Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Hồn Trinh Nữ” – Nguyễn Bính & Trịnh Lâm Ngân

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Hồn Trinh Nữ” (“Viếng Hồn Trinh Nữ”) của Thi sĩ Nguyễn BínhNhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân.

Thi sĩ Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918–1966); là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng. Ông được coi như là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc.

Thi sĩ Nguyễn Bính sinh ngày 13-2-1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).

Cha của ông tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Trọng Bính.

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).

Bà cả Giần là chị ruột của mẹ ông, nhà bà lại giàu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của ông và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em ông về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé, được cậu Khiêm khen hay nên rất được cưng.

Năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:

…Anh đố em này:
Làng ta chưa vợ mấy người ?
Chưa chồng mấy ả, em thời biết không
Đố ai đi khắp tây đông,
Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây?
Làm sao như rượu mới say,
Như giăng mới mọc, như cây mới trồng ?
Làm sao như vợ như chồng ?
Làm sao cho thỏa má hồng răng đen
Làm sao cho tỏ hơi đèn ?
Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?
Làm sao ? anh khen em tài ?
Làm sao ? em đáp một lời làm sao… ?

Trúc Đường thi đỗ thành crung (đíp-lôm) vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.

Năm 1932, 1933 Nguyễn Bính có theo người bạn học ở thôn Vân lên Đồng Hỷ, Thái Nguyên dạy học, có lẽ những vần thơ như:

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh
Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm
Da trời ai nhuộm mà lam
Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai

Là được Nguyễn Bính viết trong thời gian này.

Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài “Cô Hái Mơ”. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ “Tâm Hồn Tôi” tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn. Họa sĩ Nguyệt Hồ nhớ lại:

“Tôi quen Nguyễn Bính từ khi anh chưa có tiếng tăm gì, ngày ngày ôm tập thơ đến làm quen với các tòa soạn báo. Tôi thích thơ anh và đã giới thiệu anh với Lê Tràng Kiều, chủ bút Tiểu thuyết Thứ Năm, đã đăng bài “Cô hái mơ”, bài thơ đầu tiên của anh đăng báo. Tôi khuyên anh gửi thơ dự thi, và anh đã chiếm giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn… chúng tôi thân nhau từ đó, khoảng 1936-1940, quãng đầu đời thơ của anh,…

Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đề tài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình. Cũng trong năm này Trúc Đường chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi Huế tìm đề tài sáng tác. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất của gia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính.

Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ ra cho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau. Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: “Xuân tha hương” và “Oan nghiệt”. Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn. Trong thời gian này Nguyễn Bính đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài ‘Hành Phương Nam’, tặng Kiên Giang, ‘Từ Độ Về Đây’,…”

NS Trần Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ.
NS Trần Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ.

Nhạc sĩ Trần Trịnh (1937 – 10 tháng 10, 2012) tên thật là Trần Văn Lượng, là một nhạc sĩ nổi tiếng và có sức ảnh hưởng lớn tại miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại về sau. Tuy ông có số lượng sáng tác khiêm tốn (do phải chia sẻ thời gian với việc nghiên cứu nhạc Jazz) nhưng các bản nhạc của ông đa số đều thành công và tạo được ảnh hưởng lớn trong lòng người nghe. Bên cạnh các sáng tác của riêng mình, ông thường xuyên hợp tác cùng nhạc sĩ Nhật Ngân và Lâm Đệ bằng nghệ danh Trịnh Lâm Ngân.

Nhạc sĩ Trần Trịnh sinh tại Thái Lan nhưng lớn lên ở Hà Nội. Ông theo gia đình vào Sài Gòn năm lên 9 tuổi, theo học Trường Trung học Lasan Taberd. Thuở nhỏ ông rất ngưỡng mộ thầy dạy nhạc Rémi Trịnh Văn Phước nên ghép họ của mình với họ của thầy để tạo thành nghệ danh Trần Trịnh.

Ý tưởng sáng tác đầu tiên của ông (xuất hiện năm 14 tuổi nhưng chỉ viết nhạc và 3 năm sau mới hoàn tất phần lời) là bài “Cung Đàn Muôn Điệu” được nhiều ca sĩ hát, và nhà xuất bản An Phú phát hành. Sau đó, bài “Cung Đàn Muôn Điệu” còn được sử dụng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với một sáng tác nữa của Trần Trịnh, là bài “Chuyến Xe Về Nam”.

Năm 1958, sau khi giã từ quân ngũ, nhạc sĩ Trần Trịnh trở lại, theo học hoàn toàn về nhạc với thầy Rémi. Buổi tối, ông đi biểu diễn piano tại các phòng trà và vũ trường. Ông cũng tình nguyện tham gia ban Văn Nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để có dịp ủy lạo binh sĩ. Tại đây, Trần Trịnh gặp nhạc sĩ Nhật Ngân tại Ban Văn Nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Từ đó hai nhạc sĩ này và Lâm Đệ – dưới cái tên ghép lại là Trịnh Lâm Ngân – đã sáng tác nhiều bài hát mang âm hưởng quê hương và đã có nhiều bài nổi tiếng được nhiều người biết đến. Cũng trong năm này, nhạc sĩ Trần Trịnh trở thành nhạc trưởng ban đại hòa tấu và hợp xướng Đống Đa trên Đài Truyền Hình Việt Nam (THVN).

Nhạc sĩ Trần Trịnh.
Nhạc sĩ Trần Trịnh.

Năm 1968, nhạc sĩ Trần Trịnh được gặp nhà thơ Hà Huyền Chi. Nhà thơ Hà Huyền Chi đã nhận viết lời cho một nhạc phẩm của Trần Trịnh: “Lệ Đá”. Bài hát tức khắc được mọi người yêu thích, và có số bản in phá kỷ lục. Đến năm 1971 thì đạo diễn Võ Doãn Châu lấy tên “Lệ Đá” đặt cho cuốn phim ông thực hiện, trong đó nhạc nền là bài “Lệ Đá” do ca sĩ Khánh Ly hát.

Nhạc sĩ Trần Trịnh kết hôn lần đầu với ca sĩ Mai Lệ Huyền. Cuộc hôn nhân này kéo dài được 10 năm thì hai người chia tay sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

Tháng 10 năm 1995, với sự bảo lãnh của người chị, ông cùng người vợ sau và 2 con đến định cư tại Hoa Kỳ. Đầu năm 1996, ông dời xuống Quận Cam để có nhiều cơ hội cho hoạt động âm nhạc trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Ông được trung tâm Thúy Nga thực hiện chương trình Paris By Night 66 giới thiệu các tác phẩm nổi tiếng của ông, cùng với NS Nhật Ngân và NS Ngô Thụy Miên.

Về sau, ông chỉ tham gia “The Stars Band” là ban nhạc do Bác sĩ Phạm Gia Cổn thành lập và làm trưởng ban, trình diễn trong những sinh hoạt có tính cách cộng đồng.

Nhạc sĩ Trần Trịnh qua đời ngày 10 tháng 10 năm 2012 tại California.

Nhạc sĩ Nhật Ngân.
Nhạc sĩ Nhật Ngân.
NS Trân Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ ở Sài Gòn.
NS Trần Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ ở Sài Gòn.

Nhạc sĩ Nhật Ngân, tên thật Trần Nhật Ngân (24 tháng 11 năm 1942 – 21 tháng 1 năm 2012). Ông được biết đến nhiều qua một số tác phẩm nổi tiếng trước 1975 như: “Tôi Đưa Em Sang Sông” (đồng tác giả với Y Vũ), “Xuân Này Con Không Về”, “Qua Cơn Mê”, “Một Mai Giã Từ Vũ Khí”, và sau năm 75 với bài “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh”. Một số bút hiệu khác của ông là Trịnh Lâm Ngân (khi sáng tác chung với NS Trần Trịnh), Ngân Khánh, Song An.

Ông là con út trong gia đình có 6 anh chị em. Nguyên quán ông ở Hoàng Kim, Thanh Hóa, nhưng hầu hết cuộc đời ông sống ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn.

Cha ông qua đời sớm. Ở tuổi trưởng thành, ông nhập ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ khả năng âm nhạc, ông được chuyển phục vụ trong Nha Chiến Tranh Tâm Lý.

Tên tuổi Nhật Ngân được nhiều người biết đến vào thập niên 1960 với bản nhạc đầu tay “Tôi Đưa Em Sang Sông”. Trong những năm sau đó, một số tác phẩm của ông được ghi danh vào lịch sử âm nhạc Việt Nam như: “Đêm Nay Ai Đưa Em Về?”, “Mùa Xuân Của Mẹ”, “Xuân Này Con Không Về”, “Qua Cơn Mê”,“Một Mai Giã Từ Vũ Khí” (viết trong bối cảnh Hiệp định Paris kết thúc Chiến Tranh Việt Nam). Trong sự nghiệp của mình, ông nhiều lần hợp tác với nhạc sĩ Trần Trịnh với nghệ danh chung là Trịnh Lâm Ngân.

Ông lập gia đình 1969 và có 3 người con. Sau năm 1975, ông bị cấm hoạt động nhưng ông vẫn sáng tác bài “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?” được phổ biến ở hải ngoại và cả ở trong nước. Ông vượt biên năm 1982 sang đến Thái Lan tị nạn rồi được ca sĩ Thanh Thúy bảo lãnh và định cư ở Mỹ năm 1984. Ông tiếp tục sáng tác và hoạt động văn nghệ. Sau đó ông bảo lãnh được vợ và các con qua Mỹ, nhưng chỉ sau 19 tháng đoàn tụ với gia đình thì ông bị ung thư dạ dày. Ông được giải phẫu và dạ dày chỉ còn lại 1/3. Ông bình phục như một phép mầu và sống thêm được 20 năm thì bệnh cũ tái phát.

Ông mất ngày 21 tháng 1 năm 2012 tại California, Hoa Kỳ.

Tổng cộng Nhật Ngân để lại hơn 200 tác phẩm âm nhạc qua nhiều thể loại, và hơn 400 bài nhạc ngoại quốc lời Việt.

nguyenbinh_ĐB

Thi phẩm “Viếng Hồn Trinh Nữ” (Thi sĩ Nguyễn Bính)

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh,
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ.
Tôi thấy quanh tôi và tất cả,
Kinh thành Hà Nội chít khăn sô.

Nước mắt chạy quanh, tình thắt lại,
Giờ đây tôi khóc một người về!
Giờ đây tôi thấy hồn cay đắng,
Như có ai mời chén biệt ly!

Sáng nay vô số lá vàng rơi,
Người gái trinh kia đã chết rồi!
Có một chiếc xe màu trắng đục,
Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.

Đem đi một chiếc quan tài trắng,
Và những vòng hoa trắng lạnh người.
Theo bước, những người khăn áo trắng,
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.

Để đưa nàng đến nghĩa trang này,
Nàng đến đây rồi ở lại đây.
Ờ nhỉ! Hôm nay là mấy nhỉ?
Suốt đời tôi nhớ mãi hôm nay…

Sáng nay sau một cơn mưa lớn,
Hà Nội bừng lên những nắng vàng.
Có những cô nàng trinh trắng lắm,
Buồn rầu theo vết bánh xe tang.

Từ nay xa cách mãi mà thôi!
Tìm thấy làm sao được bóng người.
Vừa mới hôm nào còn thẹn thẹn.
Tay cầm sáp đỏ để lên môi.

Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ,
Nàng vừa may với gió đầu thu.
Gió thu còn lại bao nhiêu gió,
Chiếc áo giờ đây ở dưới mồ.

******

Chắc hẳn những đêm như đêm qua,
Nàng còn say mộng ở chăn hoa.
-Chăn hoa ướp một trời xuân sắc-
Đến tận tàn canh rộn tiếng gà.

Chắc hẳn là những đêm như đêm kia,
Nửa đêm lành lạnh gió thu về.
Nàng còn thao thức ôm cho chặt,
Chiếc gối nhung mềm giữa giấc mê…

Nhưng sáng hôm nay nàng lặng im,
Máu đào ngừng lại ở nơi tim.
Mẹ già xé vội khăn tang trắng,
Quấn vội lên đầu mấy đứa em.

Người mẹ già kia tuổi đã nhiều,
Đã từng đau khổ biết bao nhiêu.
Mà nay lại khóc thêm lần nữa,
Nước mắt còn đâu buổi xế chiều.

Những đứa em kia chưa khóc ai,
Mà nay đã khóc một người rồi.
Mà nay trên những môi son ấy,
Chả được bao giờ gọi: “Chị ơi!”

******

Nàng đã qua đời để tối nay
Có chàng đi hứng gió heo may,
Bên hồ để mặc mưa rơi ướt,
Đếm mãi bâng quơ những dấu giày.

Người ấy hình như có biết nàng,
Có lần toan tính chuyện sang ngang.
Nhưng tâm hồn nàng tựa con thuyền bé,
Vội cắm nghìn thu ở suối vàng.

Có gì vừa mất ở đâu đây?
Lòng thấy mềm như rượu quá say.
Hốt hoảng chàng tìm trong bóng tối:
Bàn tay lại nắm phải bàn tay.

******

Chỉ một vài hôm nữa, thế rồi,
(Người ta thương nhơ’ có ngần thôi)
Người ta nhắc đến tên nàng để
Kể chuyện nàng như kể chuyện vui.

Tôi với nàng đây không biết nhau,
Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?
“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”
(Hà Nội 1940)

nguyenbinh_HTN1

nguyenbinh_HTN2

nguyenbinh_HTN3

Thi khúc “Hồn Trinh Nữ” (Trịnh Lâm Ngân)

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Trên cành bao tơ liễu kéo nhau chạy xuống hồ
Mây xám bay bay làm tôi thấy
Quanh tôi và tất cả một trời chít khăn xô
Sáng nay vô số lá vàng rơi
Người trinh nữ ấy đã xa lìa cõi đời
Có một chiếc xe màu trắng đục
Hai con ngựa trắng xếp thành hàng đôi

Mang theo một chiếc quan tài trắng
Với những bông hoa buồn hoa cũng rũ sầu
Theo bước những người khăn áo trắng
Khóc hồn trinh trắng thương mãi không thôi
Chắc đêm qua tựa gối nệm êm
Nàng còn say giấc mơ hoa bên gối mềm
Giấc mơ ước một trời xuân nồng
Một trời xuân sắc đến tận tàn canh

Sáng nay nàng đã lặng im
Nàng đã lặng im máu ngưng trôi trong buồng tim
Sáng nay người Mẹ già kia
Đã vội vàng quấn tấm khăn lên đầu bầy em

Đau thương đã bao năm rồi
Tuổi đã xế chiều Mẹ còn đâu nước mắt
Thương bầy em thơ
Những môi non từ đây chẳng còn gọi “Chị ơi”

Một người lạnh lùng trong đêm dài
Đi mặc cho mưa gió ướt vai lạnh buốt hồn
Trong bóng đêm đen chàng xao xuyến
Như say dạ thấy mềm chàng vờn tay níu hư không
Chắc đây trong số những người quen
Đã bao nhiêu năm tháng ấp ôm một mối tình
Cách đây ít hôm người láng giềng
Nghe tin chàng toan tính đến chuyện hợp hôn

Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bến
Đã đắm nghìn thu… ở suối vàng…!!!

Dưới đây mình có các bài:

– NHỮNG NGƯỜI TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
– Nhạc sĩ Trần Trịnh – Hôm Qua & Hôm Nay… (trích)
– Nhật Ngân: 40 năm cho âm nhạc Việt Nam
– Nhật Ngân, người Đưa Em Sang Sông

Cùng với 4 clips tổng hợp thi khúc “Hồn Trinh Nữ” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nguyenbinh_bìa tập thơ

NHỮNG NGƯỜI TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

(Đào Đức Nhuận)

Nguyễn Bính, nhà thơ nổi tiếng của Phong Trào Thơ Mới từ những năm 1936 đã tự xác nhận tâm hồn mình đối với tình yêu:

Yêu, yêu, yêu mãi thế này
Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu
(Lòng Yêu Đương)

Mẹ cha thì nhớ thương mình,
Mình đi thương nhớ người tình xa xôi.
(Thư Gửi Thầy Mẹ)

Chàng tha thiết kêu gọi những “đấng tình lang” hãy cùng chàng làm một việc mà chưa có một người nào trên thế gian nầy dám nghĩ đến:

Ai yêu như tôi yêu Nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một tràng đình
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng!
(Lòng Yêu Đương)

Và quả thực Nguyễn Bính đã “sa lầy trong yêu” và bao nhiêu là người yêu đã xuất hiện trong thơ của chàng:

Có thể là một người tình chỉ có trong tưởng tượng:

Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười…
(Ghen)

Có thể là một cô gái nhà bên kia – “cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”- yêu trong câm nín, để rồi:

Đêm qua nàng chết thật rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng.
(Người Hàng Xóm)

Có thể là một cô gái – “tôi với nàng tuy không biết nhau”- thế nhưng khi nàng từ trần, chàng lại thấy rằng mình đã yêu:

Nước mắt chạy quanh tình thắt lại,
Giờ đây tôi khóc một người về
Giờ đây tôi thấy hồn cay đắng
Như có ai mời chén biệt ly.
(Viếng Hồn Trinh Nữ)

Hay có thể chỉ là một người yêu trong mộng:

Cô chẳng bao giờ biết đến tôi
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi
Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh, canh tàn, lệ ướt rơi
(Nhặt Nắng)

Không kể những mối tình thoáng qua, những mối tình của một thời tuổi nhỏ không mấy đậm nét trong cuộc đời tình ái của chàng như kiểu “mối tình” (?) với một cô Nhi bé bỏng ở quê ngoại ngày xưa:

Xa lắm rồi Nhi, muộn lắm rồi
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi !
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi !
(Hoa Và Rượu)

thì, mối tình đầu làm ray rứt hồn thơ của Nguyễn Bính nhiều hơn cả, có lẽ là mối tình câm với cô nữ sinh tên Oanh mà chàng thường gọi là “cô Oanh sông Nhuệ”. Vâng, đó là một mối tình câm, mối tình một chiều, mối tình mà chàng chỉ biết thầm yêu trộm nhớ để cuối cùng nhận lấy nỗi tuyệt vọng chua cay:

Tâm hồn tôi là bình rượu nhỏ,
Rót lần, rót mãi xuống nàng Oanh.
Không xua tay nhưng nàng đã vô tình
Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ…
(Tâm Hồn Tôi)

Tuy chỉ là một mối tình không được đáp đền một cách xứng đáng, thế nhưng, cũng chính từ mối tình tuyệt vọng đó, Nguyễn Bính đã sáng tác nên tập thơ TÂM HỒN TÔI. Vì không nói được với người mình yêu những gì mình muốn nói, nên Nguyễn Bính đã viết tập văn xuôi NGẬM MIỆNG để giãi bày với người mình yêu mối tình tuyệt vọng của mình.

Rồi thời gian cứ vô tình lặng lẽ trôi qua. Và thời gian cũng xóa đi cho Nguyễn Bính nỗi hận tình chua xót để sau này, khi nhắc đến Oanh, chàng đã nhắc đến tên nàng bằng một nỗi hờ hững đến vô tình:

Nhớ Oanh tôi nhớ cô Oanh
Xa xôi cách trở hỏi tình thắm phai?

Hay:

Nghỉ học cô Oanh lòa một mắt,
Lấy chồng chị Trúc bó hai tay!

Thế rồi, năm 1937, tập thơ Tâm Hồn Tôi của Nguyễn Bính nhận được giải thưởng khuyến khích về Thơ của Tự Lực Văn Đoàn.

Năm 1939, tập thơ Bức Tranh Quê của nữ sĩ Anh Thơ cũng nhận được giải thưởng khuyến khích về Thơ của Tự Lực Văn Đoàn.

Hai thi tài đó đã gặp nhau.

Nguyễn Bính và Anh Thơ có nhiều điểm giống nhau: cùng được học ở trường rất ít, cùng có tài về thơ và dòng thơ của họ cùng mang nhiều hình ảnh quen thuộc của đồng quê xứ Bắc.

Và hai tâm hồn thơ đó đã yêu nhau. Họ yêu nhau tha thiết. Hẳn vậy. Có một bận, nàng từ Bắc Giang về thăm Hà Nội. Họ gặp gỡ nhau. Tâm sự. Rồi nàng trở lại quê. Chàng buồn nhớ không bút nào tả xiết :

Biết lối nào lên tới xứ nàng?
Để người Hà Nội nhớ mang mang
Nàng đi Hà Nội buồn như chết
Hà Nội buồn như một lỡ làng!
(Một Lần)

Rồi những cánh thư tình nồng cháy yêu đương. Rồi những lời thề non hẹn biển. Và có một lần, nàng đã để lại trên má chàng vết son môi của một nụ hôn nồng cháy. Các bạn chàng kể lại rằng chàng đã không rửa mặt nhiều ngày vì chỉ sợ mất đi vết son môi của người yêu thơ mộng:

Có một trai hiền, một gái xinh
Ngang qua, chừng giữa chuyện ân tình
Trai cười: “Bữa ấy mình toan giữ
Mãi dấu môi son trên má mình!”
(Nhớ Người Trong Nắng)

Ấy vậy mà rồi họ phải đành đoạn chia tay. Tại sao? Tại vì chàng nghèo quá! “Nghèo”! Cái lý do sao mà cay nghiệt! Phải “môn đăng, hộ đối”! Do vậy mà nhà nàng không muốn kén khách đông sàng là một chàng thi sĩ kiết xác:

Có gì tiếng cả nhà thanh
Cơm ăn đủ bữa, áo lành đủ thay
Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm, giời đày làm thơ.
Con tằm được mấy tiền tơ
Chao ôi, mà ước mà mơ lấy nàng !
(Nhà Tôi)

Thế là nàng đang tâm bẻ một chữ đồng làm đôi! Nguyễn Bính nhớ lại những lời thề non hẹn biển. Có lẽ họ đã thề thốt nặng lời – nhất là nàng:

Ai thề như mới hôm qua
Lấy nhau không được chẳng thà chết đi!

Quên lời thề ước, nàng bước lên xe hoa về nhà chồng. Nàng đã bước qua con tim tan nát của Nguyễn Bính để về “nâng khăn sửa túi” cho một “ông thầy thuốc”! Cái con người hiền lành làm vậy mà trước nỗi tuyệt vọng kinh hoàng đã làm những câu thơ thật chua cay để gởi cho người hơn một lần chàng đã yêu tha thiết và cũng đã được nàng yêu tha thiết:

Những tưởng trăm năm đến chết thèm
Ai ngờ chấm dứt chuyện kiêng khem!
Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc,
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm
Chị sắp lên râu làm chức mẹ
Anh mà xuống nước đóng vai em!
Bấy lâu bịt chặt lầu thơ lại
Nay bức tranh quê đã vén rèm!

Những lời thơ “tai quái” quá! Những ý thơ “ác” quá! Nàng không thể chạy trốn vào đâu được:

Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm!…
Nay bức tranh quê đã vén rèm!

Bức Tranh Quê là tên thi phẩm được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn của Anh Thơ! Tục chăng? Thanh chăng? Có lẽ vì bài thơ “quái ác” nầy mà sau nầy, khi viết hồi ký về đời mình, nữ sĩ Anh Thơ đã hoàn toàn phủ nhận mối tình đầu của bà với nhà thơ Nguyễn Bính!

Nhưng dù sao thì mối tình nồng thắm cũng nhiều, tuyệt vọng đắng cay cũng lắm đó đã gợi hứng cho Nguyễn Bính hoàn thành thi phẩm HƯƠNG CỐ NHÂN. Và có những điều trong thơ không thể nói hết về mối tình nầy, chàng đã lại phải mượn văn xuôi để giãi bày nguồn tâm sự sâu kín của mình, đó là tập đoản văn HAI NGƯỜI ĐIÊN GIỮA KINH THÀNH HÀ NỘI.

Quả thực, Anh Thơ đã để lại trong cuộc đời tình ái của Nguyễn Bính một vết thương khá đậm nét. Buồn bã và cô đơn, chàng viết:

Em đi dệt mộng cùng người,
Lẻ loi riêng một góc trời riêng anh!
(Rượu Xuân)

Và chàng buông lời hờn tủi nghe não nuột đến nát lòng:

Mấy khoa thi chót thầy ơi
Thầy không thi đỗ để rồi làm quan
Để rồi lắm bạc nhiều vàng
Để cho con được lấy nàng, thầy ơi!
(Nhà Tôi)

Một tiếng nấc nghẹn ngào! Cứ tưởng rằng nỗi bi lụy nầy sẽ làm cho Nguyễn Bính trở thành một gã thất tình miên viễn! Thế nhưng, chẳng bao lâu Nguyễn Bính lại sa lầy trong một cuộc tình mới. Cũng đắm đuối chung tình. Cũng da diết yêu đương. Tên nàng là Nguyễn Thị Tuyên, em gái của nhà văn Nguyễn Đình Lạp, tác giả của tập tiểu thuyết xã hội NGOẠI Ô, do nhà Hàn Thuyên xuất bản năm 1941 tại Hà Nội. Nàng tên là TUYÊN, nhưng Nguyễn Bính đã đặt lại tên cho nàng là TÚ UYÊN, dù chàng thừa biết Tú Uyên – Trần Tú Uyên – là tên của một nhân vật nam trong truyện Nôm BÍCH CÂU KỲ NGỘ. Nhà Tú Uyên ở phố Bạch Mai (mai trắng) gần phố Huế (đế kinh) ở kinh thành Hà Nội, còn Nguyễn Bính cũng ở Hà Nội trên một căn gác mà chàng đặt tên là gác Hoàng Mai (mai vàng). Có một bận chàng thi sĩ đa tình đi ngang qua nhà nàng và rồi chàng thấy tâm hồn mình như chết chìm ở đó:

Nhà nàng ở gốc cây mai trắng
Trên xóm mai vàng dưới đế kinh
Có một buổi chiều qua lối ấy
Tôi về dệt mãi mộng ba sinh…
(Người Con Gái Lầu Hoa)

Chàng thì “dệt mãi mộng ba sinh” cùng nàng, còn Tú Uyên?

Nàng ở lầu hoa, ở đệm bông
Có đêm nào nghĩ đến tôi không?
Không, không, chả có đêm nào cả
Chả có đêm nào hé cửa song…
(Người Con Gái Lầu Hoa)

Có thể là chàng đã đòi hỏi quá nhiều. Cũng có thể chàng đã hờn mát mà nói như thế, chứ thực ra, hai người đã yêu nhau thực, đã từng hẹn hò và từng gặp gỡ như trong thơ của chàng đã trình bày. Trong các mối tình của Nguyễn Bính, có lẽ đây là mối tình đong đầy nước mắt.

Thi nhân vốn là nòi đa cảm. Và Nguyễn Bính được xem là người đa cảm vào bậc nhất trong giới thi nhân:

Em đã dùng khăn chị để lau
Bao nhiêu nước mắt của u sầu!
(Khăn Hồng)

Vắng bóng cô gái hàng xóm cũng có thể làm cho chàng rơi lệ:

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn … rưng rưng!
(Người Hàng Xóm)

Gặp người trong mộng cũng có thể làm cho chàng rơi nước mắt:

Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh, canh tàn, lệ ướt rơi!
(Nhặt Nắng)

Nghĩ về một người con gái chàng yêu mà chưa dám ngỏ lời cũng có thể làm cho chàng khóc:

Có một nghìn đêm tôi chiêm bao
Ba đêm nay khóc với mưa rào
Đêm nay mắt đỏ rồi mưa tạnh
Tôi khóc âm thầm dưới bóng sao

Đó là 4 câu thơ trích trong bài thơ “Người con gái ở lầu hoa”. Và “người con gái ở lầu hoa” đó chính là nàng Tú Uyên! Mối tình với Tú Uyên rồi cũng dở dang:

Nàng Tú Uyên ơi!
Cả mùa mai trắng đã rụng rồi!

“Mai trắng đã rụng” tức là tình yêu của chàng với Tú Uyên, cô gái ở phố Bạch Mai đó đã không thành.

Rồi Tú Uyên bước lên xe hoa về nhà chồng. Nào ai biết được tâm trạng của Tú Uyên khi nàng bước lên xe hoa. Chỉ biết rằng, sau ngày nàng bước chân lên xe hoa, Nguyễn Bính đã làm một bài thơ khóc cho mối tình nầy thật tha thiết, thật não nùng và dĩ nhiên là cũng đầy nước mắt.

Chàng hồi tưởng lại những giây phút họ gặp gỡ và tình tự với nhau:

Lạy Chúa con xin Chúa một giờ
Mười hai – giờ Ngọ, của tình xưa
Chúng con hai đứa Uyên và Bính
Thường hẹn hò nhau những buổi trưa!
(Nguyện Cầu)

Những buổi trưa hẹn hò với bao lời thề non hẹn biển. Có thể là họ đã vẽ ra một tương lai tuyệt vời sống bên nhau cho đến khi đầu bạc răng long. Ấy vậy mà rồi nàng phải bước lên xe hoa về nhà chồng. Cứ theo như Nguyễn Bính, nàng “bất đắc dĩ” mà bước lên xe hoa:

Hắn phải lấy chồng là khổ lắm,
Bởi vì, lạy Chúa, rất chua cay!
(Nguyện Cầu)

Nguyễn Bính đã quả quyết điều nầy, bởi vì, theo chàng, họ đã yêu nhau tha thiết, Bính yêu Uyên tha thiết và Uyên cũng yêu Bính thiết tha. Nàng bước lên xe hoa về nhà chồng mà như bước vào cõi tuyệt vọng đọa đày:

Hắn đã yêu con đến tận cùng
Thế mà tròn thủy chẳng tròn chung
Hôm qua hắn bước lên xe cưới
Khóc lả người đi Chúa biết không ?
(Nguyện Cầu)

Trong cuộc sống hôn nhân, cứ theo như Nguyễn Bính, Tú Uyên khổ lắm. Có khổ gì hơn khi nghĩ rằng mình suốt đời phải chung sống với người mà mình chẳng yêu thương! Và Nguyễn Bính cũng thương cho số phận hẩm hiu, chua xót của người mình yêu:

Hai đứa hai nơi khóc một giờ
Bên chồng mà hắn vẫn bơ vơ
Chúa ơi ! Cứu rỗi linh hồn hắn!
Nước mắt con nhòa hết tập thơ!
(Nguyện Cầu)

Giờ đây, mỗi lần nghe tiếng chuông nhà thờ buông đúng vào giờ ngọ – cái giờ nghiệt ngã của kỷ niệm – chàng lại hồi tưởng về người yêu , về những lần hẹn hò thơ mộng đắm đuối của hai linh hồn yêu nhau tha thiết:

Đứng bóng từng dòng chuông ngọ đổ
Từng dòng chuông ngọ đổ chơi vơi
Con nghe chuông đổ rồi con khóc
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!
(Nguyện Cầu)

Bính đã thay mặt cho Uyên để cùng chàng kêu gọi đến Chúa tuy họ không phải là những con chiên. Họ là những người ngoại đạo. Nhưng Nguyễn Bính, trong một lúc tuyệt vọng cùng tột, chàng đã phải tin rằng mối tình của chàng và Uyên không đi đến kết cuộc tốt đẹp là do sư sắp đặt của Chúa và họ cố xin một chút bình yên cho tâm hồn khi họ tin như vậy:

Lạy Chúa con xin Chúa thế thôi
Một giờ yêu quý nhất trên đời
Chúng con ngoại đạo tuy ngoại đạo
Cũng lạy mà tin có Chúa Trời !
(Nguyện Cầu)

Lại một lần nữa, Nguyễn Bính cố quên đi mối tình tuyệt vọng nhưng mà làm sao quên được:

Đêm nay ngồi khóc trong trăng lạnh
Trăng đắm chìm đi, gió thở dài
Tôi nhớ đến người – ôi diệu vợi
Ở lầu hoa ấy trong rừng mai

……

Tôi tưởng rồi tôi quên được người
Nhưng mà nản lắm, Tú Uyên ơi!
Tôi vào sâu quá và xa quá,
Đường lụt sương mờ lụt lá rơi…
(Diệu Vợi)

Và mối tình tuyệt vọng với nàng Tú Uyên đã để lại cho chúng ta một thi phẩm với nhiều bài thơ đong đầy nước mắt: NGƯỜI CON GÁI LẦU HOA.

Qua mấy lần tuyệt vọng vì tình, nỗi buồn không kiềm chế được, cộng thêm với nếp sống buông thả của giới nghệ sĩ thời tiền chiến, chàng đắm mình trong xóm yên hoa.

Và,

* nếu kết quả của mối tình giữa chàng với nàng Oanh, với nữ sĩ Anh Thơ, với Tú Uyên là những đứa-con-tinh-thần, những thi phẩm đã tạo nên sự nghiệp thi ca của Nguyễn Bính: Tâm Hồn Tôi, Hương Cố Nhân, Người Con Gái Lầu Hoa –

* thì, mối tình với Dung, tên cô gái trong xóm yên hoa, ngoài kết quả là bài thơ thật thống thiết “Có Bấy Nhiêu Lời Tâm Huyết Ấy” về sau đổi lại thành tên “Oan Nghiệt”, oái oăm thay, lại đưa đến kết quả là một đứa-con-vật-chất, đứa con gái đầu lòng trong kiếp làm đàn ông của Nguyễn Bính.

Đối với Dung, có lúc chàng đã nhắc đến tên nàng bằng một giọng điệu vô cùng khinh bạc, nghe sao mà xa lạ:

Lại chuyện con Dung đẻ tháng ngày!

Thì cũng có khi chàng nhắc đến tên nàng bằng một giọng vô cùng trìu mến:

Người bến Tầm Dương, Dung bé bỏng!

Người ta bảo Dung là một “đào nương”, là một “ca kỹ”. Thế nhưng, dù có là “đào nương” hay “ca kỹ” gì gì đi nữa để gọi là làm đẹp cho cái thân thế cần phải giấu kín của Dung, thì oái oăm thay, chính Nguyễn Bính, người tình của nàng, lại đã khai báo huỵch toẹt cái nghề không mấy tốt đẹp của nàng:

Dung ạ, những đêm màn rũ thấp
Ân tình bên gối khách làng chơi
Em có biết rằng trong giấc lạnh
Con mình mớ ngủ gọi tên ai ?
(Oan Nghiệt)

Dung của Nguyễn Bính là như thế đó. Đau thương lắm. Chua cay lắm. Nhục nhằn lắm nữa. Nhưng dù sao thì họ cũng đã yêu nhau. Họ đã sống với nhau theo cái kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng!”. Và cho đến khi Dung bụng mang dạ chửa thì Nguyễn Bính lại nổi máu giang hồ.

Vào năm 1942 chàng bỏ đất Hà Nội ngàn năm văn vật để vào đất Thần kinh thơ mộng có con sông Hương nước chảy lặng lờ, có những con thuyền tình chơi vơi trên sông nước, và có cả những cơn mưa “cứ kéo dài ra đến mấy ngày” buồn ơi là buồn! Ở Huế chưa được bao lâu, vào một ngày cuối Thu, Nguyễn Bính nhận được thư của Dung:

Hôm nay bắt được thư Hà Nội
Cho biết tin Dung đã đẻ rồi
Công chúa, tháng ngâu, ngày nguyệt tận…
(Oan Nghiệt)

Vậy là Dung đã sinh cho chàng một cô con gái vào một ngày cuối tháng bảy âm lịch:

Công chúa – Tháng Ngâu – Ngày nguyệt tận!

Nhận được thư của Dung chàng đã nghĩ miên man đến kiếp sống đau thương của Dung, nghĩ đến tương lai đầy đen tối bất trắc của con gái và nghĩ về hiện trạng bấp bênh của mình mà chua xót thở than :

Đời cha nay ở mai đi đấy
Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc, cười…
Tiền cha không đủ hoàn lương mẹ
Thì lấy gì mà nuôi nấng con!
(Oan Nghiệt)

Không ai biết rõ Nguyễn Bính cho bằng chính Nguyễn Bính biết về mình! Chàng biết chắc rằng không cách nào chàng có thể có một mái ấm gia đình để cùng Dung và con gái chung sống với nhau! Nghĩ đến những lời cầu chúc của chàng cho con gái sao mà đắng cay, sao mà chua xót:

Thôi cha cầu chúc cho con gái
Mắt chớ lưu cầu, môi chớ son
Ngu đần xấu xí hay tàn tật,
Yên phận chồng con, yên phận con
Càng tài sắc lắm càng oan nghiệt
Bảy nổi ba chìm với nước non
(Oan Nghiệt)

Và rồi Nguyễn Bính tưởng tượng đến một tương lai “oan nghiệt”, đến một cuộc trùng phùng “oan nghiệt”, đến nỗi bất hạnh “oan nghiệt” của cha con chàng:

Cha lo ngại lắm là con gái,
Chẳng có bao giờ biết mặt cha!
Con mười sáu, bảy xuân đương độ
Cha bốn, năm mươi chửa trót già
Cha buồn tiễn khách hơi thu quạnh
Con thẹn che đèn nép mặt hoa
Chàng chàng, thiếp thiếp vui bằng được
Bố bố, con con chẳng nhận ra
Áo xanh mà ướt vì đêm ấy
Tội nghiệp đời con, xấu hổ cha!
(Oan Nghiệt)

“Cha lo ngại lắm là con gái, chẳng có bao giờ biết mặt cha”! Phải chăng đây là một lời tiên tri “oan nghiệt”? Hay, phải chăng đây là một quyết định “oan nghiệt” của chính Nguyễn Bính? Cái câu hỏi “oan nghiệt”: “Bao giờ tôi biết mặt con tôi?” (Oan Nghiệt) đã bị chính Nguyễn Bính cố tình khước từ “trả lời”! Bởi chưng, hình như đâu vào khoảng cuối năm 1943, Nguyễn Bính cùng hai nhà văn Vũ Trọng Can và Tô Hoài làm một chuyến xuôi Nam, bỏ đất Thần kinh thơ mộng để tìm về Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông. Và chàng quên Dung bé bỏng, quên cả đứa con gái bèo bọt của chàng!

Ở Sài Gòn một thời gian, Tô Hoài và Vũ Trọng Can lại quay về Hà Nội, còn Nguyễn Bính được thi sĩ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết mời về thăm quê hương Hà Tiên nên thơ của họ. Đó là vào khoảng đầu mùa hạ năm 1944. Chàng được nhà thơ Đông Hồ đãi như một khách quý, dành riêng cho chàng một căn gác mà Đông Hồ đặt tên là “Nam Phong tiểu các” để cho chàng làm nơi sáng tác thơ. Chàng ở lại đây có mấy tháng và cũng đã để lại đây một cuộc tình với người cháu gái của nữ sĩ Mộng Tuyết. Tên nàng là Tú Ngọc.

Trong vườn thấp thoáng bóng ai đi
Cô cháu, Minh hương, tuổi mười bảy
Mũi thẳng, mi cong, tóc mướt dài
Răng đều, môi mọng, ngực tròn mẩy
Gặp nhau, chào nhau, rồi quen nhau
Ngày một ngày hai thành luyến ái.
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Mới gặp nhau, nàng gọi Bính là “chú” vì “chú Bính” là bạn thơ của dì Mộng Tuyết. Thế rồi, ngày một ngày hai cung đàn đổi bậc. Tú Ngọc đã để lại cho Nguyễn Bính bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm của một người tình vừa ngây thơ, vừa trong trắng trong những ngày chàng dừng bước giang hồ trên mảnh đất Hà Tiên đầy thơ mộng:

Vườn trăng cầm tay, thương quá đi!
Một ngày không gặp, nhớ biết mấy!
Thơ tôi nàng gối trên đầu giường,
Đêm che ánh đèn đọc vụng mãi.
Khăn tôi xổ chỉ, áo long khuy
Nàng bảo đưa nàng khâu vá lại
Có hôm tôi bệnh nằm li bì
Nàng đến canh chừng siêu thuốc cháy.
Áo len đương mặc, cởi cho tôi
“Hà Tiên gió biển lạnh lắm đấy!”
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Chàng yêu Tú Ngọc biết mấy! Và nàng cũng yêu chàng biết mấy! Chàng ước ao được dệt mộng chung đôi với người yêu bé bỏng:

Tài hoa bảy bước đã thành thơ
Mà vẫn một đôi tay trắng mãi
Lấy đâu có được tám mươi thành
Để đổi cho tròn viên Ngọc ấy?
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Vậy mà rồi giấc mộng cũng không thành! Tội nghiệp cho cô bé “người yêu xóm Rẫy” của Nguyễn Bính! Ngày xưa chàng bị “cô Oanh sông Nhuệ” dày vò! Ngày xưa chàng bị nữ sĩ Anh Thơ hắt hủi! Và giờ đây chính Nguyễn Bính lại hắt hủi, dày vò Tú Ngọc, người yêu bé bỏng của chàng. Nợ giang hồ lại réo gọi. Và Nguyễn Bính lại cất bước ra đi:

Rồi tôi khăn gói lại lên đường
Nàng ra bờ sông đứng khóc mãi
Tàu đi xa mấy dặm sông dài
Ngoảnh lại vẫn còn tay Ngọc vẫy!
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Ôi! bàn tay bé bỏng của người con gái đáng thương ấy làm sao giữ nổi cánh chim giang hồ!

Nguyễn Bính bỏ Hà Tiên dù rằng Đông Hồ và Mộng Tuyết hết lòng mời chàng ở lại để chàng có điều kiện hoàn tất tập truyện dài bằng thơ mà chàng lấy nhan đề là Thạch Sương Bồ.

Nguyễn Bính bỏ xóm Rẫy dù rằng ở đó người yêu bé bỏng Tú Ngọc của chàng đã van vỉ, đã khóc lóc hết nước mắt.

Chàng trở lại Sài Gòn. Đành đoạn. Rồi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ cuối tháng 12 năm 1946. Không còn nghe chàng nhắc đến Tú Ngọc nữa. Không còn nghe chàng nhắc đến mẹ con của “người bến Tầm Dương Dung bé bỏng” nữa. Và hình như chàng cũng không còn điều kiện để nhắc đến những “cô Oanh sông Nhuệ”, những “Anh Thơ”, những “Tú Uyên” của một thời yêu đương lãng mạn nữa. Nhưng dù sao, thì với những cuộc tình hoặc tuyệt vọng, hoặc đau thương đó cũng đã để lại cho chúng ta, những người yêu thơ Nguyễn Bính, những tác phẩm thơ tuyệt diệu: Tâm Hồn Tôi, Hương Cố Nhân, Người Con Gái Lầu Hoa, những bài thơ “Có Bấy Nhiêu Lời Tâm Huyết Ấy” (còn gọi là Oan Nghiệt) và “Hà Tiên, Người Xóm Rẫy” như những viên ngọc quý trong kho tàng văn chương của Dân Tộc.

(Đào Đức Nhuận)

Nhạc sĩ Trần Trịnh.
Nhạc sĩ Trần Trịnh.

Nhạc sĩ Trần Trịnh – Hôm Qua & Hôm Nay… (trích)

(Nguyễn Việt)

Khi viết về nhà thơ Hà Huyền Chi với các lời trong ca khúc “Lệ Đá”, chúng ta cũng không quên nhạc sĩ Trần Trịnh là cha đẻ những nốt nhạc cho nhạc phẩm này.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Trịnh, cho biết âm nhạc đã quyến rũ từ lúc ông đang theo học chương trình Pháp tại trường Taberd suốt 10 năm ròng, từ 1945 cho đến 1955, và đậu bằng Tú Tài 2 thời Pháp trong thời gian này. Nhưng niềm đam mê âm nhạc của ông đã gặp trở ngại, bố mẹ ông đã không đồng ý cho ông đitheo ngành này. Mặc dù bố ông là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng cụ vẫn mang tính phong kiến, không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ cho rằng “xướng cavô loại”. Còn mẹ ông, một phụ nữ người Lào – vợ sau của bố ông – cũng chẳng khuyến khích cậu con út trong 3 người con của bà theo đuổi ước mơ.

Dù vậy nhạc sĩ Trần Trịnh đã đến với lãnh vực sáng tác, khi còn theo học những giờ nhạc lý do thầy Rémi hướng dẫn, và về sau ông còn theo thầy qua Chủng viện Taberd bên Thanh Đa, được thầy huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm từ năm 1958 đến năm 1967. Nên ông đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano.

Sáng tác đầu tiên của nhạc sĩ Trần Trịnh là “Cung Đàn Muôn Điệu” viết năm 1950, năm ông được 14 tuổi. Đến năm 17 tuổi nhạc phẩm này mới được nhà xuất bản An Phú nhận phổ biến; năm 1956 lại được nhà xuất bản Diên Hồng đem tái bản. Sau này được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài “Chuyến Xe Về Nam” (do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1955). Cũng trong năm1956, ông lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác mang tên “Viết Trên Đường Nở Hoa”.

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2 Pháp, năm 1955 nhạc sĩ Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc. Năm 1957, ông đi quân dịch, đã viết bài “Đôi Mươi”. Đến năm 1958, ông phổ thơ bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của thi sĩ T.T.KH. đây cũng là một bản nhạc rất ăn khách lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, người yêu nhạc biết đến tên tuổi của nhạc sĩ Trần Trịnh vẫn là bài “Lệ Đá” do ông sáng tác nhạc năm 1968 được nhà thơ Hà Huyền Chi đặt lời.

Ngoài nhạc phẩm điển hình này, ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ là Nhật Ngân và Lâm Đệ ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70. Cả ba từng quen nhau trong Ban văn nghệ thuộc TT huấn luyện Quang Trung. Trong bộ ba, Trần Trịnh và Nhật Ngân phụ trách viết nhạc và lời, còn Lâm Đệ phụ trách phần thâu thanh và phát hành.

Trong thời gian này, bộ ba đã sáng tác một số lớn những bài hát với âm hưởng dân tộc như: Xuân này con không về, Mùa xuân của mẹ, Qua cơn mê, Yêu một mình, Hai trái tim vàng, Chiều qua phà Hậu giang, v.v… Không chỉ là người sáng tác nhạc, nhạc sĩ Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với các phòng trà khiêu vũ trường tại Sài Gòn lúc đó.

Vào những năm học cuối cùng với thầy Rémi, ông bắt đầu đi tìm việc tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng đàn piano. Khởi đầu cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau vào làm tại phòng trà Bồng Lai trên đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi (trên tầng thượng quán Kim Sơn). Và dần dần được mời cộng tác với tất cả những phòng trà và khiêu vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đài truyền hình đã giao ông phụ trách một chương trình ca nhạc vào năm 1967, từ đó ông trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ có giá trị nghệ thuật vào giai đoạn đó.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long vào năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là ca sĩ nghiệp dư trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền đang sống cùng cha mẹ ở đây.

Sau khi trở về, hai người thường thư từ qua lại và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn để được gần gũi và tiện việc “lăng-xê” hơn. Mai Lệ Huyền nhận lời, và chỉ sau một thời gian cả hai đã trở thành vợ chồng trong năm 1964, có cùng nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện cũng là một ca sĩ.

Sau khi thành vợ chồng, nhạc sĩ Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà khiêu vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui, vì thế ông cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác loại nhạc kích động để vợ trình diễn song ca cùng Hùng Cường như Gặp nhau trên phố, Vòng hoa yêu thương, Hai trái tim vàng, v.v…

Trong khi nhạc sĩ Trần Trịnh không thể đi vì song thân ông đã cao tuổi. Vào năm 1977, ông còn ở lại quê hương và lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau đã cho ông 3 người con trai. Nhưng người con đầu lòng bị thiệt mạng trong lúc tắm sông với bạn bè. Người thứ nhì Trần Tùng hiện đang phục vụ trong binh chủng hải quân Mỹ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Người con út Trần Ngọc cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của ông.

Sau 1975 còn ở lại quê hương, nhạc sĩ Trần Trịnh không còn sáng tác nhạc, chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiếc khác để mưu sinh. Khởi đầu ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động, ông về làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70.

Liên tục ông làm tại phòng trà Đệ Nhất sau là các vũ trường, suốt gần 10 năm liền, rồi sang cộng tác với vũ trường Maxim’s vào năm 1991. Nhưng chỉ hơn 3 năm, ông đã gặp một tai nạn xe cộ khiến bị thương nặng ở chân nên phải xin nghĩ việc.

Vào tháng 10/1995 nhạc sĩ Trần Trịnh đi Mỹ theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) do người chị ruột bảo lãnh. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở San Francisco, gia đình ông quyết định dời xuống Orange County, bởi ở đây có môi trường hoạt động âm nhạc và ông dự định sẽ có cơ hội phát triển hơn ở San Francisco.

Hiện nay ông chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc và đã sáng tác thêm một số bản nhạc, trong số những bài này có Trái sầu đầy và Một đoá bâng khuâng màu e ấp. Ngoài ra, một số bản nhạc mang lời Anh ngữ do ông sáng tác được Hilltop Records Hollywood giới thiệu vào albums, có những bản Forget Me Not, The Stars Band, Crying Rocks, mà gần đây nhất là bài Forever Love vào năm 2008 trong album “The Best of Hilltop.”

Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây nhạc sĩ Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi thưởng thức lại bài thơ La Dernière Feuille (Chiếc lá cuối cùng) của thi sĩ Théophile Gauthier, liền sau đó ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này. Nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

NS Lê Dinh, NS Nhật Ngân, NS Anh Bằng, NS Huỳnh Anh, NS Ngọc Chánh (Quận Cam, California 2009).
NS Lê Dinh, NS Nhật Ngân, NS Anh Bằng, NS Huỳnh Anh, NS Ngọc Chánh (Quận Cam, California 2009).

Nhật Ngân: 40 năm cho âm nhạc Việt Nam

(Trường Kỳ)

“Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời” Năm nay 58 tuổi đời, nhưng Nhật Ngân đã có một quá trình hoạt động trong lãnh vực âm nhạc từ 40 năm qua. Ðó là một tên tuổi lớn trong làng âm nhạc, tác giả của nhiều ca khúc giá trị – với số lượng lên tới hàng trăm bài, không kể đến những nhạc phẩm Mỹ hoặc Pháp do ông soạn lời Việt. Không những thế, ngoài việc sáng tác ca khúc, Nhật Ngân còn là tác giả của nhiều nhạc kịch rất quen thuộc trong các chương trình video.

Trần Nhật Ngân, sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều, nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Ðà Nẵng. Vào khoảng cuối thập niên 50, Nhật Ngân cùng mẹ vào Sài Gòn, theo chân các anh chị đã vào đây từ trước, trong khi bố ông đã qua đời từ lâụ Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài, ông trở ra Ðà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó, tại Ðà Nẵng và Huế, Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn, qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Ðỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.

Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công xử dụng vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không đủ khả năng mua cho ông nhạc khí này Do đó, ông đành quyết định thôi học. Và chính quyết định đó đã đưa Nhật Ngân đi theo con đường sáng tác.

“Tôi Ðưa Em Sang Sông”

Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên “Tôi Ðưa Em Sang Sông.”

Về trường hợp ra đời ca khúc này, Nhật Ngân cho biết: Khi trở về dạy học ở Ðà Nẵng, ông có một người yêu, mà thời đó các gia đình ở miền Trung, vấn đề là phải có chức phận, thì họ mới gả con gái cho mình. Thế nhưng thuở đó ông chỉ là người dạy học thôi, nhất là còn trẻ lắm, nên gia đình cô ấy không chịu gả và cô ấy đi lấy chồng. “Thật sự là ngẫu hứng thôi, tôi làm bài hát đó”. Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng “Tôi Ðưa Em Sang Sông” đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay chuyền cho nhau hát. Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông Tin, lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trờị Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trờị Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước. Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ. Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên với “Tôi Ðưa Em Sang Sông” để dễ dàng đến với quần chúng hơn. Khi được phát hành, “Tôi Ðưa Em Sang Sông” được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ.

“Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về”

Với một tâm hồn lãng mạn của thời niên thiếu, Nhật Ngân, vì cảm mến giọng ca của một nữ ca sĩ tên tuổi thời đó, đã cảm hứng để sáng tác tình khúc thứ nhì của ông là “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về” đã được Lệ Thanh trình bầy lần đầu tiên qua phần phụ họa của Hồng Phúc và Thanh Sơn. Cũng như “Tôi Ðưa Em Sang Sông,” nhạc phẩm “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về” vào đầu thập niên 60 đã trở thành ca khúc quen thuộc đối với thính giả của các đài Sài Gòn và Quân Ðội và là những nhạc phẩm được nhà Diên Hồng xuất bản dưới hình thức những bản nhạc rời bán rất chạy.

Cuộc đời quân ngũ

Năm 1965, Nhật Ngân gia nhập Cục Tâm Lý Chiến, một năm sau ông được chuyển về làm trưởng ban văn nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cho đến năm 1975. Trong thời kỳ này ông viết rất nhiều ca khúc về quân đội, trong số có những bài quen thuộc như “Người Tình Và Quê Hương,” “Lính Xa Nhà,” “Mùa Xuân Của Mẹ,” “Xuân Này Con Không Về,” v.v. Riêng ca khúc sau là một trong những ca khúc dính liền với tên tuổi của Duy Khánh, khiến có nhiều người lầm tưởng chính Duy Khánh là tác giả.

Sau 1975 kẹt lại Việt Nam, Nhật Ngân thỉnh thoảng cùng với một số anh chị em cùng hoàn cảnh đi trình diễn nhiều nơi. Thời gian này ông đã cho ra đời nhạc phẩm nổi tiếng, có tính cách châm biếm điều mà nhà cầm quyền Việt Nam thời kỳ này gọi là “giải phóng” vào tháng Tám năm 75. Ðó là ca khúc “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?” được nữ ca sĩ Ngọc Minh phổ biến đầu tiên tại hải ngoại sau khi vượt biển rời khỏi Việt Nam.

Nhật Ngân sau đó cũng một mình rời Việt Nam vào năm 1982, bị kẹt ở trại tỵ nạn Sikiu, Thái Lan cho đến năm 84 mới được nhận vào Hoa Kỳ và ông được nữ ca sĩ Thanh Thúy bảo trợ về sống tại phía bắc Hollywood. Một thời gian sau, ông dời xuống Orange County ở chung với nghệ sĩ Nguyễn Long trong khi chờ ngày đoàn tụ với vợ con vào năm 90.

“Thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi”

Nhật Ngân lập gia đình vào năm 1969 và có ba người con. Người con gái lớn của ông tên Ngân Khánh, đã tốt nghiệp cử nhân về âm nhạc Ðại học Fullerton, Nam Californiạ Ông đã lấy tên Ngân Khánh để ký dưới một số nhạc phẩm như “Giã Từ Vũ Khí” và “Cám Ơn.” Người con trai kế của ông đang theo học về ngành dược, trong khi người con trai út đã tốt nghiệp về ngành điện toán. Với tình trạng như vậy, Nhật Ngân cho là mình đã được thảnh thơi trong việc sáng tác “thích thì tôi viết, không thích thì tôi thôi.”

Ngay thời gian đầu đặt chân lên đất Mỹ, Nhật Ngân đã vùi đầu ngay vào công việc sáng tác. Ông cho ra đời nhạc phẩm đầu tiên tại hải ngoại là “Hương.” Nhật Ngân đã dựa trên một bài thơ của Nguyễn Long để soạn thành ca khúc nàỵ “Hương” đã thành công ngay từ bước đầu với tiếng hát của Elvis Phương, kế đó với tiếng hát của Tuấn Anh và gần đây hơn cả là Nguyễn Hưng. Nhật Ngân cũng từng phổ nhạc từ một số bài thơ tại hải ngoại, trong số có bài thơ “Kiếp Sau” của Trần Mộng Tú, do Ái Vân trình bầy trên một chương trình video của trung tâm Thúy Nga.

Nhật Ngân cho biết đối với những sáng tác có “hơi hướng quê hương” của ông “thì Duy Khánh, Hương Lan, Thanh Tuyền là thích hợp hơn cả “. Do đó, ông thường nhắm vào một tiếng hát đặc biệt để sáng tác trước khi gửi đến người nghe. Còn về những ca khúc tình cảm thì “những bài của tôi như “Ngày Vui Qua Mau,” “Lời Ðắng Cho Một Cuộc Tình” hay “Hương” thì đủ giọng ca có thể hát được.”

Tình trạng nghệ sĩ sáng tác hiện nay

Theo Nhật Ngân, cuộc sống của một nghệ sĩ sáng tác hiện nay ở hải ngoại đang trong tình trạng dễ thở hơn những năm trước về mặt kinh tế mà nguyên nhân chính do sự phổ biến mạnh mẽ của các chương trình video ca nhạc. Sự phát triển của video từ hơn 10 năm nay đã nuôi dưỡng được phong trào sáng tác nhạc mới cũng như một số hoạt động văn nghệ cho các nhạc sĩ bằng cách này hay cách khác có thể sống được. “Những năm trước thì tôi nghĩ là không sống nổị Cái thời điểm trước, từ 84 trở đi cho tới khoảng độ 90, 91, 92 chẳng hạn thì tương đối mình sống vẫn èo ọt lắm. Nhưng những năm sau này chẳng hạn, từ khi mà video mạnh lên, những video như là Thúy Nga, Asia hay mấy trung tâm lớn họ làm mạnh lên thì tôi nghĩ nếu những người nào có khả năng thì có thể vẫn sống được với ngành âm nhạc.”

Ðối với một số nhạc sĩ khi ghi nhận về dòng nhạc Việt trong nước và hải ngoại đã cho rằng có sự khác biệt, nhưng theo Nhật Ngân thì hai dòng nhạc đều giống nhau, đặt căn bản trên sự rung động của tâm hồn mình: “Tôi thật sự không biết đối với những tác giả khác như thế nàọ Nhưng mà riêng tôi, thì tôi thấy khi mình gặp những cái rung động nào đó xẩy đến với tâm hồn mình thì mình vẫn viết thoải máị Tôi nghĩ trước năm 75 và sau năm 75 cũng đều giống nhau cạ Những nguồn cảm hứng đến với tôi thì tôi có thể trọn vẹn đem tới được người nghe.” Ngay như dựa trên sự thay đổi về hoàn cảnh xã hội trước kia và hiện nay, ông cũng không cho là có ảnh hưởng đến công việc sáng tác của mình vì hiện nay ông vẫn sáng tác một cách đều đặn. Mức độ sáng tác của Nhật Ngân được ông ví von như một cái máy xe hơi chạy đều nên không bị trục trặc và rỉ sét. Trái với một vài nghệ sĩ cùng thời với ông, không còn tìm thấy được hứng thú trong việc sáng tác hoặc không có dịp để phổ biến tác phẩm mình.

Những kinh nghiệm cho những người tiếp nối

Nhật Ngân cho biết cách hiệu quả nhất để phổ biến những ca khúc của những người sáng tác hiện nay là qua phương tiện videọ Tuy nhiên đó không phải là điều mà những trung tâm nhạc có thể thực hiện được một cách dễ dàng. Vì phần lớn các trung tâm nhạc hiện nay vẫn dùng nhiều nhạc phẩm cũ, trong khi có rất nhiều sáng tác mới từ khắp nơi được gửi đến. Về điểm này, Nhật Ngân đưa ra những nhận xét “những trung tâm nhạc tốn kém nhiều trong việc thực hiện một bài hát hoặc là một màn video chẳng hạn. Họ làm ăn, cho nên họ chắc ăn hơn. Họ không muốn đánh bài với những tác phẩm mới mà không biết có đi đến đâu không. Thật sự tôi cũng không dám nói là mọi trung tâm đều nặng về thương mại. Thế nhưng phải “có thực mới vực được đạọ” Tôi nghĩ là họ vẫn phải nghĩ đến chuyện sản phẩm của họ có được yêu thích không. Thành ra khi lựa bài, họ rất là khó khăn. Khó khăn vì nếu xài bài của người trẻ mà lỡ bài không ăn là họ mất credit, sản phẩm bán không chạỵ Ðã tốn tiền mà không chạy, rồi sẽ khiến khán giả bắt đầu sợ các sản phẩm có những bài nhạc không ăn khách.”

Vấn đề phổ biến những ca khúc mới của những tác giả trẻ cứ luôn ở trong vòng lẩn quẩn. Một giải pháp tương đối hữu hiệu theo ông là nếu những nhạc sĩ trẻ có khả năng thì nên tự mình thực hiện một clip video cho ca khúc của mình để giới thiệu với các trung tâm như trong trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn trước kia đã thực hiện một clip video rất công phu và tốn kém để giới thiệu tác phẩm của mình. “Mà khi ca khúc đó thật sự được mọi người chấp nhận thì trung tâm họ sẽ bắt đầu từ từ chấp nhận cái tên đó luôn.” Nhật Ngân gọi đó là một sự đầu tư và là một sự hy sinh đầu tiên để đẩy tác phẩm của mình lên. Hoặc theo như kinh nghiệm của ông, nếu các nhạc sĩ trẻ muốn được các trung tâm lớn chú ý tới, cần phải làm một băng nhạc hay một CD “demo” thật hay ở phòng thâu, nhờ những giọng ca tên tuổi thu một hai nhạc phẩm của mình để gửi đếncác trung tâm. Sau khi nghe băng nhạc mẫu đó các trung tân nhạc mới có thể quyết định đưa vào chương trình của họ hay không. Nếu chỉ gửi đến họ những nhạc phẩm viết hoặc in trên giấy, Nhật Ngân khẳng định kết quả chỉ là một con số không. Vì theo ông phần lớn các trung tâm nhạc không có khả năng nhìn bài để định giá được vấn đề nhạc phẩm đó có ăn khách hay không.

Trước vấn đề nhạc trong nước lan tràn tại hải ngoại

Một vấn đề khác hiện vẫn còn là một đề tài đang được bàn tán tới nhiều là sự lan tràn của nhạc trong nước tại hải ngoạị Trước sự kiện này Nhật Ngân đã đưa ra một số nhận xét của ông về những giọng ca cũng như những sáng tác trong nước. Thêm vào đó là những lý do khiến những trung tâm nhạc tại hải ngoại nhắm vào việc khai thác những tác phẩm đó: “Thật sự thì nhạc trong nước trong thời gian vừa rồi rộ ra ở ngoài, thì mình công nhận là trong đợt đó, trong nước có một số bài có vẻ nghe được, có vẻ ăn khách đối với quần chúng. Sự kiện được mọi người thích thì cũng đúng thôị Vì bài dễ nghe, có một chiều hướng tương đối khác với sáng tác bên nàỵ Thứ đến là các giọng ca bên đó rất rất thích hợp với các loại bài đó. Các trung tâm bên này xử dụng lại những bài hát đó là vì những bài đã được lăng xê rồi, thành họ mạnh bạo thu thanh với nhữnggiọng hát ở hải ngoạị Nhất là vấn đề tác quyền gần như không có, cho nên mọi người đều sẵn sàng làm thôi. ” Tuy nhiên theo ông sự tràn ngập của nhạc trong nước tại hải ngoại chỉ là một phong trào nhất thời, dấy lên từng đợt và không có khả năng duy trì lâu dài vì “cho tới bây giờ đâu còn bài nào nữa đâu. ” Nhật Ngân còn nhấn mạnh thêm là dù trong nước có đông người sáng tác thật sự, nhưng không phải lúc nào cũng có những nhạc phẩm hay. Riêng đối với những ca sĩ trong nước, ông đã không phủ nhận khả năng về kỹ thuật của những tiếng hát nàỵ

Yêu đời và thoải mái

Hiện nay sinh hoạt của nhạc sĩ Nhật Ngân là sinh hoạt của một người nhàn hạ, trong niềm hạnh phúc gia đình cùng với những người con đã thành đạt và một người vợ với công việc làm thường nhật về ngành y tá: “Sinh hoạt bình thường của tôi là ngoài những giờ thể thao, buổi sáng cà phê ra thì về nhà sáng tác, làm việc.” Những giờ thể thao như ông nói là những giờ đánh tennis từ sáng sớm đến gần 9 giờ sáng để cố gắng duy trì sức khỏe tốt sau khi đã bị cắt đi hai phần ba bao tử để ngăn chận sự phát triển của bệnh ung thư vào năm 1992. Tự nhận mình là một người được nhiều ưu đãi, về mặ.t gia đình cũng như nghề nghiệp, Nhật Ngân – với một tính tình luôn vui vẻ – có một cái nhìn rất lạc quan về cuộc đời, để từ đó ông tiếp tục sống trong thế giới âm nhạc mà ông đã đóng góp không ít. Từ tư tưởng lạc quan về cuộc đời đó, lý luận của Nhật Ngân trong âm nhạc là cuộc sống bao giờ cũng rộng mở trước mặt. Cũng vì còn nhiều gắn bó với cuộc đời mà Nhật Ngân đã thoát được bệnh ung thư bao tử và từ đó ông còn cảm thấy yêu đời hơn nữa sau 40 năm tạo cho mình được một gia tài âm nhạc lớn lao.

Luân Hoán và vợ chồng Nhạc sĩ Nhật Ngân (2006).
Luân Hoán và vợ chồng Nhạc sĩ Nhật Ngân (2006).

Nhật Ngân, người Đưa Em Sang Sông

(Luân Hoán – Tháng 11.2006)

Mỹ nhân, và Âm nhạc là những đề tài ưu tiên mà bọn học sinh choai choai, ở lứa tuổi cuối thập niên ba mươi, đầu thập niên 40, của thành phố Đà Nẵng thường hay trao đổi với nhau, khởi đầu từ những năm 1958, 1959. Đa số trong cặp sách, trong túi áo của mỗi nam sinh các trường Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản, Nguyễn Công Trứ, Bán Công, Sao Mai, Bồ Đề, Kỹ Thuật…có lẽ đều có nhốt những tên gọi, những ca khúc.

Về mỹ nhân, cá nhân tôi xin thành thật tạ ơn “những môi, những mắt, những da thịt nồng/ những vồng đất biết trổ bông” dù họ “thuận (hay) không, tôi cũng đã trồng ra thơ” . Chắc chắn những Huỳnh Thị Phú, Hồ Thị Hồng, Thu Hà, Quỳnh Chi, Thu Liên, Như Thoa, Thạch Trúc, Minh Xuân, Bích Hà, Lâm Vui, Lâm An, Quỳnh Cư, Bích Quân, Trân Châu, Thúy Oanh, Quỳnh Như, Quỳnh Cư, Hồng Hạnh và hàng trăm bông hoa hương sắc khác từng rủa thầm, chửi nhắn tôi bất tận ngôn, nhưng làm sao bây giờ, khi tôi đã lỡ trang trọng mời họ sống đời với thơ. “Thôi thì xin cảm ơn người/ háy, hứ đôi cái, rồi cười bỏ qua”. Tôi xin hứa rằng chừa và thành tâm “nguyện đem theo xuống suối vàng” những tình yêu vớ vẫn, nhưng rất chân tình một thời của mình, không chia xẻ với ai nữa, kể cả Diêm Vương, ông bạn vàng trong tương lai, đang chờ đón tôi.

Về âm nhạc, thời đó, chúng tôi thích những Hình Ảnh Một Buổi Chiều (Lâm Tuyền), Dứt Đường Tơ (Dzoãn Mẫn), Dư Âm (Nguyễn Văn Tý), Trăng Mờ Bên Suối (Lê Mộng Nguyên), Nụ Cười Sơn Cước (Tô Hải), Sơn Nữ Ca (Trần Hoàn)… kèm theo những Chàng Đi Theo Nước, Bên Bờ Đại Dương, Thoi Tơ, Đường Chiều…Và bất ngờ, một bài ca, không đến với chúng tôi qua những giọng ca từ Ty Thông tin Đà Nẵng, từ Đài Phát thanh Sài Gòn…, mà đến với chúng tôi bằng những giọng hay-hát-hơn-là-hát-hay, trong đám học sinh. Bài ca có tên Tôi Đưa Em Sang Sông.

Chuyện gì chứ chuyện đưa em, tôi rất khoái. “Em” ở đây, đương nhiên là một người đẹp, hiểu đậm hơn chút nữa là một tình nhân. “Em!”, một tiếng gọi gọn nhẹ, nhưng tức thì thấy rõ tất cả cái lộng lẫy, dịu dàng của người thục nữ.

“Lãnh thổ thơ tôi, một cõi Em/ hàng trăm chánh thất, chỉ một tên/ và không cung nữ, không hoàng hậu/ lộng lẫy trong cùng một dáng Em” (LH-Mời Em Lên Ngựa).

Si tình, trọng vọng rất đúng tinh thần “Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương” đến thế, nên tôi mau chóng tâm đắc với lời ca tiếng nhạc của Tôi Đưa Em Sang Sông, dù chỉ mới nằm lòng chập chờn mấy câu:

“Tôi đưa em sang sông/ chiều xưa mưa rơi âm thầm/ để thấm ướt chiếc áo xanh/ và đẫm ướt mái tóc em…”

Tội ơi là tội, chưa chi mà đã thấy thương đến bạc những sợi tóc. Cái hoàn cảnh chưa từng xảy ra với chính mình và gần như ước lệ cho nhiều cuộc tình dang dở, đầy tính chất phổ thông, nhưng sao nghe ra như chuyện thật của mình, tưởng chừng như đang diễn ra, và mình đang chịu đựng.

… “Nếu tôi đừng đưa em / thì chắc đôi mình không quen/ đừng bước chung một lối mòn/ có đâu chiều nay tôi buồn…”

Những điều đương nhiên đó, cận kề với “sáu câu” đến thế, nhưng giai điệu ngũ cung đã xóa bỏ ranh giới giữa trí thức và bình dân, để cho câu chữ có nhịp đập của trái tim, có hơi thở của đời sống, đủ thu hút sự thưởng ngoạn thoải mái của nhiều người, nhất là đám trẻ đang yêu, chuNn bị yêu. Bài ca được chép tay, chuyền miệng rộng rãi, mau chóng trong đám “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” (tục ngữ) của thành phố Đà Nẵng. Tôi có chút ngạc nhiên khi biết ca khúc này chưa xuôi qua cầu Câu Lâu, chưa vượt khỏi đèo Hải Vân mà đã có sức sống. Nhất là nó không thành hình từ ông thầy Hoàng Bích Sơn, dạy nhạc ở Phan Châu Trinh, cũng không từ lòng một người đã thơm tay, Phạm Thế Mỹ. Nó ra đời từ một người còn vô danh, tuổi đời nhỏ hơn tôi đến những một năm.

Chưa vội tìm hiểu tác giả, đám bạn tôi đã mách ngay cái thằng viết ra bản nhạc nghe rất “được” đó. Thằng Ngân. Anh chàng không lớn xác này cũng là dân Phan Châu Trinh, thuộc lớp đàn em, vì “mài quần” sau tôi một năm. “Thùng rỗng kêu to” (tục ngữ), tôi không kêu, nhưng không thiếu những cao ngạo rất trẻ con. Lần đầu dòm qua ông nhạc sĩ, ánh nhìn của tôi giả bộ tẻ nhạt, dù trong bụng đã có đôi phần nể phục.

Tôi không có ý định làm quen với Nhật Ngân dù năm 1960, ca khúc Tôi Đưa Em Sang Sông được in ấn, phát hành rộng rãi. Tên tác giả Trần Nhật Ngân được ghi trên bản nhạc, bên cạnh một tên khác: Y Vũ. Bài hát đi vào quần chúng thật mau lẹ, nhưng khoảng cách giữa chúng tôi vẫn không có gì thay đổi. Trong phạm vi của một thành phố nhỏ, chúng tôi biết đến tên nhau, cùng những lần tình cờ thấy nhau, không lạnh lùng nhưng chắc chắn không thiếu dửng dưng.

Nhật Ngân, có đạo Thiên Chúa, anh đến với âm nhạc qua sự dìu dắt, chỉ dạy của các vị linh mục và hai nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt, Nhật Bằng. Khởi đầu anh muốn trở thành một nhạc công, một nghệ sĩ trình diễn. Mê Violon và Piano, hai nhạc cụ, Nhật Ngân từng mơ ước sử dụng. Nhưng nhà nghèo, anh chỉ có thể kéo nhờ cây vĩ cầm của một người em họ, và dĩ nhiên phải bỏ cuộc. Người em họ, Nhật Hiền, đã thay anh thành tài, thành danh, nắm giữ chức Giám Đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế một thời gian.

Dựa theo đối thoại giữa Nhật Ngân cùng nhà báo Nguyễn Ngọc Chấn CNN, đăng trên tạp chí Thế Giới Nghệ Thuật, volume 01 No.7 1999, và lời dẫn nhập từng ca khúc của chính Nhật Ngân viết, trong tập Tình Yêu và Quê Hương, dành cho buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật, do nhà thơ Lê Hân, nhà giáo Đoàn Phế và nhóm bạn, tổ chức tại thính đường Noel Ryan, số 301 Burnhamthorpe, Mississauga, Ontario, Canada, ngày chủ nhật, 05 tháng 11 năm 2006, giới thưởng ngoạn âm nhạc biết rõ hơn về sáng tác đầu tay của Nhật Ngân: Tôi Đưa Em Sang Sông, cụ thể như sau:

“Tôi bước chân vào lãnh vực âm nhạc tương đối sớm. Năm 14, 15 tuổi, thời đang còn học đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, 9 bây giờ), tôi đã ôm đàn lên sân khấu nhà trường hát và được các bạn cùng trường, cùng lứa tuổi (nhất là các cô) ưa thích.

Cũng vì yêu nhạc, thích hát và lông bông tối ngày, nên việc học hành của tôi không khá, cuối năm đủ điểm lên lớp là may. Năm đệ nhị (lớp 11), cô bạn gái của tôi, cũng có thể nói là người yêu của tôi thời bấy giờ, thấy tôi tối ngày đàn hát mơ mộng như người đi trên mây, nên cô ta đi lấy chồng. Không biết chuyện buồn này là chuyện xui của đời tôi hay là may mắn cho sự nghiệp âm nhạc của tôi, và thời điểm đó, 1960, tôi đã viết ca khúc Tôi Đưa Em Sang Sông (tính tới nay, bài hát này đã có số tuổi gần 50)…” (Tình Yêu Và Quê Hương, phần 1: nhạc tình yêu thời tuổi trẻ)

Nhà báo Nguyễn Ngọc Chấn CNN (mà Nhật Ngân gọi là “giáo sư”, bỏ trong ngoặc kép đàng hoàng), ghi lại lời tâm sự của Nhật Ngân:

“ … “Giáo sư” CNN hỏi. là khơi lại vết thương lòng của ‘tớ’ rồi. Tôi Đưa Em Sang Sông ! Sau khi mình thọ giáo thầy Đỗ Thế Phiệt, khoảng 59, 60. Với số vốn nhạc lý làm hành trang, sẵn lại đang có mối tình đầu tới thời kỳ lên cao độ. Nàng là gái Huế, thuộc gia đình khá giả. Tuy hai trẻ yêu nhau ra-dzít, nhưng tình yêu không thắng nổi lý trí . Là một chàng trai còn đang lêu bêu, nàng làm sao dám chấp nhận lập gia đình với một cậu học trò rách. Thế rồi một ngày đẹp trời, nàng báo tin lên xe hoa về nhà chồng. Tuy còn yêu nhau tha thiết, nhưng hai người đành chia tay, mình liên tưởng tới những buổi trưa, đưa nàng qua sông Hương, buồn quá, viết thành khúc hát để “chúc” nàng hạnh phúc…” (Nguyễn Ngọc Chấn – Thế Giới Nghệ Thuật)

Nhật Ngân cho biết tiếp về sự phát hành của bài hát, qua bài viết của ký giả kịch ảnh, sân khấu Trường Kỳ :

… “ Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng “Tôi Đưa Em Sang Sông” đã trở thành một ca khúc được giới học sinh Đà Nẵng rất ưa thích, chép tay chuyền cho nhau hát. Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông Tin. Lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phNm ủy mị, ướt át.

Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.”

Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình, khi chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi, nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên với “Tôi Đưa Em Sang Sông” để dễ dàng đến với quần chúng hơn. Khi được phát hành, “Tôi Đưa Em Sang Sông” được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ…” (Nhật Ngân 40 năm Âm Nhạc-Trường Kỳ)

Nhật Ngân và Y Vũ hiện nay, không những sống giữa hai vùng địa lý khác nhau, mà còn khác biệt ở thể chế chính trị của hai quốc gia đối nghịch, tư bản và cộng sản. Những sáng tác của Nhật Ngân bị cấm phổ biến trong nước, điều này có thể mang đến việc không được nêu tên anh dưới bất cứ hình thức nào tại nơi Y Vũ đang sống ?

Gần đây, tôi đọc thấy trên trang điện toán Vietnamdaily.com, số 4969 lên ngày 21-01- 2006, một bài kể lại chuyện về thăm quê hương, gặp được một số bạn cũ, mới của nhạc sĩ Trịnh Hưng từ Pháp về. Nhạc sĩ Trịnh Hưng sau khi được bạn cũ, nhạc sĩ Y Vân, giới thiệu lần đầu tiên với Y Vũ (em trai, kém Y Vân 9 tuổi, theo Trịnh Hưng), đã có hỏi về nhạc phNm Tôi Đưa Em Sang Sông. Và Y Vũ cho biết: (nguyên văn của nhạc sĩ Trịnh Hưng) …

“ Y Vũ ngậm ngùi tâm sự:

Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.

Được tin nàng lấy chồng, em buồn quá, lủi thủi ghé nhà một người bạn ở xóm nghèo, gần nghĩa trang. Tối đó lần đầu tiên em uống rượu say. Mãi đến 2 giờ sáng mới tỉnh rượu, em mở cửa sổ, nhìn ra thấy mưa hiu hắt trên những nấm mộ, em bèn cầm cây đàn guitar và ứng khNu hát như người ứng tác:

Nếu như trời không mưa Đường đâu cần tôi đưa Nàng đã quên cả lối về, quên cả người trong gió mưa Từ đó tới sáng, em hoàn thành bài nhạc một cách bất ngờ…”

(Trịnh Hưng – Nhạc sĩ Y Vũ với bài ca TĐESS )

Nhạc sĩ Trịnh Hưng ghi lại lời kể của nhạc sĩ Y Vũ một cách giản dị, dễ hiểu và chắc chắn rất trung thực. Tôi nghĩ ông cũng tin 100% như thế, bởi Y Vũ đã đưa ra rất nhiều điểm cụ thể, mong chứng minh sự thành thật của mình, trong ý định dành tác quyền. Những điểm cụ thể nhạc sĩ Y Vũ nêu gồm: tên gọi người yêu của ông, địa điểm cây xăng và những diễn tiến rất nhịp nhàng, trôi chảy có cốt truyện hẳn hoi. Duy có một điều ông quên nhắc đến cái tên Trần Nhật Ngân, một cái tên đã từng nằm trước cái tên Y Vũ trong ấn bản đầu tiên, cũng như trong những lần tái bản về sau. Khó có thể tin Y Vũ vô tình quên, cũng khó có thể tin ông vì lo sợ điều gì khi phải nhắc đến cái tên Trần Nhật Ngân. Tôi nghĩ, nhạc sĩ Y Vũ có vẻ cố tình gạt ra cái tên của một người đích thực đã góp phần lớn để hoàn tất một ca khúc, đã có thời được đón nhận rộng rãi.

Một chi tiết rất đáng thắc mắc qua lời kể của Y Vũ, hy vọng đây là một nhận định hời hợt do sự yếu kém hiểu biết về sáng tác nhạc của tôi mà ra. Người thanh niên thất tình, “nửa đêm về sáng” mở cửa sổ nhìn trời hắt hiu mưa trên những nấm mồ và cất tiếng hát. Những câu hát này không là điểm khởi hành của bài nhạc, sao vậy nhỉ ? Tác giả bắt hứng từ hình ảnh trời mưa một chặp, rồi sau đó mới quay trở lại điểm xuất phát để đi một hơi. Trong sáng tác, nhạc cũng như thơ, người viết có thể viết trước bất cứ đoạn nào trong tổng thể của bài viết, sau đó mới bố cục lại, là chuyện bình thường. Nhưng theo lời kể của nhạc sĩ Y Vũ, tôi cảm thấy, có chút ít lấn cấn, ngờ ngợ. Dòng sông, bối cảnh chính của bản nhạc, dĩ nhiên không cần có cụ thể như sông Hương hay sông Hàn, bởi dòng sông được đưa ra chỉ có ý niệm cho một sự sang ngang. Y Vũ có lý khi không cần nhắc đến một con sông nào từng có kỷ niệm giữa ông và người yêu. Kỷ niệm của ông và cô Thanh thiết thực hơn. Những nghĩa cử cho đổ xăng chùa nói lên cái nặng tình một cách đậm đà hơn là đưa đón. Từ những kỷ niệm đơn giản, chất phác này tưởng tượng ra cảnh đưa em sang sông, đón em dưới mưa quả thật khó thực hiện nổi nếu không có một tâm hồn nghệ sĩ.

Nhân vật chính trong Tôi Đưa Em Sang Sông của Y Vũ, đã đi lấy một ông bác sĩ già. Không biết đoạn đời sau của nàng ra sao. Nhân vật chính trong Tôi Đưa Em Sang Sông của Nhật Ngân cũng con nhà giàu, lấy chồng môn đăng hộ đối, nhưng cũng không hạnh phúc. Nhật Ngân bật mí cho Nguyễn Ngọc Chấn biết:

“ Tôi Đưa Em Sang Sông trở thành tiếng lòng nức nở của hàng triệu con tim rướm máu, tình khúc bỗng nổi một cách bất ngờ. Chồng nàng bị chọc quê, dằn vặt, cuối cùng không kèn, không trống, họ gãy cánh giữa đàng”

Và Nhật Ngân “…rất ân hận, vì vô tình phá vỡ hạnh phúc người mình yêu. Về sau gặp lại, mình tôn trọng nàng và nàng muốn chứng minh với đời : tụi này chỉ là bạn. Sau đó, giòng đời chia cắt đôi nơi, tớ thành “mây bốn phương trời” không gặp lại nữa”

Tôi quả thật đang giấu một số hoài nghi trong lòng, trước những tường thuật của Nhật Ngân.

Y Vũ tên thật Trần Gia Hội, em ruột của nhạc sĩ Y Vân, Trần Tấn Hậu. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ đã nổi tiếng. Khó có thể nêu lên lý do thuyết phục, về việc cái tên của Nhật Ngân trên bản nhạc, mà ông ta không có công sáng tác. Một anh chàng thư sinh hoàn toàn vô danh và nghèo khó, ở tận miền Trung, không dưng được đứng tên chung trong một sáng tác, kể cũng lạ. Đây quả là chuyện khó tin và… không có thật. Sự thật và nửa-sự-thật đáng tiếc này hy vọng trong tương lai sẽ được xác định rõ ràng và chân thực hơn.

Rất may, thực tài của Nhật Ngân lẫn Y Vũ đã thể hiện trong những sáng tác về sau, riêng rẽ, của hai người. Tính đến nay, những sáng tác của Nhật Ngân, có phần lấn lướt về số lượng cũng như được sự chọn trình bày của ca sĩ, lẫn sự đón nhận của giới yêu âm nhạc, nếu so với Y Vũ và cả Trịnh Hưng.

Nhật Ngân họ Trần, ra đời năm 1942 tại Thanh Hóa. Anh là con út của cặp vợ chồng có 6 con. Thân phụ anh, một nhân viên công chức, đã thất lộc. Nhật Ngân theo mẹ, cùng các anh chị vào miền Trung, sống tại Đà Nẵng một thời gian trước khi vào Sài Gòn. Anh theo học tại trường Võ Trường Toản. Có Tú Tài, Nhật Ngân trở ra dạy việt văn và âm nhạc tại trường trung học tư thục Phan Thanh Giản. Năm 1965, anh gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tùng sự tại Cục Tâm Lý Chiến. Một năm sau, anh được chuyển về làm trưởng ban văn nghệ tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

Chị Mai Nương đã chấn dứt cuộc sống độc thân của anh từ năm 1969. Tình yêu của Ngân và Nương đã đúc kết được ba tác phẩm lớn. Sau 30 tháng 4-1975, Nhật Ngân chậm chân lên tàu, nhờ đó tạo được 7 năm kiến thức thực tế về chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm 1982, anh vượt biên đến tỵ nạn tại Sikiu Thái Lan, không có đoàn thê tử bên cạnh. Năm 1984, anh được nhận vào Hoa Kỳ. Gia đình ca sĩ Thanh Thúy bảo trợ anh về sống ở phía bắc Hollywood, trước khi thuê chung nhà cùng nghệ sĩ Nguyễn Long, tục danh Long Đất tại Orange County.

Trong thời gian đầu ở Mỹ, Nhật Ngân được gọi thủ vai một quân nhân “mệnh yểu” trong phim Đoạn Cuối Tình Yêu, bên cạnh những Băng Châu, Ánh Hoa, Huy Khánh, Mai Khanh… Cuốn phim này do Nguyễn Ngọc Chấn CNN thực hiện. (Nguyễn Ngọc Chấn là cựu học sinh Chu Văn An… Sài Gòn, bằng hữu thân thiết cùng Du Tử Lê, Ngọc Hoài Phương, Phương Triều, Vũ Thành An… Ông được bè bạn gọi là “cậu trời”, tôi không được rõ ba chữ viết tắt đi liền sau tên và họ).

Sinh hoạt âm nhạc tại hải ngoại trong giai đoạn này còn hạn hẹp, Nhật Ngân xoay qua làm báo sau khi được nhà văn Hoài Điệp Tử (1943-1987) mời về cộng tác với báo Mai. Phong trào phim bộ cùng những trung tâm thương mại âm nhạc ra đời, kéo theo sự sinh động trong bộ môn âm nhạc. Nhật Ngân cũng như nhiều nhạc sĩ khác đã có cơ hội sinh hoạt theo sở thích của mình không ngừng nghỉ. Năm 1990 vợ con anh được sang đoàn tụ. Nhật Ngân phải đi cày nhiều hơn để nuôi vợ và con đến trường. Chị Nhật Ngân đã trở thành một y tá. Trưởng nữ, Ngân Khánh, tốt nghiệp Cử nhân Âm nhạc tại Đại học Fullerton, California. Em trai thứ nhất của Ngân Khánh theo học ngành dược và cậu út, tốt nghiệp ngành điện toán.

Nhật Ngân ngã bệnh vào năm 1992. Cái bao tử của anh dan díu với bệnh ung thư, phải cắt bỏ mất hai phần ba. Nhưng nhờ biết vui sống với bệnh nan y, Nhật Ngân hồi phục dần và anh tiếp tục sáng tác. Chị Nhật Ngân không xuất bản thêm cho anh tác phẩm nào, nhưng ca khúc thì Nhật Ngân có đều đều. Thử lược kết lại những gì Nhật Ngân đã viết qua từng giai đoạn:

Thời phơi phới thanh xuân, Nhật Ngân viết: Tôi Đưa Em Sang Sông, Đêm Nay Ai Đưa Em Về (kỷ niệm cuộc tình với một ca sĩ. Giọng hát Lệ Thanh khởi đầu với sự phụ họa của Hồng Phúc, Thanh Sơn), Ngày Vui Qua Mau, Bài Hát Cho Người Kỹ Nữ, Lời Đắng Cho Một Cuộc Tình, Nỗi Buồn Con Gái,Cho Vừa Lòng Em, Lời Tình Tự, Tình Buồn Trong Mưa,Trách Ai Vô Tình, Xin Chia Buồn, Trời Còn Mưa Không Anh, Rước Xuân Về Nhà,…

Thời mặc áo màu ô liu: Xin Làm Chim Rừng Núi, Một Mai Giã Từ Vũ Khí (một ca khúc chứa đựng nhiều hình ảnh của một đất nước giàu chiến tranh, ca khúc này nhà văn Song Thao rất thích, ông đã say mê hát nho nhỏ khi ngồi nghe một ca sĩ trình bày ca khúc này trong buổi sinh hoạt ngày 5-11-2006 tại Mississauga, Ontario, Canada), Xuân Này Con Sẽ Về,…

Thời hậu 1975 tại quê nhà, có ca khúc Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh. (bài ca được hát đầu tiên tại hải ngoại bởi ca sĩ Ngọc Minh, sau đó Elvis Phương thâu vào băng do trung tâm Phượng Nga tại Pháp thực hiện)

Thời tự do tại hải ngoại, Nhật Ngân viết thoải mái, gồm:

Sáng tác: Tôi Biết Tôi Sẽ Buồn, Vẫn Mơ Về Đà Nẵng, Quảng Nam Quê Ta Ơi, Tình Yêu Và Chiếc Bóng Bay,Về Đây Hỡi Em, Có Mất Gì Đâu, Hãy Hát Lên Tình Yêu, Bao Giờ Gặp Lại Em, Một Đời Tiếc Nuối, Một Đời Tìm Nhau, Một Lần Dang Dở, Ngày Mình Thôi Yêu Nhau, Sỏi Đá Buồn Tênh, Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu (Nhật Ngân cho biết viết bài này theo ý của Duy Khánh)

Phổ thơ: Hương (thơ Nguyễn Long), Kiếp Sau (thơ Trần Mộng Tú), Một Thời Đà Nẵng Dấu Yêu (thơ Luân Hoán),Con Đường Năm Xưa (thơ Lê Hân), Khản Cổ Gọi Tình Về (thơ Trần Yên Hòa), Hồi Âm (thơ Thành Tôn), Phượng (thơ Nguyễn Nam An), Thôi Cười Cho Em Vui (thơ Hạ Quốc Huy), Nỗi Nhớ Bỗng Quay Về (thơ Hồ Thành Đức), Ngày Trở Lại Hội An (thơ Hoàng Lộc), Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ (thơ Trần Trung Đạo), Chút Tình Cho Huế (thơ Phan Xuân Sinh), Xa Vắng Mẹ (thơ Thái Tú Hạp),Chia Tay (thơ Trần Mộng Tú), Hương Tình Muộn (thơ Hương Thảo), Mặt Trời Độ Lượng (thơ Nguyễn Bình Thường)…

Lời Việt cho ca khúc ngoại quốc: Về Đây Hỡi Em (nhạc Pháp), Mưa Trên Biển Vắng (nhạc Pháp), Tình Xưa Xa Rồi (nhạc Trung Hoa), Bến Thượng Hải (nhạc Trung Hoa)…

Ngoài những sáng tác riêng, Nhật Ngân còn viết chung một số ca khúc với nhạc sĩ Trần Trịnh (chồng cũ của ca sĩ Mai Lệ Huyền, hiện ở Hoa Kỳ) dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân. Bút danh này được kết nối giữa ba người bạn. Hai người là nhạc sĩ, một người là con rể ông Tám Oanh, chủ hãng dĩa Sóng Nhạc, anh Lâm Đệ (đã qua đời). Những ca khúc dưới tên Trịnh Lâm Ngân được phổ biến:

Bao Giờ Ta Gặp Lại Ta, Cảm Ơn, Chiều Qua Phà Sông Hậu, Em Vẫn Hoài Yêu Anh, Hai Trái Tim Vàng, Hạnh Phúc Nơi Nào, Hồn Trinh Nữ, Lính Xa Nhà, Lửa Mùa Hạ, Mùa Phượng Tím, Mùa Xuân Của Mẹ, Ngàn Đợi Chờ Mong, Ngày Xuân Thăm Nhau, Người Tình Và Quê Hương, Qua Cơn Mê, Rộn Ràng Niềm Vui, Thư Xuân Trên Rừng Cao, Tình Trinh Nữ, Trời Huế Vào Xuân Chưa Em, Yêu Một Mình, Xuân Này Con Không Về (ca khúc này là bài tủ của ca nhạc sĩ Duy Khánh, sống rực rỡ qua từng mùa xuân), Vòng Tay Yêu Thương, Mắt Xanh Con Gái…

Chính Nhật Ngân và Trần Trịnh đã dựng nên đôi song ca nhạc kích động Mai Lệ HuyềnHùng Cường. Tất cả những sáng tác của Nhật Ngân cũng như của Trịnh Lâm Ngân đều có số tiêu thụ cao trước 1975, tại miền nam. Nhật Ngân cho nhà báo Nguyễn Ngọc Chấn biết nhịp phát hành, phổ biến nhạc của anh vào thị trường âm nhạc Sài Gòn, trong hơi thở của Việt Nam Cộng Hòa:

“Bài bản do nhạc sĩ bỏ tiền in, rồi phân phối cho đại lý, lời ăn, lỗ chịu. Ế quá thì thâu về chất đống dòm chơi. Một bài hát vốn in 1 đồng, in nhiều, kỳ kèo có thể xuống 90 xu. Cậu rinh bán cho đại lý là 3 đồng 8 mỗi tờ, tiệm bán cho khách 5 đồng…

Những bản nhạc ăn khách có số bán cao lên đến 500, 700 ngàn, bán lai rai, bán dài dài trong vài năm. Khi phong trào nhạc ”giựt” vừa ra, bản Gặp Nhau Trên Phố, Hai Trái Tim Vàng chẳng hạn, tụi này bán 300, 400 ngàn bài trong vòng một tháng. Nhà in khắp Sài Gòn, Chợ Lớn được trưng dụng một số đủ cho khách…”

Việc làm ra tiền nhờ vào sáng tác xem ra cũng rất lý tưởng, dù bên cạnh đó không thiếu một vài bực mực vì nạn cắt xén, ăn chận, hoặc cạnh tranh. Nhật Ngân kể lại một kỷ niệm với ông Nguyễn Ngọc Chấn:

“…Lúc thịnh thời, tụi này đặt nhà in Tuyết Vân, trước mặt Sở Cứu hỏa Sài Gòn. In xong, nhận hàng đủ, chất đầy ba chiếc xích lô, đem phân phối cho đại lý. Trên đường đi, tớ nhớ bỏ quên cái hộp quẹt trên bàn quản lý. Vừa quay đầu trở lại, tụi này chưng hửng, lại thấy ba xe xích lô khác, cũng đầy nhạc của mình, cũng Ba Trái Tim Vàng, cũng Gặp Nhau Trên Phố, chở vào một ngõ hẹp nào đó…”

Nhờ âm nhạc, tên tuổi Nhật Ngân mỗi ngày một được biết đến nhiều hơn trước. Nhưng sự quan hệ giữa anh và tôi không hề phát triển. Ngoài lý do sinh hoạt trong hai bộ môn khác nhau, chúng tôi không sống cùng một địa phương. Thêm vào đó, những nhận định, đánh giá của tôi về âm nhạc thời bấy giờ, có nhiều điểm có phần hơi làm dáng, thiếu chân thực. Tuy vẫn nghe nhạc thời trang đều đều vì đang là lính chiến, nhưng vẫn không chịu chấp nhận đó là một phần tâm sự của chính mình. “Xuân Này Con Không Về” là một chuyên chở tình cảm dung dị, chân tình, nghe vô cùng cảm động, nhất là đang ở ngoài tiền đồn, nhưng tôi đã không đặt nó trong vị trí trang trọng đáng có trong sự thưởng ngoạn của mình. Trong ca khúc Việt Nam, ranh giới giữa trí thức và bình dân là điều có thực. Nhưng không phải bài ca phổ thông nào cũng không có những nét trí tuệ, vốn được lồng rất khéo vào sự bình dị như ca dao. Ngay những bài ca thời tiền chiến, thường được gọi là nhạc của những người có trình độ, vẫn không thiếu những câu “thường thường”.

Quan niệm ấu trĩ của tôi cũng như của nhiều người khác, thật sự đã có cơ hội thay đổi sau khi lưu lạc trên xứ người. Thú thật tôi đã từng ứa nước mắt khi được nghe lại những ca khúc vinh danh người lính, những ca khúc tỉ tê tâm sự của những em hậu phương, ướt sũng những giận hờn, trách móc, nhớ nhung… đậm đà tình Lan và Điệp. Tôi tìm nghe lại những giọng ca Duy Khánh, Phương Dung, Thanh Tuyền, Chế Linh, Hoàng Oanh, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Sơn Ca…trong những ca khúc mà một thời tôi nghe chỉ để nghe cho hết thì giờ. Tôi gặp lại rất nhiều lần Nhật Ngân qua những gì anh đã viết.

Ngân là một thanh niên lãng mạn rất yêu đời, dù cuộc đời như “áng mây bay khắp phương trời”.

Ngân cô đơn, bi quan trước những khám phá niềm vui qua mau cùng những hờ hững vô tình cuả tuổi trẻ.

Ngân ưu tư, thao thức về nỗi đau của dân tộc của đất nước.

Ngân ngỡ ngàng cay đắng cho đời tù tội vì chính lý tưởng của mình.

Ngân lạc lõng, hoang mang trên bước đường chạy tìm một vùng đất mới.

Nhìn chung, ở đâu, nơi nào, Nhật Ngân cũng thấy được cái tôi của anh từ cái chung của mọi người, và ngược lại. Điều này đã giúp cho hồn nhạc của anh cận kề với cuộc sống hằng ngày của mọi người. Có thể công nhận sinh hoạt của Nhật Ngân tại hải ngoại có phần thịnh vượng hơn trước 1975. Chính Nhật Ngân cho biết những yếu tố bên lề đã giúp cho những nhạc sĩ tị nạn, trong đó có anh, thành công trong sáng tác:

– Phong trào phát thanh, phát hình mỗi ngày một cải thiện, lớn mạnh.

– Việc phát hành băng dĩa vừa tối tân vừa dễ dàng, thuận tiện hơn.

– Những trung tâm thương mại âm nhạc góp tay tích cực trong việc phổ biến.

– Phong trào yêu nhạc Việt được đNy mạnh tại nhiều quốc gia.

– Thành phần ca sĩ đông vui, và có trình độ kỹ thuật vững vàng, sự cạnh tranh khắt khe tạo được trau dồi liên tục.

– Nhạc sĩ có được một đời thường thoải mái trong tự do để yên tâm cho sáng tác.

– Tên người cha đẻ của ca khúc đã thật sự được nhắc đến trong mọi chương trình trình diễn, có vẻ trang trọng và thật tình hơn từ trước rất nhiều.

Với những ưu điểm cụ thể như trên, Nhật Ngân đã ngưng làm nhiều việc để “viết nhạc full time”. Và ngoài những ca khúc rời, Nhật Ngân viết nhiều nhạc cảnh cho phổ biến qua các băng video, những buổi đại nhạc hội, cụ thể như: Nhạc truyện Tấm Cám, Đêm Vu Qui…

Từ Montréal, tôi gặp Nhật Ngân qua nhiều cuốn vidéo của các trung tâm ca nhạc lớn nhỏ. Với dáng người tầm thước, khuôn mặt rắn rỏi, nuôi hàng râu trên môi nhẹ nhàng, Nhật Ngân không đẹp trai, nhưng không thể là người thiếu dễ thương. Nét mặt điềm đạm đó luôn thu hoạch được những tình cảm thân thiện, thương mến của nhiều người khi tiếp xúc. Chúng tôi vẫn chưa hề là bạn thật sự của nhau, dù đã có vài lần liên lạc qua thư từ, điện thoại. Tôi thích nhạc của Nhật Ngân qua các ca khúc anh phổ nhạc. Bản Kiếp Sau, thơ của chị Trần Mộng Tú thật mượt mà xinh xắn như những nụ hoa, nhạc Nhật Ngân đã giúp bài thơ thêm duyên dáng, dễ thương.

Bài Hồi Âm của nhà thơ Thành Tôn chân tình, giàu hình ảnh. Nhạc sĩ Nhật Ngân đã đưa những ưu điểm của bài thơ vượt khỏi cái vần điệu bình thường của thể loại 8 chữ. Ranh giới giữa thơ và nhạc bị xóa nhòa. Âm thanh và ngôn từ trở thành một khối đồng nhất, trong một nỗi ngậm ngùi man mác đến vô cùng. Nhật Ngân, theo tôi, rất thành công trong việc dùng thơ phổ nhạc. Nếu phải chọn 10 nhạc sĩ có trình độ cao nhất về cái tài này, tôi không ngần ngại, đề cử Nhật Ngân. Sự thành công của Ngân ngoài phần có căn bản nhạc lý, còn có sự tương thông giữa những tâm hồn đồng điệu, cùng một vốn sống cần thiết cho việc sáng tác. Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng rất bén nhạy trong vấn đề nhận xét, đánh giá những thăng trầm, thành bại của bộ môn anh sinh hoạt. Đại ý vài nhận định của anh:

– Tại hải ngoại, nhạc sĩ có thể sống được với ngành âm nhạc.

– Không có sự khác biệt giữa hai môi trường sáng tác, quốc nội hay hải ngoại, nếu tác giả bắt gặp được những rung động, cảm xúc thật sự từ những tình huống, hoàn cảnh của cuộc sống.

– Mức độ sáng tác của mỗi nhạc sĩ tùy theo lòng yêu nghề, sự tha thiết với sự nghiệp mình đã chọn .

– Nên thông cảm với những khó khăn của các trung tâm thương mại âm nhạc khi phải căn cứ vào giá trị nghệ thuật ca khúc, và danh tiếng của tác giả để chọn nhạc phổ biến.

– Nhạc viết từ những nhạc sĩ trong nước đã có một số ca khúc được giới thưởng ngoạn hải ngoại đón nhận, bởi giá trị nghệ thuật đích thực của nó. Nhưng số lượng chưa được nhiều so với một đội ngũ nhạc sĩ rất hùng hậu trong nước. Và rất đáng quan ngại, số lượng những ca khúc chấp nhận được hình như chưa hề gia tăng, nếu không muốn nói đang ngừng lại.

Hy vọng những nhận định của Nhật Ngân, tôi tóm lược trên, sẽ đem đến cơ hội suy nghĩ cho những người quan tâm đến nền âm nhạc Việt Nam, không phân biệt, trong ngoài đất nước hình chữ S.

Tháng 7 năm 2006, tôi ghé quán cà phê Factory tại thành phố Westminster, California, nơi tụ họp cuối tuần của anh em sinh hoạt văn học, văn nghệ. Không khí đông vui cởi mở của những người bạn văn khiến tôi cảm động, tối trở về khách sạn, vui tay, tôi viết liền mấy câu:

“Hẹn nhau tại quán cà phê/ tay bắt mắt ngó chỉnh tề, ba hoa/ đi đâu ta cũng là ta/ bạn cũng là bạn, tà tà giống nhau

mỗi thằng thòng một nhúm râu/ thằng để thằng cạo hơn nhau điểm nào?/nhìn chung, một bọn tào lao/ viết hay nói cũng tầm phào quanh năm.

thèm đi, thèm ngủ, thèm nằm/ thèm bao nhiêu thứ…trăm năm bình thường/ hơn gì nhau chuyện yêu thương/ thua gì nhau nỗi vui buồn chung riêng.

nói nhảm vẫn ấm nét duyên/ chửi thề vớ vNn đâu phiền lòng ai/ cà phê từng ngụm lai rai/ cái ngon ở chỗ cụng vai nói cười’ (tạp chí Hợp Lưu số 91, tháng 10 và tháng 11-2006)

Bài thơ cốt để tặng một số bạn có mặt hôm đó như Bé Ký, Hồ Thành Đức, Đặng Hiền, Nguyễn Nam An, Thái Tú Hạp, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Văn Nam, Hạ Quốc Huy, Đạm Thạch, Ái Cầm, Nguyên Ngọc, Trinh, Thành Tôn, Phạm Phú Minh, Rừng, Trần Yên Hòa, Vương Trùng Dương … Ông nhạc sĩ Nhật Ngân, người tôi hy vọng gặp cho biết mặt, đang thong dong ở Việt Nam. Chẳng dễ gì trở lại quận Cam lần thứ hai, cơ hội gặp Nhật Ngân một lần coi bộ mong manh. Tôi muốn gặp để cảm ơn cái tình anh đã dành cho Quảng Nam, cho Đà Nẵng, nơi anh tự nhận đã có những gắn bó khó quên với con người, với phong thổ của quê quán tôi.

Giữa lúc phân vân có nên nhận lời rủ của Thái Tú Hạp, qua thủ đô người Việt tị nạn một lần nữa hay không, tôi được tin nhà thơ Lê Hân tổ chức buổi nhạc thính phòng cho Nhật Ngân tại thành phố Mississauga, tỉnh bang Ontario của Canada. Hân réo tôi cùng nhà văn Song Thao qua góp mặt cho vui.

Lê Hân cùng anh Đoàn Phế và nhóm bạn ở Toronto đã từng tổ chức rất thành công những sinh hoạt đại loại rất văn học như thế này. Thính phòng ấm áp, trang trọng với ánh sáng, với ghế ngồi tiện nghi, sang trọng. Âm thanh đủ tiêu chuNn cần thiết. Nhạc sĩ, ca sĩ góp sức thừa tài nghệ, chuyên nghiệp. Và nhất là thành phần khán thính giả rất có lòng, giàu trình độ thưởng ngoạn. Tôi và nhà văn Song Thao vui vẻ nhận lời. Dự tính lên đường vào ngày 03 tháng 11 năm 2006 để thong thả dự buổi sinh hoạt sẽ tiến hành vào 2 ngày sau. Ngoài hai chúng tôi, ông ký giả nổi tiếng về ca nhạc, kịch ảnh Trường Kỳ cũng ham vui, theo chân, với ý định sẽ viết phóng sự, tường thuật.

Trời Montréal đổi mùa, giờ đồng hồ được vặn lui lại một tiếng. Không mấy ảnh hưởng, nhưng chuyến đi của chúng tôi chậm thêm một ngày, vì cái nhức đầu sổ mũi của tôi chưa cho phép. Một điều rất lạ, sức khoẻ tôi khá bình thường, đang bình thường, chợt có một cơ hội đi đây, đi đó, hơi quan trọng một chút, là tôi tức thì có vấn đề. Tôi không đóng kịch, không giả bộ để thối thoát. Cái bệnh lười biếng của tôi có giới hạn thôi. Cái bệnh trở chứng ể mình luôn luôn có thật. Chính điểm này, mọi dự trù, toan tính của tôi chỉ được quyết định vào phút chót. Và như vậy, cuối cùng, dù mệt, tôi cũng phải lên xe của nhà văn Song Thao.

Với ngựa mới thay, đầy đủ tiện nghi, rộng rãi, mã lực mạnh, Song Thao, gài régulateur de vitesse 120 cây số rồi 140 cho mỗi giờ, lao đi. Chúng tôi đến nhà Hân khá sớm. Dù ông hay Phiếm chuyện đời vẫn dành năm phút, để ngả lưng lim dim trong lòng chiếc Honda Accord, chỉ mới về với anh mới mấy tháng. Đoạn đường non non 600 cây số, con ngựa bốn bánh đang chạy lần thứ ba, thật vất vả cho người và ngựa.

Vợ chồng Nhật Ngân đến Toronto trước chúng tôi một hôm. Anh chị tạm trú ở một khách sạn, gần nhà Hân. Chúng tôi gặp nhau vào khoảng 7 giờ tối. “Tay bắt, mặt mừng” tình như anh em. Dĩ nhiên tôi luôn luôn là “ông anh” vì như đã nói, tôi già hơn Nhật Ngân đến một năm tuổi. Nhật Ngân “bắt hình dong” tôi:

– “Trông ông không được khoẻ !”.

Khỏe thế nào được, khi cuống họng như có cái gì chận lại. Nước bọt trong cổ tôi thật đặc biệt. Vào những ngày “trái gió, trở trời” chúng trắng xóa như bột xà phòng, và dính đặc như một chất keo. Chúng làm tôi khó thở, may là không khò khè bao giờ. Bác sĩ phán bệnh suyễn, nhưng tôi nghĩ không chính xác. Tôi tự kê toa thuốc cho mình nhiều khi rất khả quan. Chỉ tiếc có quá nhiều loại thuốc phải có toa của bác sĩ thứ thiệt mới mua được. Trong đôi ba tháng vừa qua, có ít người quen biết với sách báo qua đời vì bệnh suyễn. Nhà văn Thanh Tâm Tuyền, con trai nhà thơ Viên Linh và hình như còn ai đó nữa. Mai mốt, một ngày xấu trời có thêm tin: Luân Hoán đã thăng hà vì bệnh suyễn cũng là điều bình thường, bạn bè chắc có thể tiên đoán trước, không ngạc nhiên.

Có lẽ thấy tôi “nhác chơi” nên ngay sau khi gặp mặt, câu chuyện giữa chúng tôi bắt đầu, đi vào nhiều thứ bệnh. Nhật Ngân khổ vì cái bao tử, khả năng ăn uống của anh đương nhiên bị hạn chế. Trường Kỳ đang ở giai đoạn ngày phải chích bốn mũi vào bụng để trị bệnh tiểu đường. Vợ Nhật Ngân là một y tá chuyên nghiệp, nên chị rất hào hứng trong việc trao đổi cách chữa trị và thuốc men. Theo kinh nghiệm, chị khuyên chúng tôi nên ăn hành lá xanh mỗi ngày, sẽ ngăn ngừa được nhiều thứ bệnh nhất là về đường tiểu.

Sau chuyện đau ốm, chúng tôi bàn đến chương trình sinh hoạt chiều hôm sau. Mọi thứ đều được Lê Hân, Đoàn Phế và nhóm ca nhạc sĩ của họ ổn định cả. Tôi nhìn thấy trong cuốn chương trình, có chỗ Nhật Ngân định mời tôi lên sân khấu để thưa chuyện với khán giả. Tôi cảm ơn anh và xin anh rút lại ý định. Tôi sẽ vô cùng xấu hổ khi phải cà nhắc lên trình diện trước đám đông. Năm 1970, thực hiện tập Nén Hương Cho Bàn Chân Trái là cái tình của bè bạn dành cho, nhưng tôi đã từng bị chỉ trích, dùng cái đau của mình để làm nổi. Sợ rồi, tôi chả dại để ai thương hại. Hơn nữa tài ăn nói của tôi đã cùn mòn từ lâu. Không mặc cảm về thanh giọng phát âm, nhưng hồ nghi mình nói có ai nghe hiểu kịp không? Tôi từ chối “xuất đầu lộ diện” là thượng sách, chứ chẳng phải khiêm nhường.

Bữa ăn tối của tất cả chúng tôi, đêm 04-11-2006, được anh chị Đoàn Phế đãi tại nhà hàng Đào Viên, Mississauga. Bạn bè thường nhận xét tôi ăn ít. Trật lất cả. Tôi ăn không ít, nếu không muốn nói tôi ăn nhiều. Tốc độ nhai nuốt của tôi, ngó qua rất từ tốn chạm chạp, nhưng thật ra nhanh nhẹn vô cùng. Thêm vào đó, trong lúc bè bạn vừa chuyện trò vừa ăn, thì tôi im lặng để nhai, để lượng chừng cái bao tử của mình còn chứa được bao nhiêu. Thức ăn ngon, nhưng tôi ăn đúng mức. Sau bữa ăn trở về nhà Hân chúng tôi lo tiếp vài việc cho ngày mai. Nhà văn Song Thao mở từng cuốn Chốn Cũ, và các cuốn Phiếm 2, Phiếm 3 ra đóng dấu sẵn. Nét son đỏ của con dấu làm tăng cái duyên cho cuốn sách rõ ràng. Người mua sách chắc sẽ hãnh diện, sung sướng. Cả đời tôi chưa sắm nổi một con dấu, nhìn bạn bè làm thì thích, mà mình muốn làm thì lười, đành tự hẹn có ngày sẽ thực hiện. Không khó lắm.

Tôi xớ rớ một chặp bên bàn có anh chị Nhật Ngân, Bắc Phong, rồi xuống phòng. Tôi có ngay một đêm thức trắng sau đó. Thiếu hơi vợ một phần, tiếng động của cái máy điều hòa độ Nm một phần, làm tôi trằn trọc. Không gác tay lên trán mà vẫn suy nghĩ , nhớ thử, mình đã phải đi “tè” nhiều lần như mấy bạn mắc bệnh tiểu đường không? Tôi vốn cực kỳ hảo ngọt, ngày nào cũng ăn bánh, kẹo, hoặc chè, thì chuyện dính tiểu đường không chừng dễ lắm. Áp huyết đã cao, đã có rồi, đang uống Novo-Triamzide, tạm ổn định. Nhưng nghe Trường Kỳ nói cái bộ ba tiểu đường, cao máu, thừa mỡ, thường đi cặp kè với nhau, đâm ớn. Suốt đoạn đường từ Montreál đến Mississauga tôi ngưng ngay việc ngậm kẹo, dù có mang theo một gói khá nhiều. Hết nghĩ về bệnh, tôi nghĩ đến những bài viết chưa thực hiện được. Những khuôn mặt, những kỷ niệm sẽ song hành cùng ngón “nhất dương chỉ” của tôi trước bàn gõ. Mọi chuyện đều tầm phào, vui chơi thôi, nhưng vẫn thấy canh cánh một bên lòng.

Trời hừng sáng, lò mò mang chân giả, tôi mau chóng hoàn tất thủ tục vệ sinh cá nhân rồi lên phòng khách. Chưa ai dậy. Tôi uống nửa ly nước trong. Một chút hồi hộp bâng quơ khi nghĩ đến buổi chiều sinh hoạt sắp tới. Bè bạn tôi có những ai đang sống tại hai thành phố Toronto, Mississauga sẽ vui chân tới dự ? Ở đây có nhóm cựu học sinh Phan Châu Trinh, có thể tìm thấy một vài người đã quen ? Thời gian ngồi chờ Song Thao, Trường Kỳ, Lê Hân thức dậy khá lâu, tôi lục chồng báo cũ, đọc những quảng cáo, nhìn một số ảnh chụp, qua đi mấy giờ.

Anh Nguyễn Anh Lễ của tuần báo Thời Báo mời Song Thao, Trường Kỳ đi ăn phở ở Rùa Vàng. Kỳ và Thao là hai cây bút thường trực của báo này. Tôi ngại ngùng chút đỉnh, nhưng không lẽ ngồi nhà một mình, đành lặng lẽ đi theo ăn ké.

Cũng như buổi nhạc thính phòng của Từ Công Phụng trước đây, thính đường Noel Ryan đông đầy khách mời. Chương trình khá dài. Phần trình làng tập truyện Chốn Cũ của Song Thao và cuốn Dựa Hơi Bè Bạn, hồi ký rời của tôi, trôi qua gọn nhẹ, nhờ tài ăn nói có duyên và lưu loát của anh nhà văn gốc Hà Nội Song Thao. Tôi chỉ có việc làm duy nhất là ngồi nghe và vỗ tay.

Phần nhạc của Nhật Ngân dĩ nhiên sôi động, thu hút hơn. Tôi không viết lời dẫn nhập cho nhạc Nhật Ngân, như đã làm cho Từ Công Phụng, vì sợ người nghe nhàm chán. Tôi đề nghị Nhật Ngân trực tiếp hướng dẫn chương trình để có cơ hội nêu lên “lý lịch” của từng ca khúc anh viết, người nghe sẽ thú vị hơn. Nhật Ngân đã làm điều này rất tốt.

Tình khúc Tôi Đưa Em Sang Sông với giọng nam ca sĩ Quốc Thắng đã mở đầu rất hợp lý cho chương trình ca nhạc. Dáng người dong dỏng cao, chững chạc và phơi phới thanh xuân cùng chất giọng trầm ấm, Quốc Thắng đang bước những bước vững vàng trong sự nghiệp ca hát. Tiếp theo là giọng nữ Lâm Quỳnh Như trong ca khúc Tình Yêu Và Chiếc Bóng Bay. Lâm Quỳnh Như là một giọng ca vừa đoạt hạng ba giải Ca Sĩ Tượng Vàng của Cơ sở Văn hóa Đông Phương tại Hoa Kỳ. Tiết tấu bài hát nhí nhảnh như người trình bày. Niềm vui đi liền với nỗi buồn. Từ một hình ảnh rất thơ ngây trong sáng, Nhật Ngân liên tưởng đến những phôi pha của cuộc tình, cuộc đời, và anh nghiệm ra “ …tình một ngày tình cũng trăm năm, tình một đời tình vẫn xa xăm…” Giọng Lâm Quỳnh Như rất thích hợp với ca khúc này. Lần lượt các giọng hát chuyên nghiệp tại Toronto đến với khán thính giả.

Tôi thấy một Hoàng Lan xinh đẹp, rất đài các trong y phục màu sậm quí phái. Nụ “Hoa Vàng Mấy Độ” vẫn giữ thói quen tĩnh tọa trong lúc hát. Cái kính mát gài hờ trên mái tóc phảng phất nét Ngọc Minh (ca sĩ). Chiếc nhẫn trên ngón trỏ của bàn tay cầm micro không nói lên sự ràng buộc. Hoàng Lan se sẽ khép mi nhiều lần để diễn đạt tâm sự. Ca từ của Nhật Ngân mềm mại, đơn giản… “Tình như bóng mây, ngàn năm mây bay, mây ơi mây hỡi cánh mây giang hồ. Ngày tháng lênh đênh, bờ bến nơi đâu, biết cho tình em vẫn luôn chờ mong..” Những nhớ nhung quấn quít cùng những hồi tưởng, truy niệm về một cuộc tình tưởng đã xa mà vẫn chưa khuất. Có lẽ Hoàng Lan đã thay Nhật Ngân nói hộ cho nhiều người, những người từng có những cuộc tình đẹp không trọn vẹn.

Tôi thấy bên trái dãy ghế tôi đang ngồi có một thiếu nữ, đương nhiên là xinh đẹp. Cô mặc một chiếc áo xường xám uyển chuyển của người Trung Hoa. Nhờ dáng người thanh cảnh, mượt mà, cái áo tỏa ra sức lôi cuốn lạ thường. Người mặc quả khéo chọn một chiếc áo có màu sắc điều hòa, nghệ thuật. Vừa có cái lộng lẫy của màu đỏ, vừa có cái thâm trầm, sâu lắng của màu đen. Bên cạnh đó những vụn vàng nhạt, nâu, trắng, hồng phấn của những hoa văn làm tăng phần lãng mạn. Tôi có thể đã vụng tay với những nét vừa minh họa, vì thú thật, tôi không thể vô phép quan sát một cách tỉ mỉ. Hơn nữa mái tóc của người thiếu nữ, mới là nguyên nhân chính giữ lại ánh mắt tình cờ của tôi. Mái tóc rất giống Lê Thị Quỳnh Như, một tiểu thư tôi từng nghiêng chào:

“Chào em, Lê Thị Quỳnh Như/ xin đừng nghiêng nón, nắng thu rất hiền/ con đường này đã dành riêng/ cho người con gái có duyên như là/ cô hoa khôi của Tam Tòa/ thong dong dạo bước trong ta mỗi ngày/ ngón chân như những sợi mây/ lòng ta ngậm vóc tình đầy tiểu thư/ thưa em, Lê Thị Quỳnh Như/ em thơm như ngọn thơ từ Nguyễn Du” (Trôi Sông – LH)

Tôi đoán thầm cô gái là một ca sĩ, chắc sẽ lên sân khấu, và tôi chờ, và tôi không thất vọng. Cô là ca sĩ thật. Ca sĩ My My. My My không hát một mình, cô song ca cùng nam ca sĩ Duy Hùng. Cả hai cải trang đúng như cặp tình nhân trong phim Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải của Hồng Kông. Duy Hùng là giọng ca lỗi lạc của Toronto. Sự điêu luyện trong lối trình diễn của Duy Hùng, My My đã gây thích thú cho khán giả. Nhạc phim bộ Hồng Kông một thời tôi từng chú ý, nhưng rất bất ngờ lời Việt của ca khúc này của Nhật Ngân. Anh thật có tài, tôi nghĩ vậy, dù không rõ anh dịch từ nguyên bản hay dựa theo cốt truyện và vịn vào nốt nhạc để viết lời ?

Trong thính đường ấm áp cùng những trái tim kính cNn lắng nghe. Âm nhạc chợt trở nên rất thiêng liêng, ngọt ngào, tôi được gặp thêm những Điền Nguyên, Thảo Hương, Thanh Hằng, Minh Luân, Xuân Mai, Nguyên Hải, Hoàng Dũng, Nhật Lâm, Trần Thái Hà…Mỗi người mỗi vẻ, mỗi chất giọng riêng. Tôi muốn ba hoa vẽ vời từng giọng hát, nhân đó đi nhẹ vào nội dung từng ca khúc của Nhật Ngân. Nhưng tôi chưa thực hiện được. Hẹn vậy.

Trong chương trình, Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng hát một bài anh phổ thơ. Đặc biệt bài thơ lại là của tôi. Nội dung bài thơ nói về những tình yêu vu vơ một thời. Người nghe có thể nghi không thật. Nhưng sự thật đến chín mươi phần trăm. Giọng ca Nhật Ngân không thể so sánh với Vũ Khanh, Tuấn Ngọc…nhưng tôi rất khoái, rất quí, vì được nghe chính tác giả trình bày.

Tất cả các giọng hát đều được bàn tay đệm đàn nhà nghề của anh Phạm Xuân Khôi, con trai nhạc sĩ Xuân Tiên, và anh Nguyễn Hữu Tuệ trải âm thanh đi kèm, giúp cho buổi trình diễn thành công trọn vẹn. Chương trình được khép với với một bất ngờ, khi Nhật Ngân, không giống Song Thao khoe sách, mà anh khoe giọng hát của vợ anh. Không khí thân mật càng trở nên ấm áp thân tình.

Tôi gặp Nhật Ngân chỉ ngắn ngủi trong một sinh hoạt đơn thuần vì nghệ thuật như vậy, nhưng tôi vẫn lượm được những kỷ niệm đẹp. Tôi xin giữ riêng. Mấy chục năm trước, Nhật Ngân đã Đưa Em Sang Sông, giờ đến phiên tôi. Loay hoay tìm dòng sông, tìm con đò mới chợt nhớ ra “cô em tưởng tượng” của tôi đã sang sông lâu rồi. Thi sĩ Lưu Trọng Lư đã viết:

“…Nhìn nhau buồn vời vợi…
Có nói cũng không cùng
…nhìn nhau mà lệ ứa một ngày một cách xa…”
(Mùa Đông – Lưu Trọng Lư)

Tôi làm sao dám viết gì hơn ? Nhật Ngân đưa em sang sông, Tôi đưa tôi sang một dòng tình.

(Luân Hoán – Tháng 11.2006)

oOo

Hồn Trinh Nữ – NSƯT Hồng Vân, ca sĩ Thanh Thúy:

 

Hồn Trinh Nữ – Ca sĩ Hương Lan:

 

Hồn Trinh Nữ – Ca sĩ Như Quỳnh:

 

Hồn Trinh Nữ – Ca sĩ Dạ Hương:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s