Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Màu Tím Hoa Sim” – Hữu Loan & Trọng Khương, Duy Khánh

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Màu Tím Hoa Sim” của Thi sĩ Hữu Loan và hai Nhạc sĩ Trọng Khương, Duy Khánh.

Thi sĩ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan; sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916, mất ngày 18 tháng 3 năm 2010, tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học rồi tham gia Mặt Trận Bình Dân năm 1936 và tham gia nhóm Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943, ông làm Phó Chủ Tịch Ủy ban Khởi nghĩa huyện Nga Sơn.

Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn Học, xuất bản tại Hà Nội. Sau đó, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy Ban Hành Chính Lâm Thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội, phục vụ trong Đại đoàn 304.

Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn Nghệ trong một thời gian. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm thường mang tính phản chiến và con người trong thời kỳ chiến tranh.

Thi sĩ Hữu Loan.
Thi sĩ Hữu Loan.

Sau khi Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, ông phải vào trại cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà.

Ông nổi tiếng với bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” do ông sáng tác trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến. Có thông tin cho rằng, do nội dung bài thơ nặng nề tình cảm và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý quần chúng, nên ông bị giải ngũ. Nhưng sự thật hoàn toàn ngược hẳn lại – chính ông từ bỏ chính sách vô đạo trở về quê sinh sống nhưng họ vẫn đuỗi theo nhiều lần tìm cách hại ông (xin xem bài “Hữu Loan: Về bài thơ Màu Tím Hoa Sim” của ông bên dưới).

Ông từ trần vào lúc 19h00 ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 95 tuổi.

Hữu Loan để lại khoảng 60 bài thơ trước lúc ông mất. Tuy nhiên chưa xuất bản tập thơ nào, dưới đây là một số bài thơ đã được phổ biến của ông:

– Cũng Những Thằng Nịnh Hót
– Đèo Cả
– Đêm
– Màu Tím Hoa Sim
– Hoa Lúa
– Ngày Mai
– Thánh Mẫu Hài Đồng
– Tình Thủ Đô
– Yên Mô

Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” được thi sĩ Hữu Loan sáng tác năm 1949 tại Thanh Hoá, vào thời điểm sau khi người vợ đầu tiên của tác giả qua đời, và xuất hiện lần đầu tiên trên tờ Trăm Hoa của Nguyễn Bính. Trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, nó bị coi là thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản, và là một trong những bằng chứng để bộ văn hóa đương thời kết tội tác giả của nó. Tuy nhiên bài thơ vẫn được truyền đi rộng rãi trong công chúng bằng những bản chép tay và được đưa vào miền Nam Việt Nam, tại đây bài thơ đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành những bài hát nổi tiếng.

Năm 1990, bài thơ được in lần đầu trong một tập thơ, đó cũng là tập thơ đầu tiên được xuất bản của thi sĩ Hữu Loan: “Màu Tím Hoa Sim”.

Bài thơ nói về một cuộc tình đau khổ trong chiến tranh, với nhân vật chính là một cán bộ Việt Minh và một cô thiếu nữ. Họ yêu nhau, cưới nhau, trước khi chia tay nhau để anh lính đi ra trận. Anh vẫn thường lo lắng nếu như mình bỏ mạng nơi chiến trường thì thương cho người vợ, thế nhưng vào cái ngày anh trở về với niềm háo hức, thì nghe tin vợ đã mất. Trong miền hồi tưởng, anh nhớ về những kỷ niệm xưa, với hình bóng dịu dàng, thầm lặng của người thiếu nữ, anh nghĩ đến những đứa em, những người anh của cô gái cũng đã đi lính nơi xa xăm. Rồi anh lại ra đi. Trên con đường hành quân, qua những đồi sim tím, hình bóng của người vợ nhỏ vẫn vang về đâu đó, như nhắc khơi về một câu ca dao cũ: “Áo anh sứt chỉ đường tà/Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…”.

Thời điểm sáng tác của bài thơ, theo tác giả, là sau khi người vợ đầu tiên, bà Lê Đỗ Thị Ninh, của ông chết đuối khi trượt chân xuống bến nước trong trang trại của nhà (trong bản in của bài thơ thường có thêm phần đóng dấu trong ngoặc đơn: “Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh”).

Tập thơ "Màu Tím Hoa Sim".
Tập thơ “Màu Tím Hoa Sim”.

Bài thơ lâu nay được lưu truyền chủ yếu qua các bản chép tay nên có nhiều dị bản, các bản thường khác nhau về cách xuống dòng, về từ ngữ, viết hoa và viết thường. Bản được Cục Bản Quyền Tác Giả Văn Học Nghệ Thuật đóng dấu đăng ký là bản chép tay của ông vào ngày 12/10/2004.

Sự nổi tiếng của bài thơ còn được góp công phần nào bởi các nhạc sĩ: Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh… là những người đã phổ nhạc dựa trên ý thơ của bài. Riêng bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. Bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh ra đời vào thập niên 1960, là bản phổ nhạc sớm nhất được ghi nhận của bài thơ này.

“Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” là một bản phổ nhạc nổi tiếng khác của nhạc sĩ Phạm Duy dựa theo ý của “Màu Tím Hoa Sim”. Nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu phổ từ năm 1949 và hoàn thành vào năm 1971. Bài hát gồm một loạt trường đoạn phối hợp, diễn tả nhiều cung bậc và sắc thái tình cảm, với các nhịp 4/4 (âm giai Đô thứ), 2/4 (âm giai Đô trưởng), 4/4 (âm giai La thứ), 3/4 (âm giai Đô trưởng). Ca từ của bài hát rất gần với nguyên bản.

Thi sĩ Hữu Loan kết hôn hai lần, lần thứ nhất vào đầu năm 1949 với bà Lê Đỗ Thị Ninh, là con gái của nguyên Tổng Thanh Tra Nông Lâm Đông Dương, Lê Đỗ Kỳ. Ông quen biết bà Ninh khi ông còn học ở trường Đào Duy Từ, Thanh Hóa. Ông đã làm gia sư dạy mấy người anh trai và sau đó là bà Ninh. Tháng 5 năm 1949, bà Ninh mất và bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” ra đời. Lần thứ hai ông kết hôn với bà Phạm Thị Nhu, bà là con gái của một địa chủ, vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955. Bài thơ “Hoa Lúa” (1955) của ông chính là bài thơ viết tặng người vợ thứ hai này.

Thơ Hữu Loan thường làm theo thể tự do, có âm điệu giàu nhạc tính để chuyển tải tâm sự vì thế những bài thơ hiếm hoi đã được phổ biến của ông đều sống trong lòng độc giả. Nói đến Hữu Loan là người ta nhớ đến “Màu Tím Hoa Sim”, bài thơ xuất phát từ nỗi lòng của riêng ông nhưng gây xúc động và nhận được sự đồng cảm của người đọc.

Vào tháng 10 năm 2004, “Màu Tím Hoa Sim” đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: ViTek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng, trở thành một kỷ lục Việt Nam.

Ông Nhật Chung nhận định về thi sĩ Hữu Loan:

“Hữu Loan là người ẩn tướng. Thoạt nhìn, rất khó đoán định nội lực của con người vừa có dáng tiên phong đạo cốt vừa có vẻ một tiều phu núi xanh này. Thì đúng, Hữu Loan đã từng làm công việc nặng hơn việc một tiều phu: ông thồ xe chở đá độ nhật và nuôi cả gia đình trong thời gian khổ và đau đớn… Ông xa xôi như hình bóng một tiên ông, lại gần gũi như một người nông dân vừa xong buổi cày. Thiên lý ấy lại gần trong gang tấc”.

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương (????-1977) là một trong những nhạc sĩ tiên phong trong nền Tân Nhạc Việt Nam. Ông cũng là tác giả của ca khúc nổi tiếng “Bánh Xe Lãng Tử”.

Trước năm 1975 ông làm việc trong ban kiểm soát kỹ thuật Đài Phát Thanh Sài Gòn từ trước 1953. Ông mất năm 1977 trong tình cảnh thật thương tâm.

Theo nhạc sĩ Châu Kỳ thì ông gặp nhạc sĩ Trọng Khương “đang đi lang thang buồn bã trên đường với quần áo nhàu nát, tóc tai bù rối.” Sau những giây phút đứng tâm sự về cảnh đời hai bên giai đoạn này, NS Châu Kỳ khuyên NS Trọng Khương về nhà ông nghỉ ngơi chứ đừng đi lang thang nữa nhưng NS Trọng Khương nằng nặc chối từ.

NS Trọng Khương cầm cây đàn guitar chào tạm biệt NS Châu Kỳ rồi đi, sau khi kể cho NS Châu Kỳ nghe về nỗi buồn cay đắng khi hôm nay ghé qua nhà của một danh ca ở Sài Gòn vào thập niên 60 – người từng được nổi tiếng với những ca khúc của ông. Khi đến nhà danh ca này để cầu cạnh sự giúp đỡ, ông đã bị thẳng thắn chối từ và nói nhiều lời đau lòng xúc phạm.

Qua ngày hôm sau thì người dân ở ga xe lửa Hòa Hưng đều biết tin Trọng Khương nằm chết co ro hoang lạnh trên hè ga, tay còn cầm cây đàn guitar của mình và mặt ông lúc chết như còn vương bao điều xót xa chưa được bày tỏ hết.

Các tác phẩm nổi tiếng của Nhạc sĩ Trọng Khương:

• Bánh Xe Lãng Tử (1954)
• Duyên Thắm (1953)
• Đôi Guốc Mới (1953)
• Đường Vào Tình Sử (thơ Đinh Hùng)
• Đường Về Nhà Tôi (1956)
• Ghen (thơ Nguyễn Bính – 1955)
• Lòng Cô Phụ (1955)
• Màu Tím Hoa Sim (viết với Duy Khánh)
• Nhớ Rừng Hoang (1953)
• Sầu Nhân Thế (1953)
• Tình Vương Biên Giới (1953)
• Về Miền Nam (1954)
• Vó Câu Muôn Dặm (1956)

Nhạc sĩ Duy Khánh.
Nhạc sĩ Duy Khánh.

Nhạc sĩ Duy Khánh (1936-2003), tên thật Nguyễn Văn Diệp, còn có nghệ danh Tăng Hồng, Hoàng Thanh. Ông nổi danh từ thập niên 1960, ban đầu với những bài hát mang âm hưởng dân ca và “dân ca mới” của nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc về quê hương, về sau ông được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng thời kỳ đầu (“tứ trụ nhạc vàng”), ba người còn lại là: Nhật Trường, Hùng Cường, Chế Linh. Ông còn được biết đến như một nhạc sĩ tài năng với hơn 30 ca khúc, nổi tiếng phải kể đến “Thương Về Miền Trung”, “Lối Về Đất Mẹ”, “Ai Ra Xứ Huế”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”…

Duy Khánh sinh năm 1936 tại Làng An Cư – Xã Triệu Phước – Huyện Triệu Phong – Quảng Trị, là con áp út trong một gia đình vọng tộc thuộc dòng dõi Quận Công Nguyễn Văn Tường, Phụ chánh đại thần triều Nguyễn. Năm 1964 ông thành hôn với Âu Phùng, một phụ nữ gốc Hoa, sinh ra 2 người con. Về sau hai người ly dị.

Năm 1952, Duy Khánh đoạt giải nhất cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á tại Huế với bài hát “Trăng Thanh Bình”. Sau đó ông chuyển vào Sài Gòn để theo đuổi nghề ca hát.

Vào Sài Gòn, ông bắt đầu ghi âm đĩa nhựa và đi diễn khắp nơi, dần nổi tiếng với tên Hoàng Thanh. Ông trở thành một trong ba giọng nam được yêu thích nhất, cùng với Duy Trác, Anh Ngọc. Thời kỳ này tên tuổi của ông gắn liền với những bài có âm hưởng dân ca và “dân ca mới” của Phạm Duy: “Vợ Chồng Quê”, “Ngày Trở Về”, “Nhớ Người Thương Binh”, “Tình Nghèo”, “Quê Nghèo”, “Về Miền Trung”… rồi đổi nghệ danh là Duy Khánh. Chữ “Duy” trong Phạm Duy, còn “Khánh” là tên một người bạn thân của ông.

Năm 1965, ông cùng với nữ danh ca Thái Thanh thu thanh bản Trường Ca “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy. Sau đó cả hai người cùng hát “Trường Ca Mẹ Việt Nam”. Cho đến nay, hai bản trường ca này vẫn gắn liền với giọng hát Thái Thanh, Duy Khánh.

Ông bắt đầu viết nhạc từ năm 1959, nhạc ông thường nói về tình yêu quê hương, mang hơi dân ca xứ Huế và được đón nhận nồng nhiệt, ngay từ hai sáng tác đầu tay: “Ai Ra Xứ Huế”, “Thương Về Miền Trung”. Ngoài ra, từ những năm cuối thập niên 1960 cho đến năm 1975, Duy Khánh còn lập nhóm chủ trương xuất bản tờ nhạc mang tên “1001 Bài Ca Hay” quy tụ được nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ như Trịnh Lâm Ngân, Đỗ Kim Bảng, Duy Khánh, Trúc Phương… Tờ nhạc do nhóm xuất bản được giới mộ nhạc đánh giá cao vì in ronéo bản đẹp và minh họa công phu do chính Duy Khánh chỉ đạo thực hiện.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Việt Nam. Ông bị cấm hát một thời gian dài, sau đó thành lập đoàn nhạc Quê Hương, quy tụ các nhạc sĩ Châu Kỳ, Nhật Ngân, các ca sĩ Ngọc Minh, Nhã Phương, Bảo Yến… Giữa thập niên 1980 ông cưới bà Thúy Hoa rồi sống tại Vũng Tàu. Đến 1988, ông được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, tại đây ông tiếp tục ca hát và sáng tác.

Sau khi sang Mỹ vào năm 1988, ông hát độc quyền cho trung tâm Làng Văn, và xuất hiện trên một số cuốn video của trung tâm Asia, sau đó, thành lập trung tâm Trường Sơn tiếp tục ca hát và dạy nhạc cho đến cuối đời.

Ông qua đời vào lúc 12 giờ trưa ngày 12 tháng 2 năm 2003 tại bệnh viện Fountain Valley, Orange County, California, thọ 68 tuổi.

Thi phẩm “Màu Tím Hoa Sim” (Thi sĩ Hữu Loan)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

huuloan_MTHS1

huuloan_MTHS2

huuloan_MTHS3

Thi khúc “Màu Tím Hoa Sim” (Nhạc sĩ Trọng Khương & Duy Khánh)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những đứa em nàng, có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi

Từ chốn xa xôi nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Mà lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em! em ơi giây phút cuối
Không được nghe em nói
Không được trông thấy nhau một lần
Ngày xưa nàng thích hoa sim tím
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa

Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng
Trời gió sớm thu về, gờn gợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng trông ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng quanh mộ chí
Nhưng chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi hoa sim
Tím cả chiều hoang ôi biền biệt

Nhìn áo rách vai, tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu…

Dưới đây mình có các bài:

– Hữu Loan: Về bài thơ Màu Tím Hoa Sim
– Nhạc sĩ Trọng Khương

Cùng với 5 clips tổng hợp thi khúc “Màu Tím Hoa Sim” do chính nhạc sĩ Duy Khánh, NSƯT Hồng Vân, nghệ sĩ Hồ Điệp, và nghệ sĩ Quốc Anh diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

huuloan4

Hữu Loan: Về bài thơ Màu Tím Hoa Sim

(Nhà thơ Hữu Loan)

“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và … Tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ‘Em chào thầy ạ’. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho 2 người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành … Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ … Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi:

– Thầy có thích ăn sim không ?

Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ … Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.

– Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt quá”.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế !

Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại … em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp…

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sơ, chỉ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là:’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi…

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh…
…Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn… nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu:

Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi ‘hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng … Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1 tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

hi sĩ Hữu Loan và người vợ thứ hai, bà Phạm Thị Nhu.
Thi sĩ Hữu Loan và người vợ thứ hai, bà Phạm Thị Nhu.

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.

Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.

Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán…”

(Nhà thơ Hữu Loan)

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

Bánh Xe Lãng Tử là một tuyệt tác của nhạc sĩ Trọng Khương.

Bài hát hay nhưng có đặc biệt ở một kiểu cười.

Trong bài hát, có lẽ người nghệ sĩ bị thất tình thành bỏ đi giang hồ. Anh chàng lãng tử giận người mắt… xanh, đã cười “a ha ha!” Tuy cũng chỉ là cười, nhưng thật ra kiểu cười này vừa có vẻ ngạo nghễ, vừa có vẻ cay đắng. Chưa thấy ai và chắc chả bao giờ có người nào đem được cái nét cười này vào âm nhạc Việt Nam như ông Trọng Khương. Chàng nghệ sĩ đã cười ra nước mắt và khi cười chán chê, đâm ra đau đớn, giận đập vỡ cây đàn kỷ niệm ở bên bờ suối trong một đêm vắng. Rồi chàng uống rượu, ngà ngà say và lại lên xe ngựa già để… “lắc lư con tầu đi” dưới ánh trăng vàng, tiếp tục vừa đi vừa hát, sống cuộc đời lang bạt.

BÁNH XE LÃNG TỬ

(nhạc và lời Trọng Khương)

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt

Hình xe mờ khuất trong mênh mông
Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng tràn máu vô tư

A ha ha!
Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn
Giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh
Trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt lướt lên trời xanh lam

Ghen là một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trọng Khương. Bài hát viết nguyên thủy theo điệu Fox, thật vui và dễ … yêu. Đây là bài tình ca do Trọng Khương phổ nhạc vào thơ Nguyễn Bính. Nhạc của Trọng Khương đã diễn tả được đúng ý vui nhộn của thi sĩ Nguyễn Bính, diễn tả một chàng si tình và… ghen.

Vì “yêu quá mất rồi”, thành ghen. Người ghen không muốn cô em nghĩ đến bất cứ ai cả, không muốn cô tắm biển để người khác ngắm, không muốn thấy cô xức nước hoa làm người khác ngây ngất…
Ghen tuy không đến nỗi “ghen lồng ghen lộn” nhưng cũng khá “vô lý” khi muốn người yêu bé nhỏ chỉ làm những chuyện cho mình thôi, dù là những chuyện bình thường khó tránh được như nhìn, mỉm cười.

Và cũng chỉ vì “ghen đấy quá mà thôi”, không những anh ta chỉ ghen với người mà chàng còn ghen với cả cây cỏ, đồ vật. Phải nói là anh chàng ghen một cách “kỳ la” nữa, khi không muốn người đẹp hôn một đóa hoa xinh tươi, hay căn dặn người tình lúc nằm ngủ không được ôm… gối:

GHEN

(thơ Nguyễn Bính, nhạc Trọng Khương)

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
dầu chỉ qua rồi khách lại qua

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

Ngoài Bánh Xe Lãng Tử và Ghen, một tác phẩm hay khác của nhạc sĩ Trọng Khương, rất đáng nhắc đến, là nhạc phẩm Về Miền Nam. Bài hát này có một thời được hát rất nhiều trên các đài phát thanh. Lúc đó vào thời điểm ngay sau Hiệp Định Genève 1954, đất nước thân yêu Việt Nam bị chia đôi ở dòng sông Bến Hải và kết quả làn sóng hàng triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam.

Trọng Khương dẫn dắt thính giả, từ tang thương chia cắt đất nước và đau đớn của hận ly hương, đến sự hy vọng trong đời sống mới với đầy hy vọng, trong nắng ấm yêu thương của miền Nam Việt Nam.
Sau đây là lời bản nhạc Về Miền Nam, bản nhạc ngày đó thực sự đã làm xúc động người nghe và cả người hát:

VỀ MIỀN NAM

(nhạc và lời Trọng Khương)

Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền Nam thân yêu nắng ấm
Theo bước chân người xưa, ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi

Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu
Việt Nam ơi!

Sông buồn khóc nước tang thương
Sông gầm thét khúc bi thương
Sông sầu nước mắt ly hương
Việt Nam ơi!

Đi về miền Nam
Miền thân yêu hương lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam
Miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống

Vang lừng khúc hát hoan ca
Say đời sống ngát hương hoa
Ta cười đón gió phương Nam
Miền Nam ơi!

Đây miền đất nước xinh tươi
Đây miền nắng ấm reo vui
Đây miền sống phắp muôn phương
Việt Nam ơi!

Ngoài ra Trọng Khương còn sáng tác những bản tân nhạc nữa như Đường Về Nhà Tôi, Nhớ Rừng Hoang, Men Rượu Lên Hương, Duyên Thắm, Hai Kẻ Giang Hồ, Đôi Guốc Mới, Cai Thuốc Lá… và những tác phẩm này không mấy nguời biết đến.

Nhưng phải nói, chỉ cần ba bản nhạc tuyệt tác như Bánh Xe Lãng Tử, Ghen và Về Miền Nam, Trọng Khương cũng đã thành danh mãi mãi…

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

oOOo

Màu Tím Hoa Sim – NSUT Hồng Vân & Ca nhạc sĩ Duy Khánh:

 

Màu Tím Hoa Sim – Ca nhạc sĩ Duy Khánh:

 

Màu Tím Hoa Sim – Nghệ sĩ Hồ Điệp diễn ngâm:

 

Màu Tím Hoa Sim – Nghệ sĩ Quốc Anh diễn ngâm:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s