng suối già nua trầm tư kia mỗi khi tay em hồn nhiên khỏa nước, bỗng thổn thức một trái tim yêu trẻ trung cháy bỏng một ước mơ hạnh phúc vẹn tròn.

Trong Hội hái hoa ban, những đôi người yêu nhau gửi gắm bao ước nguyện trong mỗi nhành hoa trao nhau: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/ Tình ta đẹp như hoa ban/ Còn dài lâu thì như hoa nào /Hỡi người ta yêu…”. “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở/ Không thấy ngày ban tàn/ Mãi mãi như mùa ban bắt đầu, ngày ta yêu nhau”, “Trăm năm ngắm ban nở vẫn còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lại thêm trẻ, không già” (tình ca Thái). Cũng vì vậy người Mông Tây Bắc gọi hoa ban là: ‘Pà lầu”, pà là hoa, lầu là già, xuân về, ngắm hoa ban người già thấy lòng trẻ lại. Giữa mênh mông rạo rực chồi non lộc biếc của đại ngàn ngút ngát, từng chùm hoa ban trắng bồng bềnh như áng mây trên đầu núi, bâng khuâng trong không trung rồi ùa xuống các lòng thung và ngời trên tận những đỉnh núi chọc trời, sáng bừng từng nếp nhà, bản nhỏ. Hoa ban từ lâu gắn bó với đất và người Tây Bắc và được xem là biểu tượng của Tây Bắc.

Tây Bắc còn bao nhiêu loại hoa rừng: Hoa dó mang một hương sắc riêng như một cung bậc tinh tế trong bản hòa tấu sắc mầu, dịu dàng trong câu si, câu lượn: “Hoa dó giục đàn ông vào rừng lấy củi/ Giục đàn bà vào rừng lấy lá dong/ Giục mọi nhà khẩn trương cày, bừa, cấy lúa/ Khắp nơi nhộn nhịp tưng bừng”. “Bên suối, bên nương hoa dó thả từng chùm/ Như những bàn tay trắng xinh vẫy gọi/ Hoa khoác vai nhau soi mình bên suối/ Hương ngọt ngào dưới trăng/ Có chiều xuân gió khẽ đu cành/ Cả rừng dó lao xao ca hát”. Chính vì vậy, tết đến xuân về, trên mâm cúng tổ tiên của người Tày không thể thiếu đĩa hoa dó. Rồi một bông hoa chuối đỏ rực trong đại ngàn xanh, mỗi con gió dập dờn, bông hoa lửa lập lòe, bập bùng như trái tim đỏ thắm, hoa gạo thắp lửa đỏ trời, hoa dã quỳ vàng rực ven đường, hoa cải trắng làm duyên bên triền nương và còn bao loại lan rừng kiêu sa, tiên cách… tất cả như được một bàn tay tuyệt vời vẽ vờn trên lụa, thực mà sao cứ như mơ.

Mùa xuân trên mọi nẻo đường Tây Bắc, du khách được thỏa thích ngắm những bông hoa rừng đủ loại, gợi nhớ, gợi thương. Hương hoa thấm đẫm trong từng ngọn gió, thơm trong tiếng khèn thanh thoát vút cao, ngọt ngào trong tiếng hát ai thiết tha, nồng cháy trong tiếng đàn môi thầm thì gọi bạn, ngây ngất đam mê trong làn tóc ai náo nức hội xòe. Những đàn bướm hàng ngàn con dập dờn trong vũ điệu giao duyên, những chú ong say hương mùa mật ngọt, những tiếng chim gọi bạn cặp đôi xanh trong vòm lá…

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc ấy chân thật, tự nhiên, đồng hành và tự lúc nào đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Tây Bắc, trở thành một phần không thể thiếu, mỗi độ xuân về lại náo nức hồi hộp đợi chờ như lời hẹn hò với một mối tình thuở hoa niên. Còn với những người con xa xứ, tình yêu, nỗi nhớ với hương sắc rừng xuân Tây Bắc thật khó mà đặt tên, cứ dư ba, đau đáu day dứt khôn cùng trong ký ức và khát khao một cuộc hành hương về cội.

Xuân 2010
Trần Vân Hạc

Tìm về núi cũ xem mai nở

Cam Ranh quê tôi là đất mai, là một phần của rừng mai Phước Hải (Khánh Hoà) xưa, kéo dài từ Nha Trang đến Cà Ná, nay đã bị thu hẹp khá nhiều. Tháng Chạp, mai biển nở bạt ngàn cả một vùng cát trắng Thủy Triều. Làm sao không rung động khi đứng trước phong cảnh hoang sơ, một bên là biển, một bên là cát trắng, và trên những cồn nhỏ ở giữa, là mai vàng nở rực.

Lần đầu tiên ăn Tết ở Sài Gòn, tôi rất lạ khi thấy người ta cắm mai mà không cần đốt gốc, chỉ hai ba cành mai rừng nhỏ, cắm vào một cái bình sứ rất đẹp, đã được lau bóng lưỡng từ mấy hôm trước…Chưa bao giờ tôi nghĩ mai có thể được cắm một cách dễ dàng và đơn giản như những loài hoa khác. Ở quê tôi, những cành mai chặt về phải được đốt gốc trên lửa nóng, để giữ lại nguồn nhựa sống cho mai, nuôi những đoá hoa còn ươm nụ. Nếu không đốt kỹ, có khi, cả hoa lẫn nụ đều gục đầu héo rũ ngay vào ngày mồng Một.

Đến nhà ông chú, thấy hai ba người đang lui cui khiêng một chậu mai kiểng lớn vào nhà. Đây là cây mai chưng từ mấy năm nay, do một người bạn tặng, giá vài triệu đồng, hết Tết thì gửi cho mấy vườn mai, 28 Tết năm sau người ta lại đem tới. Mất có trăm ngàn mà khoẻ re. Tết vẫn cứ có mai chưng, hoa lá đầy đủ, ra hoa đúng độ, lại chẳng cần bận tâm gì đến chuyện chăm sóc. Và lặt lá mai trở thành một khái niệm hết sức xa vời. Tiện thật đấy, nhưng sao tôi vẫn thấy thiêu thiếu một chút tình…

Những đứa trẻ như tôi ngày xưa háo hức theo cha đi chặt mai, vượt đầm Thủy Triều ra đến cồn từ sang sớm để chọn cho được cây mai “có thế” nhất, hoa đều nhất. Khi trở về thì mặt trời đứng bóng, bọn trẻ giành vác cành mai lùm xùm những cành, bước từng bước khó khăn theo chân cha đi trên vùng cát mênh mông. Dưới cái nắng ấm vàng rực rỡ của miền Trung những ngày giáp Tết, những hạt cát trắng loá, lấp lánh một màu trắng tinh khôi sạch sẽ. Những cơn gió thổi nhẹ qua lại xoá tan hết dấu chân người, trả lại vẻ hoang sơ và thanh tịnh rất hợp với mai. Nhớ đến run người những khoảnh khắc đó, khi mỏi chân dừng lại, hít một hơi sâu làn không khí đầy ắp gió biển, trong trẻo và thanh sạch vô cùng, ngoái nhìn trước sau chỉ thấy một màu cát trắng, chợt nhớ Hàn Dũ xưa kia lúc “đạp tuyết tầm mai”, chắc cũng chỉ hạnh phúc và đầy rung cảm như ta ngày nay “đạp cát tầm mai” là cùng!

Ấy vậy mà cái hạnh phúc khi gặp mai của người “tầm mai” cũng chưa so được cái hạnh phúc gặp mai bất chợt. Không biết bây giờ còn bao nhiêu người của lớp Báo chí A-K97 nhớ ngày “dụ dỗ” được thầy chủ nhiệm đi chơi tận thác Mai (Đồng Nai). Cả nhóm cứ đi mãi, vượt qua sông La Ngà, con đường xuyên rừng chập choạng buổi chiều tối ngoằn nghèo dẫn vào thác. Đêm đó, tuổi 20 ngẫu hứng và bốc đồng nên vừa lội suối vừa ngắm trăng, rồi nằm dài trên đá mà hát cho nhau nghe đến sáng. Để mai dậy mắt ai nấy đỏ kè, loạng choạng lái xe trở về mà đầu óc dường như còn chưa tỉnh. Chợt tất cả đột ngột dừng xe sững sờ khi bắt gặp bên rừng mấy bụi mai nở sớm, màu vàng mơ nhẹ nhàng, và mong manh quá trong làn sương sớm còn ướp đầy mùi nhựa cây và hương thảo mộc. Trong suốt những năm tháng ở đại học, tôi chưa bao giờ cảm thấy yêu bạn bè mình đến thế, trong giây phút cùng lặng thinh không nói nên lời cạnh những bụi mai bên rừng. Khi trong trái tim mỗi người dường như có một niềm vui sướng và xúc động như nhau.

Hình như mai đẹp nhất không phải khi được đặt trong bình sang chậu đẹp. Ở Cam Ranh, xã được xếp loại “vùng sâu vùng xa” nhất có lẽ là Cam Hiệp, nơi học trò muốn đi học phải lội bộ cả chục cây số. Nhóm bạn rủ nhau đi thăm cô giáo cũ ở vùng này, loanh quanh cả ngày chợt nhận ra ở đây nhà nào cũng có vài ba cây mai núi trước sân, bình thản nở ngay cạnh những vách nhà xù xì rơm khô trộn đất. Buổi chiều trên đường về bỗng gặp cảnh thần tiên. Một ngôi nhà gỗ giản dị, Một khung cửa sổ mở ra vườn. Một cô gái nhỏ tóc buông dài chống cằm nhìn ra sân. Tất cả, là cái nền cho một cây mai vàng, có thể gọi là cổ thụ, gốc to, rễ lồi, thân xù xì những nhánh lớn như cây ổi, lác đác những lá xanh to, cao gần bốn mét, đang nở hoa rực rỡ ở độ mãn khai nhất ngay bên ngoài cửa sổ. Không hiểu sao, sắc vàng của mai trong buổi chiều tà lại buồn đến vậy, hay tại đôi mắt trong đen rất đẹp của cô gái ấy thoáng nét u sầu. Hai chàng trai trong nhóm không dời chân được, đánh bạo bước vào nhà xin… uống nước. Cô gái ngượng ngùng trốn ra nhà sau, chỉ có ông chủ nhà niềm nở mời trà khách lạ. Kể rằng khi cha ông đến dựng nhà trên mảnh đất này thì cây mai đã ở đó, mùa xanh lá không ai để ý đấy là mai. Đến mùa đông, nó tự rụng lá rồi trổ hoa vào mùa xuân. Không ai lặt lá, cây lớn quá hơi đâu mà lặt. Nên mai tự nhiên nở, có năm sớm, năm muộn. Một tay lái ở Nha Trang tình cờ thấy, mê mẩn, dụ dỗ ông già cho bứng luôn gốc đem về thành phố bán, bộn tiền lắm. Nhưng ông chắc nịch :“Mấy anh coi, không có cây mai đó nhà tui còn gì. Nó chính là cái tinh thần của gia đình này từ mấy chục năm nay!”…

Những năm sau có bận mấy, nhóm bạn cũng trở lại căn nhà ấy vào ngày mồng Năm. Cô gái đã lấy chồng, chỉ còn người cha và cậu em trai. Trở lại, như chàng Thôi Hộ, chỉ để ngồi uống trà nơi cái bàn gỗ thấp đơn sơ, hỏi thăm như bâng quơ về cô gái và say sưa ngắm khung cảnh thần tiên như tranh vẽ bên ngoài cửa sổ, nơi những đoá hoàng mai nở rực khắp vòm bên những chiếc chồi xanh.

Tết này ở Sài Gòn, thêm một cái Tết xa quê, lại thèm quá một ngày được “Tìm về núi cũ xem mai nở. Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh” (thơ Quách Tấn)

Đông Vy

Tết Kinh

Thuở nhỏ, được nắm váy mẹ đi ăn Tết nhà ông Tỵ người Kinh ở dưới Từ Tâm, sướng không gì bằng. Vậy mà năm đó mẹ không cho đi. Không biết sao nữa. Năm ngoái mẹ còn dẫn đi mà. Đi, vừa được bữa no nê, vừa có tiền lì xì với lại được quà bánh xách về.

Từ năm 1961, cha hết làm ruộng ở Hiếu Thiện – Palau quê ngoại, mà về Caklaing làm ăn. Ông Tỵ dân Từ Tâm, có mấy đám ruộng Gađak cho cha làm rẽ. Ruộng gò khó theo nước, chỉ mỗi đất tốt nên sau vụ lúa người ta có thể gieo đậu. Cha làm hai vụ. Ngoài vụ chính, cha tranh thủ vài đám ruộng cạnh bờ sông làm chiêm. Lúa bareng (lúa chiêm, dường như xuất phát điểm từ Champa) hạt màu nâu vàng, nhỏ và khá thơm, chỉ cần ba tháng là thu hoạch được. Giống này năng suất rất thấp, có thể nói thấp nhất trong các loại giống. Lại gieo trái vụ, nên cần canh me chim chóc. Nhưng được cái là nó giúp cứu đói ngắn ngày. Sau khi gặt chiêm, cha gieo giống ba trăng, để kịp với vài đám gieo lúa mùa khác.

Ông Tỵ là giáo viên làng, say xỉn suốt. Mỗi lần ông có việc (hay nổi hứng) ghé qua nhà là mỗi lần dáng ông lảo đảo. Vậy mà ông cứ đòi. Mẹ phải chạy ra quán Bà Hai đong xị rượu gạo cho ông ăn cơm với cha. Cha hiền từ, ít nói. Cũng không rượu chè. Thế là có mỗi ông lai rai. Và nói. Đúng là một cực hình.

– Thế nào tết này anh chị cũng phải xuống tui. Ông Phó uống với tui chén rượu chi. Ông kéo dài chữ “chi” cuối câu rất ư là Từ Tâm.

Tôi chỉ mong có thế. Nhớ là dường như cha chưa lần đi Tết ông. Có mỗi mẹ. Kèm theo tôi với anh Đạm. Nhưng lần này mẹ đổi ý. Không hiểu sao. Chỉ nhớ là mẹ không cho đi. Rất dứt khoát. Tôi khóc, chạy theo ôm tảng đá to trước cổng nằm giữa đường nhà bà Cò, lăn lộn. Thằng này chăng dai, không dễ bảo như anh nó – mẹ hay bảo thế. Chắc không có áo mới. Mà không áo mới làm sao mà đi ăn Tết. Mấy đứa bạn được mẹ dắt đi kìa, tôi thì không. Tại sao không mua áo mới trước đó? Có lẽ tôi đã làm dữ lắm, nên cuối cùng, mẹ cũng chiều. Không dép cũng được, miễn là có áo mới. Mẹ mượn của ai đó.

*

Ở thị xã Phan Rang, người ta biết đến Tết khi dưới bãi sông Dinh ở cầu Đạo Long cắm đầy mấy trăm cây mai rừng do lính cộng hòa chặt trên núi chất lên chiếc GMC chạy thẳng vào phố. Chiến tranh mất an ninh, nên họ độc quyền. Gọi là bù lỗ, cũng hay.

Với sắp nhỏ chúng tôi, khi có đợt rét của gió bấc tới, đồng lúa vãn mùa, lũ trâu được thả bừa trên mênh mông cánh đồng đầy rạ. Là Tết đến.

– Ông bà người đằng quê thế mà thiêng, mẹ nói khi gió cứ vần làm cho bà khó giê hết đống lúa. Khiến trời đứng gió cho con cháu họ dựng nêu ấy mà.
– Năm sau mẹ sẽ lặp lại chính câu đó cho mà xem, tôi bảo anh Đạm.

Đó là mùa mai vạn thọ vàng rực núi đồi. Cả rừng mai vạn thọ. Kéo dài từ cánh rừng làng Văn Lâm sang tận khu rừng Vĩnh Hảo. Lên trên nữa là mai núi. Cũng bạt ngàn. Kể rằng, bên cạnh suối thiên nhiên, khi xưa chính Chế Mân cho trồng thả hai loại mai này để cùng công chúa Huyền Trân du xuân. Nhưng ông vua hào hoa này đã chẳng hưởng thụ được hơn một mùa mai, rồi đi biệt. Mang theo luôn bí ẩn cuộc tình đẹp nhưng đầy éo le vào đêm mờ lịch sử.

Ông đi, nhưng rừng mai ở lại. Ở lại cho đến cuối những năm tám mươi của thế kỉ thứ XX, khi kế hoạch triệt phá rừng đã hoàn tất, thì cây mai cuối cùng cũng làm cuộc chia li không hẹn ngày về.

Còn thuở học Pô-Klong, Tết – tôi ít khi về quê, mà tình nguyện ở lại Kí túc xá. Chúng tôi ăn Tết kiểu khác. Tuổi học sinh, quậy thì khỏi nói rồi. Hết giờ trực, hai ông anh lớp trên rủ tôi vào phố cà phê, không quên bảo tôi mang theo cái túi xách. Mãi mười giờ mới về. Anh Tr. kêu nhỏ: Trạm đứng đây chờ anh nhé. Anh chạy biến đi, mang về nải chuối, hộp bánh qui, miếng cốm,… Rồi cứ tiếp tục thế. Dọc đường bao nhiêu là đồ cúng! Anh lại bảo tôi chờ. Tôi hỏi anh:

– Không sợ ư?
– Ma ăn rồi mà, không sao đâu. Anh trấn an tôi.
– Nhưng đồ ma…!
– Chăm vẫn ăn đồ padơng đám ma đấy thôi. Nhưng ma Kinh không sao đâu, họ xơi nhanh lắm. Thế là đến lượt mình…

Về đến Kí túc xá thì túi xách tôi mang đã đầy cứng.

*

Bên cạnh Ramưwan (tức Ramadan) của người Chăm Bàni hay Hồi giáo cũ, Katê là Tết chung của cộng đồng Chăm, là dĩ nhiên rồi. Đầu tháng Bảy Chăm lịch, Chăm lên tháp cúng tế trời đất, ông bà tổ tiên. Rồi kéo nhau về làng ăn Tết. Nhưng từ lâu lắm rồi, người Chăm vẫn cứ xem Tết, cả Ramưwan, Nguyên đán,… tất tần tật đều là Tết của mình. Lạ, tôn giáo Chăm, Bàlamôn giáo, một tôn giáo rất cổ, tưởng khép kín, không ngờ lại rất mở. Văn hoá dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỉ.

Nói sang chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỉ thứ II, Chăm xem Ppo Inư Nưgar – Bà Thiên Y Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phượng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỉ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Champa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Ppo Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở. Ai nhất thì tôi thứ nhì!

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bàlamôn Chăm mở ngõ cúng bái cả các vị thánh trong Kura-ưn (Koran). Rồi khi có xung đột ý hệ tôn giáo Hồi – Bàlamôn trong lịch sử, Chăm hóa giải và hòa giải bằng sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai phía: Chăm Bàlamôn và cả Chăm Bàni. Vui vẻ.

Trong lễ lớn là Ramưwan (tháng Chín chay tịnh), hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm Bàlamôn đội ciet bánh trái cúng dường nhà Chùa Hồi giáo (sang mưgik). Thành kính và trang trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bàlamôn luôn mời các vị thầy Acar về tận nhà hành lễ. Lạ!
Lạ mà đẹp.
Với người Kinh – xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống – cũng vậy. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay. Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Nhất là sắp trẻ, cũng háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo – xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí – nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến bốn cái Tết mỗi năm là vậy.

*

Thế hệ trẻ con chúng tôi hưởng sái tinh thần mở ấy.

Lạ là tôi chưa lần nào thấy cha đi Tết. Cha ít được vui như mẹ, dù cha rất vô tư, mẹ hay la cha thế. Cha luôn ngủ ngon để hôm sau ra đồng sớm. Cha không văn nghệ, mẹ thì ưa nói chữ. Mẹ khoe mẹ học sáng. Khi có chuyện mắng chị Hai, mẹ thích đem vụ học sáng ấy ra dạy. Dân quê Chăm thuở đó ai biết chữ quốc ngữ đâu. Mãi đến thời Ngô Đình Diệm, ngoài vụ cấm Chăm mặc váy với vài thứ phong tục tập quán dân tộc, ông còn lệnh buộc tất cả công dân tối phải xách đèn theo lớp bình dân học vụ. Mẹ nói mẹ học
sáng nhất lớp.

Sau này khi có gia đình, quen biết và kết thân với nhiều bạn bè Kinh đủ lứa tuổi, tôi nhiều dịp Tết Kinh. Ông Thả ở Hải Sơn bạn vong niên tôi thuở nhà tôi làm rau muống xuống xóm biển nhờ ông sắm thuyền thúng. Mười năm và mãi lúc này, tình cảm hai bên vẫn khắng khít. Rồi ông Mười – Long Bình, bạn và là sư phụ câu của tôi. Ông với đứa con trai mỗi sáng sớm vác cần câu lội khắp mấy vùng sông nước mà mấy bạn tôi đùa không khác gì thầy trò Don Quichotte! Đi Tết mấy nhà này thì khỏi nói: ngon, no và vui vẻ.

Đấy là nói Tết nhà quê. Tết thành phố thì khác.

Ba mươi năm sau, tôi đèo Hani trên chiếc xe đạp cà tàng hơn mươi cây số qua ăn Tết nhà ông bạn tại Bình Chánh. Vẫn mâm cỗ đầy, hấp dẫn nhưng, chủ nhà chỉ dọn lên mà không mời khách. Lạ quá. Năm trước đó, tại nhà bạn văn ở Bình Thạnh “ăn Tết” cũng hệt vậy. Anh chỉ đãi vài chung rượu (rượu Tây, dĩ nhiên) với ít bánh mứt. Cả lời chúc tụng nữa. Ngoài ra: không gì cả! Bụng đói meo. Lẽ nào mình nhắc vở. Bà xã liếc mình mấy lượt, cười nhăn nhó.

Hay Tết ở thành phố nó thế? Hèn gì, Tết là mọi người đổ xô về quê.

Cứ nhớ cái Tết nhà quê. Có dựng nêu, có ngồi canh xoong bánh tét,… Và nhất là, có rất nhiều màu áo mới.

Inrasara (Trong Những mảnh đời chắp vá)

Ba Đào

Ngôi nhà tôi cần tìm nằm sâu trong một ngõ nhỏ, hai bên đường mướt xanh những tán lá, mùi hương thoang thoảng của hoa và quả chín như ướp vào mũi, cho tôi một cảm giác thật dễ chịu, một cảm giác nhẹ nhàng thư thái. Một khoảng không gian bình yên, tĩnh lặng, tách biệt khỏi khu đô thị ồn ào náo nhiệt tiếng xe cộ gần như suốt ngày đêm chỉ độ mươi cây số là cùng. Phải chăng vì thế mà Trọng Đình chọn làm chốn lui về ? Một cái tin bất ngờ gây nhiều tranh cãi trong giới anh em “bán chữ” chúng tôi. Một cặp từ vừa có tính khôi hài vừa có tính tự trào mà vui miệng chúng tôi tự gán cho cái nghiệp của mình. Có người cho là châm biếm, mỉa mai, cũng được, có sao đâu khi một vấn đề có thể nhìn từ nhiều góc độ, cũng như chuyện của anh Trọng Đình vậy. Những thông tin từ nhiều phía không làm tôi bận tâm là mấy, vì thừa hiểu tính hành lang của nó, điều chủ yếu là nguyên do của những thông tin. Trọng Đình là bậc đàn anh của lớp trẻ chúng tôi, nều muốn tôn xưng hơn nữa thì phải gọi anh là “Thầy”, nhưng anh không thích danh xưng này, nghe vừa xa cách vừa kiêu mạn. Vốn theo đuổi cái nghiệp gian nan này từ nhỏ, anh đã phải trải qua không biết bao là trở ngại. Ai cũng biết, nghệ sĩ là người chỉ muốn sống cho cái đẹp, chỉ muốn góp hết sức mình cho những giá trị tinh thần của cuộc sống, và chính vì thế gần như đối lập hoàn toàn với kinh tế, mặc dầu vẫn luôn phải phụ thuộc vào nó. Cái nghiệp văn chương lại là thứ đeo đẳng bám riết như nợ nần, người cầm bút cứ muốn trải hết lòng mình ra giấy, bởi cuộc sống chung quanh luôn có những điều trăn trở. Đó là tâm tư của những người cầm bút chân chính. Trọng Đình là một người như thế. Văn và báo chiếm cả hai tay, cuộc sống gia đình không mấy khi dư dả, nhưng nếu ai bảo đổi cây bút để lấy một thứ có giá trị vật chất thì không bao giờ. Anh thường nói “Văn chương là chiếc cầu nối tình người. Chúng ta đem rao bán cái nhân tình, thì chúng ta phải biết biểu thị cái nhân tình của chính chúng ta trước đã. Đừng có viết một đàng, xử sự một nẻo. Tất cả sẽ chỉ là sự vô nghĩa, sáo rỗng khi bản thân chúng ta không là một thực nghiệm. Viết – Trước hết là Sống đã”. Đại loại là những lời rất tâm rất tình của anh mỗi khi có dịp trò chuyện với chúng tôi. Một vài tay trong số chúng tôi có được chút tên tuổi ngày nay là cũng nhờ công dìu dắt của anh. Và quả thật, anh không hề có sự mưu cầu hay tư lợi những cái được cho mình. Dù lớn hay nhỏ, anh đều muốn có sự minh bạch, thẳng thắn, vì thế mà người ưa anh cũng nhiều, người ghét anh cũng lắm. Chẳng sao cả, ở đời chuyện yêu ghét là thường tình, chỉ cần mình không thẹn với lương tâm là đủ. Vậy đó, thế mà không hiểu sao, sau một chuyến công tác dài ngày ở Hà Nội về, tôi nghe nói anh tuyên bố gác bút. Rõ là một điều khó tin, nếu không phải là thật , thì ai ? và vì lý do gì mà tung ra cái tin ấy ? Còn nếu là thật, thì phải có chuyện gì ghê gớm nghiêm trọng lắm xảy ra, anh mới có một động thái gay gắt như vây. Bởi nếu phải từ bỏ một niềm đam mê đã thấm lậm vào tận máu thịt, thì chẳng khác nào người ta phải từ bỏ cuộc sống của mình.

Muốn rõ đầu đuôi, chỉ có một cách tìm gặp anh, xem anh có dốc bầu tâm sự. Tôi lại càng nghĩ ngợi hơn nữa khi hỏi toà soạn nơi anh làm việc, thì nghe nói anh vắng mặt cả nửa tháng nay rồi. Đến chỗ nhà anh vẫn ở thì họ bảo anh đã dọn đi. Chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra cả. Tìm hỏi lung tung, cuối cùng tôi nghe được, hình như gia đình anh chuyển về khu này. Hình như cũng được, ít ra cũng có một mấu chốt. Hỏi thăm mấy người tôi mới đến trước ngôi nhà nho nhỏ này. Gọi là nho nhỏ vì nó lọt thỏm giữa mấy cái nhà xây cao ráo đẹp đẽ bên cạnh. Một ngôi nhà ván, lợp tôn, loại nhà phổ biến của những người có thu nhập thấp. Không biết có phải…

Còn đang nghiêng ngó, tôi chợt giật mình vì một tiếng sủa oăng oắc, chú khuyển bé mình mà lớn họng, dường như chú muốn tỏ rõ cái oai phong của chủ nhà, bốn chân choãi ra lấy thế, cái mõm cứ chõ thẳng vào mặt khách chả biết lịch sự là gì. Tôi bật cười, con vật cũng biết ra trò khẩu khí nữa là. Thoáng thấy bóng người đi ra, tôi reo thầm trong cổ họng “Đúng rồi” Còn lẫn vào đâu được cái dáng ôm ốm, ngăm ngăm cao vừa phải. Anh chợt cười rộng miệng khi nhận ra tôi :

_ A , Phố hả ? Về bao giờ thế ?
_ Em về mấy ngày rồi, hỏi thăm mãi mới tìm được anh ở đây.
_ Ừ anh mới chuyển về đây, còn nhiều anh em chưa biết. Vào đi, sao chuyến đi gặt hái được nhiều chứ ?
_ Dạ cũng gọi là có cái để bày mâm dọn chén.
_ Chà, ghê nhỉ. Chú đi cũng cả tháng đấy nhỉ ?
_ Vâng, hơn mấy ngày anh ạ.

Tôi theo chân anh vào nhà, gian nhà không bao lớn, một phòng khách, một phòng ngủ và bếp, nhưng trông gọn ghẽ, giản dị. Anh chỉ bộ bàn ghế mây :

_ Ngồi đấy đi, đợi anh một tí. Lương ơi, đi mua cho bố cút rượu đi con.
_ Thôi anh ạ, em có đem về cho anh chai Lệ Mật đây.
_ Thứ đó để uống lúc khác, bây giờ uống rượu nút lá chuối khô thú hơn.

Nghĩa là cuộc rượu chiều nay ít nhất cũng kéo dài đến tối, không sao , đó lại là điều tôi đang muốn. Anh đi xuống bếp, tôi ngồi lại ngắm quanh. Trên hai vách tường đối diện nhau là hai bức tranh cũng có sắc độ tương phản nhưng trông lại rất hòa hợp. Một là cảnh một dãy núi cao với những lô xô bóng cây to rậm rạp, điểm thêm những dáng chim đang sải cánh, một là giữa đại dương mênh mông, một con tàu với cột khói to phăm phăm rẽ sóng, lác đác trong khối màu xanh ngăn ngắt là lấm chấm những hình đầu cá, đuôi cá. Cả hai bức tranh đều biểu thị một sự mạnh mẽ, hùng vĩ và khoáng đạt. Thiên nhiên luôn đem đến cho con người những cảm giác có ích. Hẳn bất kỳ ai đứng trước khung cảnh này cũng đều dậy lên trong mình một xúc cảm mạnh mẽ vững chãi.

Những đồ vật khác trong gian phòng đều được kê xếp gọn ghẽ hợp lý, chừa ra một khoảng không gian đủ để tạo được một cảm giác hít thở nhẹ nhõm.

Anh đi lên với cái khay trên tay, hai cái ly nhỏ, hai đôi đũa, một cái đĩa và một chén con. Thằng bé Lương cũng vừa về tới, tôi đứng lên đón những thứ mà hai bố con đang mang đến. Anh đổ ra đĩa gói gỏi mít, và túi nước chấm ra cái chén con. Vừa làm anh vừa nói :

_ Cao lương mỹ vị ngon đến thế nào thì mình không biết, chứ tớ là tớ mê những món ăn dân dã này nhất. Vừa hợp khẩu vị, vừa hợp cả túi mình.
_ Anh không thấy khối món dân dã giờ trở thành đặc sản cao cấp ở những nhà hàng đó sao. Dân dã nhưng nó mang đậm phong vị người mình, thực ra miếng ngon đâu ở chỗ đắt tiền, chỉ là khi ta ăn ta cảm thấy nó ngon, vì nó hợp với khẩu vị mình, chứ có đắt mấy mà mình không cảm thấy ngon thì cũng bằng vô nhghĩa.
_ Ừ, chú nói phải. Nhưng có một điều thật vô lý là, đôi khi dù người ta không cảm thấy ngon, nhưng cũng bỏ hàng đống tiền ra mà mua nó, rồi cuối cùng đổ tháo cả đi.
_ Đó đâu phải là người ta mua cho mình một món ăn, họ đang mua một ý đồ , một mục đích khác đó chứ. Và khi đổ đi thì họ cũng chẳng biết tiếc đâu, bởi vì thứ nhất là họ không phải mua nó bằng chính đồng tiền mồ hôi nuớc mắt, thứ hai là khi họ đã đạt được điều họ muốn qua lối dẫn của nó thì coi như nó đã hoàn thành nhiệm vụ rồi, tiếc làm chi cho hao ca lo.

Anh cười hà hà :

_ Dạo này chú mày cũng miệng lưỡi ghê nhỉ.
_ Người ta chỉ đi có một ngày đàng, đã có thể học được cả sàng khôn, huống là em đi ngược đi xuôi quanh năm suốt tháng lại không nhét được tí gì vào cái hộp sọ này thì chết dấp đi cho rồi.
_ Nào nâng ly cạn cho một buổi chiều lý thú, nào…

Chạm nhẹ hai cái ly, tôi nhấp một ngụm, ngậm ngậm một chút ở đầu lưỡi để nghe vị cay nồng, thấm đậm lan dần xuống cổ, làm thêm ngụm nữa, hết một ly, tôi nghe nóng ra hết cả người, cảm giác bao mạch máu mình đang giãn nở và tuần hoàn. Tôi khà một tiếng khoan khoái :

_ Đúng là “Cố sanh vi đắc” (Thực chất vẫn tốt hơn)
_ Anh đã nói mà, ba cái rượu đóng chai vớ vẩn sao qua được thứ này. Nhà này họ nấu rượu mấy đời rồi, thuần gạo, không pha phách gì cả. Lúc đầu nghe giới thiệu, anh chưa tin, sau uống thử, quả đúng thế nên nghiện luôn.
_ Những nơi sản xuất nhỏ lẻ mà giữ được uy tín lâu dài vậy là rất hiếm, nói không phải vơ cả chứ nhiều người chỉ đầu voi đuôi chuột, làm gì cũng chỉ được lúc đầu, có tiếng rồi lại ham lãi lớn đâm làm ẩu.
_ Hạng người ấy là hạng nông nổi, ăn xổi ở thì, bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội, nếu muốn tồn tại lâu dài đều phải cần có uy tín. Làm mất uy tín cũng có nghĩa là tự hại chính mình. Lại uổng cả bao công sức gây dựng.
_ Đáng buồn là ở chỗ thường có rất nhiều người chỉ nghĩ đến cái lợi nhất thời, có thôi thì cũng đã vơ đẫy một mớ rồi.
_ Chính những ý nghĩ hạn hẹp ấy mà nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một cộng đồng. Hiện nay đất nước đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập, chỉ cần một thành phần nào đó không biết giữ chữ tín là có thể làm chậm bước tiến của cả dân tộc.
_ Mình nói thế, một số người cứ cho là mình đao to búa lớn, thổi phồng vấn đề, chứ họ đâu có nghĩ mọi sự đều bắt nguồn từ những nhỏ nhặt nhất. À mà thôi, bây giờ không nói chuyện thiên hạ nữa, nói chuyện mình đi anh.

Tôi đột ngột chuyển đề tài khi chợt nhớ ra mục đích chính của mình. Anh gắp một gắp gỏi vào bát tôi rồi cười khà :

_ Thì cứ từ từ đã, có người rồi khắc có ta, từ chuyện thiên hạ đến chuyện nhà có xa xôi gì.
_ Nghe bọn họ nói đông tây lung tung cả, em sốt ruột chẳng biết thực hư ra sao. Anh cho em biết đi, chuyện xảy ra thế nào.
Anh cười kiểu không tròn vành môi :
_ Mình thấp cơ kém cánh, không đủ tài đối chọi với thiên hạ thì lo tìm đường tìm nẻo mà cuốn xéo đi chứ sao.
_ Này cái giọng mát mẻ, thẽ thọt như dao giấu lưỡi ở đâu ra đấy, đem đổi kiểu “xung hổ xổ toẹt” lấy nó à ?
_ Ngẫm mới thấy mình dại, vô cùng dại khi cứ mang phơi hết ruột ra. đã chẳng lấy lòng được ông to bà lớn nào lại dễ bị ăn đòn, cứ thơn thớt mà ăn người lại hóa hay.
_ Anh tưởng muốn mà được à, cha mẹ sinh ra cái thân ta, ông trời ghép cho ta cái tính cách, có hay có dở thì cũng chết rứa rồi, thay mô được . Mà thế mới là mình chứ.
_ Nhưng người ta khôn nên biết liệu thế mà đi với ma với bụt. Mình thì chẳng biết quẹo cua thế nào, cứ thẳng thừng thừng mà bước, có khi đâm sầm vào đá rồi mới biết đau.
_ Ở đời biết thế nào là khôn là dại hở anh ? Nhiều khi cứ tưởng mình khôn lắm, đến chừng cái trí khôn nó đột nhiên thức giấc mới biết mình đã từng ngu ngốc đến thế nào. Mà anh coi em là ma hay bụt, sao lại nói cái giọng ấy ?
_ Cái loại như chú mày mới là đáng sợ đấy “Rành rành thì ra bụt, thậm thụt lại ra ma”

Tôi bật cười, biết anh đang mượn tôi để ám chỉ ai đấy :

_ Ừ thôi, bụt bụt ma ma gì cũng được, anh kể tiếp đi.

Trọng Đình sửa lại thế ngồi, nét mặt anh nghiêm hẳn lại :

_ Anh hỏi chú, nếu để được tồn tại mà phải bẻ cong ngòi nút, chú có làm được không ?
_ Không, dứt khoát là không ? Thà bỏ bút, chứ không bẻ bút.
Tôi nói ngay, anh gật gù rồi tiếp :

_ Vừa rồi anh có làm cái phóng sự, phóng sự này đã ngốn rất nhiều thời gian truy tìm tư liệu của anh , mà mức độ thì không thể xem nhẹ. Nó lại đụng chạm đến một số tai mặt. Thế nhưng nó được lệnh đình in, với lý do lấp lửng “Có đôi chỗ cần xem lại”. Lúc đầu anh chưa nghĩ là nó có vấn đề, sau nhận được gợi ý là nên sửa sang lại một chút, mà những điểm phải sửa lại là những chi tiết then chốt của sự vụ. Anh nhất quyết không chịu. Ngay sau đó, nhận được vài cú phôn hăm dọa, đồng thời hứa hẹn một con số đáng kể. Đương nhiên những chiêu thức đó không có tác dụng với anh . Cuối cùng, cũng có kẻ ra mặt lăm le một cái mũ trên đầu.Còn lạ gì tiếng Việt mình phong phú và giàu có, một chữ hai ba nghĩa, hoặc hai ba chữ một nghĩa, khi đã cố tình thì đánh lệch ý chính của nó đi chẳng khó khăn gì. Tất nhiên là anh phải phản ứng, chúng nhân đó ghép anh vào thế, hòng gây sức ép để ỉm chuyện kia đi. Cậy thế cậy quyền, đập bàn vỗ ghế, Đáng nói nhất là trong đó có những tên tuổi xưa nay vẫn tự cho mình là dân trí thức. Thế mà chẳng phân biệt được đúng sai thế nào.
_ Anh à, trí thức cũng năm bảy đường trí thức, có thứ trí thức vay, văn hóa mượn, bằng cấp mua, đâu cứ phải dán cái mác trí thức vào là đã thành người hiểu biết đâu. Anh có lạ gì cái loại ấy.

_ Đúng chẳng lạ gì, nhưng nó lại có cơ hội trèo lên đầu lên cổ mình mới ức chứ. Anh cũng chẳng chịu thua đâu, khi cái phóng sự ấy chình ình trên mặt một tờ báo khác, thì cũng là lúc anh nhận quyết định thôi việc. Thừa biết đó là việc sẽ đến, anh cũng chẳng tiếc nuối gì một nơi không thuộc về mình. Muốn thì chẳng thiếu gì cách. Chứ vì miếng sống mà phải khom lưng cho bọn làm đủ cách để có được “ghế trên ngồi tót…” rồi ra “sỗ sàng” với mình thì không được.

Đến đây thì tôi đã hiểu tính chất của câu chuyện là gì. Buồn cho cái lề thói người đời, sao họ lắm thủ đoạn để mưu cầu lợi lộc, để che giấu bưng bít những xấu xa bỉ ổi của mình thế nhỉ ?

_ Đó là một vấn nạn không chỉ ở một góc một khóm nào anh ạ, anh thấy không,cứ vụ nào đưa ra tòa là toàn bao nhiêu tỷ lòi ra. Mà đã không tư cách, không thực lực, thì lại giỏi lẹo lươn bao biện. Không biết đến bao giờ mới hết được cái bọn làm nghèo đất nước ấy.
_ Giá như trên sân cỏ ấy nhỉ, có một ông trọng tài công minh, hai thẻ vàng là thành thẻ đỏ để mà tiêu trừ những loại sâu mọt ấy đi. Miệng thì thơn thớt “Vị nghệ thuật, vị nhân sinh” nhưng tuồng một lũ vị kỷ cả.
_ Thì nghệ thuật của chúng là ở chỗ đó đó. Khờ khạo như anh em mình sao biết cách thụi vào lưng nhau mà mặt cứ tươi như hoa được. Nhưng mà anh yên tâm đi, luật đời cũng công bằng lắm, có sự trừng phạt cả đấy. Đừng tưởng cứ nuốt trôi họng là tha hồ vênh vang, không đâu, ăn một nhả mười, thậm chí là trăm là ngàn nữa kia. Mà đã đến lúc nhả thì tận cùng vận hạn, có hối cũng chẳng kịp nữa. Mình cứ chịu khó sống khờ sống ngốc đi anh ạ, để con cháu mình còn được yên thân mà hưởng phước, chứ cứ khôn ngoan cho lắm vào rồi đời sau phải gánh bao nghiệp oan trái, tội cho chúng nó.
_ Chú mày giỏi, hôm nay anh mơi công nhận là chú mày giỏi. Nào cạn chứ.

Đợi cho men rượu tan trong cổ họng, tôi mới tiếp :

_ Nói đến vấn nạn của xã hội thì không bao giờ dứt được, kiểu này nó đẻ ra kiểu khác, kiểu sau bao giờ cũng tinh vi hơn kiểu trước, mình không làm được gì nhiều thì cũng phải cố góp chút công sức mà phanh phui mà ngăn chận, chứ đừng lùi bước anh ạ.
_ Ai bảo chú là anh lùi bước ?
_ Em nghe họ bảo anh tuyên bố gác bút !
_ Chú tin à ?
_ Không tin thì em mới tìm gặp anh cho được đấy chứ.
_ Anh mà bỏ bút thì chú mày cũng đi tu.

Tôi cười nhẹ nhõm :

_ Có thế chứ. Nhưng mà anh tưởng đi tu là yên thân à, không đâu , đó cũng là một tiểu xã hội, cũng không thiếu những thói tật thường tình đâu, cơ bản vẫn là do khí chất của con người thôi anh ạ.
_ Chuyện trâu lành trâu ngã ấy mà, kể gì. Hơi đâu mà nệ cái dư luận. Có một sự trùng lặp là, cũng trong thời điểm đó thì anh lo mua cái nhà này, bao năm rồi chung chạ trong gia đình, chật hẹp tù túng, chắt bóp, tom góp cũng tàm tạm một chút này, không bì được với ai, nhưng là cái chốn của riêng mình là tốt rồi.
_ Em thấy khung cảnh ở đây cũng dễ chịu. Chúc mừng anh.
_ Nào , mừng thì phải cạn chứ.

Tiếng thủy tinh va vào nhau nghe vui tai, anh tợp xong một ngụm thì đổi giọng nghê nga “Nghiêng vai vì nghiệp ba đào. Ba đào mấy cũng…chứ ư bôn đào…thì à không…a…”

Cả hai chúng tôi cùng cười vang. Vừa lúc ấy vợ anh về, chị vui vẻ góp :

_ Hai anh em có gì mà cười vui thế ?

Đàm Lan

Viết cho những mảnh ký ức cuối năm…

Đó là một buổi chiều cuối năm, sau khi dọn dẹp xong nhà cửa, tôi ngồi trước máy tính nghe Lillian Bùi, một cô gái người Việt sống ở Mỹ có khuôn mặt bầu bĩnh, ôm cây đàn ghi ta và hát trên Youtube bài hát do cô tự viết lời và phổ nhạc.

You can’t go back to childhood
The road doesn’t go that way
It’s overgrown with brush and woods
The gates are locked, decayed…

(Tạm dịch:
Anh chẳng thể nào về lại ấu thơ đâu
Con đường không dẫn về phía ấy
Giữa um tùm bụi rậm và rừng cây
Cánh cổng xưa khóa kín rồi, đổ nát)

Giọng hát và giai điệu mộc mạc ấy ngay lập tức đưa tôi về những ngày xưa. Phải, cô gái ạ, tuổi thơ của chúng ta chỉ đến một lần trong đời. Và từ đó trở đi, ta sẽ nhớ về nó mãi, nhớ về nó rất nhiều lần trong suốt quãng đời còn lại. Tôi biết mình chẳng thể quay lại nữa, nhưng xin đừng ngăn cản tôi nhớ nhung.

Những ngày xưa tươi đẹp đã đi qua. Những điều gần gũi như cái chợ gần xóm cũ, mùi của những cọng rau ngày còn bé, thiên nhiên trong trẻo chung quanh và cả mối tình thơ dại nào đó. Nó dệt nên tuổi thơ của ta.

Cuộc đời của chúng ta cơ hồ được ghép bởi những mảnh ký ức. Chính thế, những mảnh ký ức vỡ làm nên đời ta. Những kỷ niệm êm đềm và thơm ngát như ngọn gió mùa xuân thổi qua thềm nhà buổi chiều xa xưa nào. Một mối tình dang dở. Một nụ hôn chưa kịp trao. Cái nắm tay vội vàng. Một sai lầm không thể cứu vãn. Một tổn thương ta gây ra cho ai đó, hoặc ai đó gây ra cho ta. Những mảnh vỡ của ký ức, đôi khi nhọn hoắt, đôi khi nát vụn…vẫn trở về với tôi hoài vào những chiều cuối năm.

Khoảng khắc đó, tôi có thói quen ngồi xuống một nơi yên tĩnh, và nhâm nhi “chiếc bánh Madeleine”(*) của đời mình, và cố lắp lại những mảnh vỡ đó…Chiếc bánh Madeleine của bạn là gì? Điều gì có thể đưa bạn trở lại ngày xưa? Với tôi đó là món ăn mẹ nấu như hồi bé thơ. Cuốn album cũ. Con đường cũ. Người bạn cũ. Một món đồ chơi cũ…

Tôi quen một người bạn. Anh thường ra phố Lê Công Kiều mua đồ cổ. Thật ra anh chẳng mua thứ gì đắt đỏ vì anh không có nhiều tiền. Anh chỉ mua những chiếc tô gấm chiết yêu vẽ xanh trắng. Anh chất từng chồng trong phòng mình. Tôi những tưởng anh mê lắm. Nhưng không, anh mua vì nhớ mẹ. Anh mua vì lúc anh còn nhỏ, gia đình còn nghèo, mẹ anh được ai đó tặng cho hai cái tô gấm và mấy cái chén sứ xanh trắng. Mẹ anh quý lắm. Anh nhớ, chỉ những ngày Tết, mẹ mới cho hai anh em anh ăn cháo gà trong chiếc tô gấm trong bữa cơm ngày Ba mươi.

Rồi chiến tranh. Những món đồ sứ ít ỏi đó mẹ anh không giữ được. Và bà tiếc mãi, tiếc mãi…cho đến ngày ra đi. Anh nhớ mẹ, anh nhớ những buổi tối giao thừa sau khi dọn dẹp xong, anh ngồi nép bên mình mẹ nhìn mẹ anh lau sạch những chiếc chén xanh trắng tinh xảo và trầm trồ mãi. Và từ đó, dành dụm số tiền lương còm, anh mê mải tìm mua lại chút tuổi thơ xưa.

Tôi vẫn sống ở nơi mình từng sinh ra. Nhưng những hình ảnh cũ xưa đã không còn nữa. Cái giếng nước cũ. Hàng rào bông bụp đỏ. Tôi nhớ chúng. Những trái táo gai chua và xanh hái trên cây trong cái sân nhỏ trước nhà ở Phú Nhuận. Những trái mận từ nhà hàng xóm. Đôi khi, tôi nhớ tuổi thơ nên đi bộ ra đầu hẻm. Ngôi nhà đóng kín cửa. Tôi bấm chuông xin vào, chỉ để nhón chân lên hái một chùm mận. Bà cụ mỉm cười. Tôi cũng mỉm cười. Đôi khi, tôi đứng lại bên một bức tường, và nhặt lên một trái mận rơi. Những trái mận trong vườn, trái hồng nhạt và nhỏ, thật nhiều hạt. Tôi nhớ những cái hạt của trái mận biết bao nhiêu. Cuộc đời lạ lùng đến thế, chỉ là những hạt mận, vậy mà cơ hồ không còn thấy được bao nhiêu nữa. Nói gì bãi bể nương dâu…

Đôi lúc, tôi tin rằng dăm khoảnh khắc tìm lại tuổi thơ trong những ngày năm cùng tháng tận ấy đã trao lại cho tôi nguồn năng lượng mạnh mẽ, đến nỗi có thể giúp tôi vượt qua rất nhiều ngày khó khăn của thời gian còn lại trong một năm.

Cũng như những khoảnh khắc ta cuống quýt trở về nhà để đón Giao thừa vậy… Đó là thời khắc ta biết mình sắp mất một cái gì đó mơ hồ. Cái cảm giác ấy thật hoang mang. Đầy tiếc nuối, đầy hy vọng và cũng đầy nghi ngại. Tôi vẫn nghĩ về thời khắc giao thừa giống như một cánh cửa thời gian. Lật qua, lật lại. Đứng ở đó, ngay trước bàn thờ ông Thiên. Cỗ máy thời gian sẽ đưa ta đến một nơi khác. Biết đâu là ngày xưa…

Về nhà đi em. Sắp giao thừa rồi đó…Nhiều người bảo rằng chỉ thực sự thấy được không khí ngày Tết khi về ngôi nhà của mình dù nó có nhỏ bé thế nào…Về nhà đi. Ngồi xuống chiếc ghế ấm cúng thân quen này và nhâm nhi một “chiếc bánh Madeleine”. Rồi giao thừa sẽ đưa ta trở về tuổi thơ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng vừa đủ để xoa dịu những tổn thương của chính ta. Để tha thứ cho những lỗi lầm của ta. Để làm thanh sạch trái tim ta lần nữa. Để tìm lại bình yên.

Nếu bạn không cảm thấy bình yên khi nhớ về thời thơ ấu, thì chẳng có tháng ngày nào nữa trong cuộc đời bạn có thể cảm thấy bình yên.

Đông Vy và Phạm Công Luận

(*)Madeleine là loại bánh bông lan mềm hình con sò xuất xứ từ Pháp, nhẹ, xốp, có vị béo thơm. Trong tác phẩm “Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất” , Marcel Proust kể lại một buổi chiều đông rét mướt, khi bị nhuốm lạnh, tác giả nhấp một ngụm nước trà hòa với những mảnh vụn của một chiếc bánh “madeleine” để sưởi ấm người. Và hương vị của chiếc bánh thuở ấu thời đã đột ngột đánh thức những ký ức và cảm xúc thầm kín, đưa ông trở về quá khứ đi “tìm thời gian đánh mất”

Cho hay là giống hữu tình

Ca dao là bằng chứng thuyết phục về đời sống tình cảm phong phú của người bình dân. Có thể điểm danh điểm diện một số phương diện tình cảm đó.
Là nhân hậu ân tình.
Là thương cảm sẻ chia
Là nặng tình nặng nghĩa.
Và được xem như là thống soái trong ứng xử tình cảm bình dân là rất mực thủy chung.

Như cây đa chờ mãi khách bộ hành.
Như bến vắng chờ con thuyền rong ruổi

Và trong ta dậy lên một cảm thương trân quí cho những vẻ đẹp truyền thống.

Và như một phản xạ có điều kiện, người ta thường khước từ những vỉa tình cảm trái
ngược. Người ta thế, và tôi cũng thế.

Ấy vậy mà có một ngày tâm trí tôi cứ tưng tửng, tưng tửng, ấy là khi tư tưởng mô phạm vững chãi trong tôi chạm nảy lửa vào một câu ca dao dị dạng:

Đa tình thì vướng nợ tình
Trách người đã vậy, trách mình sao đang

Ô hay! Cái môi trường đã giáo dục chọn lọc cái tình thủy chung, đã tỉa sửa bằng hết những gì tà vạy lại ngang nhiên nảy nòi ông ổng một câu hát đa tình. Mà hấp dẫn và cám dỗ đáo để. Mà cam đoan rằng bất cứ cái người hiện đại nào cũng gặp mình trong cái tình ca dao ngót chừng vài trăm niên kỉ ấy.

Tôi cũng nghênh ngang nhận mình là giống đa tình (!) nên lại càng đồng cảm mà trân trọng lắm. Rồi băn khoăn dò tìm xem cái giống tình đi lạc đi loài ấy có kịp mọc lên thành vườn thành vỉa trong vườn ca dao xưa không.

Thật bất ngờ, cái mà tôi gặp được nếu không là phổ biến thì cũng đã không chịu dấu mình đơn lẻ.

Này là lời trách cứ người bắt cá hai tay:

Đa tình chi rứa hở trăng
Nửa treo núi nọ, nửa giằng sông kia.

Đích thị là mày đa tình rồi nhé!

Rồi sau hai đơn vị đại diện chính danh đầy can đảm ấy là đôi nét đồng dạng, tuy chưa kịp chính danh, tuy còn núp bóng dấu mình.

Là cái đèo bòng:

Anh đà có vợ thời thôi
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!

Lời trách không khỏi giấu một chút nao nao. Và lời đáp cũng táo tợn nghệ sĩ:
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Đáng chú ý là đôi ba lời hát ghẹo, khó có thể khen ở cái tình chung thủy, vậy mà đâu chỉ một hai lần đôi ba người ngâm nga thích thú.

Chanh chua quýt ngọt bòng the
Thấy em còn nhỏ anh ve để dành.

*
Yêu em từ thuở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru.

Có lẽ cái chuyện những câu hát đa tình này manh nha từ hồi người viết phải trao đổi với học trò về một ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.

( Trích trường ca “ Mặt đường khát vọng”)

Và kết luận bắt buộc cho các lời giảng của các nhà giáo rằng đó là nhân dân thủy chung ( Yêu em từ thuở trong nôi ), quí trọng tình nghĩa ( quí công cầm vàng ), và quyết liệt dữ dội với kẻ thù ( đi trả thù mà không sợ dài lâu ).

Tôi băn khoăn mãi. Chao ôi, yêu em từ thuở trong nôi là thủy chung ư? Một thủy chung thật tội lỗi, đáng bỏ tù từ sáu tháng đến ba năm! Có chăng là cái đa mang được nói quá lên một chút. Vậy sao lại cứ cố tình gán ghép cái đa tình thành cái chung tình?

Phải chăng vì trong thẩm định đạo đức thì cái đa tình là cái phi chuẩn mực cần phê phán mà cái chung tình là phẩm chất đáng tuyên dương? Và vì vậy nên lộng giả thành chơn, và cái câu ca kia nghiễm nhiên được phong tặng cho cái phẩm chất mình không có, và bù lại bị tước đi cái mình vốn có.

Đành rằng thủy chung là phẩm chất , nhưng sự lên án thái quá với những đa mang là có nên chăng?

Hãy xem thái độ của người bình dân, với cái đa tình, họ ít nhiều trách móc, mà chưa có lời kết tội! Thì trách người đã vậy trách mình sao đang ( sao đành ) mà!

Nghe cứ như một khoan dung tòng phạm!

Và tôi âm thầm xem cái ý táo bạo kia cũng là phẩm chất của những người làm ra ca dao.
Chung tình là phẩm chất của nhân dân.
Mà đa tình là phẩm chất của nhân dân nghệ sĩ!
Nói thế tôi đâm lo quá! Khéo không khách quan, khéo lại bào hao bào chữa cho mình!
Mà may thay, lúc bí đàng bí lối, sắp đánh nước bài liều, lại vớ đâu được một tứ khá hay của một nhà thơ có tên tuổi:

Xem qua truyện cổ nước mình
Rất nhân hậu, lại đa tình đa mang.

Đó là kết luận của Phan Thị Thanh Nhàn. Thôi thì mời chị Nhàn đi trước gánh búa rìu dư luận, ai bảo chị liều lĩnh dám bảo dân ta đa tình đa mang trước!

Lại còn có một nhà thơ nữa, còn liều hơn cả chị Nhàn, khi dám tự nhận mình đích thị đa tình:

Anh đa tình nên cứ muốn lần theo
Xấu hổ gì đâu mà anh dấu diếm
Em muốn làm dâu thì em ở lại…

Phạm Ngọc Cảnh

Yên chí về quan điểm rồi tôi nhé!
Quả là người không biết điều khi thân mình còn chạy tội chưa xong lại lăm le đi nài nỉ gỡ tội cho người khác. Song quả thật tôi có ý đó.Rằng:

Những người làm ra những câu ca dao mộc mạc ấy họ thật nhiều phẩm chất.
Bậy một cái là họ cũng rất đa tình.

Thôi thì vì những cái được kia mà thể tất cho họ cái phần còn khuất tất!


NGUYỄN TẤN ÁI