Category Archives: trà đàm

Tách trà

Nan-in, một thiền sư thời Minh Trị Thiên Hoàng (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học đến để hỏi về Thiền.

Nan-in rót trà. Thiền sư rót đầy tách của giáo sư, và cứ tiếp tục rót.

Vị giáo sư nhìn trà tràn ra ngoài cho đến lúc ông không nhịn được nữa, “Tràn ra ngoài rồi, không thêm được nữa!”

“Như là tách trà này,” Nan-in nói, “ông đầy ý kiến và phỏng đoán. Làm sao tôi có thể chỉ Thiền cho ông nếu ông không đổ sạch tách của ông trước?”

Bình

Câu chuyện này không nhất thiết chỉ đúng cho học Thiền. Muốn tìm hiểu bất kỳ điều gì ờ đời–một tôn giáo, một người, một nhóm người, một nền văn hóa, một dân tộc, một lịch sử, một vụ kiện, v.v… chúng ta phải đổ sạch tách thành kiến, giả định, phỏng đoán và kết luận trong đầu–một cái tách trống rỗng, một tờ giấy trắng tinh–thì chúng ta mới có thể học hỏi được.

Bạn đang bắt đầu vào cuộc hành trình qua 101 Truyện Thiền để tìm hiểu Thiền là gì. Đây là truyện đầu tiên. Bạn cần đổ sạch tách của bạn, để bước vào và đi qua cuộc hành trình này.

Bạn đã nghe, đọc, biết và hiểu gì về Thiền trước kia? Xin bạn đổ sạch. Để tâm và trí trống rỗng cho cuộc hành trình.

Tâm rỗng lặng, nhớ nhé.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

A Cup of Tea

Nan-in, a Japanese master during the Meiji era (1868-1912), received a university professor who came to inquire about Zen.

Nan-in served tea. He poured his visitor’s cup full, and then kept on pouring.

The professor watched the overflow until he no longer could restrain himself. “It is overfull. No more will go in!”

“Like this cup,” Nan-in said, “you are full of your own opinions and speculations. How can I show you Zen unless you first empty your cup?”

#1

Bạn Biết Giá Trị Của Mình

Những thách đố của cuộc đời không phải để làm bạn tê liệt, mà để giúp bạn khám phá ra mình là ai.

Life’s challenges are not supposed to paralyze you, they’re supposed to help you discover who you are.
~Bernice Johnson Reagon

Chỉ có một góc vũ trụ bạn có thể chắc chắn cải thiện được, đó là cái tôi của chính bạn

There’s only one corner of the universe you can be certain of improving, and that’s your own self.
~Aldous Huxley

Để đạt được bất cứ thứ gì trong đời, bạn cần biết khả năng và giá trị của chính mình.

Biết mình có nghĩa là bạn biết rằng mình xứng đáng được đối xử một cách bình đẳng, rằng bạn xứng đáng hưởng thụ một số quyền sống, trong đó quyền khẳng định và thể hiện năng lực và giá trị của mình với tư cách con người.

Cái tôi giá trị của bạn không biến mất bởi vì bạn thất bại hay phạm sai lầm, bị bệnh tật, hoặc khiếm khuyết về hình hài thể xác. Có ai không biết: “Nhân vô thập toàn”. Hơn nữa, chúng ta cũng biết “Sai lầm là thuộc tính của con người”. Do đó không phải vì mình sai lầm hay thất bại, mà giá trị con nguời mờ nhạt hay nhân cách kém đi. Còn bệnh tật là điều ta không thể tránh, nhất là những bệnh bẩm sinh hay do môi trường sống. Thực đáng buồn, có nhiều bạn thiếu tự tin đến thành tự ti chỉ vì một trong những lý do này. Trong khi đó tự thân bạn có thể xây nên nhiều thứ, trong đó có ngôi nhà hạnh phúc cho chính bạn.

BẠN NHẬN THỨC GIÁ TRỊ CỦA MÌNH NHƯ THẾ NÀO?

Nhiều người đi qua gần cả cuộc đời mà không nhận thức được hết giá trị của mình, chỉ vì họ không tin vào bản thân hay giá trị đích thực của họ. Họ không nghĩ rằng bản thân họ có nhiều tiềm năng chưa được phát hiện và khai thác. Dù chúng ta ai cũng cần sự động viên, tán thành, nhưng chúng ta luôn cần đến một chút tự tin.

Một số người thường quay sang trông chờ người khác, mong mỏi từng chút thừa nhận của người khác vào năng lực mình, như trẻ con trông mong từng viên kẹo, thay vì tự tin vào cái tôi độc đáo của mình. Họ chẳng dám bắt đầu cái gì với suy nghĩ ”Người ta giỏi quá! Mình chẳng là cái gì! Sao mình có thể làm đuợc chứ!” và nhiều lý do khác nữa …

Để nhận thức được giá trị của mình bạn có thể có nhiều cách:

1/ Một cách thông thường là tự lập một bản kê tất cả những tính cách chủ đạo của mình: Hay lẫn chưa hay, tốt và không tốt. Bằng sự trung thực, chính xác nhất, hãy định giá chúng theo thứ tự tốt nhất từ 1 đến 10. Bằng cách này bạn biết đuợc cách bạn nhìn nhận về mình và “hiểu” bản thân.

Quả thực, lắm khi chúng ta có thể là kẻ thù tệ nhất của chính ta khi sa vào một trong hai đối cực: Bằng sự ngạo mạn tự tôn luôn nghĩ về cái tôi của mình quá lớn, hay ngược lại chúng ta lại tự ti, thiếu niềm tin vào bản thân, run sợ trước những việc mới lạ và có vẻ quan trọng hơn những chuyện ta vẫn thường làm.

Trước hết, bạn hãy nghĩ rằng người ta làm đuợc, sao ta không thử một lần. Và sau một lần không thành công, tại sao không thử thêm lần nữa? Bằng cách này, nhiều người kể cả những người khuyết tật đã chiến thắng được mặc cảm về sự khiếm khuyết và làm được một số việc đáng ngạc nhiên. Bạn đã từng xem một cuộc thi Olympic của những vận động viên khuyết tật? Có phải họ cần thành tích, hay họ muốn khẳng định nỗ lực và năng lực phi thường của con người vượt qua sự bất hạnh?

Chắc các bạn còn nhớ câu chuyện về Thủy Tiên, cô gái bước ra từ lu nuớc, ca sĩ khuyết tật và bài học thành công của cô?Từ những nỗi đau về thân phận, mặc cảm về tật nguyền, cô đã làm được điều kỳ diệu là trở thành ca sĩ được yêu mến với nhạc Trịnh trong và ngoài nước. Sau 10 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên ngọng nghịu, nhưng cô đã kiên trì luyện tập ngót hai năm trời, cúi đầu vào lu đựng nước tập phát âm cho tròn tiếng. Thay vì khóc thương tủi hờn cho số phận, cô gục đầu và hát với cái lu. Rồi cuối cùng cô đã có thể quên đi những nét khuyết trên khuôn mặt mình đã có thể cất tiếng hát ngọt ngào những bản tình ca bất hủ của Trịnh Công Sơn. Lần đầu tiên khi đuợc xem Thủy Tiên hát với xúc cảm dâng tràn bài “Xin Cho Tôi”, được thấy khuôn mặt mà cô cho là không tòan vẹn của mình, tôi lặng người đi xúc động. Đó là vì trước đó tôi đã đọc những bài báo viết về Thủy Tiên như tâm sự của cô sau đây:

Tôi sinh ra bình thường như bao ngưòi khác nhưng thật không may đến năm 4 tuổi tôi mắc phải căn bệnh Sỹ Tổ Mả, sau10 lần phẫu thuật gương mặt của tôi không tròn vẹn, tôi không còn nói được nên đã từng phải chui đầu vào lu nước để luyện giọng, mặc cảm và đau đớn, đã có một thời gian dài tôi không dám bước ra ngoài đường, khi trở thành thiếu nữ những lúc đi trên đường nghe có giọng “trai trẻ” gọi sau lưng tôi không dám quay lại chào hỏi, cứ giả vờ như khiếm thính….Khi đi xin việc thì rất rụt rè, tự ti, ngoài việc lo cho bản thân tôi còn phải thay mẹ lo cho đứa em ăn học đã có lúc tôi cảm thấy bế tắc muốn tự vẫn…

Nhưng chính trong những lúc khó khăn, tuyệt vọng ấy tôi đã có những người bạn quá chân thành ở cạnh bên, luôn là nguồn động viên chia sẻ, hỗ trợ để tôi tự tin bước lên phía trước. Tôi hát thành công nhạc Trịnh không chỉ dựa vào niềm đam mê mà phụ thuộc rất lớn và những lời khích lệ động viên từ bạn bè, từ sự cổ vũ và tình cảm thân thương mà khán giả dành cho…”

Thủy Tiên kết luận:

Tuy nhiên, sau những đau đớn và mất mát đó tôi thấu nghiệm được rằng: “Khi Chúa đóng cánh cửa này, Chúa sẽ mở cho ta cánh cửa khác”. Đời cướp đi của ta một cơ hội này sẽ cho ta một cơ hội khác lớn hơn, hãy bình thản cảm ơn đời và hãy đi tìm, đón nhận những điều kỳ diệu mới mẻ mà cuộc đời trao tặng cho bạn”.

2/ Một cách rất có ích nữa là hỏi một số bạn thân mà ta biết là trung thực và sẽ cho ta ý kiến khách quan với mục đích xây dựng và giúp đỡ ta. Bạn hữu, người thân cũng là nguồn lực, nguồn động viên cho ta niềm tin để thử sức và nỗ lực với quyết tâm cao.

Đây cũng chính là một trong những cái gọi là Vốn Xã Hội được trình bày trong bài viết của Khánh Hòa. Thủy Tiên cũng không phải là ngọai lệ về mặt này. Cô đã khẳng định giá trị của nhân tố bạn hữu, một nguồn vốn xã hội, và sức mạnh của tình yêu thương cô nhận từ những người bạn đồng cảm.

3/ Bạn cũng có thể nhận ra giá trị bản thân mình bằng cách bắt đầu một kế họach với nỗ lực cao, và nhận được những nhận xét đánh giá tích cực từ những người có liên quan về các đặc điểm, tính cách cũng như cách làm của bạn thể hiện qua công việc đó.

Hãy tham gia một hội thể thao, một công tác tình nguyện hay từ thiện, giúp người hàng xóm, hay một người nào khó khăn tại cơ quan, nơi làm việc…

Một điều quan trọng nữa là bạn phải khắc phục nỗi sợ và mặc cảm tự ti, không dám khẳng định mình trong một tập thể. Hãy nhớ rằng bạn là chính mình trong sự độc lập và độc đáo. Bạn phải tự nhủ với mình như câu thần chú: Ta không tầm thường hay kém cỏi, ta không thua kém họ về những ý tưởng, cách làm. Vậy thì đứng lên đi, nở một nụ cười tươi với mọi người và mạnh dạn nói ra suy nghĩ, ý kiến của mình một cách rõ ràng, không e dè hay lắp bắp. Tại sao bạn không nghĩ rằng bạn có ý tưởng hay? phải chăng bước đầu tiên và thấp nhất nhưng rất quan trọng với mỗi người là tự tin, đuợc nêu trong bài Các mốc thang tư duy tích cực. Chỉ ở cấp độ này thôi, bạn đã có thể thành công, và tạo được bao điều hay rồi, so với ngồi chờ người khác làm thay cho bạn.

Mong rằng những điều gợi ý trên có thể giúp bạn nhận ra mình có thể nâng cao giá trị và niềm tin vào bản thân bằng cách tự thúc đẩy mình hay bằng cách tranh thủ ”vốn xã hội” của mình.

Bạn hòan toàn có thể làm như một vài người bạn của chúng ta đã tự khẳng định giá trị bản thân mình khi bước chân vào khu vườn của tư duy tích cực và cảm nhận. Họ không còn tự ti. Họ nhận ra vấn đề của mình và rồi tự điều chỉnh. Họ có dũng khí bắt đầu, chạy, rồi bằng những bước nhảy dài, họ đã lấy đà và đã bắt kịp những người khác. Bây giờ họ đang dạo bước trong khu vườn vui và chia sẻ với những người khác về tư duy tích cực, lạc quan yêu đời.

Thế nên, các bạn hãy viết đi để chia sẻ với những người khác. Bạn hòan tòan có thể làm rất tốt. Bạn Độc Đáo Thực và trải nghiệm của bạn cũng độc đáo.

Bạn hãy nghĩ xem mình sẽ làm gì và có thể nói gì với một người bạn rất thân đang có những trải nghiệm tương tự hay đã thành công?

Bạn sẽ nói gì với người đó đây? Chỗ của họ trong cuộc đời của bạn vô cùng quí giá. Bạn có vui và tự tin hơn không khi biết chắc rằng vai trò của bạn trong cuộc đời của họ cũng hệt như thế?

Thân ái chúc các bạn tràn đầy niềm vui bắt đầu mỗi ngày với tư duy tích cực.

Huỳnh Huệ

Không có gì là rác cả

Sống sót trở về sau chiến tranh tàn khốc giữa thập niên bốn mươi, Soko Morinaga tìm về căn nhà cũ, trực diện với những khó khăn và mất mát tận cùng của đời người. Cha mẹ không còn, anh chị em phân tán, nhà cửa, tiền bạc bị tịch thu. Ông cố ngoi lên bằng ý chí trở lại học đường nhưng đành chào thua vì cuộc vật lộn cam go, có khi bao tử thường xuyên lên tiếng kêu khóc.

Giữa quạnh hiu đổ nát cả thân và tâm, một sự mầu nhiệm kỳ diệu nào đó đã dẫn bước chân vô định của Soko tới trước cửa chùa Daishuin ở Tokyo. Ngước nhìn mái chùa rêu phong, lưỡng lự đôi ba phút rồi Soko mạnh dạn gõ cửa. Người mở cửa chính là Đại sư Zuigan Goto. Soko ngỏ lời xin được đại sư thâu nhận làm đệ tử. Đại sư chỉ hỏi một câu duy nhất:

– Ngươi tin ta chứ? Nếu không tin ta thì có ở đây bao lâu cũng chẳng học được gì, phí công ta thôi.

Soko trả lời:

– Con xin hết lòng tin tưởng

Đại sư mở rộng cửa, lạnh lùng truyền:

– Theo ta.

Soko líu ríu theo vào. Tới góc sân, đại sư chỉ cây chổi tre, ra lệnh:

– Quét dọn vườn.

Trước khi cầm chổi, Soko quỳ xuống bái tạ đại sư đã thâu nhận mình.

Công việc quét vườn thì có chi là khó, Soko hăng hái quét… quét… và quét. Không bao lâu đã gom được đống rác cao nghệu đầy đất, sỏi, đá vụn và lá khô. Dừng chổi, Soko lễ phép hỏi:

– Bạch thầy, con phải bỏ đống rác này đi đâu ạ?

Bất ngờ, đại sư quát lên:

– Rác ! người nói gì? Không có gì là rác cả !

Soko ngẩn ngơ nhìn đống chiến lợi phẩm, không hiểu, đây không là rác thì là gì? Còn đang lúng túng thì đại sư lại bảo:

– Vào nhà kho kia lấy cái bao lớn ra đây.

Khi Soko tìm được cái bao mang ra thì thấy đại sư đang dùng hai tay, gạt đám lá khô sang một bên. Ông lại bảo:

– Mở rộng miệng bao ra.

Soko tuân lời, lẳng lặng theo dõi thầy đại sư quơ từng ôm lá, bỏ vào bao, thỉnh thoảng lại giậm giậm cho lá xẹp xuống. Cuối cùng, những lá khô trong đống rác đã được nhồi vào bao, cột lại. Soko lại nghe lệnh truyền:

– Đem bao lá này vào nhà kho, để dành đun nước tắm.

Vừa vác bao lá trên vai, Soko vừa nghĩ:

– Còn đống đất đá, không phải rác thì dọn đi đâu?

Ấy thế mà khi ở nhà kho ra, Soko thấy đại sư đang lượm những viên sỏi, đá vụn ra. Trước vẻ ngẩn ngơ của Soko, ông vừa hỏi, vừa sai:

– Có thấy hàng hiên ngay dưới máng xối kia không? Có thấy những chỗ bị nước mưa xoáy lồi lõm không? Đem những sỏi, đá vụn này trám vào những chỗ đó.

Soko vừa làm, vừa thán phục thầy mình, vì quả thật, sau khi trám, không những chỗ lồi lõm bằng phẳng mà còn đẹp hẳn lên nữa.

Bây giờ, đống rác (theo Soko) chỉ còn lại đất và rêu. Lần này thì chắc chắn phải hốt, đổ đi rồi. Nhưng kinh ngạc biết bao khi Soko quay lại sân, thấy thầy mình thong thả nhặt từng miếng đất, từng tảng rêu trên tay, rồi chậm rãi nhìn quanh, tìm những khe tường nứt, những chỗ lõm nhỏ trên mặt đât, từ tốn trám vào.

Bây giờ thì đống rác không còn đó. Nhưng cũng không phải là vật phế thải vô dụng gom quẳng đi đâu. Mỗi loại rác, nếu biết tận dụng, sẽ lại trở thành hữu ích.

(There is no trash by Soko Morinaga)

Ẩn Danh

Nghệ sĩ trên sân khấu đời

Chào các bạn,

“Nghệ thuật biểu diễn” là cụm từ mình dịch từ “performing arts”, tức là các loại nghệ thuật biểu diễn một điều gì đó trước công chúng—hát, chơi đàn, khiêu vũ, thẩy bóng (juggling), kịch nghệ, v.v…

Nếu ta dùng nghệ thuật biểu diễn để minh họa cho đời sống thì ở đời có hai loại người—khán giả và nghệ sĩ.

Khán giả thì thường không biểu diễn, thích phê phán, nếu phải biểu diễn thì có thể bị đông lạnh vì sợ sân khấu (stage fright), nếu phải nghĩ đến sân khấu là sợ mình làm sai trước nghìn người.

Và khán giả chỉ biết ngồi thán phục những nghệ sĩ tài ba biểu diễn cho cả một buổi trình diễn xuất thần, không một tì vết nghệ thuật.

Tuy nhiên, nếu bạn là nghệ sĩ trình diễn, bạn sẽ biết một sự thật căn bản là không có một buổi trình diễn nào mà bạn không sai cái gì đó. Ca sĩ chẳng hạn, đáng lý mình nên hát nốt đó mạnh hơn một tí, đáng lý mình nên kéo dài ra và không nên lấy hơi chỗ đó, chỗ này vào trật nhịp, đã hẹn trước với ban nhạc là chỗ đó phải chậm lại một tí nhưng rốt cuộc mình cũng đi ào ào… Nếu bạn đã trình diễn thường xuyên trước đám đông—cho dù đó là chơi nhạc hay đánh quyền Anh hay đọc diễn văn—bạn sẽ nhận ra một điều là dù cho bạn có chuẩn bị kỹ đến thế nào, cơ hội để bạn làm một cái gì đó không chính xác ‎có thể lên đến 80% của các cuộc trình diễn. (Chỉ có trình diễn nhạc trong CD là không có tì vết, vì bản nhạc có thể được thâu đi thâu lại vài chục lần).

Nhưng điều may mắn là, hầu như chẳng ai ngoài bạn hay một hai người trình diễn chung biết điều đó. Mọi khán giả chỉ thấy một màn trình diễn xuất thần, không lầm lỗi.

Mà ngay cả khi khán giả có thể nhận ra lầm lỗi như khi nghệ sĩ vũ trên mặt băng trợt té, hay võ sĩ bị một cú knock-down, thì cũng chỉ là chuyện thường tình đối với nghệ sĩ thôi, chẳng có gì đáng thắc mắc cả.

Sở dĩ thế vì người nghệ sĩ rất quen với lầm lỗi. Làm sai là một phần của nghệ thuật trình diễn. Họ sống với “làm sai” hàng ngày, và biết cách sống với nó như là một phần của trình diễn, của cuộc đời nghệ thuật. Sai thì cứ lướt tới làm tiếp như chẳng có gì xảy ra.

Điều này đúng với tất cả mọi nghệ thuật sống. Chính trị gia đi sai bước, làm quyết định sai, là chuyện rất thường; khám phá ra lỗi lầm là điều chỉnh lại ngay. Người làm việc từ thiện cũng thế, tính toán sai là chuyện thường. Thuê một căn phòng chứa 1000 người để làm một cuộc hòa nhạc kiếm tiền gây quỹ, đến lúc mở màn chỉ có được 200 mạng loe hoe. Viết một bài báo mong là mọi người đồng ý ‎ với mình, ai dè đăng xong cả ngàn khán giả gởi thơ đến dũa te tua.

Đó là điều làm nên sự khác biệt giữa nghệ sĩ và khán giả. Khán giả thì sợ sai. Nghệ sĩ thì sống với sai hàng ngày. Và cũng vì vậy mà nghệ sĩ chân thật rất khiêm tốn trong lòng vì thấy mình sai hàng ngày. Họ cũng không tự ái vặt khi bị phê phán vì họ biết là người khác chỉ thấy được rất ít cái sai của họ.

Nhưng nói cho chính xác hơn nữa, nghệ sĩ thường không gọi cái sai là sai, mà gọi đó là “chưa được vừa ý 100%”. Cũng như người lái xe trên đường phố, thực là chẳng mấy khi “lái sai”, đi đến đâu lái đến đó, nhưng thỉnh thoảng cũng có những quyết định không được hay có thể làm cho mình có tí vấn đề trên đường phố, chỉ điều chỉnh một tí và tiếp tục đi thôi.

Vì vậy các nghệ sĩ thường rất ít khi phê bình các lỗi lầm trình diễn của nghệ sĩ bạn trên sân khấu. Có nhận ra họ cũng không bao giờ nói đến, vì đó là chuyện thường, chẳng có gì đáng nói.

Nhưng nếu một khán giả, hoặc một nhà phê bình chưa từng trình diễn bao giờ, có cơ may nhận ra một lỗi lầm của nghệ sĩ, rất có thể vị đó sẽ phê bình to tiếng, cho rằng đó là chuyện khác thường và mình thông thái đủ để thấy nó. Đó là chưa kể nhiều khi sự phê phán đến ngay cả lúc chẳng có gì đáng gọi là lỗi lầm.

Cho nên nếu chúng ta muốn đi qua cuộc đời như những nghệ sĩ, thay vì ngồi một chỗ phê phán, chúng ta cần nhớ các điểm căn bản này:

• Không có bước nào, chiêu thức nào, là sai; chỉ có bước hay chiêu thức không được như ý.
• Các bước hay các chiêu thức không được như ý là một phần của đời sống hàng ngày.
• Nếu gặp không được như ý thì chỉ cần điều chỉnh một tí và tiếp tục biểu diễn.

Vậy thôi. Không có gì là lớn chuyện, không có gì phải làm cho ta “sợ sân khấu” đến đông lạnh.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Hát Tiếp Đi Nào

Khi Karen biết mình đã có thai, như bất cứ người mẹ tốt nào, cô đã làm mọi thứ mà cô có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi của cô, Michael, sẵn sàng trong việc có một đứa em ruột mới.

Họ biết rằng đứa trẻ sắp sinh ấy sẽ là một bé gái., ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác, Michael hát cho đứa em gái của cậu đang nằm trong bụng mẹ.

Karen là một thành viên tích cực của nhà thờ Panther Creek United Methodist ở Morristown, Tennessee. Việc mang thai của cô phát triển một cách bình thường. Rồi những cơn đau chửa dạ đến, cứ 5 phút một lần rồi mỗi phút lại 1 cơn. Nhưng những biến chứng phát sinh suốt đường đến bệnh viện. Đau đớn khi chuyển dạ đã hàng giờ đồng hồ.Liệu mổ có cần thiết không?

Cuối cùng, đứa em gái bé nhỏ của Michael cũng chào đời . Nhưng đứa bé ở trong tình trạng nguy kịch. Tiếng còi hú lên trong đêm,xe cứu thương đưa gấp đứa bé đến đơn vị chăm sóc đặc biệt tại bệnh viện thánh Mary. Thời gian như ngừng trôi.Tình trạng của bé ngày càng trầm trọng hơn.Các chuyên gia khoa nhi nói với bố mẹ đứa bé rằng :”Có rất ít hy vọng .Hãy chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất có thể xảy ra.”

Karen và chồng đã liên lạc với nghĩa trang địa phương để lo hậu sự cho con. Họ đã trang trí một căn phòng đặc biệt ở nhà cho con gái, vậy mà giờ đây họ phải lên kế hoạch làm đám tang cho con.

Hai tuần lễ ở nơi chăm sóc đặc biệt. Tưởng như lễ tang sẽ tới trước một tuần. Michael vẫn cứ nài xin bố mẹ để được hát cho em nghe,nhưng trẻ con thì không bao giờ được phép vào nơi chăm sóc đặc biệt. Nhưng Karen đã quyết định. Cô sẽ dẫn theo Michael dù họ có cho hay không. Nếu thằng bé không được nhìn thấy em gái mình ngay lúc này, có lẽ nó sẽ không bao giờ được thấy lại đứa em của mình khi còn sống.

Cô mặc cho con một bộ vest rộng và dẫn con vào nơi chăm sóc đặc biệt. Cậu bé trông như một cái giỏ đựng quần áo biết đi vậy, nhưng người y tá trưởng đã nhận ra cậu bé là một đứa trẻ và quát lên rằng “Đưa thằng bé đó ra khỏi đây ngay lập tức! Bất cứ đứa trẻ nào cũng không được phép.

Tình mẹ trong Karen trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, và người phụ nữ thường ngày vẫn dịu dàng ném cái nhìn lạnh như thép vào người y tá, đôi môi đanh lại.

“Thằng bé không phải đi đâu cho đến khi nó hát cho em nó nghe xong!”

Karen kéo Michael đến cạnh giường em của cậu. Nhìn chăm chăm vào đứa bé đang chìm trong cuộc chiến giành lại sự sống. Cậu bé bắt đầu hát. Bằng giọng trong trẻo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:

“ Em là ánh nắng, là tia nắng duy nhất của anh. Bầu trời tuy tối đi, em vẫn làm anh hạnh phúc…”

Ngay lập tức đứa bé có phản ứng. Mạch đập trở nên đều.

Cứ hát đi, Michael.

“Em không bao giờ biết anh thương em đến dường nào, xin đừng đem ánh nắng của anh đi…”

Hơi thở gấp đã trở nên đều và nhẹ hơn.

Michael, hát tiếp nữa đi con.

“ Một đêm, khi anh ngủ , anh mơ anh nắm lấy tay em…”

Em gái Michael dịu đi như đang ngủ.

Michael, hát nữa đi con

Nước mắt trào tuôn trên khuôn mặt của người y tá trưởng. Karen cảm thấy ấm mình
.
“Em là ánh nắng, là tia nắng duy nhất của anh. Xin đừng đem ánh nắng của anh đi.”

Tang lễ bị hủy. Ngày tiếp theo và những ngày tiếp theo nữa, bé gái đã đủ khỏe để đi về nhà! Tạp chí Phụ Nữ Ngày Nay gọi đó là “ Phép màu từ bài hát của người anh trai”. Các nhân viên y khoa cũng nói đấy là phép màu.Còn Karen, cô gọi nó là phép màu từ tình yêu của Chúa!

ĐỪNG BAO GIỜ TỪ BỎ HY VỌNG VÀO NGƯỜI MÌNH YÊU

Bảo Phương và Hà Vi dịch

KEEP ON SINGING

Like any good mother, when Karen found out that another baby was on the way, she did what she could to help her 3-year-old son, Michael, prepare for a new sibling.
They find out that the new baby is going to be a girl, and day after day, night after night, Michael sings to his sister in Mommy’s tummy.
The pregnancy progresses normally for Karen, an active member of the Panther Creek United Methodist Church in Morristown, Tennessee. Then the labor pains come. Every five minutes, every minute. But complications arise during delivery. Hours of labor. Would a C-section be required?

Finally, Michael’s little sister is born. But she is in serious condition. With siren howling in the night, the ambulance rushes the infant to the neonatal intensive care unit at St. Mary’s Hospital, Knoxville, Tennessee. The days inch by. The little girl gets worse. The pediatric specialist tells the parents, “There is very little hope. Be prepared for the worst.”
Karen and her husband contact a local cemetery about a burial plot. They have fixed up a special room in their home for the new baby now they plan a funeral. Michael, keeps begging his parents to let him see his sister, “I want to sing to her,” he says.

Week two in intensive care. It looks as if a funeral will come before the week is over. Michael keeps nagging about singing to his sister, but kids are never allowed in Intensive Care. But Karen makes up her mind. She will take Michael whether they like it or not. If he doesn’t see his sister now, he may never see her alive.
She dresses him in an oversized scrub suit and marches him into ICU. He looks like a walking laundry basket, but the head nurse recognizes him as a child and bellows, “Get that kid out of here now! No children are allowed. The mother rises up strong in Karen, and the usually mild-mannered lady glares steel-eyed into the head nurse’s face, her lips a firm line.
“He is not leaving until he sings to his sister!”

Karen tows Michael to his sister’s bedside. He gazes at the tiny infant losing the battle to live. And he begins to sing. In the pure hearted voice of a 3-year-old, Michael sings:

“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray…”
Instantly the baby girl responds. The pulse rate becomes calm and steady.
Keep on singing, Michael.
“You never know, dear, how much I love you, Please don’t take my sunshine away…”
The ragged, strained breathing becomes as smooth as a kitten’s purr.
Keep on singing, Michael.
“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms…”
Michael’s little sister relaxes as rest, healing rest, seems to sweep over her.
Keep on singing, Michael.

Tears conquer the face of the bossy head nurse. Karen glows.
“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t, take my sunshine away.”
Funeral plans are scrapped. The next day, the very next day, the little girl is well enough to go home! Woman’s Day magazine called it “the miracle of a brother’s song.” The medical staff just called it a miracle. Karen called it a miracle of God’s love!
Never give up on the people you love

Lời nguyện cho giấc ngủ

Chúa ơi,

Cám ơn Chúa về ngày hôm nay.

Cám ơn Chúa về sự an toàn của con và của những người con thương yêu.

Khi con đi vào giấc ngủ, mong những giờ này cho con an bình.

Mong chúng đem đến sự chữa lành cho tâm trí và thể xác của con.

Trong khi con ngủ, thưa Chúa, hãy ban phước cho thế giới.

Nơi đâu có đau đớn,

nơi đâu có những người không chỗ ngủ,

những người đang đau đớn và những người đang chết,

mong những thiên thần của Chúa đến với họ và chăm lo trái tim của họ.

Chúa ơi,

hãy để dòng ánh sáng chảy vào.

Hãy dùng những giờ con ngủ.

Hãy chuẩn bị cho con, trong những giờ giấc nghỉ ngơi,

cho việc phụng sự lớn hơn cho Chúa.

Mong sao ánh sáng đang bao quanh con bây giờ, ngày mai, sẽ chiếu sáng qua bản thân con.

Hãy làm mềm trái tim của con.

Cám ơn, Chúa.

Amen.

~ Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch
.

Dear God,

Thank you for this day.

Thank you for my safety and the safety of my loved ones.

As I enter sleep, may these hours give me peace.

May they bring healing to my mind and body.

While I sleep, dear Lord, please bless the world.

Where there is pain,

where there are people who have no place to sleep,

who suffer and who die,

may Your angels come unto them and minister to their hearts.

Dear Lord,

Please let the light stream in.

Please use my hours of sleep.

Please prepare me, during these hours of rest,

for greater service to You.

May the light that surrounds me, tomorrow shine through me.

Soften my heart.

Thank You, Lord.

Amen

Các mốc thang tư duy tích cực

Chào các bạn,

Chúng ta đã nghe “tư duy tích cực” trong rất nhiều bài viết khác nhau, về đủ mọi vấn đề. Và đôi khi, nếu chưa hiểu hết, chúng ta có thể bị tràn ngập, không biết tư duy tích tực thực ra là gì. Bài này để giải thích một số mốc thang chính trong tiến trình phát triển tư duy tích cực mà đa số chúng ta gặp, để ta có thê tự đo lường mình. Nói là đa số, vì lâu lâu chúng ta thấy có những người có căn cơ, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nhảy từ bước đầu đến ngay bước cuối, một tiến tình mà có người cả đời cũng không xong.

1. Mức thấp nhất của tư duy tích cực là tự tin vào chính mình. Tin là mình có đủ quyết tâm và kiên trì để đi đến đích, để thành công trong một vấn đề nào đó, hay thành công trong đời một cách tổng quát. Trong tiếng Anh, đây là confidence.

Đây là mức mà mọi khóa học, mọi bài viết, mọi quyển sách, mọi websites về tư duy tích cực nói đến khi họ dùng từ “tư duy tích cực.” Và đa số các nơi này, có thể đến hơn 70%, cũng chỉ ngừng lại ngay mức này mà không còn biết là Tư duy tích cực còn nhiều mức cao hơn. Vì vậy, nhiều khóa học và sách về Tu duy tích cực thật ra rất hời hợt, chỉ ở mức này, mà các vị thầy hay tác giả có lẽ là không biết tư duy tích cực còn đi lên đến vài ba tầng nữa.

Trong chuỗi bài tư duy tích cực mình đã viết, mức này là mức của các bài như Nửa ly nước, Yêu mình, Biết mình, Sức mạnh của tư tưởng, Xắn tay áo, Lửa trong lòng, Tư duy tích cực là gì?

2. Mức cao hơn kế tiếp là mức vượt trên “có qua có lại.” Có-qua-có-lại là phản ứng tự nhiên của mọi người trên thế giới. Nó là phản xạ tự nhiên trong mỗi người: Hắn tốt với tôi thì tôi tốt với hắn, hắn xấu với tôi thì tôi xấu với hắn. Nếu hắn là người tốt, tôi thich hắn; nếu hắn là người xấu tôi ghét hắn.

Có-qua-có-lại thì chẳng có gì là không đúng, duy chỉ có điều là xoàng, vì mọi người trên thế giới, kể cả người dốt nát nhất và trộm cắp nhất, cũng hành xử kiểu đó. Đây chỉ là cách hành xử “bị cầm tù trong phản xạ tự nhiên của mình thôi”, chẳng có gì là thông thái cả.

Tư tuy tích cực vượt trội hơn phản xạ có nghĩa là tốt với mọi người kể cả người không tốt với mình và người mình kết án là “người xấu”, yêu mọi người dù là nhiều người không đáng yêu…

Đây là mức của các bài như Yêu người, tin người, Nền tảng của tư duy tích cực… Sống tích cực với mọi người và với đời. Dùng năng lượng tích cực của mình để sống lan tỏa trong đời và chuyển hóa đời, và không sống theo phản xạ.

3. Mức cao hơn nữa là mức xóa bỏ cái tôi. Đây là mức ta hay nói về “vô ngã”của Phật gia, của submission (khuất phục, giao phó cho Thượng đế), hoàn toàn khiêm tốn về mọi người và mọi vấn đề… Theo Phật gia, đây cũng là mức “vô chấp”, không còn thành kiến về bất cứ điều gì và về bất cứ ai. Khiêm tốn hoàn toàn.

Đây là mức của các bài Thiền thi, các bài về vô ngã vô chấp của Phật gia, các bài về total submission và lòng khiêm tốn trong các truyền thống tâm linh khác. Đây là mức các tự ái vặt, các ganh ghét vặt, các ham hố tiếng tăm, tị hiềm vặt, bắt bẻ vặt, hoàn toàn bị dẹp bỏ và xóa mất trong ta… Cái tôi đang biến mất.

4. Mức cuối cùng là mức đạt đỉnh của mức thứ 3 bên trên… Cái tôi hoàn toàn tiêu tán.

Tại mỗi mức cao hơn, công lực tích cực của chúng ta lại càng cao hơn. Ví dụ: Một cậu sinh viên trẻ ở mức tích cực thấp nhất sẽ rất mạnh mẽ, đánh đâu thắng đó, làm gì được đó. Một đại sư ở cấp thứ 3, xem ra lúc nào cũng chậm rãi nhẹ nhàng và chẳng có sức mạnh gì cả. Tuy nhiên khi phải đối diện cái chết vì ly’‎ do nào đó, vị đại sư sẽ thản nhiên bình tĩnh và ứng phó tốt hơn chàng sinh viên rất nhiều. Nói chung là trong các tình huống cực kỳ gay go, năng lực tư duy tích cực của vị đại sư sẽ chiếu sáng, dù là bình thường thấy cụ có vẻ hơi thiếu calorie 🙂

Đọt Chuối Non là nơi để chúng ta tu bồi công phu tư duy tích cực. Các bạn vào Vườn Chuối chơi không chỉ để nghe nhạc, đọc thơ, hoặc đọc vài bài hấp dẫn nào đó… hoặc là chỉ để viết cái gì đó để post… Dĩ nhiên, mọi chuyện đó chính là Vườn Chuối. Nhưng mục đích đầu tiên của Vườn Chuối là chúng ta giúp nhau phát triển tư duy tích cực. Mong rằng tất cả chúng ta nhớ đến điều này và cố gắng phát triển tư duy tích cực mỗi ngày. Nếu đọc ĐCN, ngay cả viết bài cho ĐCN, mà không cố gắng phát triển tư duy tích cực của mình hàng ngày, tức là các bạn đã vào sai vườn rồi đó. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Chuyện Nàng Thuý Vân

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới.
Bậc danh nhân sinh hạ được một cặp sinh đôi tuyệt thế: Thúy Kiều và Thúy Vân.
Cụ cũng gật gù đắc ý:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Ấy vậy mà số phận hai nàng lại quá khác nhau.

Kiều tiền hung hậu kiết. Kể từ độ bán mình chuộc cha, tính trung bình 20 lạng vàng định giá một năm son phấn kể cũng thua thiệt cho đời hoa ghen thua thắm. Tôi cũng tội thân Kiều. Mà qua cái tao đoạn ấy, đời Kiều kể lên hương. Hai thế kỉ rưỡi trôi qua, Kiều không thôi được các thi nhân xưng tụng, dẫu đôi lúc cũng bị đời mắng mỏ, song cái roi đe nẹt dẫu đau cũng chả bù những lúc được tôn vinh, nhất là khi một nhà thơ lạm quyền chủ tịch tôn Kiều là cái tiết trinh của đời dân tộc:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường!

Chế Lan Viên
Ngẫm lại thấy tội nàng Vân.
Một đời thanh xuân hơ hớ, so cô chị dẫu có tủi phấn thẹn hương đôi chút , song cũng hàng quốc sắc thiên hương, mà chẳng được đời chiều. Từ cái đêm trao duyên chẳng đặng chối từ, Vân cứ mất hút vào cõi vô danh, đến cuối hồi soát sổ, Vân mới có cơ hội trình diện một lần nữa, cũng chỉ để làm xong cái phận sự: Mang khối tình cất dùm mà nguyên chủ phát hoàn!

Nguyễn Du kể cũng hay tâm nên giành cho Vân tàng tàng chén cúc dở say ý hẳn để nàng quên đi hờn tủi!

Kể thì cũng tội, hồng nhan chẳng kịp đa truân, chẳng chịu đa tình, thành dở dang quá đỗi. Mười lăm mười sáu cập kê, chưa kịp biết yêu, đã phải vì chị mà mậu đường tình, khuân vác cái duyên hờ của chị. Mà mười lăm năm ấy, nào hạnh phúc cho cam, nuôi nấng cái đấng lang quân vừa kịp bảng vàng bia đá, ngài vội vứt ngang mà đăm đăm tìm kiếm tình xưa, thật đúng cái tình cái cảnh “ thân em bắt tép nuôi cò, cò ăn cò béo cò dò lên cây”. Nghĩ vậy mà khuyên thi nhân nay có mài bút khen cái chí tình của chàng Kim thì xin “ nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay” kẻo tội nàng Vân lăm lắm! Hãy ngẫm xem linh hồn Vân cười khóc thế nào khi nghe đời sau nhạo báng:

Thôi đừng nhắc khúc đàn xưa mờ tỏ
Mảnh vườn khuya em băng lối một mình
Ta không bẻ nhụy đào đêm xuân ấy
Để bây giờ buồn tiếc đến khôn nguôi!

Nguyễn Tiên Khôi

Thôi thì tập làm người nghĩa hiệp mà đi ngược lẽ đời, để chia sẻ cùng Vân đôi điều uẩn khúc.
Một lần đem nỗi băn khoăn này mà tỏ bày cùng một danh sĩ đất Hội An, danh sĩ cười ngạo mà phán bảo:
– Thương tiếc khéo là vô lí, lẽ đời đã dấn một nửa bước chân vào chốn tài hoa ai lại đi thương một cái giải nhì!
*
* *
Thôi đành vậy.

Người viết bài này chỉ là nhất thời cao hứng mà diễn xuôi ý tứ của một thi nhân, Trương Nam Hương, nên có lỗi nào trong bài luận văn vô phép rất mong quí bạn vui lòng tìm đến ông Trương Nam Hương mà cật vấn.

Sau đây là bằng chứng:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

Trương Nam Hương

Lặng nghe lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị thương lệ khóc đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để nồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ mất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.
Em làm vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Đắp đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Ý kiến các bạn thế nào?

Nguyễn Tấn Ái

Vốn xã hội

Chào các bạn,

Hôm nay mình đề cập đến một loại vốn gọi là Vốn xã hội rất quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như sự phát triển bền vững của một xã hội.

Vốn xã hội (social capital), cũng như tài nguyên thiên nhiên (natural capital – vốn tự nhiên) hay máy móc thiết bị sản xuất (manufactured capital – vốn sản xuất), cũng là một nguồn vốn trong nền kinh tế. Khái niệm này bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỉ 20 bởi Lyda Judson Hanifan, sau đó liên tục được phát triển bởi các nhà xã hội học, kinh tế học như Pierre Bourdieu, James Coleman hay Francis Fukuyama. Tuy vậy Robert D. Putnam, nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, giáo sư đại học Harvard ngành chính sách công, là người đầu tiên đưa khái niệm vốn xã hội trở thành tâm điểm của các nghiên cứu khoa học và tranh luận rộng rãi.

Theo Putnam “vốn xã hội là các mối liên kết giữa các cá nhân – các mạng lưới xã hội và các quy tắc qua lại và từ đó hình thành nên sự tin tưởng”. Ông nhấn mạnh rằng yếu tố căn bản trong vốn xã hội đó là “đạo đức dân sự” (civic virtue), và yếu tố này càng mạnh hơn trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội qua lại (reciprocal social interactions). Một xã hội có nhiều cá nhân bị tách biệt thì không giàu vốn xã hội . Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các hiệp hội (association) và xã hội dân sự. Vốn xã hội góp phần nâng cao chất lượng c ủa một đời sống dân sự và phát triển một xã hội dân sự.

Ngân hàng thế giới cũng đã công nhận “vốn xã hội chỉ đến các tổ chức, các mối quan hệ, và các khái niệm hình thành nên số lượng và chất lượng của các tương tác xã hội trong một xã hộị. Ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy các cố kết xã hội rất quan trọng cho các xã hội tăng trưởng về mặt kinh tế và phát triển một cách bền vững”.

Trong cuốn sách “Bowling Alone: The collapse and revival of American community” ông đưa ra một số lý do giải thích vì sao vốn xã hội quan trọng:

1. Vốn xã hội cho phép công dân giải quyết các vấn đề tập thể dễ dàng hơn, mọi người thường có lợi nếu họ hợp tác với nhau để giải quyết phần việc của mình

2. Khi mọi người tin tưởng và đáng tin tưởng, thì các mối quan hệ xã hội và kinh doanh sẽ tốn ít chi phí hơn

3. Khi con người thiếu các liên hệ với người khác, họ sẽ không thể kiểm tra sự đúng đắn của quan điểm của họ, do đó họ dễ có xu hướng bị lung lay bởi những lúc thiếu bình tĩnh.

Vốn xã hội đối với một cá nhân có thể đơn giản là các mối quan hệ xã hội mà người đó có, được xây dựng trên sự tin tưởng và có tính cố kết chặt chẽ. Một người nói rằng danh sách bạn bè của mình có hơn 100 người, nhưng có khi cả năm không nói chuyện với nhau thì đó không phải là những mối quan hệ bền vững. Mặt khác, một người có ít hơn 100 bạn, nhưng lại thường xuyên nói chuyện, hỏi thăm, trao đổi thư từ, gặp gỡ những người này thì rõ ràng là vốn xã hội mà người này có lớn hơn nhiều. Giàu vốn xã hội hay nói cách khác là giàu các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tin tưởng, tích cực và bền chặt là có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các cá nhân hạnh phúc và thành công hơn trong cuộc sống. Ví dụ đơn giản, khi bạn cần mua một chiếc máy tính chẳng hạn. Nếu bạn có một người bạn làm trong nghề buôn bán máy tính hay am hiểu máy tính, bạn biết người này rất rõ và tin tưởng họ, thì bạn hoàn toàn có thể nhờ người này tư vấn để mua máy tính mà khỏi cần tìm hiểu các nguồn thông tin trên mạng rất mất thời gian.

Khi xin việc cũng vậy. Có một con số không chính thức là 70% việc ở Mỹ không được đăng tải chính thức trên các phương tiện truyền thông, mà qua truyền miệng. Do đó rất nhiều người tìm được việc qua bạn bè giới thiệu, và thực tế cũng cho thấy tỉ lệ hài lòng với công việc cao hơn, tỉ lệ bỏ việc thấp hơn trong nhóm những người xin việc qua các mối quan hệ cá nhân như thế này.

Đối với các tổ chức hay doanh nghiệp, vốn xã hội cũng đem đến một số lợi ích như:

1. Chia sẻ kiến thức tốt hơn có được từ các mối quan hệ tin tưởng đã được thiết lập, các khung tham khảo chung, các mục tiêu chung

2. Chi phí giao dịch giảm, do mức độ tin tưởng tăng cao hơn

3. Tỉ lệ nghỉ việc và thay thế nhân viên thấp, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo

4. Tính cấu kết cao giúp cho tổ chức ổn định và chia sẻ những hiểu biết chung

Putnam cũng đưa ra một số yếu tố để xác định vốn xã hội thông qua một số ví dụ về sự suy giảm nguồn vốn này trong xã hội Mỹ ở thế kỉ 20:

1. Tham gia về chính trị và dân sự: ví dụ như tỉ lệ bỏ phiếu, mức độ hiểu biết chính trị hay tin tưởng chính trị (politial trust). So với một thập kỉ trước đây, hiện nay số lượng người Mỹ kí vào các thư kêu gọi giảm 30%, và tham gia vào các cuộc tẩy chay hàng tiêu dùng giảm 40%. Điều đó cho thấy sự suy giảm trong đời sống cộng đồng, các hoạt động của các câu lạc bộ và các tổ chức tôn giáo cũng giảm đáng kể.

2. Các ràng buộc xã hội không chính thức: ví dụ vào năm 1975 trung bình một người Mỹ mời bạn của mình về nhà chơi 15 lần một năm, con số đó năm 1998 giảm xuống còn một nửa. Các hoạt động thể thao tập thể cũng đang suy giảm.

3. Sự khoan dung và tin tưởng: mặc dù người Mỹ ngày càng khoan dung hơn với người khác nhưng lại kém tin tưởng người khác hơn. Cơ hội nghề nghiệp cho các ngành như cảnh sát, luật sư, và bảo vệ cá nhân đã giảm đi trong thế kỉ 20. Ví dụ số lượng luật sư trên đầu người năm 1970 giảm so với năm 1900.

Do vậy xây dựng vốn xã hội rất quan trọng trong thành công của mỗi cá nhân cũng như một xã hội nói chung. Có nhiều hoạt động để chúng ta tham gia thường xuyên và liên tục phát triển vốn xã hội của mình, ví dụ như:

1. Thường xuyên gọi điện hỏi thăm bạn bè và người thân ở xa
2. Giúp đỡ mọi người mọi lúc mọi nơi nếu có thể, và giúp đỡ một cách chân thành
3. Nói “Không có gì” khi có ai đó xin lỗi
4. Nói “Xin lỗi” và “Cảm ơn” mỗi ngày
5. Tổ chức một buổi họp mặt với bạn bè hay người thân
6. Tham gia cuộc họp của khu phố
7. Đăng kí bầu cử và bầu cử
8. Ủng hộ các doanh nghiệp địa phương
9. Hiến máu
10. Tránh “buôn dưa lê”
11. Tham gia một buổi tiệc ở nhà bạn bè khi được mời
12. Biết được các giáo viên của con bạn
13. Hát trong một nhóm nhạc
14. Đi bộ hoặc đi xe đạp để ủng hộ một hoạt động nào đó và rủ mọi người cùng tham gia
15. Trả lời một bản điều tra nếu bạn được hỏi
16. Đọc sách cho con bạn
17. Tham gia một nhóm tình nguyện
18. Đọc tin tức địa phương thường xuyên
19. Tình nguyện đưa đón giúp một người nào đó
20. Chào khi gặp một người quen
21. Chào những người lạ khi đi trên phố
22. Đi bộ ra công viên
23. Rủ bạn bè tham gia một buổi tiệc hay dã ngoại
24. Mở cửa cho ai đó khi họ cần giúp đỡ
25. Tổ chức một buổi họp mặt gia đình

Chúc các bạn một ngày thân ái,

Hoàng Khánh Hòa

Lời nguyện cho thế giới

Thế giới
.
Không có thế giới ở bên ngoài chúng ta. Thế giới, thực tế, là sự phóng ảnh của toàn thể chúng ta về tình yêu và nỗi sợ hãi, những hy vọng và những mâu thuẩn. Bằng cách nhận lãnh trách nhiệm cho ý nghĩ và cảm xúc của chính mình, chúng ta góp phần vào việc chữa lành thế giới.

Thế giới nguy kịch bởi chúng ta nguy kịch. Thế giới chuyển đổi dữ dội bởi chúng ta chuyển đổi dữ dội. Thế giới vẫn có một cơ hội sống còn, vừa vì nhờ chúng ta vừa vì bất kể chúng ta.

Lời nguyện của chúng ta cho thế giới là đóng góp lớn nhất của chúng ta cho sự chữa lành và tái sinh của thế giới
.

Chúa ơi,

Có quá nhiều nguy hiểm trong thế giới hôm nay.

Có quá nhiều điên rồ, quá nhiều bóng tối và sợ hãi.

Những nguồn tài lực của con người không đủ để chống lại sự ác trên đường phố và trong tâm trí của chúng con.

Chúa ơi,

Hãy gửi tới một phép lạ.

Mong sao quyền năng của thánh linh của Chúa bật lên ánh sáng vào mọi quốc gia và mọi mái nhà, mọi khối óc và mọi trái tim, khởi động sự thánh khiết của chúng con, nhắc nhở chúng con về sự thật trong lòng.

Mong một tình yêu vĩ đại ôm ấp chúng con, một an bình sâu thẳm an ủi chúng con.
Bởi vì, Chúa ơi, chúng con sống trong những thời khắc sợ hãi, và chúng con ước mong một thế giới mới.

Chúng con hiến dâng hiện hữu này, vào ngọn lửa của tài năng của Chúa.

Tinh luyện lại kim loại này.

Thiết kế lại những sáng tạo của chúng con.

Nhắc nhở chúng con về những chân lý đời đời.

Đưa chúng con trở lại với thánh thiện nguyên thủy.

Lấy đi những thứ chúng con đã níu giữ và, vì vậy, kết án.

Bởi Chúa đầy quyền lực, Chúa ơi, và có thể làm những điều chúng con không thể.

Mong thế giới được tái sinh.

Giúp chúng con tha thứ và bỏ quá khứ lại phía sau, tương lai được Chúa đưa đường.

Tung hô Chúa, bởi Chúa có quyền năng.

Ngợi ca và cảm tạ Chúa, bởi Chúa dùng quyền năng để cứu chúng con, chữa lành chúng con, kéo chúng con ra khỏi quá khứ.

Và chúng con chấp nhận.

Cám ơn Chúa.

Amen.

~ Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

The world
.
There is no world outside us. The world is, in fact, our collective projection of love and fear, hopes and conflicts. In taking responsibilities for our own thoughts and feelings, we play our part in the healing of the world.

The world is in a critical phase because we are. The world is in massive shift because we are. The world is in massive shift because we are. The world still has a chance for survival, both in spite of us and because of us.
Our prayers for the world are our greatest contribution to its healing and rebirth.

Dear God.

There is so much danger in the world today.
There is so much insanity, so much darkness and fear.
Our human resources are not enough to counter the evil on our streets and in our minds.

Dear God,

Please send a miracle.
Into every country and every home, into every mind and every heart, may the power of Your spirit now trigger the light, activate our holiness, remind us of the truth within.
May a great love now encompass us, a deep peace give us solace.
For Lord, we live in fearful times, and we long for a new world.
We surrender what is, to the bonfire of Your genius.
Refine this metal.
Refashion our creations.
Remind us of eternal truths.
Return us to our native grace.
Take back what we have kept and thus condemned.
For You are mighty, Lord, and can do what we cannot.
May the world be reborn.
Help us forgive and leave the past behind us, the future to be directed by You.
Hallelujah, for You have the power.
Praise and thanksgiving, as You use it to save us, to heal us, to lift us from the past.
And we accept.
Thank You very much.

Amen.

Cuộc sống giống như một cốc café

Một nhóm cựu sinh viên đã có những thành công nhất định trong sự nghiệp, cùng nhau đến gặp giáo sư đại học cũ của họ. Câu chuyện nhanh chóng trở thành những lời than phiền về sự căng thẳng trong công việc và cuộc sống.

Mời sinh viên của mình uống café, thầy giáo đi vào bếp và quay ra với một cái ấm café lớn và một lô cốc – sứ, nhựa, thủy tinh, một số cái trông đơn giản, một số cái đắt tiền, một số cái nhìn rất đặc biệt – và bảo sinh viên tự tay rót café.

Khi tất cả các sinh viên đã có một cốc café trong tay, vị giáo sư bảo: “Nếu các em để ý, tất cả những cái cốc đẹp đã được lấy hết, chỉ còn lại mấy cả trông đơn giản và rẻ tiền. Việc các em chỉ muốn cái tốt nhất cho mình là lẽ thường, và đó là nguồn gốc của các vấn đề và căng thẳng mà các em gặp phải”.

Hãy nhớ rằng chiếc cốc bản thân nó không tăng thêm giá trị cho café. Trong phần lớn các trường hợp, nó chỉ đắt tiền hơn và trong một số trường hợp, làm chúng ta quên đi chúng ta đang uống gì. Cái mà các em thực sự muốn là café, không phải là chiếc cốc, nhưng các em đã tự chọn những chiếc cốc tốt nhất…Và sau đó thì nhìn sang cốc của người khác.

Bây giờ hãy nghĩ về điều này: Cuộc sống là café, còn công việc, tiền và vị trí trong xã hội là những chiếc cốc. Chúng chỉ là dụng cụ để đựng và chứa cuộc sống, và hình thức của chiếc cốc không định nghĩa, cũng không thay đổi chất lượng cuộc sống mà chúng ta sống.

Đôi khi, do tập trung vào cái cốc, chúng ta đã quên việc thưởng thức café. Hãy thưởng thức café, không phải chiếc cốc. Những người hạnh phúc nhấ không có những thứ tốt nhất của mọi thứ. Họ chỉ tạo ra thứ tốt nhất của mọi thứ. Sống đơn giản. Yêu rộng lượng. Quan tâm sâu sắc. Nói chân thành.

~ Unknown Author
Hoàng Khánh Hòa dịch

Life is Like a Cup of Coffee

A group of alumni, highly established in their careers, got together to visit their old university professor. Conversation soon turned into complaints about stress in work and life.

Offering his guests coffee, the professor went to the kitchen and returned with a large pot of coffee and an assortment of cups – porcelain, plastic, glass, crystal, some plain looking, some expensive, some exquisite – telling them to help themselves to the coffee.

When all the students had a cup of coffee in hand, the professor said: “If you noticed, all the nice looking expensive cups have been taken up, leaving behind the plain and cheap ones. While it is normal for you to want only the best for yourselves, that is the source of your problems and stress.

Be assured that the cup itself adds no quality to the coffee. In most cases it is just more expensive and in some cases even hides what we drink. What all of you really wanted was coffee, not the cup, but you consciously went for the best cups… And then you began eyeing each other’s cups.

Now consider this: Life is the coffee; the jobs, money and position in society are the cups. They are just tools to hold and contain Life, and the type of cup we have does not define, nor change the quality of life we live.

Sometimes, by concentrating only on the cup, we fail to enjoy the coffee. Savor the coffee, not the cups! The happiest people don’t have the best of everything. They just make the best of everything. Live simply. Love generously. Care deeply. Speak kindly.

Những điều trông thấy mà…

Tôi vưà có hai chuyến điền dã tìm hiểu văn hoá cổ truyền của người Mnông ở tỉnh Đak Nông và người K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng. Đây vốn là hai tộc người cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer, có rất nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật diễn xướng goong – ching (bài bản ching, làn điệu dân ca, dân nhạc) và phong tục tập quán ( kiến trúc nhà, sản xuất nương rẫy, tang ma, cưới hỏi…). Điểm khác nhau cơ bản là: nếu trong chương trình sưu tầm sử thi đã thực hiện ở Tây Nguyên, các nhà khoa học “nhặt” được từ người Mnông hàng trăm tác phẩm trường ca – sử thi (ot, n’trong) đồ sộ, thì hình thức văn học truyền miệng độc đáo này (Yang yao) ở vùng người K’Ho chỉ còn là những trường đoạn đứt gãy. Thậm chí văn hoá truyền thống K’Ho hầu như chỉ lờ mờ trong ký ức người già (từ 70 mùa rẫy trở lên), lớp trung niên (từ 60 tuổi trở xuống) gần như chẳng còn nhớ gì nhiều .Tuối càng thấp thì sự hiểu biết về văn hoá tộc người của chính mình càng ít.

Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN đã từng có lần xót xa nhận xét “cái nghèo khiến các dân tộc còn giữ được văn hoá truyền thống”. (Điều này dưòng như mẫu thuẫn với một câu ngạn ngữ của người Việt, rằng “phú quý sinh lễ nghĩa” chăng? Bởi các tỉnh, huyện, xã miền xuôi khắp cả nước, chẳng đang đua nhau khôi phục các lễ hội truyền thống đó sao?).

Tuy nhiên, điều tôi muốn đề cập trước hết trong câu chuyện này, chưa phải về văn hoá cổ truyền, mà là về đời sống của hai tộc người tương đối gần gũi về phong tục tập quán, ở hai địa bàn khác nhau vừa nói đến ở trên.

Nói theo kiểu người Tây Nguyên chúng tôi phải tận mắt nhìn, phải tự tai nghe mới tin, thì :

– Đa số gia đình người Mnông ở các huyện Đăk Rlâp, Quảng Khê, Krông Nô, Đăk Song, thị xã Gia Nghĩa…thuộc tỉnh Đăk Nông mà chúng tôi đến, đều chưa thoát khỏi đói nghèo, do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đất. Tuy hầu hết đã chuyển từ nhà tranh sang nhà ván, nhà gạch,mái tôn, nhưng chỉ là những căn nhà cấp 4, diện tích hẹp. Có rất ít thanh niên người Mnông học tới trình độ cao đẳng và đại học.

Trò chuyện cùng chúng tôi, người dân đều có nguyện vọng được có đất để làm rẫy, may ra mới khỏi đói. Thậm chí có vùng còn đề nghị được chuyển cư đi tìm đất. Bà con cũng lý giải việc khó khôi phục lại văn hoá truyền thống, vì mọi lễ nghi, lễ hội đều liên quan tới lương thực, thực phẩm, mà điều đó hiện nay không thể giải quyết được.

– Người K’Ho ở tất cả những nơi chúng tôi đến (Lâm Hà, Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh,Dam Rông) đều có cuộc sống khá hơn hẳn, đặc biệt những nhà làm cà phê, hoặc chuyên canh rau & hoa (những vùng làm lúa tuy không giàu có bằng, nhưng cũng không bị đói). Rất nhiều gia đình xây nhà dạng biệt thự khang trang, đầy đủ tiện nghi (ti vi, bếp ga, máy giặt, tủ lạnh…). Người K’Ho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có đông trí thức nhất.

Trao đổi điều này với những người nông dân K’Ho mà chúng tôi gặp, bà con đều cho rằng: mặc dù kỹ thuật chưa cao, nhưng do có đất sản xuất, nên thu nhập đủ sống, đủ nuôi con ăn học. Nhưng khi chúng tôi hỏi “con cháu mình biết gì về văn hoá tộc người mình?”, hầu hết đều trả lời “ không biết gì ngoài tiếng nói”. Họ cũng bày tỏ nguyện vọng muốn khôi phục lại văn hoá truyền thống, nhưng hầu hết không hiểu nên giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì (bởi đa số là tín đồ đạo Thiên Chúa & Tin lành), nhất là khi không mấy ai còn biết truyền thống văn hoá của mình có những gì, ngoài gong ching vừa được quốc tế công nhận là di sản văn hoá nhân loại, thì ở nhiều vùng đã im tiếng từ vài chục năm nay.

Vậy là hai tộc người thiểu số Tây Nguyên, hai hiện trạng cuộc sống giàu nghèo khác nhau, nhưng đều đứng trước nguy cơ mất hẳn kho tàng văn hoá đã từng rất đồ sộ và có giá trị vô cùng quý báu của mình, mất “di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”

Trước hết là việc đời sống kinh tế chênh lệch rõ rệt ở hai vùng. Người Mnông nghèo và vẫn bị đói là do thiếu đất sản xuất. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Chuyện xa hơn một chút, tù trưởng N’Trang Gưh đã từng dẫn 600 người Bih, người Mnông bỏ bon lan lùi sâu vào rừng chống Pháp. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi lập vùng căn cứ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Đăk Lak phải động viên một số hộ người Êđê từ Krông Ana bỏ buôn làng quê hương chuyển cư sang, để có thêm dân, vì cơ số người Mnông ở Krông nô quá ít. Cách mạng mà không có dân, không có chỗ dựa , làm sao thành công? Ấy vậy mà ngày nay “số ít” những chủ nhân đích thực ấy, lại không có đủ đất canh tác để đảm bảo đời sống, chỉ no đủ thôi, chưa dám mơ tới giàu có, là sao?

Sau nữa là biện pháp bảo tồn một trong những “vùng văn hoá cồng chiêng” Tây Nguyên thì thế nào nhỉ? Thể theo ý nguyện của bà con, ấy là cần lắm những cán bộ văn hoá là người chính dân tộc mình, để cùng nhau bàn bạc, lựa chọn cái gì phù hợp mà bảo vệ lấy “ nó” cho khỏi mất đi. Đấy, cứ ngoái lại mà xem, nếu là người bản địa tham gia vào chương trình, thì đâu đến nỗi đêm khai mạc cồng chiêng quốc tế ở Gia lai bị đông đảo khán giả chê bai vì sự thiếu tôn trọng chính chủ thể cồng chiêng đến thế? Mà có phải thiếu người đâu? Có tới hai Nghệ sỹ nhân dân chuyên ngành đạo diễn múa là người Bâhnar và Hrê ở đó đấy chứ. Nhưng họ có được nhúng tay vào đâu? Phải mời hẳn một công ty ở Hà Nội vào thực hiện, mới thành công chứ.

Thêm một câu chuyện nho nhỏ : có người tự cho là tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, đã đến tận xã Nhân Cơ, nơi đang triển khai dự án Bôxit ở tỉnh Đăk Nông xem tận mắt, rồi về lớn tiếng “mọi người nói sao chứ dự án chỉ lấy có rẫy của 3 hộ Mnông, đã đền bù thoả đáng rồi”. Vâng, nhưng có ai quan tâm đến một cái hồ có tên gọi “cá trê”, nơi mà mỗi năm một lần, các bon Mnông quanh vùng mang theo rượu cần, goong –ching, tụ tập cùng tát cá và ăn uống, múa hát chung ở đó, nay đã bị biến mất không? Xì ! Cái hồ là việc nhỏ.Số tiền đền bù ấy có thể mua được xe máy, xây nhà …tốt quá rồi còn gì? Cái đói nếu có đến là tại bà con không biết mua đất ở đâu mà sản xuất đấy, chứ có phải tại “ ông Boxit ” đâu ???

Buổi sáng đầu tiên chúng tôi ở trang trại Trung Nguyên tại M’Drăk,để bàn về việc chuẩn bị cho Festival cà phê quốc tế tại Đăk lăk năm 2010, một nhóm các nhà kinh tế trẻ, gồm toàn các Tiến sỹ vừa từ Hà Lan, Mỹ, Đài Loan về, đã thẳng thừng nhận xét “Soi lại lịch sử thì người Kinh chỉ giỏi đánh nhau, xâm chiếm đất đai, áp đặt lối sống của mình, chứ không hiểu và không biết cách bảo hộ văn hoá, không tôn trọng văn hoá ngay cả của chính mình lẫn của các dân tộc thiểu số khác ”.

Xin dành sự bình luận cho các bạn ghé qua “nhà” tôi nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Xin lỗi các dân tộc thiểu số

Chào các bạn,

Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.

Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”

Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.

Sau đây là nguyên văn bản thông báo của Ủy Ban Thượng Viện Mỹ Về Các Vấn Đề Liên Hệ Đến Người Da Đỏ

Để thông tin lập tức
Ngày 6.10.2009

Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ

Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.

Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”

Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”

Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.


Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.

Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.

Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?

Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?

Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?

Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?

Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.

Chúc các bạn một ngày thành thật.

Mến,

Hoành

.

For Immediate Release
10/07/09
Email This
Print This
BROWNBACK, DORGAN APPLAUD SENATE PASSAGE OF NATIVE AMERICAN APOLOGY RESOLUTION
WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians.    “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback.  “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past.  With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment.  Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret.  It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill.  The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide.  The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans.  The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la

.

Local American Indians Call for Formal Apology Print E-mail
By Natalie Bedell
Tuesday, November 24 2009 17:24
While families across the U.S. gather around their household tables this Thanksgiving, local members of the American Indian Society of Washington, D.C. will be meeting up with their own family — each other, for a potluck dinner at the Burgundy Community Center in Alexandria.

powwow Members of the American Indian Society (AIS) of Washington, D.C. celebrate Mother’s Day with a pow wow. (Photo: Courtesy Kathleen Dorn)

But, according to Michael Nephew of Falls Church, their table talk will be less about a pilgrim story of the past and more about catching up with one another.

Nephew, who serves as the organization’s president, saw the American Indian Society (AIS) as an opportunity for American Indians to get together with their brothers and sisters in the community when he moved to the area from New York years ago. He is an enrolled member of the Eastern Band of Cherokee Indians, as well as being part of Seneca and Cayuga.

Nephew first heard the story of Thanksgiving when he was a young boy, but said he “ironically heard very little” about Native American Indian history during his high-school years.

He said the biggest misconception about how Thanksgiving is taught in public schools is the “fighting that occurred shortly afterwards between [the settlers] and Native Americans often goes unmentioned.”

The holiday story traditionally taught in classrooms is a happy one of pilgrims who were befriended by the Natives, taught to hunt and gather and showed their gratitude with a shared meal. However, Nephew recalled a slightly different version of the feel-good tale, one of bloodshed and greed.

“[The settlers] were biting the hand that fed them,” said Nephew, referring to various wars that took place soon following 1621, during which many Natives were killed by colonists.

One thing Nephew believes can heal the wounds of political and social distrust between modern-day American Indians and the U.S. government is a formal expression of remorse from the latter.

“I think there needs to be an apology,” said Nephew, citing the Canadian government’s apology to its indigenous tribes in 1998.

Nephew said he wouldn’t be able to show anyone the land where he played as a kid even if he wanted to.

“People don’t think [the government] is taking away Natives’ land today, but yes, it has happened. And it’s happened in our lifetime,” said Nephew.

And what about those who believe they shouldn’t have to apologize for something they didn’t personally do?

“Well, it might have been their parents, especially in this area, where so many parents are involved with the government at that time. It’s not as far back as some may think,” said Nephew.

AIS Treasurer Mary Sunbeam agreed, challenging President Obama to a second Thanksgiving — to which tribal chiefs are invited to the White House for a peace-offering meal.

“We have not been healed. No president has come forward. We’re not asking for money or retribution,” said Sunbeam, who added that “these kinds of forgiveness need to happen” and that American Indians are looking for it to come from “power sources who’ve been too lax.”

On Nov. 5, President Obama held the first annual White House Tribal Nations Conference at the Department of the Interior. Invited were leaders from each of the federally recognized tribes in the U.S., as Obama signed a memorandum directing “every Cabinet agency to give a detailed plan within 90 days of how … to improve tribal consultation.” A formal apology was not issued.

“At some point, [the U.S. government] needs to say, ‘This is what happened. It wasn’t a good thing for our country. It wasn’t a good thing for the tribal people,’ and to heal the pain where there’s no closure, just open wounds,” said Sunbeam, a member of the Cherokee Nation of the Appalachia tribe.

Aside from her AIS duties, Sunbeam serves as the president of Positive Education, Inc., designing and presenting courses on Native American Indian cultures to schools, businesses and religious organizations.

She said the only Native American education she’s heard of public-school students having are brief mentions during the second and sixth grade, but that “most teachers are not trained in college to teach Native American history.”

“Thank goodness they will call on people like me to teach these things. Even today’s immigrants coming to the U.S. will ask me if I am a real Indian because they’ve been told we’re all dead,” said Sunbeam.

She said the blame, however, doesn’t fall solely on government-run school systems, but equally in the laps of American Indians. Sunbeam added that, unlike the NAACP, the American Indian community has not had enough advocacy for more extensive education.

“We can’t say it’s the government’s fault. Where are we? We don’t have enough activism in our own culture,” said Sunbeam, who hopes to change that through her own curriculum. Her work has been acknowledged by the American Association of Community Colleges with a Northern Virginia Community College Model Program Award.

As far as an organization comparable to the NAACP, Nephew said the Association is racially categorized, whereas “the tribal government is a political entity.”

“Part of the reason why there isn’t something like [the NAACP] for American Indians is people from each tribe have to make sure their particular tribe survives as opposed to recognizing all Natives and trying to lend support to other tribes,” said Nephew.

Still, Sunbeam believes U.S. politics play a critical role in Native American history teachings, or lack thereof, in today’s schools.

“The bottom line is education is political,” said Sunbeam, who suggested the U.S. government incorporate Native American history into the U.S. citizenry test.

michaelnephew Michael Nephew, President, American Indian Society of Washington, D.C. (Photo: News-Press)

As far as Thanksgiving, Sunbeam and Nephew agreed that the holiday’s theme is a bit novel, given that expressing thanks is a culturally embedded part of their everyday lives and not just a one-day event.“What came to be known as the first Thanksgiving was the idea of sharing food for people in need. It wasn’t a kindness thing; it was something you just do. It wasn’t religious, though it became so later on,” said Sunbeam, who added that “giving thanks to God, the great source, for weather to produce a harvest was always part of her culture” growing up.

She recalled being taunted by her peers in grade school for once bringing a dandelion sandwich to school.

“Nowadays, people go to GNC and buy dandelion root, the weed in their yard they find a nuisance. But when I was a kid, I was taught it was nature’s product for organs after the winter time and your body gets sluggish,” said Sunbeam, who garnered more than a few chuckles as a little girl with green stuff in her teeth. Taking the high road even then, she said she looked at it as “their ignorance, and I tried to educate them.”

Nephew recalled being looked to in high school from his peers as a historical fact checker. Still offering up the facts today, he works alongside other AIS leaders, to speak at government agencies and private schools about his culture’s historical footprint.

As far as Sunbeam’s message to open ears she encounters, she said, “Save money on the self-help books. We all have a belly button. We’re all one human race. I’m working on getting that message across.”

There are 564 federally recognized tribes in the U.S. To this day, neither Virginia, Maryland nor Washington, D.C. have federally recognized tribes, leaving people within those tribes ineligible for federal funds ranging from health care to housing assistance.

Both Rep. Jim Moran and Sen. Jim Webb sponsored legislation this year granting federal recognition to six Virginia Indian tribes, which was OK’d by the House in June.

As of Oct. 22, the Indian Tribes of Virginia Federal Recognition Act of 2009 passed in the Senate Committee on Indian Affairs.

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung…

    Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

    (Indira Gandhi)


Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi ưa vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên cô muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!” Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con”.

Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta đi lạc đường hay không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, bạn có thể trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chính xác là chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu kề bên khu chợ nhỏ xíu ở một trị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn bắt buộc phải làm.

Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha mình ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch tốt cho sức khỏe và có chất lượng hảo hạng.

Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với ước mơ ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, mục tiêu của ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường cả. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học là để mình có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó kiếm về cho mình thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

Mỗi một con người đều có vai trò của mình trong cuộc đời này và đều đáng được ghi công. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ chúng ta, phần đông, làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học đoạt giải Nobel thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau muống? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vượt lên từng ngày. Bởi luôn luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, sự nổi tiếng giống như một tai nạn, xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người nói rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mãi không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung.

Hết thời cúi xuống lượm(dây) thun… bắn ruồi.”

Oprah Winfrey có nói “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu được mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Ai trong chúng ta đủ ngốc nghếch để tin rằng mình có thể giương cung được mãi?

Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản mới cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ta chỉ tập trung vào cái ta đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì là tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm từ cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm, và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm gốm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này sẽ tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi chỉ là một thợ gốm học việc, ông cũng vẫn tận tâm như vậy.

Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi: được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

Đông Vy và Phạm Công Luận

Kinh Lạy Cha – The Lord’s Prayer

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói khá nhiều về thiền và thiền thi, một suối nguồn tư duy tích cực trong văn hóa Việt Nam. Hôm nay chúng ta nói đến Kinh Lạy Cha của Kitô giáo, gốc rễ của tư duy tích cực của người Kitô giáo trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam.

Ở đây chúng ta chỉ phân tích Kinh Lạy Cha như một hiện tượng văn hóa, và giải thích ảnh hưởng của Kinh Lạy cha trên tư duy tích cực của chúng ta, và hạn chế các phân tích có tính cách thuần tôn giáo.

Kinh Lạy Cha, tiếng Anh goi là The Lord’s Prayer, Lời Cầu Nguyện Của Chúa. “Chúa” đây là Chúa Giêsu, tác giả của lời cầu nguyện này. Trong thánh kinh, khi mọi người hỏi Chúa Giêsu cách cầu nguyện, Chúa Giêsu cho họ Kinh Lạy Cha. Câu chuyện này được ghi lại tại Matthew 6: 9-13, được coi như một phần của Bài giảng trên núi, và tại Luke 11:2-4.

Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông nhất và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo và các hệ phái Tin lành), đồng thời cũng là lời kinh phổ thông nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới.

Bản tiếng Việt

Lạy cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện danh cha cả sáng,
nước cha trị đến,
ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.


Amen

Bản tiếng Anh

Our Father, who art in heaven,
Hallowed be thy Name.
Thy kingdom come.
Thy will be done,
On earth as it is in heaven.
Give us this day our daily bread.
And forgive us our trespasses,
As we forgive those who trespass against us.
And lead us not into temptation,
But deliver us from evil.
[For thine is the kingdom,
and the power, and the glory,
for ever and ever.]
Amen.

Bản tiếng La Tinh

Pater noster, qui es in caelis
Sanctificetur nomen tuum;
Adveniat regnum tuum.
Fiat voluntas tua
Sicut in caelo et in terra
Panem nostrum quotidianum da nobis hodie.
Et dimitte nobis debita nostra,
Sicut et nos dimittimus debitoribus nostris.
Et ne nos inducas in tentationem;
Sed libera nos a malo.
[Quoniam tibi est regnum et potestas et gloria in saecula.]
Amen.

Đọc bài kinh ta thấy nội dung chia làm hai đoạn rất rõ ràng. Đoạn đầu là ca tụng Chúa. Đoạn sau mới cầu nguyện cho chính mình.

I. Khiêm tốn

Đoạn đầu của Kinh Lạy Cha là để ca tụng Chúa. Nhưng nếu ta chỉ có IQ cở dưới trung binh thôi, ta cũng có thể biết được chẳng có Thượng đế nào cần mấy tiếng tung hô của con người cả. Đã là Thượng đế thì không cần được khen hay tung hô.

Vậy thì các việc ca tụng Thượng đế là để cho chính chúng ta, những tín hữu, để chúng ta biết kính sợ Thượng đế để mà khiêm tốn.

Đoạn đầu của Kinh có thể viết ra dễ hiểu hơn một tí như sau:

“Lạy Cha của chúng con ở trên trời, chúng con cầu xin cho tên của cha được chiếu sáng, nước của Cha trị sẽ đến với tất cả mọi người, ý muốn‎ của Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.”

Khi ta tự nhắc lại về quyền năng và vương quốc của Thượng đế, và uy quyền của “ý muốn” của Thượng đế, ta tự động dẹp bỏ cái tôi của mình–tôi, quyền năng của tôi, vương quốc của tôi, ý của tôi… không quan trọng.

Đây gọi là submission—“khuất phục” trước Thượng đế, hay “giao phó” cuộc đời của mình cho Thượng đế. Cái tôi của mình không còn nữa. Nó đã hoàn toàn thuộc về Thượng đế. Gần như là “vô ngã” trong Phật gia.

Submission hay total submission (giao phó hoàn toàn vào tay chúa) là một ý niệm cực kỳ căn bản và quan trọng hàng đầu của các tôn giáo thuộc dòng Maisen (Moses)–Do Thái giáo, Kitô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin lành), và Hồi giáo. (Những tôn giáo này cũng có thể được gọi chung là Thiên chúa giáo–tôn giáo lấy Thiên chúa (God/Allah) làm chủ).

Khiêm tốn!

(Chú thích: Về “nước Cha trị đến”, nhiều người tưởng rằng đó là biến cả thế giới thành Kitô giáo. Thực ra luật vàng của Chúa Giêsu chỉ có hai điều: Kính mến Thượng đế và Yêu người. Và Thượng đế có nhiều tên khác nhau: Ông trời, Thượng đế, Ngọc hoàng, Chúa, Allah, God, Yahweh… Làm được hai điều này là đã thuộc về “nước” của Thượng đế, ngay trong tâm ta).

II. Lo cho mình

Phần sau của Kinh Lạy Cha là các câu cầu xin cho chính mình:

“Xin cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ.” Tức là chỉ xin đủ ăn, đủ mặc, đủ chi dụng cho những nhu cầu tất yếu. Không xin giàu sang phú quý, tiền rừng bạc biển.

Thế thì ý niệm tài sản, của cải, là gì trong Thiên chúa giáo? Thưa, tài sản là do Thượng đế giao cho ta quản lý, để ta gầy dựng sinh lời cho Thượng đế. (Xem dụ ngôn về các đồng bạc, Matthew 25:14-30. Tuy nhiên, dụ ngôn này nói về nhiều thứ sâu thẳm hơn chỉ là tiền bạc).

Và dĩ nhiên là tài sản của Thượng đế thì phải được quản lý để phục vụ “Chúa trong mọi người”, tức là phục vụ mọi người quanh ta, mà chúng ta vừa đề cập khi nói đến Kinh Hòa Bình của Thánh Francis.

two-women-hugging-forgiveness

“Xin cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Mỗi người chúng ta làm rất nhiều lầm lỗi trong đời, và nhiều người khác cũng đã lầm lỗi thiệt hại ta. Ta phải tha thứ cho người khác, trước khi cầu xin và được Thượng đế tha thứ cho ta.

Xưng tội , giải tội, sẽ không giải quyết gì cho ta cả, nếu ta chỉ làm công thức mà không làm trong lòng, là tha thứ lỗi lầm của người khác. Nếu ta cầm buộc người khác, Thượng đế cầm buộc ta.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chỉ cần sống không làm bậy là đủ. Không cần phải là anh hùng, vĩ nhân, thánh… Không cần phải đến mức hy sinh tánh mạng cho Chúa, hay bán hết nhà cửa để giúp người nghèo, hay tử vì đạo… Chỉ cần đừng sa vào cám dỗ là đủ–đừng si mê, sân hận, ghen ghét, đố kỵ, dối trá, trộm cướp, tà dâm, tham nhũng, bóc lột…

Và nếu lỡ bị lầm lạc vào đường xấu, vào sự dữ, thì xin Chúa cứu ta ra.

Từ “cám dỗ” ở đây ám chỉ là không ai trong chúng ta muốn và thiết lập kế hoạch để làm bậy cả. Chẳng qua là “sa chước cám dỗ” nên làm bậy thôi. Bản tính của mỗi người chúng ta là thanh khiết.

Amen là “mong được như vậy.”

Kinh Lạy Cha chỉ giản dị vậy thôi: Khiêm tốn trước mặt Thượng đế, đủ ăn đủ mặc, tha thứ, và đừng làm bậy.

Quy luật sống không bao giờ phức tạp. Cực kỳ giản dị. Chúng ta không chịu theo các quy luật sống đã tồn tại mấy ngàn năm và vẫn còn được nhắc đến bởi vài tỉ người trên thế giới ngày nay, nhiều lần trong một ngày. Và chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha mà không thực sự thực hành. Rồi ta lại than van sao cuộc sống quá khó khăn và phức tạp.

Chúc các bạn một ngày vui.

Sau đây mời các bạn nghe Barbara Streisand hát the Lord’s Prayer, và ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu, hát Kinh Lạy Cha.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

.

Barbra Streisand – The Lord’s Prayer

.

Kinh Lạy Cha – Ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu