Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Chị Tôi” – Đoàn Thị Tảo & Trọng Đài

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Chị Tôi” (“Cho Một Ngày Sinh”) của Thi sĩ Đoàn Thị TảoNhạc sĩ Trọng Đài.

Nhạc sĩ Trọng Đài là một nhạc sĩ, giảng viên âm nhạc Việt Nam, hiện ông đang là Giám đốc Nhà hát Hà Nội.

Ông tên thật là Nguyễn Trọng Đài, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1958. Quê ông ở Hà Nội. Năm 18 tuổi, ông theo học lớp sáng tác hệ trung cấpTrường Âm Nhạc Việt Nam. Sau đó ông được cử đi học cao hơn; ông tốt nghiệp Đại Học tại Nhạc Viện Tchaikovsky (Moscou), và về giảng dạy tại Trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội. Ông từng làm phụ trách chỉ đạo nghệ thuật cho Đoàn Ca Múa Thăng Long Hà Nội.

Bên cạnh việc giảng dạy, các hoạt động chủ yếu của ông là sáng tác. Ông dành nhiều tâm sức cho lĩnh vực khí nhạc, trong đó có hàng trăm tác phẩm viết cho độc tấu, hoà tấu nhạc cụ dân tộc cổ truyền; Ông được giải Nhì trong cuộc thi quốc gia về sáng tác cho nhạc cụ dân tộc cổ truyền năm 1992 (không có giải Nhất).

Nhạc sĩ Trọng Đài.
Nhạc sĩ Trọng Đài.
Vợ chồng nhạc sĩ Trọng Đài và Mai Hoa.
Vợ chồng nhạc sĩ Trọng Đài và Mai Hoa.

Một số tác phẩm viết cho nhạc cụ châu Âu, như “Giao hưởng số 1” (1986), “Giao hưởng” (1989), rồi tứ tấu đàn dây, concerto cho dàn nhạc, và một số tác phẩm thính phòng viết những năm 1990.

Ông ít sáng tác ca khúc, nhưng 2 ca khúc viết dùng trong kịch nói và phim truyện video “Hà Nội đêm trở gió” (lời Chu Lai)“Chị Tôi” (thơ Đoàn Thị Tảo) của ông rất được yêu thích và đã trở thành những ca khúc phổ biến rộng rãi. Ngoài ra còn có trên 40 ca khúc ông sáng tác riêng cho loạt phim truyền hình như “Tiễn Biệt Những Ngày Buồn” (Bài Hát Trong Phim “Ngõ Lỗ Thủng”), “Đất và Người” (trong bộ phim truyền hình cùng tên), “Chuyện phố phường” (thơ Phạm Thanh Phong), “Đường đời (lời thơ Trần Quốc Trọng – Nguyễn Duy), “Hương đất” (trong bộ phim cùng tên), “Giá một lần” (thơ Lê Bích Phượng), “Ca sĩ” (lời thơ Nguyễn Khắc Phục).

Nhạc sĩ Trọng Đài kết hôn với ca sĩ Mai Hoa năm 1997. Hiện đôi uyên ương này đang sinh sống tại Hà Nội và có với nhau 1 người con gái.

Nhà thơ Đoàn Thị Tảo.
Thi sĩ Đoàn Thị Tảo.

Thi phẩm “Cho Một Ngày Sinh” (Thi sĩ Đoàn Thị Tảo)

Thế là chị ơi!
Rụng bông gạo đỏ
Ô hay, trời không nín gió!
Cho ngày chị sinh
Ngày chị sinh trời cho làm thơ
Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở
Cho làn một câu hát cổ
Để người lí lơi
Vấn vương với sợi tơ trời!
Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan

Bài thơ thứ hai:

Thế là chị ơi!
Rụng bông gạo đỏ
Ngày sinh chị đã khác thường:
Bông hoa đỏ rơi,
đã thế trời không biết điều:
Ô hay, trời không nín gió!
Cho ngày chị sinh

Bản nhạc bài hát “Chị tôi” do nhạc sĩ Trọng Đài phổ thơ Đoàn Thị Tảo trở nên quen thuộc với mọi người từ bộ phim 'Người Hà Nội' (đạo diễn Hoàng Tích Chỉ - Đoàn Lê).
Bản nhạc bài hát “Chị tôi” do nhạc sĩ Trọng Đài phổ thơ Đoàn Thị Tảo trở nên quen thuộc với mọi người từ bộ phim ‘Người Hà Nội’ (đạo diễn Hoàng Tích Chỉ – Đoàn Lê).

Thi khúc “Chị Tôi” (Nhạc sĩ Trọng Đài)

Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo
Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh
Ngày chị sinh, trời cho làm thơ
Cho nét buồn vui bốn mùa trăn trở
Cho làm câu hát để người lý lơi

Ngày chị sinh, trời cho làm thơ
Vấn vương với sợi tơ trời
Tình riêng bỏ chợ
Tình người đa đoan.

Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo
Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh
Ngày chị sinh, trời cho làm thơ
Cho nét buồn vui bốn mùa trăn trở
Cho làm câu hát để người lý lơi

Ngày chị sinh, trời cho làm thơ
Vấn vương với sợi tơ trời
Tình riêng bỏ chợ
Tình người đa đoan

Dưới đây mình có các bài:

– ĐOÀN THỊ TẢO – tình riêng bỏ chợ
– ĐOÀN THỊ TẢO – Một Đồng Mua Cái Nổi Trôi
– ĐOÀN LÊ – ĐOÀN THỊ TẢO – Tác Phẩm “CHỊ TÔI” Hay “CHO MỘT NGÀY SINH”
– Nhạc sĩ Trọng Đài chia sẻ về cuộc sống ‘cặp đôi đũa lệch’

Cùng với 4 clips tổng hợp thi khúc “Chị Tôi” do các ca sĩ trong nước và hải ngoại diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Tranh Đoàn Lê.
Tranh Đoàn Lê.

ĐOÀN THỊ TẢO – tình riêng bỏ chợ

(Nguyệt Hà)

Nhà thơ Đoàn Thị Tảo sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hải Phòng có tới 12 anh chị em. Nhưng ngay từ thuở nhỏ, hai chị em liền kề nhau Đoàn Thị Lê – Đoàn Thị Tảo là một cặp, đi đâu cũng có chị, có em. Lớn lên, khi chị gái Đoàn Lê vội vã bước vào cuộc hôn nhân đầu tiên và sớm có con gái đầu lòng khi vẫn còn đang học lớp Sân khấu – Điện ảnh đầu tiên của Việt Nam, em gái Đoàn Thị Tảo đã chia sẻ với chị nỗi vất vả này. Sinh con được 15 ngày, Đoàn Lê gửi con gái bé bỏng ở nhà cho em nuôi để đi theo đoàn làm phim.

Nhắc tới nhà văn Đoàn Lê là người ta thường nhắc tới những câu thơ gan ruột đầy dự cảm của người em gái là Đoàn Thị Tảo tặng chị mình trong bài thơ “Cho một ngày sinh”. Sau này, khi bài thơ “kết duyên” với nhạc sĩ Trọng Đài để thành những câu hát đầy ám ảnh được nhiều người yêu thích: “Ngày chị sinh trời cho làm thơ/ Vấn vương mấy sợi tơ trời/ Tình riêng bỏ chợ/ Tình người đa đoan…”. Nhưng ít ai biết rằng, bài thơ đó cũng rất đúng với chính cuộc đời Đoàn Thị Tảo. Bao nhiêu năm qua, Đoàn Thị Tảo vẫn sống lặng lẽ bên cạnh người chị thành danh của mình với hai công việc chính: Làm bếp và làm thơ tình!

Còn nhớ, lần trước khi chúng tôi đến thăm hai chị em nhà văn Đoàn Lê và nhà thơ Đoàn Thị Tảo ở xóm núi Đồ Sơn (Hải Phòng), nhà thơ Đoàn Thị Tảo cũng đang cầm đôi đũa đứng nấu vừa bếp quay ra cười vang nói vui với khách: “Tử vi nói rằng mệnh tôi đóng ở cung… bếp. Cứ ở bếp là rất rực rỡ. Cứ được nấu ăn, được ngắm mọi người ăn ngon miệng là tôi thấy hạnh phúc rồi. Lắm khi chẳng cần ăn nữa!”.

Đã mấy chục năm nay, chị Tảo lấy bếp lửa làm vui, lấy trang thơ làm nỗi niềm tâm sự. Còn nhớ chừng hai mươi năm trước, khi chị Đoàn Lê xách chiếc va ly toàn quần áo của mình rời Hà Nội trở về xóm biển Đồ Sơn, dưới chân núi Mẫu, hai chị em mua đất làm nhà. Chị gái Đoàn Lê viết văn và vẽ. Còn cô em Đoàn Thị Tảo sắm vai một người nội trợ tảo tần. Hai chị em, hai căn nhà nhỏ liền kề, sống nương tựa vào nhau lúc tuổi đã vào hồi xế bóng! Tuy chung mà lại rất riêng. Đêm đến mỗi người một cõi, mỗi người mỗi mộng. Sáng sáng trở dậy, em Tảo đi chợ nấu ăn sáng, rồi hai chị em uống cà phê, nói chuyện cũ, có những chuyện từ thuở ấu thơ, để rồi mỗi người lại một việc. Chị Đoàn Lê lại mải mê trên xưởng vẽ hoặc lên gác viết văn. Em thì dọn dẹp cửa nhà, chuẩn bị bữa trưa và có khi cảm xúc đến bất chợt lại ngồi vào bàn viết truyện, làm thơ.

Đoàn Thị Tảo cứ lặng lẽ sống và viết như thế bên cạnh người chị gái Đoàn Lê đã dư thừa sự nổi tiếng và cả những nỗi đắng cay trong cuộc đời. Hiện nay, Đoàn Thị Tảo đã in ba tập thơ có tên: “Lá rụng”. “Lỡ”, “Thu biển” và một tập truyện mang nhiều nỗi niềm tự sự là “Chín người mười làng”. Chị cũng không ngại ngần khi nói ra sự thật của thơ: “Thơ tôi/ Bán: chẳng ai mua/ Cho: phiền người nhận/ Cất ráo vào lòng/ Thi thoảng/ Ngày – Rỡ tung ra hong/ Đêm- ủ men say mèm/ Một mình ngất ngư tới sáng…”… Thế nhưng, thơ như một thứ bùa mê, đã vận vào người khó lòng gỡ ra cho nổi. Làm thơ từ thuở tóc thề chấm vai (Bài thơ “Cho một ngày sinh” tặng chị gái, Đoàn Thị Tảo làm từ năm 18 tuổi), bây giờ tóc bạc da mồi, đi qua nhiều cung bậc buồn vui sầu khổ… chị vẫn chưa nguôi nỗi niềm tha thiết với thơ. Tuy nhiên đến nay, Đoàn Thị Tảo vẫn được mọi người nhớ đến và yêu mến nhiều nhất qua bài thơ “Cho một ngày sinh” viết tặng người chị gái yêu của mình.

Nhà thơ Đoàn Thị Tảo sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hải Phòng có tới 12 anh chị em. Nhưng ngay từ thuở nhỏ, hai chị em liền kề nhau Đoàn Thị Lê – Đoàn Thị Tảo là một cặp, đi đâu cũng có chị, có em. Lớn lên, khi chị gái Đoàn Lê vội vã bước vào cuộc hôn nhân đầu tiên và sớm có con gái đầu lòng khi vẫn còn đang học lớp Sân khấu – Điện ảnh đầu tiên của Việt Nam, em gái Đoàn Thị Tảo đã chia sẻ với chị nỗi vất vả này. Sinh con được 15 ngày, Đoàn Lê gửi con gái bé bỏng ở nhà cho em nuôi để đi theo đoàn làm phim.

Chị chia sẻ: “Nuôi trẻ nhỏ mà lại là nuôi bộ thì em biết vất vả thế nào rồi đấy. Mà thời đó khổ lắm, thiếu thốn đủ thứ, đường cũng chẳng có chứ đừng nói sữa. Cả hai đứa con gái chị Lê lúc bé đều một tay tôi nuôi. Sau này, lấy ông Tự Huy cũng khổ lắm, thiếu thốn đủ thứ. Tôi thường phải về nhà xin vàng của mẹ đem bán để “cứu trợ” cho chị ấy. Rồi sau này đến hai đứa cháu của chị Lê cũng do chị chăm bẵm từ lúc đón ở nhà hộ sinh về đấy!”.

Nhiều người nói rằng, Đoàn Thị Tảo giống như một người… chị gái của Đoàn Lê hơn là một người em gái. Thế nhưng, chị vẫn vui vẻ: “Người ta biết chị Lê là biết Tảo, như vậy là sướng rồi!”. Sau này, khi mẹ già ốm nằm liệt 13 năm trời, đang làm ở Phòng Kỹ thuật của Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng, năm 1982 Đoàn Thị Tảo phải xin nghỉ giữa chừng để ở nhà chăm sóc mẹ. Đến khi mẹ mất, chị lại sang ở với các con gái của Đoàn Lê 10 năm để trông nom các cháu thay chị. Chừng ấy năm, với chừng ấy bộn bề, ngoảnh đi ngoảnh lại Đoàn Thị Tảo mới giật mình nhận ra: “Mải vui để lỡ chuyến đò/ Ngẩn ngơ trách bến, oán bờ, giận sông/ Cái duyên giá những bao đồng/ Bán đi thì tiếc cho không ngậm ngùi…”.

Chị Tảo chưa một lần được mặc áo cô dâu, chưa một lần được hưởng hạnh phúc làm mẹ, dù đã nuôi hơn chục đứa cháu – con của các anh chị em trong nhà. Thật đúng là “Tình riêng bỏ chợ/ Tình người đa đoan” như câu thơ chị viết tặng chị gái năm nào và cũng là để tặng mình luôn.

Dường như Đoàn Thị Tảo là con người sinh ra để dành cho gia đình, ấy vậy mà mái ấm hạnh phúc gia đình với chị vẫn suốt đời ngoài tầm tay với như chị đã từng gửi vào thơ: “Cái người tôi gọi là chồng/ Chẳng qua chút nghĩa đèo bòng mà thôi…”. Chị Tảo tâm sự: “Đời tôi chưa một lần được lên xe hoa, nhưng mà có sống “già nhân ngãi, non vợ chồng” với một người…”. Đến khi người đàn ông ấy qua đời cách đây hơn chục năm, chị lập một bàn thờ nhỏ trong ngôi nhà nhỏ khiêm nhường của mình để ngày ngày hương khói cho bớt phần quạnh quẽ.

Đoàn Thị Tảo là người sống giản dị, nhường nhịn. Chị vẫn thường tự ví von mình với Vân dại, Thị Màu như một lối nói rất “cầu thị” về tình yêu đôi lứa và nỗi khát khao hạnh phúc riêng tư. Bởi vậy, nhà thơ Trinh Đường sinh thời từng có thơ tặng: “Không tình cờ anh bỗng đến thăm em/ Gặp cùng lúc cả Thị Màu, Vân dại/ Bỗng ước một lần và mãi mãi/ Cùng em đầu thai trong tiếng trống chèo…” (Với một Vân dại ngoài đời). Đây cũng là bài thơ được chị chọn để thay lời giới thiệu cho tập thơ thứ hai có tên rất ngắn là “Lỡ” và chất chứa nhiều nỗi niềm tâm sự của một tâm hồn thơ nồng đượm tình người.

Đoàn Thị Tảo nói rằng, chị tuổi Dậu (1945), lại đẻ lúc nửa đêm nên là người ấp ủ nhiều thứ, cứ như con gà mái xòa đôi cánh và mang hết hơi ấm phủ lên ổ trứng của mình đợi bình minh. Dẫu chỉ có một mình, nhưng chị Tảo vẫn chọn cách sống giữ lấy nền nếp, gia phong cho các em, các cháu có nơi đi về, có nơi mà thương nhớ. Đoàn Thị Tảo cứ sống bình lặng, tự mình “lẩn” vào chính mình, “lẩn” vào thơ để “nói chuyện” với thơ.

Cho đến bây giờ, Đoàn Thị Tảo vẫn là người chăm chút mọi việc trong gia đình riêng của hai chị em. Mọi việc giỗ chạp hương khói đều một tay chị Tảo lo cả. Chị biết rằng, chị Đoàn Lê là người của văn chương nghệ thuật chứ không phải là con người của bếp núc đời thường. Dường như Đoàn Thị Tảo sinh ra để bù đắp những phần còn thiếu hụt của người chị. Chị cứ sống lặng lẽ bên cạnh sự thành công, rực rỡ của chị, trở thành một cặp bạn già, cặp “tung hứng” ăn ý hiếm có. Giữa họ, không chỉ có tình chị em ruột rà mà còn có tình bạn bè, tình đồng nghiệp văn chương luôn có sự đồng cảm và họ luôn là độc giả đầu tiên của nhau. Đoàn Thị Tảo – Đoàn Lê thật như cặp bài trùng không thể tách rời.

Đã hai năm nay, sức khỏe chị gái – nhà văn Đoàn Lê yếu đi nhiều. Hiện chị Lê đang là bệnh nhân ngoại trú khoa Tim mạch của một bệnh viện ở Thủ đô, nên 2 chị em Đoàn Thị Tảo – Đoàn Lê đã phải bỏ phố biển Đồ Sơn lên ở với con cháu cho tiện chăm sóc nhau và thăm khám, dưỡng bệnh. Hai căn nhà nhỏ ở xóm núi đã phải cửa đóng then cài, mỗi tháng chị Đoàn Thị Tảo lại đón xe trở về một lần để quét dọn, lau chùi và lo phần hương khói. Chỉ trong năm ngoái, đã có 3 người thân trong gia đình họ ra đi, nỗi buồn mất mát khiến cho hai chị em đều cảm thấy chống chếnh. Một lần nữa họ lại tựa vào nhau để đi qua đoạn đường đời gập ghềnh nhiều biến cố của gia đình.

Cũng đã hai năm nay, nhà văn Đoàn Lê bị con cháu “cấm túc”, không cho viết văn hay vẽ vời gì nữa, Đoàn Thị Tảo lại càng thương người chị suốt đời nương tựa vào văn chương nghệ thuật của mình hơn. Đã từ lâu, cả hai chị em họ có chung một nỗi ám ảnh, một nỗi sợ hãi lớn nhất là một ngày nào đó hai người chỉ còn lại một người.

Chị Tảo tâm sự về nỗi sợ hãi mơ hồ ấy: “Hai chị em như hình với bóng, đi về có nhau, khách của chị cũng là khách của em, bạn của chị cũng là bạn của em. Nếu chỉ còn lại một người thì chắc là buồn khổ lắm. Vẫn biết trước sau gì ngày ấy cũng sẽ đến, nhưng sao cứ nghĩ đến là thấy chẳng thể cầm lòng…”.

(Nguyệt Hà)

doanthitao_ĐB - Copy

ĐOÀN THỊ TẢO – Một Đồng Mua Cái Nổi Trôi

(Vương Tâm)

Nhà thơ Đoàn Thị Tảo (tác giả bài thơ Chị Tôi, trong ca khúc cùng tên, phổ nhạc của Trọng Đài) cùng tuổi với tôi. Quen nhau đã lâu, nên khi gặp gỡ chúng tôi thường chỉ gọi tên và nói chuyện rất bỗ bã. Đầu tháng mới rồi có dịp xuống Hải Phòng tôi có gọi điện cho Tảo sẽ ghé xóm Hang Dơi, dưới chân núi Kim Sơn ở Đồ Sơn, thăm chị em Tảo và Đoàn Lê. Tảo vui nhưng lại trách cứ rằng: “Sao không gọi vào số điện thoại di động mà lại gọi số điện bàn làm Tảo chạy lên nhà trên mệt bở hơi tai”. Tôi ngạc nhiên nhưng lại chợt hiểu ra, Tảo vờ trách thế để khoe mình đã dùng di động, cũng tân tiến như ai. Bởi lẽ trước đây, phải nói đến hơn chục năm qua, mỗi lần ai đến thăm chị em nhà này đều chỉ gọi điện thoại để bàn. Riêng nhà văn Đoàn Lê dùng di động khá sớm nhưng lại hay để quên đâu đó, nên lắm khi có cũng như không. Còn Tảo thì quê hẳn, mấy khi có khách và cũng chẳng bao giờ nghĩ đến việc sắm điện thoại di động. Vậy nên gọi điện thoại nhà này cho chị, hoặc cho em đều rất vất vả.

Đoàn Lê lắm bạn và nhiều cộng tác viên về ngành điện ảnh, nên điện thoại gọi đến nhiều vô kể. Mỗi lần có điện thoại reo là thể nào Tảo cũng nghe rồi gọi cho chị. Thỉnh thoảng lắm Tảo mới có người gọi đến. Thành ra gần như Tảo là người gác điện thoại hộ chị mình. Mãi đâm chán, bởi cứ chạy đi chạy lại, mà lại chẳng phải gọi cho mình, nên Tảo chẳng mấy khi nhấc máy nữa, mặc cho tiếng ruông reo điếc tai cũng mặc kệ. Nhà văn Đình Kính ở Hải Phòng cũng kể, có lần gọi điện thoại di động cho Đoàn Lê không được, nên gọi điện thoại bàn, đến năm phút chuông reo liên hồi, nhưng không có ai nghe máy. Sau mới hay thực ra lúc đó Tảo ở nhà nhưng không nghe vì biết chắc đó không phải là cú điện gọi mình, mà đằng nào chị Lê cũng không ở nhà, thì nghe làm gì, rách việc.

Vậy là một tiếng sau, tôi đã có mặt tại xóm Hang Dơi. Tảo ra đón cùng với con vện có màu lông vàng ươm. Vừa gặp nhau, tôi trêu:

– “Gái” 66 tuổi rồi còn dùng điện thoại di động để chờ ai gọi nữa chứ. Rõ là…

– Rõ là gì anh ngỡ Tảo không có chàng nào gọi à. Tảo vẫn chờ người ấy đó. Duyên âm mà.

Thấy tôi trố mắt không hiểu gì sao lại nói dến chuyện duyên âm. Thế là Tảo khoe vừa hoàn thành tập truyện ngắn, mới đặt tên là “Chuyện dông dài”. Tức là toàn chuyện thực trong cuốc sống, viết về mình, viết về hàng xóm, về gia đình, trong đó có cái chuyện “Duyên âm”. Toàn chuyện thật cả…Những mẩu chuyện rời rạc, nhớ gì viết nấy, vui buồn lẫn lộn. Tôi cười rồi lại trêu sao không đặt là chuyện tào lao chi khươn cái sự đời. Tảo bật cười nói: “Ừ nhỉ chuyện tào lao hay đấy! Nhưng rồi Tảo xỉu mặt nói – đâu chỉ là chuyện tào lao, toàn chiêm nghiệm cả đấy. Đau ra phết. Buồn tê tái. Nỗi nhớ khôn cùng và cả chuyện ghen tuông nữa, tưởng à”

Tôi gợi chuyện duyên âm, thì Tảo kể đó là câu chuyện có thật trong đời mình, hồi vào tuổi băm lại đi nghe một thầy bói nói mình bị ma tình ám theo suốt cuộc đời, vì thế nên khó lấy chồng. Chuyện rằng, Tảo đã từng hứa hẹn nặng lời với một người. Nhưng số người này hẩm hiu chết trẻ, lại được hầu hạ cửa cha, cửa mẹ rồi, nên Tảo phải lập bài vị mà thờ người đó như đã từng có một đời chồng. Mãi sau này Tảo mới nhớ ra có một người bạn chết trẻ thật, đó chính là Khang, cùng học lớp 5A. Một cậu bé đầu trọc ngày ấy, mới 14 tuổi sao lại thích Tảo được chứ? Khi kiệt sức trong bệnh viện, cậu bé Khang luôn miệng nhắc người nhà gọi bạn Tảo đến gặp lần cuối. Nhưng thật tội, Tảo chưa kịp đến, thì Khang đã mất. Tảo cho là suốt bao năm tháng qua vong hồn ấy đã theo đuổi mình và coi sóc mình trong lúc ốm đau, vất vả. Nghe đến đó tôi xua tay nói:

– Ôi lại chuyện tào lao. Làm gì có chuyện đó!?

– Có đấy! Tảo tin.

Đôi mắt Tảo như có ngấn lệ tôi ái ngại nên im lặng. Lát sau Tảo nói như trong mơ vậy: “Tảo dường như đã tin Khang còn hiện diện trên cõi đời này với một tình yêu chung thuỷ trẻ thơ. Điều đó an ủi rất nhiều khi Tảo đã ở tuổi xế chiều, trong tình trạng lẻ bóng…”. Tôi thấy bồi hồi khó tả. Có tiếng lá rơi khô khốc ở ngoài sân. Gió khẽ rung tấm rèm bên cửa sổ. Tảo chậm rãi nói tiếp: “Tảo thấy ấm lòng hơn khi nghĩ rằng ở cõi thánh thiện kia, vẫn có một chú bé mãi mãi yêu Tảo, luôn dõi theo từng bước chân của người mình yêu thương và mong nhớ”. Giờ đây tôi mới thấm vị cay đắng khi Tảo vẫn như chờ ai đó gọi cho mình, khi sắm điện thoại di động. Có lẽ cậu bé 14 tuổi ấy chăng. Một vong linh trong sâu thẳm một mối tình thơ dại, mãi mãi trẻ trung cho dù mái tóc của Tảo đã rụng và bạc nhiều. “Tôi vẫn chờ người ấy đó!”. Câu nói của Tảo làm tôi thấy xót lòng.

Nắng như ngủ mơ ngoài hè. Lúc này trời đã ngả chiều, ánh sáng hắt vào cửa sổ làm khuôn mặt của Tảo óng lên màu hồng. Tôi vội lấy máy ảnh chụp. Có lẽ đây là lần đầu Tảo chịu chụp ảnh một mình, bởi những lần trước, Tảo bao giờ cũng đứng cạnh hay nép phía sau Đoàn Lê. Tảo không tự tin về mình, mặc dù đã rất nổi tiếng sau bài hát “Chị tôi”. Ánh mắt Tảo đượm vẻ buồn vì câu chuyện duyên âm, tôi bèn hỏi lan sang chuyện thơ, thì không ngờ Tảo lại đọc ngay mấy câu trong bài “Đêm nghe ca kèn đám ma”, nghe rợn người: “Những lời này tôi viết cho tôi. Nhờ bác thợ kèn hờ dùm đôi ba tiếng. Thân xác cỏn con đến mai là tan biến. Một bình tro qua cửa đài hoá thân…”

Tôi vội nổi đoá lên, rằng sao Tảo cứ nghĩ đến chuyện ma mị, buồn bã vậy. Tôi động viên, vui lên đi và đọc cho tôi nghe vài bài thơ tình yêu. Im lặng một lúc rồi Tảo khoe mình mới có bài “Xẩm chợ”, viết đầu xuân rồi, rồi Tảo đọc có câu: “Một đồng mua cái nổi trôi. Đồng mua duyên hẩm với người ngày xưa”

Tôi giãy nảy lên khi lại nghe đến chuyện duyên âm nhắc lại trong thơ. Lúc này Tảo mới mỉm cười nói, thôi không chuyện ma mị nữa. Tôi sực nhớ, vào những năm máy bay giặc Mỹ leo thang, đến đánh phá thành phố Hải Phòng; có người kể về cô gái Đoàn Thị Tảo ngày ấy là một công nhân của Sở giao thông vận tải đã dũng cảm ngồi trên thuyền hát cho những người thợ lặn dưới biển nghe trong khi làm nhiệm vụ, qua đường dây thông tin. Những người thợ lặn trục vớt những thiết bị và máy móc bị rơi xuống biển. Tảo cùng bạn chiến đấu ngồi trên thuyền liên lạc với những người thợ lặn, điều hành công việc cho an toàn. Để giữ vững tinh thần cho đồng đội, Tảo đã hát và đọc thơ để động viên và củng cố tình thần mọi người đang làm nhiệm vụ dưới biển sâu.

Thấy tôi nhắc lại câu chuyện dũng cảm và lãng mạn ấy, Tảo đỏ mặt như nhớ lại thời điểm rất kỳ lạ trong đời mình. Nhưng rồi buồn thay, sau đó là một quãng đời dài sống trong muôn sự nổi trôi của những cuộc tình không tới. Mọi sự lỡ làng như vận hết vào mình, chính vì thế mà Tảo đã từng viết trong tập thơ với những câu: “Mải vui để lỡ chuyến đò – Ngẩn ngơ trách bến, oán bờ giận sông” hay “Cái người tôi gọi là chồng – Chẳng qua chút nghĩa đéo bòng mà thôi” Có lần Tảo tâm sự thật với tôi là mình đã sai lầm khi yêu một người đàn ông có vợ. Bi kịch của sự chờ đợi kéo dài làm cho Tảo mệt mỏi và kết thúc với những câu thơ đọc sao thấy đắng ngắt: “Rút giây bên đường. Tết con gà trống. Tết con gà mái. Mâm sôi dứa dại. Tôi về. Làm ma cho thì con gái”

Đó là bài thơ “Vân dại” Tảo viết khi quyết định đi ở ẩn cùng chị gái ở xóm Hang Dơi này. Bất ngờ thấy Tảo thở dài tôi vội xua tay rồi nói:

– Ồ đang nói chuyện tào lao cơ mà, cười lên chứ nhà thơ một bài!

Tảo cười lớn như muốn xoá đi những muộn phiền vừa đâng lên đôi mắt. Tôi vẫn coi Tảo là nhà thơ nổi tiếng một bài giống như nhà thơ Vũ Đình Liên có mỗi bài “Ông đồ”. Cho dù Tảo có tới hai tập thơ, toàn thơ nặng lòng và tiếc nuối, nhưng có lẽ chỉ có bài “Chị tôi” là được nhiều người thuộc và nhớ đến với những giai điệu ấm áp tình yêu thương và phấp phỏng nỗi đau ẩn giấu trong lòng người đa đoan.

Số phận bài thơ thật kỳ lạ, trôi nổi, thăng trầm đúng như cuộc đời của Tảo vậy. Tảo viết bài này khi mới 20 tuổi dể tặng chị Đoàn Lê. Ba mươi năm sau bài thơ mới được phổ nhạc và ngay lập tức nổi tiếng qua giọng hát Mỹ Linh. Mặc dù trước đó bài thơ có tên “Cho một ngày chị sinh”, nhưng sau này bạn đọc nhớ đến Tảo qua cái tên mới của bài thơ là “Chị tôi”. Đây là một trường hợp hiếm và rất may cho Tảo, bởi đâu có mấy nhà thơ được bạn đọc nhớ đến như vậy, dù cho một câu hay vài câu cũng đã là nổi lắm rồi. Chẳng hạn nhà thơ Phạm Tiến Duật lừng danh như vậy, bạn đọc cũng chỉ thuộc đến đôi bài qua ca khúc như “Trường Sơn đông Trường Sơn tây” hay “Tiểu đội xe không kính” mà thôi.

Tào lao mãi, nắng chiều đã tắt, tiếng ễnh ương kêu ộp oạp ngoài vườn nhà Tảo, tôi định đứng dậy xin phép ra về thì Tảo đòi xem hình mà tôi mới chụp cho Tảo. Tôi bật máy Tảo ngắm mình một lúc trên màn hình, rồi bất ngờ đọc mấy câu: “Tôi cô đơn nhất hành tinh – Thế gian thừa đúng một mình tôi thôi”.

Tôi lặng người cố nén tiếng thở dài khỏi bật ra lúc này. Hoa bưởi ngoài vườn thơm ngát. Một làn gió từ ngoài biển thổi vào. Vách núi Kim Sơn như có tiếng vượn hú dội về xóm Hang Dơi.

(Vương Tâm)

Nữ văn sĩ Đoàn Lê.
Nữ văn sĩ Đoàn Lê.
Nhà thơ Đoàn Thị Tảo.
Nhà thơ Đoàn Thị Tảo.

ĐOÀN LÊ – ĐOÀN THỊ TẢO – Tác Phẩm “CHỊ TÔI” Hay “CHO MỘT NGÀY SINH”

(BVA sưu tầm)

Trong những nhạc phẩm hay từng được giới thưởng mộ âm nhạc chào đón nhiều nhất trong một thời gian dài, ca khúc “Chị tôi” thơ của Đoàn Thị Tảo nhạc Trọng Đài, thường gắn liền tiếng hát của nữ ca sĩ Mỹ Linh và phần nhạc đệm trong phim truyện truyền hình “Người Hà Nội” từ năm 1995.

Trước nhất xin nói về nhà thơ Đoàn Thị Tảo tên thật cũng là Đoàn Thị Tảo. Sinh năm 1945 tại Hải Phòng. Các tác phẩm thơ của bà gồm có Lá rụng, Cho một ngày sinh và Hương xưa.

Nhạc phẩm “Chị tôi” của nhạc sĩ Trọng Đài phổ lời từ bài thơ “Cho một ngày sinh” của Đoàn Thị Tảo nằm trong tập “Lá rụng”, được Trọng Đài lấy lời thơ gần như nguyên tác. Được biết bài thơ này gồm hai bài thơ ngắn mà nhà thơ nữ Đoàn Thị Tảo đã viết tặng cho người chị ruột là đạo diễn Đoàn Lê. Nội dung hai bài thơ như sau :

CHO MỘT NGÀY SINH

Thế là chị ơi!
Rụng bông gạo đỏ
Ô hay, trời không nín gió!
Cho ngày chị sinh
Ngày chị sinh trời cho làm thơ
Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở
Cho làn một câu hát cổ
Để người lí lơi
Vấn vương với sợi tơ trời!
Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan

Bài thơ thứ hai:

Thế là chị ơi!
Rụng bông gạo đỏ
Ngày sinh chị đã khác thường:
Bông hoa đỏ rơi,
đã thế trời không biết điều:
Ô hay, trời không nín gió!
Cho ngày chị sinh

SỐNG VÌ CHỊ NHƯ MỘT “CÁI BÓNG”

Theo Triệu Bình Thanh viết, có lẽ nhà thơ Đoàn Thị Tảo chỉ là “cái bóng” của người chị ruột mang tên Đoàn Lê, một đạo diễn trong ngành phim ảnh và sân khấu… Những câu thơ trong các tập thơ của bà như cắt cứa, như tiếng khóc tắc nghẹn nơi đáy mắt người thiếu nữ năm nào viết tặng cho chị gái, ngờ đâu lại trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời của bà.

Bài thơ “Cho một ngày sinh” mà Đoàn Thị Tảo viết từ lúc mới 20 tuổi để tặng chị, khi người chị gái sinh đứa con đầu lòng. Bây giờ bài thơ đó được nhạc sĩ Trọng Đài đem phổ nhạc được công chúng ái mộ nhất. Khi trở thành lời bài hát “Chị tôi”, câu thứ hai nhạc sĩ chỉ có đổi một từ là : “Rụng bông gạo đỏ” thành “Rụng bông hoa gạo” để dễ hát trong phim “Người Hà Nội”.

Tuy nhiên, bài thơ “Cho một ngày chị sinh”, sau hai mươi năm ra đời, mới được hàng triệu người biết đến qua giọng hát đầy biểu cảm của nữ ca sĩ Mỹ Linh.

Nhà thơ nữ Đoàn Thị Tảo sinh ra trong một gia đình gia giáo ở Hải Phòng. “Cha làm nghề bốc thuốc, tóc búi tó, còn Mẹ thờ Phật”.

Nhà thơ tâm sự tiếp:

– Gia đình có tới 12 người con, nhưng với Đoàn thị Tảo thì người chị gái Đoàn Lê với bà là hợp nhau nhất. Ngay từ nhỏ, hai chị em đã là một cặp, đi đâu cũng có chị, có em.

Đoàn Thị Tảo sinh năm 1945 tức tuổi Ất Dậu. Năm 17 tuổi khi Đoàn Lê rời quê lên thị thành tìm sự nghiệp và bước vào cuộc hôn nhân thứ nhất với rất nhiều mộng tưởng. Sau cuộc hôn nhân ấy Đoàn Lê đã có cô con gái đầu lòng lúc đang 18 tuổi và vẫn còn đang theo học lớp Sân khấu – Điện ảnh khóa đầu tiên. Sinh con được 15 ngày, Đoàn Lê phải đi theo đoàn làm phim để thực tập. Cái gánh nặng đứa cháu bé bỏng này được chính nhà thơ đứng ra chăm sóc hộ cho chị gái để Đoàn Lê yên tâm học hành.

Rồi với chồng, Đoàn Lê có thêm cô con gái thứ hai. Nhưng sau đó cuộc hôn nhân này tan vỡ, Đoàn Lê phải bồng hai con nhỏ ra đi với hai bàn tay trắng. Chỗ dựa của nhà đạo diễn tương lai này cũng lại là cô em gái Đoàn Thị Tảo của mình. Nên hai đứa con của Đoàn Lê lúc bé đều do một tay nhà thơ nuôi nấng.

Sau này Đoàn Lê đi bước nữa, lấy chồng cũng chẳng dư dật gì. Vì vậy mới có người nói, thực ra Đoàn Thị Tảo “vừa là mẹ, vừa là chị” của đạo diễn Đoàn Lê thì đúng hơn. Vì hết nuôi cháu lại đến nuôi mẹ.

Năm 1982, khi nhà thơ Đoàn Thị Tảo đang làm ở Sở Giao thông vận tải Hải Phòng, bà phải xin nghỉ để ở nhà chăm sóc mẹ ruột đang lâm bệnh nằm liệt giường. Thời gian đó nhà thơ đã mất 13 năm trong tuổi xuân để chỉ chăm lo cho mẹ. Đến khi mẹ mất, Đoàn Thị Tảo lại về ở với chị gái Đoàn Lê trong 10 năm nữa để trông nom các cháu thay chị. Chừng ấy năm, ngoảnh đi ngoảnh lại, nhà thơ mới giật mình nhận ra: “Giống như bao nhiêu người khác, nhà thơ cũng đổ thừa cho số phận, chuyện đó chẳng sai chút nào. Chẳng đã nói mỗi con người đều có số đấy thôi. Thượng đế sinh ra con người, ngài mới có quyền quyết định từng số phận”. Có lần nói về hạnh phúc riêng tư, nhà thơ thường nói, bà là người sinh ra để dành cho gia đình, ấy vậy mà gia đình riêng thì lại không dành cho mình:

– “Cái bi kịch lớn nhất trong cuộc đời, là tôi yêu một người đàn ông lớn tuổi đã có gia đình” – nhà thơ Đoàn Thị Tảo tâm sự. Đó là quảng thời gian đầy hạnh phúc và cả nỗi khổ đau, như nhà thơ đã gửi vào những vần thơ đầy cay đắng lẫn chua chát:

“Cái người tôi gọi là chồng
Chẳng qua chút nghĩa đèo bòng mà thôi”.

Hay:

“Niềm vui thì bé
Nỗi buồn mênh mông
Chán chồng ra biển bán hàng
Bán bao nhiêu cát dã tràng cũng mua”

Còn đạo diễn Đoàn Lê sau mấy chục năm phiêu bạt, vinh quang nhiều mà cay đắng cũng không ít, lại quay về với người em gái Đoàn Thị Tảo. Hai chị em lại sống cùng nhau ở một biệt thự mà nhà thơ gọi là chốn thiền ở chân núi vùng Vân Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), đầy hương hoa bưởi. Nhà thơ nữ Đoàn Thị Tảo thương người chị “hồng nhan đa truân”, nhưng cũng là thương chính mình khi thắc thỏm : “Có ai đi tìm tôi ?” Vì ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn, nhà thơ vẫn cố giấu nỗi cô đơn, vẫn ước ao, cho dù là viển vông mà ngay cả Đoàn Lê cũng không chia sẻ được:

“Tôi cô đơn nhất hành tinh
Thế gian thừa đúng một mình tôi thôi
Ước gì cũng có một người
Cũng cô đơn cũng ngậm ngùi giống tôi
Cái buồn đem xẻ làm đôi
Nửa cho bên ấy, nửa tôi để dành”.

So với chị gái là đạo diễn Đoàn Lê thì nhà thơ Đoàn Thị Tảo không nổi tiếng và đa tài bằng. Đoàn Lê vừa viết văn, làm thơ, sáng tác kịch bản, đạo diễn phim và hội hoạ. Tuy nhiên, dù chỉ theo một nghiệp thơ, nhưng về độ mẫn cảm và tinh tế thì Đoàn Lê tài hoa kia chắc gì đã sánh bằng cô em Đoàn Thị Tảo.

Về người chị của Đoàn Thị Tảo

Như cái ý của Triệu Bình Thanh đã viết, nhà thơ Đoàn Thị Tảo như là “cái bóng” của nữ đạo diễn Đoàn Lê, và phần trên chúng ta đã hiểu qua ít nhiều về người chị của nhà thơ. Nhưng chưa thật rõ ràng về “chị tôi” mà Đoàn Thị Tảo phải đa đoan gánh vác ngay khi bà còn là cô thiếu nữ nhỏ bé.

Đoàn Lê theo học khóa diễn viên điện ảnh đầu tiên vào năm 1959 – 1962. nhưng lại tinh thông đủ cả từ viết văn, làm thơ, cho đến hội họa; sau này thành tài, Đoàn Lê trở thành nữ đạo diễn phim truyện và sân khấu, cũng thường tự sáng tác kịch bản.

Lúc đang là sinh viên Đoàn Lê đã có thơ và truyện ngắn in trên sách báo. Rồi học vẽ với bậc thầy hội họa Bùi Xuân Phái người hay vẽ phố cổ Hà Nội. Nên vào năm 1995, Đoàn Lê đã mở triển lãm cá nhân gồm mấy chục bức tranh sơn dầu.

Khi tốt nghiệp từ trường điện ảnh sân khấu ra đời, Đoàn Lê bị cuốn vào các đoàn làm phim. Thời ấy gần như phim nào bà cũng đi, không có vai thì làm đủ việc. Thời gian đó Đoàn Lê chỉ đóng vai phụ, cho đến năm 1976 mới có một vai chính, vai cô giáo trong phim Quyển vở sang trang. Thấy rằng sự nghiệp diễn viên điện ảnh của mình không có tương lai, Đoàn Lê chuyển sang bộ phận thiết kế trong xưởng phim, bà tham gia vẽ và trang trí các cảnh trong phim trường. Có lúc công việc quá nặng nhọc làm bà chán nản, muốn bỏ nghề điện ảnh, đã xin làm phóng viên cho báo Lao Động, làm được một tuần xưởng phim buộc bà phải quay về.
Nên nghiệp điện ảnh không buông bà ra, không làm thiết kế nữa bà quay sang viết kịch bản phim, sau này làm đạo diễn, cả hai công việc bây giờ vẫn làm, dù đã nhận sổ lương hưu. Nhưng giờ đây Đoàn Lê đang dồn hết tâm lực cho hội họa.

(BVA sưu tầm)

Nhạc sĩ Trọng Đài.
Nhạc sĩ Trọng Đài.

Nhạc sĩ Trọng Đài chia sẻ về cuộc sống ‘cặp đôi đũa lệch’

(Đào Bích)

Những ngày đầu mới quen nhau, khi Mai Hoa theo anh đến tham gia các chương trình ca nhạc, bạn bè vẫn nhầm tưởng anh đang “cặp” với một chân dài nào đó. Có người bạn thân lâu năm còn cố tình gọi “chú, cháu” rồi bông đùa đặt cho họ cái tên là “cặp đôi đũa lệch”…

“Thế là chị ơi rụng bông hoa gạo. Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh…”. Ấy là những ca từ buồn thương, khắc khoải và thơ mộng trong bài hát Chị tôi (Thơ Đoàn Thị Tảo) đã được nhạc sĩ Trọng Đài chắp cánh một cách tài tình, tinh tế. Có lẽ sau bài hát của ông, “chị tôi” đã trở thành một khái niệm riêng để nói về phụ nữ, một nửa của thế giới và của những yêu thương trong cuộc đời mỗi người. Trọng Đài tài hoa trong âm nhạc, một phần có lẽ bởi ông đã viết quá hay về họ.

Đa đoan cũng là một vẻ đẹp

Trái với nhiều nhạc sĩ tên tuổi khác, Trọng Đài là người có đời tư ít ồn ào nhất trên mặt báo. Anh ngại ngần khi có ai đó tìm đến chỉ để kiếm cớ phỏng vấn. Nhưng là người của công chúng, ông hiểu sự quấy rầy ấy là điều khó tránh.

Thoạt trông, Trọng Đài không giống một nhạc sĩ. Anh có vẻ bề ngoài của một vị giám đốc với mái đầu trọc lóc, bộ vest chỉn chu của dân công sở toát lên sự năng động, hiện đại và nét oai phong, bệ vệ. Nhưng âm nhạc của Trọng Đài thì hoàn toàn ngược lại. Nó là sự cụ thể hoá đến cùng bên trong con người ông.

Người viết nhắc đến Chị tôi, bài hát quen thuộc và được nhiều người yêu mến. Ít ai biết đây là bài hát mà anh được hai đạo diễn Hoàng Tích Chỉ và Đoàn Lê đặt hàng.

Trọng Đài nhớ lại: “Bộ phim xoay quanh những bi kịch đời thường của những người lính trở về sau chiến tranh. Ở khu phố nhà binh ấy, mỗi người lính đã phải đối diện với những đau khổ, dằn vặt, ẩn ức, bi kịch trong quãng đời hậu chiến của họ. Nhưng nổi bật lên lại chính là hình ảnh của người vợ. Những đổi thay đầy nhạy cảm của người đàn bà có chồng là lính trở về sau cuộc chiến được xem là những thước phim ám ảnh người xem nhất. Sự lạc nhịp của hai con tim, hai cách nhìn đã đưa họ đến với hai con đường, hai cuộc sống khác nhau. Người vợ, một người đàn bà với khát vọng sống bản năng và mãnh liệt đã phản bội chồng mình để đi theo tiếng gọi của trái tim, tình yêu. Chỉ vì nàng quá đa đoan”.

“Sự đa đoan như một vẻ đẹp bí ẩn bên trong người phụ nữ. Cũng như cái mê hoặc ở âm nhạc là sự phứ tạp, đa điệu vậy. Nó khiến phụ nữ trở nên mông lung, xa xôi, mộng ảo. Người đàn ông vì thế mà chẳng bao giờ “đi” hết được chiều dài tâm hồn của họ”, Trọng Đài nói vậy.

Có lẽ sự đồng cảm đã giúp tiếng đàn của anh lẫy nên những nốt nhạc buồn thương mà đẹp đẽ đến thế về phụ nữ. Anh trìu mến gọi họ là những “chị tôi” với tất cả sự trân trọng và cảm mến. Có thể nói bài hát đã góp phần làm cho bộ phim Người Hà Nội trở nên hấp dẫn và ám ảnh người xem hơn. “Chị tôi” cũng đã trở thành một nhạc phẩm với đời sống độc lập hoàn toàn. Có thể nói, với nó, Trọng Đài đã phá vỡ được lối suy nghĩ chủ quan, phiến diện, xét nét với những sáng tác được xem là đặt hàng khô khan, nhạt nhẽo.

Thực tế, một nhạc sĩ viết theo đơn đặt hàng cho các phim, thậm chí các dự án xây dựng hay một thương hiệu sản phẩm nào đó giờ đã là điều bình thường. Nhưng cách đây 15, 20 năm, điều đó vẫn bị xem là một cách sáng tạo nghệ thuật rập khuôn, bó buộc. Không ít con mắt đã kì thị và dị ứng với nó. Dẫu vậy, sức sống và sự lan toả của Chị tôi là câu trả lời mạnh mẽ nhất cho lối suy nghĩ thiển cận đó. Đã có một thời, sau khi bộ phim Người Hà Nội được công chiếu rộng rãi, gần như đi đâu người ta cũng nghe giai điệu da diết, man mác, day dứt của nó. Nhưng trong cách lý giải của Trọng Đài, anh đơn giản nghĩ rằng: “Một kịch bản phim hay như thế được đặt vào tay cho nên bài hát mình viết để minh hoạ cũng không thể dở được”.

Đàn ông hiểu phụ nữ bằng cách yêu họ

Nhạc sĩ Trọng Đài đã chọn một cách hay nhất để hiểu phụ nữ đó là dành tình yêu cho họ. “Nhưng dành như thế nào cũng phải biết cách, biết người biết ta là trăm trận trăm thắng”, anh dí dỏm mỉm cười. Và có lẽ, chiến thắng lớn nhất của Trọng Đài chính là Mai Hoa, người đàn bà trong cuộc hôn nhân duy nhất mà anh đang có. Trọng Đài chia sẻ, anh tìm được bến đỗ hạnh phúc rất muộn cho nên điều anh tâm niệm gia đình luôn là số một.

Trước Mai Hoa, Trọng Đài được biết đến như một người đàn ông tài hoa, đa tình trong giới âm nhạc. Nhưng những cuộc tình ấy chỉ thoáng đến rồi thoáng đi, ngắn ngủi và mơ hồ. Cái mà người đàn ông tìm kiếm, ấy là sự chỉn chu và chung thuỷ của một người phụ nữ gia đình, anh vẫn chưa tìm được. Cho đến lúc gặp Mai Hoa, cô gái kém anh 17 tuổi, mọi sự tìm kiếm mới được đền đáp. Những ngày đầu mới quen nhau, khi Mai Hoa theo anh đến tham gia các chương trình ca nhạc, bạn bè vẫn nhầm tưởng anh đang “cặp” với một chân dài nào đó. Có người bạn thân lâu năm còn cố tình gọi “chú, cháu” rồi bông đùa đặt cho họ cái tên là “cặp đôi đũa lệch”. Nhưng hơn ai hết, anh hiểu Mai Hoa là người chín chắn và trưởng thành hơn nhiều so với lứa tuổi. Chị không phải là một nhan sắc quá nổi trội trong rừng nhan sắc mà anh có dịp gặp gỡ và làm quen ngày ấy. Nhưng sự “khó tính” của cô đã chinh phục anh hoàn toàn.

Giữa những hào nhoáng, lấp lánh nhưng hời hợt và dễ dãi của số đông những cô gái trẻ, anh nhận ra, cái cá tính và giọng hát khác người của Mai Hoa đã trở thành điểm cuốn hút khó cưỡng đối với anh, một nhạc sĩ được mệnh danh là gã “gàn” khi ấy. Sự chênh lệch về tuổi tác không hề là rào cản trong hạnh phúc của họ. Ngược lại, anh cảm thấy mãn nguyện với cuộc hôn nhân của mình, dù có đôi chút muộn màng so với bạn bè cùng trang lứa. Nhưng có hề gì, sự viên mãn của hiện tại đã là câu trả lời rõ ràng nhất cho những hoài nghi trước đó.

Nếu trong âm nhạc, Trọng Đài là người hào hoa, lãng mạn thì ngoài đời anh lại vô cùng giản dị, thậm chí ít nói và kín kẽ với cuộc sống của riêng mình. Ngôi nhà hạnh phúc của anh nằm khá lặng lẽ, yên bình trong con ngõ nhỏ trên phố La Thành, Hà Nội. Ở đó có một người đàn ông lớn là anh và ba người phụ nữ xinh xắn dễ thương mà anh vẫn hay gọi là hoàng hậu và các công chúa. Hoàng hậu chính là vợ anh, ca sĩ, nghệ sĩ ưu tú Mai Hoa. Còn hai con gái chính là những nàng công chúa nhỏ bé mà anh rất mực yêu chiều.

Ngoài một Trọng Đài nhạc sĩ, giờ đây, giới chuyên môn còn biết đến anh trên cương vị giám đốc Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long. Công việc của một người quản lý chiếm khá nhiều thời gian của anh. Trọng Đài chọn cách đến với âm nhạc, thao thức với những ca từ, giai điệu vào mỗi đêm, sau khoảng thời gian bận rộn ở cơ quan. Niềm đam mê ấy mang đến cho anh nhiều niềm vui trong sáng tác. Chuyện làm nhạc với gia đình anh cũng hết sức nhẹ nhàng. “Tôi viết rồi phối khí, vợ thể hiện, thế là gần như tự làm mọi công đoạn để cho ra đời một sản phẩm âm nhạc”, anh chia sẻ.

Người ta nói, nhờ chất giọng lạ của Mai Hoa mà các nhạc phẩm của Trọng Đài trở nên đặc biệt. Anh không phủ nhận điều này: “Thực ra, đã vài lần tôi đưa ca khúc cho một ca sĩ khác. Nhưng về nhà lại thấy vợ mình hát hay hơn. Rồi khi nghe Mai Hoa hát, nhiều người ngại thể hiện lại. Thế là cuối cùng hai cái tên Trọng Đài – Mai Hoa cứ thế đóng đinh vào với nhau”.

Thời gian này, anh đang tập trung cho mảng khí nhạc, cũng chính là sở trường mà anh được đào tạo ở nhạc viện Tchaikovski (Matxcova). Với anh, đây vẫn là mảnh đất chất chứa nhiều nhất mọi mạch nguồn của cảm hứng sáng tạo. Vẫn chọn cách bận rộn với những đơn đặt hàng, Trọng Đài lại miệt mài với từng giai điệu. Cách tư duy của một nhà làm nhạc chuyên nghiệp cộng với sự bay bổng nghệ sĩ đã cho ra đời những bản nhạc tinh tuý và đẹp đẽ nhất. Vì thế, âm nhạc Việt Nam, sau những Chị tôi, Hà Nội đêm trở gió, lại tự hào có thêm những Đất và Người, Đường đời, Chuyện phố phường, Mùa lá rụng, Hương đất, những nhạc phẩm được viết cho phim nhưng lại có sức lay động và lan toả mạnh mẽ đối với công chúng.

Số phận bắt nổi tiếng muộn

Nhạc sĩ Trọng Đài tên thật là Nguyễn Trọng Đài, sinh năm 1958. Anh vốn là con nhà nòi âm nhạc ở Hà Nội. Trọng Đài bước vào con đường âm nhạc chuyên nghiệp khá sớm, cùng thời với Đặng Thái Sơn. Mặc dù cùng được đào tạo tại nhạc viện danh giá bậc nhất thế giới, Tchaikovski nhưng số phận đã làm cho Thái Sơn nổi tiếng trước anh đúng một thập niên. Năm 1980, khi Đặng Thái Sơn đoạt giải Chopin trong cuộc thi Piano quốc tế mang tên vị nhạc sĩ thiên tài này thì Trọng Đài vẫn là một cái tên hoàn toàn mờ nhạt. Cho đến năm 1990, khi đăng quang trong cuộc thi sáng tác nhạc thính phòng do Hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức, anh mới chính thức được giới mộ điệu biết đến. Lần đó, bản ngũ tấu đàn dây của Trọng Đài đã tạo nhiều ấn tượng về một ngôn ngữ khí nhạc riêng biệt và độc đáo.”

(Đào Bích)

oOo

Chị Tôi – Ca sĩ Mỹ Linh:

 

Chị Tôi – Ca sĩ Phi Nhung:

 

Chị Tôi – Ca sĩ Nguyệt Minh:

 

Chị Tôi – Nhạc sĩ Phạm Đức Thành trình tấu Đàn Bầu:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s