Lưu trữ theo thẻ: Song ngữ

Để dùng được — To be of use

Giám đốc Local Motion
Giám đốc Local Motion

Chào các bạn,

Mình biết đến bài thơ “To be of use” của chị Marge Piercy trong một hoàn cảnh đặc biệt.

Tháng một năm 2005, mình khăn gói từ Hà Nội đi tới thị trấn Burlington ở tiểu bang Vermont, USA theo học chương trình thạc sĩ về kỹ thuật điện tử. Phương tiện đi lại dường như chẳng có gì ngoài xe bus và… đôi bàn chân trắng 🙂

Thật đội ơn (Thankfully), anh hàng xóm Chapin Spencer đã giới thiệu và giúp mình có được một chiếc xe đạp rất xinh và tốt để đi miễn phí. Anh Chapin Spencer là director của tổ chức Local Motion, tổ chức phi vụ lợi, chuyên khuyến khích di chuyển không dùng động cơ như đi bộ, chạy, xe đạp, pa tanh để bảo vệ môi trường và phát huy lối sống lành mạnh trong cộng đồng 🙂

locomotion1

Đến xưởng để nhận xe đạp vào ngày thứ 7 cuối tuần hôm đó, mình rất xúc động và vui bởi trước mình là những anh chị em lấm lem cười đùa rất vui vẻ, đang sửa xe cũ thành xe sử dụng lại tốt. Đa số họ là các tình nguyện viên, các sinh viên, các bạn nông dân, kỹ sư, các em bé. Họ đến đây để có một bữa tiệc xe đạp thứ bảy (Bicycle Jam) 😛

Trên tường của xưởng, là ảnh anh director Chapin vui vẻ trong bộ quần áo bình thường, lịch sử của Local Motion, danh ngôn Những người đổi thay thế giới, và bài thơ “To be of use” sau đây.

Ngày hôm đó mặt trời thật sáng và bầu trời thật cao.

Tự hỏi, nếu ở thành phố mình cũng có nhiều party như thế thì vui nhỉ 🙂

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

.

locomotion2
To Be of Use
Để dùng được

The people I love the best
jump into work head first
without dallying in the shallows
and swim off with sure strokes almost out of sight.
They seem to become natives of that element,
the black sleek heads of seals
bouncing like half-submerged balls.

Những người tôi yêu quý nhất
nhào đầu ngay vào công việc,
không lông bông chổ nước cạn.
và bơi với những sải tay chắc chắn đi tít mù xa.
Họ hình như đã trở thành sinh vật của nơi đó,
những đầu hải âu đen bóng
nhấp nhô như những quả cầu chìm một nửa dưới nước

.
locomotion3
I love people who harness themselves, an ox to a heavy cart,
who pull like water buffalo, with massive patience,
who strain in the mud and the muck to move things forward,
who do what has to be done, again and again.

Tôi yêu những người buộc mình vào gọng, như chú bò buộc vào xe nặng
kéo như trâu, với kiên nhẫn khổng lồ
gồng mình trong bùn và phân để kéo mọi sự tiến tới,
làm việc cần làm, làm đi làm lại.

.

I want to be with people who submerge
in the task, who go into the fields to harvest
and work in a row and pass the bags along,
who are not parlor generals and field deserters
but move in a common rhythm
when the food must come in or the fire be put out.

Tôi muốn được cùng với những người đắm mình
trong công việc, ra đồng gặt hái
và làm việc trong hàng người chuyền những túi gặt,
họ không phải tướng văn phòng và lính trận đào ngủ,
mà chuyển động trong nhịp điệu chung
khi thức ăn phải có hay đám cháy phải dập.

.
locomotion4
The work of the world is common as mud.
Botched, it smears the hands, crumbles to dust.
But the thing worth doing well done
has a shape that satisfies, clean and evident.
Greek amphoras for wine or oil,
Hopi vases that held corn, are put in museums
but you know they were made to be used.
The pitcher cries for water to carry
and a person for work that is real.

.

Công việc của thế giới bình thường như bùn.
Nếu hỏng, nó làm bẩn tay, vỡ thành đất vụn.
Nhưng điều đáng làm, nếu làm tốt
sẽ có hình thù thật thỏa đáng, sạch sẽ và minh chứng.
Vò Hy Lạp đựng rượu hay dầu,
Hũ Hopi đựng ngô, được bày trong bảo tàng,
Nhưng bạn biết, chúng đã được tạo ra để dùng.
Chiếc bình khóc gọi nước để đựng
và con người khóc gọi công việc thực sự.

Marge Piercy
Nguyễn Minh Hiển dịch

I’m a believer — The Monkees

themonkees

The Monkees là môt ban nhạc 4 người, thành lập năm 1966 tại Los Angeles để đóng một chương trinh nhạc kịch hàng tuần trên TV. Nhóm này có 4 người–Micky Dolenz, Davy Jones, Michael Nesmith, và Peter Tork. Chương trình TV chỉ sống được 3 năm, 1966-1968, nhưng The Monkees đã nổi tiếng như một ban nhac trẻ trình diễn sống, ngoài việc đóng nhạc kịch trên TV. Có một năm nào đó trong thập niên 70s, một cuốn phim của The Monkees đã được chiếu ở Sài Gòn như là phim hài ngày Tết.

Trong thập niên 1980s các chương trình TV và nhạc của The Monkees ăn khách trở lại ở Mỹ. Ngày nay một vài đài truyền hình tại Mỹ thỉnh thoảng có chiếu lại các chương trình cũ của The Monkees.

Hiện nay The Monkees vẫn có website để liên lạc thường xuyên với fans.

Bản nhạc I’m believer là một bản nhạc rất nổi tiếng, và ngày nay vẫn còn nghe thường xuyên trên các đài radio nhạc rock nhẹ.

I’m A Believer

I thought love was
Only true in fairy tales
Meant for someone else
But not for me
Love was out to get me
That’s the way it seems
Disappointment haunted
All my dreams

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

I thought love was
More or less a given thing
The more I gave the less
I got, oh yeah
What’s the use in trying
All you get is pain
When I needed sunshine
I got rain

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

What’s the use in trying
All you get is pain
When I wanted sunshine
I got rain

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

Then I saw her face
Now I’m a believer
Without a trace
Of doubt in my mind
Now I’m a believer
Yeah, yeah, yeah
Yeah, yeah, yeah
I’m a believer
Then I saw her face
I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m a believer

Composed by: Neil Diamond
The Monkees

.

Tôi là một tín đồ

Tôi hằng nghĩ rằng
Tình yêu chỉ có trong truyện cổ tích
Cho người khác
Không phải cho tôi
Tình yêu cứ đi hành tôi
Hình như nó là vậy
Thất vọng ám ảnh
Các giấc mơ của tôi

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Bây giờ tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ
Tôi không rời nàng được
Dù nếu tôi cố rời.

Cố gắng đề làm gì
Chỉ đớn đau thôi
Khi tôi cần nắng
Tôi gặp mưa

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ
Tôi không rời nàng được
Dù nếu tôi cố rời.

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi là một tín đồ
Vâng, vâng, vâng
Vâng, vâng, vâng
Tôi là một tín đồ
Rồi tôi thấy mặt nàng
Tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi là một tín đồ

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ

Trần Đình Hoành dịch
.

Nơi tâm trí không có sợ hãi

freedom
Where the Mind is Without Fear

Where the mind is without fear and the head is held high;
Where knowledge is free;
Where the world has not been broken up into fragments by narrow domestic walls;
Where words come out from the depth of truth;
Where tireless striving stretches its arms towards perfection:
Where the clear stream of reason has not lost its way into the dreary desert sand of dead habit;
Where the mind is led forward by thee into ever-widening thought and action—
Into that heaven of freedom, my Father, let my country awake.

—from Gitanjali by Rabindranath Tagore

.

Nơi tâm trí không có sợ hãi

Nơi tâm trí không có sợ hãi, và đầu ngẩng cao;
Nơi kiến thức có tự do
Nơi thế giới chưa vỡ thành những mảnh vụn, chia cắt bởi những mảnh tường quốc gia chật hẹp;
Nơi ngôn từ cất lên từ chiều sâu của sự thật;
Nơi nổ lực không mệt mỏi giang tay với tới hoàn thiện;
Nơi dòng chảy trong suốt của lý lẽ không lạc lối trong cát sa mạc buồn thảm của những thói quen chết ;
Nơi tâm trí được Cha dẫn dắt đến suy tư và hành động rộng mở không ngừng–
Lạy Cha, hãy đánh thức đất nước con đi vào thiên đường tự do đó.

Nguyễn Minh Hiển dịch

Chú thích: Rabindranath Tagore viết bài này như là một lời nguyện ngắn cho quê hương của ông, trước khi Ấn-độ được độc lập từ đô hộ của Anh quốc. Ông là người Á châu đầu tiên đoạt giải Nobel, năm 1913, văn chương.

Tự hứa

1408299Rằng mình

Đủ mạnh mẽ để không gì có thể xáo trộn sự an bình của tâm hồn bạn.

Nói về sức khỏe, niềm vui, và sung túc với mọi người bạn gặp mỗi ngày.

Hãy làm cho bạn hữu thấy rằng mỗi người đều có gì đặc biệt.

Hãy nhìn vào mặt tươi sáng của mọi vấn đề và khiến cho tinh thần lạc quan thành hiện thực.

Chỉ nghĩ đến những điều tốt nhất, làm việc vì những điều tốt nhất, và mong chờ những điều tốt nhất.

Hãy hăng hái với thành công của người khác giống như với thành công của mình.

Hãy quên đi sai lầm của quá khứ và hăm hở đến thành tựu lớn hơn của tương lai.

Hãy cho mình một nét mặt luôn tươi vui và trao tặng mọi sinh vật bạn gặp một nụ cười.

Hãy dành thật nhiều thời gian để cải thiện chính mình đến độ không có thời gian phê bình người khác.

Quá bao la nên không lo lắng, quá cao thượng nên không oán giận,

quá mạnh mẽ nên không sợ hãi, và quá hạnh phúc nên không cho phép muộn phiền có mặt.

Huỳnh Huệ dịch

.

Promise Yourself

To be strong that nothing can disturb your peace of mind.

To talk health, happiness and prosperity to everyone you meet daily.

To make all your friends feel that there is something special in them.

To look at the sunny side of everything and make your optimism come true..

To think only of the best, to work only for the best, and expect only the best.

To be just as enthusiastic about the success of others as you are about your own.

To forget the mistake of the past and press on to the greater achievement of the future.

To wear a cheerful countenance at all times and give every living creature you meet a smile.

To give so much time to the improvement of yourself that you have no time to criticize others.

To be too large for worry, too noble for anger, too strong for fear, and too happy to permit the presence of trouble.

Anonymous

Mọi điều tôi cần

creek
Mọi điều tôi cần

Tôi cầu xin sức mạnh và
Chúa đã ban tôi khó khăn để giúp tôi mạnh mẽ.

Tôi cầu xin khôn ngoan và
Chúa đã ban tôi những vấn đề để giải quyết.

Tôi cầu xin thịnh vượng và
Chúa đã ban tôi sức mạnh và khối óc để làm việc.

Tôi cầu xin can đảm và
Chúa đã ban tôi hiểm nguy để vượt qua.

Tôi cầu xin kiên nhẫn và
Chúa đã đặt tôi vào tình huống buộc tôi phải chờ đợi.

Tôi cầu xin tình yêu và
Chúa đã ban tôi những người hoạn nạn để giúp đỡ.

Tôi cầu xin ân huệ và
Chúa đã ban tôi các cơ hội.

Tôi chẳng nhận được gì tôi muốn
Tôi nhận được mọi điều tôi cần.

Mọi nguyện cầu của tôi đều được đáp trả.

Loan Subaru dịch

.

prayeranswered
Everything I Needed

I asked for strength and
God gave me difficulties to make me strong.

I asked for wisdom and
God gave me problems to solve.

I asked for prosperity and
God gave me brawn and brains to work.

I asked for courage and
God gave me dangers to overcome.

I asked for patience and
God placed me in situations where I was forced to wait.

I asked for love and
God gave me troubled people to help.

I asked for favors and
God gave me opportunities.

I received nothing I wanted
I received everything I needed.

My prayers have all been answered.

Anonymous

Ngụ Ngôn Từ Một Giấc Mơ

susanboyle
Câu chuyện của Susan Boyle là ngụ ngôn thời hiện đại của chúng ta. Người phụ nữ trung niên này là một ca sĩ rất tài năng, và đức hạnh, là người con hiếu thảo chăm sóc bà mẹ góa nhiều năm cho đến khi bà qua đời 2 năm trước.

Vì sao Susan Boyle bị cười nhạo khi cô bước ra sân khấu trong cuộc thi vòng loại “ Nước Anh Có Tài Năng 2009” vào một đêm thứ bảy. Cuộc thi này đã kéo dài từ tháng 1 đến tháng 2 / 2009.

Người phụ nữ này, mới đây thất nghiệp,  sống một cuộc đời lặng lẽ , chỉ có ca hát làm lẽ sống; mà kinh nghiệm ca hát của cô chỉ giới hạn ở ban đồng ca nhà thờ và hát Karaoke

Khi mới được sinh ra , cô bị thiếu oxy, và do đó rất khó khăn trong học tập. Khi đi học cô học chậm ; với mái tóc quăn, cô thường bị bắt nạt, chủ yếu bằng những lời nặng nhẹ, chê bai, và mắng mỏ. Cô đã kể với một phóng viên rằng những lời nhục mạ của bạn học thời ấy đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn cô.

Cô không có bạn trai, là một người lạ lẫm với chuyện yêu đương lãng mạn, chưa bao giờ được hôn, chưa từng có một lần hò hẹn. “Thật đáng xấu hổ !”, cô nói. Và ca hát là chiếc bè cứu đắm cho cuộc đời cô.

Cô sống với cha mẹ trong một ngôi nhà 4 phòng nhỏ ở West Lothian, và khi cha cô chết 10 năm trước, cô chăm sóc mẹ và hát trong ca đoàn.

Khi ban giám khảo và khán giả nhìn thấy người phụ nữ trung niên, to béo, ăn mặc có vẻ quê mùa, vụng về, bước lên sân khấu,  họ bắt đầu cười khỉnh. Khi cô nói cô muốn có một sự nghiệp ca hát sánh ngang với Elaine Paige ( một danh ca 61 tuổi của nước Anh), tất cả khán giả đều sửng sốt . Khi cô nói với giám khảo Simon Cowell, rằng cô đã không có cơ hội để phát triển sự nghiệp ca hát của mình cho đến bây giờ đã 47 tuổi , 3000 khán giả cười phá lên và 3 giám khảo không nén được cũng  phì cười. Nhưng khi cô cất tiếng hát bài I Dreamed a Dream ( Tôi Đã Mơ một Giấc Mơ) trong vở nhạc kịch Les Miserables ( Những Người Khốn Khổ), tất cả mọi người như bị thôi miên và sau đó hoan hô nồng nhiệt.

Simon Cowell nói giọng của cô “đặc biệt”, Amanda Holden xúc động đến rơi lệ khi nghe cô hát, và người giám khảo thứ ba , Piers Morgan, thừa nhận tài nghệ của cô là độc đáo lạ thường nhất trong 3 năm ông làm giám khảo cuộc thi này.

Giấc mơ của Susan Boyle đã thành hiện thực. Chúng ta học được gì từ câu chuyện như cổ tích, ngụ ngôn thế kỷ 21 này?

1. Nếu không có tài năng thực sự, cô hẳn đã là nạn nhân và đối tượng của những lời nhạo báng, mỉa mai, hay thương hại.

2. Cô rất can đảm, thực sự dũng cảm khi chịu đựng những điều bất hạnh của cuộc đời từ thời thơ ấu, cho đến khi đã bước qua tuổi thanh xuân vẫn không có tình yêu đôi lứa. Trong cảnh ngộ như thế, cô vẫn không đánh mất ước mơ , vẫn đam mê ca hát và kiên trì rèn luyện cho tài năng theo cách của mình : sống âm thầm giản dị và có ích : chăm sóc cha mẹ  và hát trong ca đoàn. Nếu không có sự dũng cảm,  ý chí kiên trì, và niềm tin vào ước mơ cũng như năng lực bản thân, cô hẳn đã không thắng nổi mặc cảm, quên đi  những vết sẹo ấu thơ,  và không dám tham gia vào cuộc thi tuyển chọn  tài năng của nước Anh

3. Dù bên ngoài cô như một con vịt xấu xí, cô vẫn rất đẹp trong tâm hồn, với  lòng hiếu thảo,  và tài năng, cô đã tỏa sáng bằng giọng hát của  thiên thần của mình.

4. Chúng ta thêm một lần nữa đọc và suy ngẫm lại những câu ngạn ngữ đã được học từ lâu: “Đừng đánh giá con người qua bề ngoài”, “Cái đẹp thực sự là cái đẹp ở bên trong tâm hồn”; “Dù trong cảnh ngộ nào, không được đánh mất ước mơ “; “Có công mài sắt, có ngày nên kim .“

Mời các bạn nghe bài hát “I Dreamed A Dream “ mà Susan Boyle đã hát trong cuộc thi nói trên :

http://www.youtube.com/watch?v=9lp0IWv8QZY
.

I Dreamed A Dream

There was a time when men were kind,
And their voices were soft,
And their words inviting.
There was a time when love was blind,
And the world was a song,
And the song was exciting.
There was a time when it all went wrong…

I dreamed a dream in time gone by,
When hope was high and life, worth living.
I dreamed that love would never die,
I dreamed that God would be forgiving.
Then I was young and unafraid,
And dreams were made and used and wasted.
There was no ransom to be paid,
No song unsung, no wine, untasted.

But the tigers come at night,
With their voices soft as thunder,
As they tear your hope apart,
And they turn your dream to shame.

He slept a summer by my side,
He filled my days with endless wonder…
He took my childhood in his stride,
But he was gone when autumn came
And still I dream he’ll come to me,
That we will live the years together,
But there are dreams that cannot be,
And there are storms we cannot weather!
I had a dream my life would be
So different from this hell I’m living,
So different now from what it seemed…
Now life has killed the dream I dreamed..

.

I Dreamed A Dream (In Les Miserables)

Tôi đã mơ một giấc mơ
Đã có một thời người ta tử tế
Giọng nói của họ nhẹ nhàng,
Và ngôn từ của họ mời mọc.
Đã có một thời tình yêu mù quáng
Và thế giới là một bài ca
Và bài ca ấy thật là kích thích.
Đã có một thời mọi việc không êm xuôi…

Tôi từng mơ giấc mơ của một thời đã qua,
Khi hi vọng còn đầy và cuộc đời đáng sống.
Tôi đã mơ rằng tình yêu không bao giờ chết,
Tôi đã mơ rằng Chúa sẽ thứ tha.
Khi ấy tôi còn trẻ và không hề sợ hãi,
Và những giấc mơ được đắp xây, sử dụng, và bỏ phí.
Không có tiền chuộc nào để trả,
Chẳng bài ca nào không hát, chẳng rượu nào không uống.

Nhưng đàn hổ đến về đêm,
Bằng chất giọng dịu dàng như sấm,
Chúng xé nát hi vọng của bạn,
Và chúng khiến hi vọng của bạn biến thành nỗi nhục,

Chàng ngủ cạnh tôi suốt một mùa hè
Chàng làm đầy những ngày của tôi bằng diệu kỳ bất tận
Chàng lấy tuổi thơ tôi trong bước chàng đi

Và tôi vẫn mơ chàng sẽ đến.
Rằng chúng tôi sẽ sống những năm tháng cùng nhau,
Nhưng có những giấc mơ không bao giờ là thực
Và những cơn bão tố ta không thể chống chọi!

Tôi đã có một giấc mơ rằng đời tôi sẽ
Khác xa địa ngục tôi đang sống,
Giờ đây khác xa những gì tôi tưởng
Giờ đây cuộc đời đã giết giấc mơ tôi đã mơ..

Huỳnh Huệ tổng hợp và dịch