Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ” – Song Hồ & Nguyễn Hiền

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ” của Thi sĩ Song HồNhạc sĩ Nguyễn Hiền.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền sinh năm 1927 tại Hà Nội. Bắt đầu học nhạc từ năm 1935, ông đã học và sử dụng dương cầm, vĩ cầm, phong cầm. Năm 18 tuổi, ông phổ nhạc cho bài thơ “Người Em Nhỏ” của Thiệu Giang, một người bạn của ông. Năm 1950, ông là nhạc trưởng của ban nhạc “Hotel de Paris” tại Hà Nội.

Ông lập gia đình năm 1953 rồi vào miền Nam Việt Nam một năm sau đó, làm việc tại các Bộ Thông Tin, Chiêu Hồi và Xây Dựng Nông Thôn. Ông từng làm Chủ Sự Phòng Chương Trình Đài Phát Thanh Sài Gòn; Phụ tá giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam.

Ba năm sau biến cố tháng Tư năm 1975, năm 1978, ông bị quy tội dính líu đến tổ chức phục quốc và bị giam đến năm 1980.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền năm ông 35 tuổi (nguồn vietbao.vn).
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền năm ông 35 tuổi (nguồn vietbao.vn).

Năm 1988, ông và gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện ODP. Ông cùng cố nhạc sĩ Ngọc Bích và một số người bạn lập ra ban “Saigon Band” ở Little Saigon, Westminster, California, Hoa Kỳ.

Năm 2004 ông được Trung tâm Thúy Nga mời đến Toronto, Canada để thực hiện Đại nhạc hội Paris By Night 74 với chủ đề “Hoa Bướm Ngày Xưa” nhằm vinh danh ông cùng với hai nhạc sĩ khác là Huỳnh Anh và Song Ngọc.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền qua đời vào hồi 10 giờ 15 phút sáng ngày 23 tháng 12 năm 2005 (giờ California, Hoa Kỳ) vì bệnh ung thư phổi.

Thi sĩ Song Hồ.
Thi sĩ Song Hồ.

Thi phẩm “Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ” (Thi sĩ Song Hồ)

Xin thời gian đừng phai lạt thơ ngây
Xin mùa thu đừng héo hắt tim này
Xin mùa đông đừng cỗi cằn tuổi trẻ
Xin mùa hè đừng thiêu đốt niềm tin

Để chúng tôi dâng cuộc đời cho mùa xuân
Để mùa xuân vào cuộc đời vĩnh viễn
Anh của em, em của anh, sông của biển
Của chúng ta của rừng núi của trời mây

Như bướm hoa trên trái đất hôm nay
Hai người được yêu nhau trọn vẹn
Hai người được trao hết những yêu thương
Chúng tôi đang ngồi dưới gió mát trăng sao

Chúng tôi đang ngồi trước cỏ cây hoa lá
Chim muông ơi hãy về tấu những lời ca
Anh đã hôn em lên tay lên má
Và môi em ngọt lịm trên môi anh

Chúng tôi đang ôm chặt lấy ngày xanh
Chúng tôi đang ôm ghì lấy tình ái
Để tình yêu và tuổi trẻ mãi mãi
Cuộc đời xoá hết những thương đau

Thế kỷ hai mươi đau khổ quá nhiều
Tình yêu ! Tình yêu ! Vô cùng cần thiết.

songho_ĐB

Thi khúc “Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ” (Nhạc sĩ Nguyễn Hiền)

Xin thời gian đừng phai lạt thơ ngây
Xin mùa thu đừng héo hắt tim này
Xin mùa đông đừng khô cằn tuổi trẻ
Xin mùa hè đừng thiêu đốt niềm tin

Xin thời gian một cơn ngủ mê say
Cho mùa xuân lịm trong giấc mơ dài
Ta của nhau tựa sông ngòi của biển
Của chúng ta rừng núi của trời mây

Để hai người được trao hết những thương yêu
Chúng tôi đang ngồi dưới ánh trăng sao
Chúng tôi đang ngồi giữa miền cỏ hoa
Chim muông ơi! Hãy về tấu những lời ca

Xin thời gian ngừng đây đừng trôi mau
Xin mùa thu đừng vương ánh trăng sầu
Xin mùa đông đừng mưa buồn lạnh giá
Xin mùa hè đừng u uất niềm đau

Cho tình yêu trọn kiếp người bên nhau
Như mùa xuân đẹp hoa nắng muôn màu
Cho ngày mai còn như tình vừa chớm
Dệt khúc ca tình ái gởi ngàn sau

Cho tình yêu trọn kiếp người bên nhau
Cho cuộc đời từ nay hết thương đau

Dưới đây mình có các bài:

– Để tưởng nhớ nhà thơ Song Hồ
– Mấy Lời Về Tác Giả Song Hồ
– Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, một dung hợp điển hình giữa tài năng và nhân cách

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ” do hai ca sĩ lừng danh Lệ Thu và Hoàng Oanh diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhà văn Nhật Tiến.
Nhà văn Nhật Tiến.

Để tưởng nhớ nhà thơ Song Hồ

(Nhật Tiến – Cali tháng 6/2009)

Cái thời ấy, chẳng phải giầu sang phú quý hay đời sống thanh bình yên ấm gì, nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một thời vàng son của một đám bè bạn hãy còn cắp sách đến trường. Họ là những học trò chẳng ngoan gì mấy của Chu văn An, Nguyễn Trãi, của Khai Minh, Minh Tân, Văn Hóa ..v…v…những trường trung học công, tư nổi tiếng của Hà Nội vào giữa thế kỷ trước.

Cái đám bạn bè ấy, ngoài những hương vị sảng khoái đầu đời của lứa tuổi đang sắp sửa bước vào ngưỡng cửa của sự thành niên, lại còn đam mê chuyện cầm bút mà trong đầu đứa nào cũng đều ôm mộng trở thành một văn sĩ, hoặc thi sĩ và ngay cả một kịch tác gia. Vì thế mới gọi là một thời vàng son chữ nghĩa. Thời của Hà Nội những năm 1950- 1954….mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã diễn tả trong bài Hướng Về Hà Nội:

…Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi,
Thanh bình tiếng guốc reo vui…

Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua,
Mái trường phượng vĩ dâng hoa
Dáng chiều rủ bóng tiên nga.
Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê,
Cứ tin ngày ấy anh về…

Vào cái “thời điểm Hà Nội” ấy, lũ chúng tôi còn đang là độc giả trung thành của những cây bút nổi danh đương thời như Ngọc Giao với Quán Gió, Xã Bèo, Nhị Lang với Bèo Giạt, Hà Bỉnh Trung với Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình , Nguyễn Minh Lang với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, Hoàng Công Khanh với Trại Tân Bồi và nhất là Hồ Hữu Tường với Phi Lạc Sang Tầu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Phi Lạc Bỡn Nga..v.v… Đọc để rồi khen tấm tắc hay bình phẩm này nọ…

Vậy mà trong đám độc giả học trò ấy cũng đã nhiều đứa có tác phẩm được đăng báo đấy. Hai nhân sự được liệt vào hàng lỗi lạc nhất của đám chúng tôi, phải kể đến Vũ Khắc Mai Anh, bút hiệu Vũ Mai Anh và Nguyễn Đức Cầu bút hiệu Hùng Phong. Vũ Mai Anh hồi đó ở phố hàng Đồng, đang học lớp Đệ Ngũ trường Chu văn An, tức lớp 8 bây giờ. Vậy mà trong cặp-táp của hắn chứa đầy nhóc bản thảo. Số trang bản thảo có lẽ phải dầy hơn gấp bội những trang vở ghi chép bài học. Một cuốn đã viết xong và đang được nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ chuẩn bị cho ra mắt độc giả là cuốn tiểu thuyết dài mang tên Phũ Phàng, còn một cuốn nữa có tên Duyên Kiếp thì đang được Vũ Mai Anh viết dở dang trên những trang lớn (loại khổ giấy hồi đó bán theo tệp), chữ nhỏ li ti và đang được đăng từng kỳ trên tuần báo Hồ Gươm do bác sĩ Bùi Cẩm Chương làm chủ nhiệm.

Còn anh chàng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu thì ở phố hàng Than, lúc đó cũng đang là một học sinh lớp Đệ Lục. Vậy mà hắn đã có cả một thiên phóng sự dài đăng từng kỳ trên nhật báo Liên Hiệp do ông Soubrier Văn Tuyên làm chủ nhiệm thì mới “thánh” chứ ! Thiên phóng sự mang tên “Con Cò Mày Đi Ăn Đêm” mô tả những hoạt động phiêu lưu và sôi nổi của những con người hoạt động trong những đường dây buôn lậu từ nội thành ra vùng Việt Minh kiểm soát hồI đó gọi là hậu phương hay vùng kháng chiến.

Thực tình cho đến nay tôi cũng vẫn chưa hiểu tại sao và bằng cách nào mà cậu nhỏ Hùng Phong lại có nhiều tài liệu lạ lùng và hay ho đến thế. Còn kỹ thuật viết thì khỏi nói, chính tôi đã trông thấy những trang bản thảo của hắn với thứ chữ viết loằng ngoằng phóng túng, khi in ra rất được độc giả say mê theo dõi từng kỳ báo.

Nhờ thiên phóng sự này mà Hùng Phong đã lẫm liệt bước vào hàng ngũ những ký giả phóng sự điều tra thứ thiệt. Khi hắn xòe ra cho tụi tôi coi cái cạc vi-dít in hàng chữ “Hùng Phong- Journalist” thì chúng tôi không có ai dám thắc mắc gì. Tất cả chỉ tròn xoe mắt ra nhìn một cách thán phục. Nếu cần phải nói thêm vài kỷ niệm về cái anh chàng người nhỏ thó nhưng dáng dấp nhanh nhẹn, vầng trán rất cao nom như sắp hói này thì tôi phải nói rằng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu chơi đàn Banjo Alto rất giỏi.

Hồi còn học chung với nhau ở lớp Nhất trường Hàng Vôi (sau đổi là Nguyễn Du do thầy giáo Quỳnh giảng dạy), cái tên Hùng Phong chưa xuất hiện. Cầu hay lui tới nhà tôi ở phố hàng Kèn bằng một cái xe đạp đầm hiệu Pegeot rất cũ kỹ mà tay lái (guidon) đã cụt mất hẳn một bên. Tôi chẳng hiểu Cầu xoay sở lái cái xe ấy cách nào nhưng hắn đã xài nó liên tiếp hết năm này qua năm khác để đi học, đi rong chơi tung tẩy khắp phố phường và thường mang theo cây đàn Banjo tới ngồi ở cửa sổ nhà tôi để gẩy lên nhiều bản nhạc nghe giòn giã mê người.

Ngoài hai nhân sự rất nổi kể trên, đám học trò sính văn nghệ chúng tôi còn nhiều tên tuổi khác, có thể kể Hiệp Nhân học sinh lớp đệ Tam (tức lớp 10 bây giờ) tự xoay tiền in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc được giáo sư quốc văn Nguyễn Uyển Diễm đem đi giới thiệu ở tất cả các trường, lớp nơi ông giảng dạy; rồi Lê Ninh đang mài đũng quần nơi nhà trường cũng hợp tác với bạn bè ra giai phẩm Lửa Lựu gây sôi nổi trong giới học sinh trung học Hà Nội thời bấy giờ.

Qua lớp tuổi già dặn hơn một chút, tức khoảng trên dưới 20, thời đó cũng có nhiều cây bút góp phần làm cho sinh hoạt văn chương thêm rầm rộ, như Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; đặc biệt Nguyễn Nam Tê, một nhà thơ độc đáo vừa làm nghề đạp xích lô, vừa sáng tác thơ để in tập Tin Về Đất Bắc.

Bên cạnh đó là một loạt những ngòi bút trẻ chưa tới tuổi 20 như Song Hồ, Huy Sơn, Dương Vy Long, Kiều Liên Sơn, Giang Quân, Hồ My, Tạ Vũ ..v.v… Họ đều rải rác có văn, thơ in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Cải Tạo, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp, Chánh Đạo….ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại ở Sài Gòn.

Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hồi cư về sinh sống ở Hà Nội vào khoảng 1952. Hình như trước đó, năm 1949, tuy mới 16, 17 chưa tới tuổi thành niên nhưng anh đã là một chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Lăn lộn qua nhiều chiến trường, lòng “anh chiến sĩ” không nguôi nhớ về Hà Nội. Chẳng hiểu chàng nhớ tới ai mà ngay giữa rừng thông Thái Nguyên, vùng núi rừng Việt Bắc, Song Hồ đã viết bài thơ đầu tiên mang tên “Thư Gửi Người Em Hà Nội” trong có những câu:

Anh viết lá thư về Hà Nội
Giữa lúc bóng chiều
Ngả mầu sắc tối
Lòng người chiến sĩ căm căm
Đã bao tháng năm ?
Chưa bức thư nào
Về thăm người em gái nhỏ
Không biết anh đi từ độ nọ
Người em còn nhớ tới không?
Hay ở nơi đây
Ánh sáng Kinh Thành
Em cười trên tay kẻ khác
Nhưng anh vẫn tin
Tình em còn mộc mạc
Như tình anh
Mối tình giữa buổi chiến tranh…
(Song Hồ – 1949)

Sau này, khi trở về Hà Nội, Song Hồ tiếp tục đi học lại (trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham) và tiếp tục làm thơ. Thơ của anh khi đó không còn vấn vương tình ái nữa mà mang nặng tính cảm hoài về thời cuộc, thế sự:

Đây Hà Nội trời mưa tuôn rả rích
Bê bết bùn lầy nước đọng nhớp nhơ
Đèn nê-ông tỏa ánh điện xanh lơ
Nhạc cuồng loạn, gót giầy lay lắc ván
Một rồi hai, trăm ngàn rồi đến vạn
Đèn nhạt đèn xanh đèn tím đèn vàng
Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang
Mầu biến đổi là lòng người biến đổI
Hiện dần trong bóng tối
Có người con gái miền quê
Khăn yếm bỏ đi rồi
Làn tóc loăn xoăn
Đỏ mọng đôi môi
Chiều thứ bẩy
Giầy đinh vang hè phố…
(Song Hồ – 1953)

Nói đúng ra, lứa tuổi thanh thiếu niên thuộc thế hệ chúng tôi không chỉ có toàn những thứ tình cảm lãng mạn. Đất nước vào thời kỳ đó vẫn còn đang chìm đắm trong chiến tranh, tuy sự tàn phá của nó so ra không bằng một góc của cuộc chiến Quốc Cộng Nam Bắc vừa qua. Súng nổ ở đâu không thấy chứ ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội thì đời sống vẫn mang vẻ thanh bình, nhộn nhịp. Chẳng thế mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã ca ngợi Hà Nội với những lời như đã dẫn:

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi,
Thanh bình tiếng guốc reo vui

Nhưng huy chương nào thì cũng có bề trái của nó. Hà Nội mộng mơ, Hà Nội, thanh bình, Hà Nội đẹp xinh …thường chỉ qua nhãn quan của tầng lớp trung lưu. Nếu nhìn sâu xuống đáy xã hội thì vẫn có những hoàn cảnh sống lầm than, những cuộc đời bị đối xử bất công, bị chìm đắm trong sự cùng quẫn nghèo khó. Là những con người yêu văn thơ, khuynh hướng sáng tác của những người làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ đó không hề có tính vô cảm. Cho nên ngoài sự ca ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, sáng tác của họ cũng đã mang nhiều dấu tích xã hội. Nhẹ nhàng mang tính chất học trò nghèo khó thì có những câu thơ của Tạ Vũ viết năm 1952:

Bạn ơi
Trên trang giấy trắng,
Dòng mực chảy đều
Tai nóng bừng vì bài toán không ra
Có nhớ đến tôi
Bỏ trường – không học phí
Duyên thế hệ thôi từ nay cách biệt !

Tạ Vũ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì, có lúc lại vào ngụ cư ở khu nuôi trẻ không nhà trong ngôi chùa Tầu gần phố Sinh Từ Hà Nội. Anh đã chen chúc với đám mồ côi cùng lứa tuổi để viết những dòng thơ như sau:

Ánh đèn không soi mái phố
Linh hồn dắt díu về đây
Chăn đâu cho đầy giấc ngủ !
Nôn nao cơm lưng dạ dầy !

Thao thức nằm nhìn bóng tối
Nghẹn ngào khóc dưới cửa ô
đêm mơ thấy đời đổi mới
Sáng ra buồn hơn bao giờ…

Năm 1954, Tạ Vũ không di cư vào Nam. Hơn năm mươi năm trời không gặp lại, nhưng tôi được biết sau này Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ, và anh đã có thời nổi tiếng ở miền Bắc là một thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.

Tưởng cũng nên nhắc thêm vài bài thơ của những ngòi bút, tuổi trên dưới 20 của Hà Nội hồi đầu thập niên 50 thế kỷ trước. Già dặn, sâu sắc thì có Song Nhất Nữ, bút hiệu của Đặng Bá Ngư, một chàng trai chính hiệu, người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định lên Hà Nội học, với bài Cửa Ô đã được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy:

Cửa Ô
(Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)

Mầu sắc u huyền,
Đất trời nghiêng ngửa,
Đô thành bừng lửa.
Ngoại ô này lành lạnh sống trong đêm…

Ánh đèn le lói
Chìm đắm triền miên
Nơi đây son phấn,
Nơi đây kim tiền,
Nơi đây trụy lạc,
Nơi đây nghèo hèn
Đêm về những giấc mơ điên
Đêm về ngùn ngụt túi phiền lầm than
Đêm về vàng bệch đèn tàn
Đêm về điên loạn cung đàn xót xa
Cửa Ô xa…
Có nhiều bóng ma…
Đi trong bê tha…
Đi trong xênh phách
Đi trong đói rách
Đi trong lệ nhòa
Thất thểu… la cà…
Bóng ma… bóng ma…

Đâu đây vàng ngọc lụa là,
Cửa ô… ngõ hẻm… a ha ! Cuộc đời!
(Song Nhất Nữ – Thi tập Ươm Đẹp – 1953)

Nhà thơ trẻ Nguyễn Quốc Trinh, đồng tác giả tập thơ Ươm Đẹp ngoài những vần thơ trữ tình:

Hoa bừng dưới gót em qua
Tôi cười dưới gót em xa
Bát ngát Thơ ngân tiếng guốc
Đường hương mở đón chân ngà

Chàng trai ấy cũng có khuynh hướng xã hội như bài thơ Dễ Hiểu sau đây dù sáng tác ở Hà Nội vào năm 1953 nhưng lạ thay, đã như những lời thơ tiên tri vẽ cảnh tầng đáy của Hà Nội ở thời điểm hơn 50 năm sau, bây giờ:

Dễ Hiểu

Vì mãi gò lưng kéo
Cày cho kẻ khác no
Chiều về nhai cỏ héo
Chuồng hẹp nằm co ro

Vì sống như trâu bò
Kiếp này sang kiếp khác
Cha già cha phát ho
Mẹ già xương xộc xạc

Vì đời buồn xơ xác
U ám như đêm nghèo
Mồ hôi chua áo rách
Muối mặn quả cà meo

Hoa đẹp nở vườn nào
Thơ bầy trong tủ kính
Con choắt vợ xanh xao
Ngựa xe người đủng đỉnh

Vì tôi muốn anh muốn
Vì chúng ta cùng muốn
Đêm già: xô ngã xiên !
Ngày non: cười thẳng dướn !
(NGUYỄN QUỐC TRINH – Thi tập Ươm Đẹp-1953)

Một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng trong giới bạn bè non trẻ chúng tôi là Nguyễn Thị Hồ My (sau đổi thành Hồ My). Đó chẳng phải là một “nhà thơ nữ” mỹ miều nào mà chỉ là bút hiệu của một chàng thư sinh cũng đang mài đũng quần ở bậc trung học. Cái sự tuy là nam nhi mà lại ưa lấy bút hiệu phái nữ hình như là một cái mốt của đám sáng tác trẻ trung ở thời kỳ đó, như Song Nhất Nữ tức Đặng Bá Ngư kể trên hay Nguyễn Thị Yếm Thắm là bút hiệu của Nguyễn Yên Tri, một anh chàng học trò cùng lớp, cùng trường với tôi từ khi còn ở bậc tiểu học.

Xin nhắc lại một bài thơ của Hồ My sáng tác năm 1953:

Đi Đêm (Viết tặng người lầm than)

Bên mái hàng hiên
Một bóng người thấp thoáng đi đêm
Gót mòn xiết tiếng rên rên,
Như khóc cuộc đời tăm tối.
Đêm nay dưới ánh đèn le lói
Bóng mẹ già, vợ dại, con thơ,
Đang bơ vơ
Đang thao thức
Đang rạo rực
Đang mong chờ
Nóng lòng mong kẻ bên bờ đường khuya.

Tiếng guốc kéo lê thê
lóc cóc
lách cách
Như nửa tỉnh nửa mê
Đau thương lên bước bên hè
Đêm dài, pÏhố vắng, đường khuya một mình

Bên hiên cố ý hay vô tình
Guốc lê mãi gieo buồn người mất ngủ
Mẹ già, con nhỏ.
Vợ dại ai nuôi !
Lang thang giữa lúc tối trời
Lệ trào mặn chát trên môi !
Vang hè phố vắng
Tiếng bước vọng xa xôi
Chập chờn chiếc bóng chơi vơi
Hỡi ôi ! Thương lấy kiếp người đi đêm.
(HỒ MY – Ngoại Ô Hà Nội 20/10/53 – Báo Tia Sáng, tháng 10/1953)

Rồi hiệp định Genève năm 1954 đã khiến đám cầm bút trẻ Hà Nội chúng tôi trở thành tan tác vì nhiều người ở lại mà cũng lắm kẻ vô Nam. Sau này chúng tôi không được tin tức gì của những Hồ My, Giang Quân, Yên Tri, Kiều Liên Sơn…ngoại trừ Tạ Vũ tiếp tục làm thơ, khá nổi tiếng dưới chế độ mới và làm nghề khuân vác gạch vữa trong nghề xây cất.

Đám di cư vào Sài Gòn thường hay tụ tập ở những túp lều cất trên nền cũ của khám lớn Sài Gòn thời Pháp thuộc, sau trở thành khuôn viên của Đại Học Văn Khoa rồi thành Thư Viện trung ương của thủ đô Sài Gòn do công trình của cụ Mai Thọ Truyền, người nắm chức vụ cao trong ngành Văn Hóa.

Nguyễn đình Toàn khi mới bước chân vào Nam đã soạn bản nhạc đầu tiên cũng như Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà nội. Bản nhạc này không có tên và tuy không xuất bản, nhưng cả bọn chúng tôi đều hay nghêu ngao hát những khi rảnh rỗi. Tôi còn nhớ những lời nghe như thơ như sau:

Mây trắng bay về từ miền xa xôi
Lòng dâng thương nhớ biết giờ nào nguôi
Ai về Bến Hải dòng máu ngăn đôi
Hận thù chìm dưới oán hờn người ơi…

Tuy nhiên sở trường của Nguyễn đình Toàn là làm thơ và viết tiểu thuyết. Tác phẩm thơ của anh là cuốn Mật Đắng do nhà Huyền Trân in năm 1962, còn tiểu thuyết đầu tay là cuốn Chị Em Hải do cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do của giáo sư Phạm Việt Tuyền, Tổng thư ký Trung tâm Văn Bút hồi đó, ấn hành. Sau này, Toàn in thêm những cuốn như Giờ Ra chơi, Áo Mơ Phai. Cuốn Áo Mơ Phai đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1974 ở Sài Gòn. Rồi anh trở thành người sáng lập chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Quốc Gia tức Đài Tiếng Nói Nước VN, do chính anh viết và đọc lời dẫn giải. Mục Nhạc Chủ Đề này đã làm say mê thính giả trong suốt một thời gian dài.

Đã có một thời, Song Hồ, Nguyễn đình Toàn và chúng tôi (Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh) ở chung với nhau trong một căn nhà lụp xụp ở Xóm Gà gần ngã ba Bình Hòa bên Gia Định. Rồi bỗng nhiên Song Hồ biến mất. Hóa ra anh được đại tá Hồ Hán Sơn đón lên Tây Ninh gặp trung tướng Nguyễn Thành Phương và yết kiến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ở đây, anh nhận chức cố vấn văn nghệ, báo chí và đảm trách tờ tuần báo Quyết Thắng cùng đài phát thanh Long Hoa của đạo Cao Đài.

Khi thủ tướng Ngô Đình Diệm tiến hành chủ trương thống nhất quyền lực, Song Hồ bỏ Tây Ninh về Sài Gòn rồi làm việc tại Văn Hóa Vụ do Kiến trúc sư Võ Đức Diên sáng lập. Cuối năm 1958, Song Hồ cùng Dương Vy Long được cử qua Cao Miên làm công tác văn hóa cho tòa đại sứ VNCH, tại đây hai người lo chấn chỉnh lại tờ Hồn Việt vốn là một nhật báo dành cho Việt kiều ở Nam Vang, trong đó Song Hồ giữ vai trò chủ bút. Tuy nhiên, công việc này không lâu bền. Một năm sau, cả hai trở lại Sài Gòn. Song Hồ đi dạy học và tiếp tục làm thơ. Dương Vy Long nhập ngũ rồi sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tác phẩm đầu tay của Song Hồ là cuốn Hai Cánh Hoa Tim do nhà Huyền Trân xuất bản năm 1960 và sau đó là cuốn Thơ Song Hồ do nhà Khai Trí ấn hành năm 1964. Anh còn 2 tác phẩm khác đã soạn xong trước năm 1975, một cuốn tên là Việt Nam Mãi Mãi, một tuyển tập Ca Dao, Thơ và Hình ảnh của 3 miền đất nước do anh sưu khảo, tuyển lựa có sự đóng góp của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm về phần hình ảnh. Sách dầy 1,400 trang đã được nhà Khai Trí chuẩn bị cho in thì biến cố 1975 làm việc in không thành và bản thảo bị thất lạc.

Cuốn thứ hai là một tập thơ mang tên Đám Cháy Trên Địa Cầu bao gồm 1,600 câu thơ nói về cuộc chiến ở Việt Nam. Tác phẩm này không được phép in năm 1973 và khi CS tiến chiếm Sài Gòn, bản thảo cũng bị thiêu hủy chung với số phận của nhiều tác phẩm khác của miền Nam. Trong thời gian kẹt lại ở Sài Gòn, sống dưới chế độ mới, Song Hồ vẫn âm thầm tiếp tục làm thơ. Như bài “Hỡi Em Nhỏ Cô Đơn” sau đây, do anh sáng tác năm 1981, in trong tác phẩm Đá và Hoa, ấn hành năm 1992:

HỠI EM NHỎ CÔ ĐƠN

Hỡi em nhỏ cô đơn!
Đang lang thang ngoài phố.
Em ơi đi đâu đó?
Cho ta hỏi đôi lời:
– Cha đâu? – Bị cải tạo !
– Mẹ đâu? – Buôn chợ trờI !
– Anh đâu? – Ở Cam Bốt !
– Chị đâu? – Vượt biên rồi !
– Ông đâu? – Đấu tố chết !
– Bà đâu? – Buồn qua đời !
– Cô đâu? – Kinh tế mới !
– Bác đâu? – Tự tử rồi

Thôi ! thôi ! Không hỏi nữa !
Tim ta quá bồi hồi

Sao em còn nhỏ tuổi
Đã biết nhiều chuyện đời
Sao mảnh đất nhỏ bé
Xẩy nhiều chuyện rụng rời…
(1981)

Mãi cuối năm 1987, Song Hồ mới đi định cư ở Texas. Nơi cư ngụ chính thức của anh là ở dẫy số 9000 Virgil Circle thành phố Austin, Texas. Đời sống của anh ở đây rất trầm lặng, ít giao dịch với bên ngoài, thân thể bệnh hoạn được sự chăm sóc tận tình của vợ anh, chị Nguyễn Thanh Đạm. Anh cũng ít làm thơ đăng báo, thật khác biệt rất xa với cuộc đời trôi nổi của anh kể từ buổi đầu đời. Nhưng anh cũng có 2 tác phẩm ấn hành ở hải ngoại. Cuốn Đá và Hoa do nhà Hướng Dương xuất bản năm 1992 và cuốn Rock and Flower do chính anh tuyển lựa thơ của mình và tự dịch ra Anh ngữ, xuất bản năm 2000.

*****

Bài này được viết sau khi tôi được tin Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm vừa qua đời vào ngày 20-5-2009 tại một bệnh viện ở Houston, Texas. Nghi lễ hỏa táng cũng được tiến hành ở thành phố này vài ngày sau đó. Thân nhân còn lại của anh, ngoài chị Nguyễn Thanh Đạm và một cháu trai tên Nguyễn Bảo Hoàng (vượt biển, định cư ở Canada) còn có vợ chồng người chị ruột của anh, tức nhiếp ảnh gia Văn Vũ và phu nhân.

Lúc sinh thời, bạn bè văn nghệ xếp loại Song Hồ vào hàng ngũ những thi sĩ. Bản thân anh cũng tự coi mình như thế. Anh tha thiết với Thơ, cuối đời sống chìm đắm trong không khí Thơ, nghĩ về Thơ, luôn luôn đề cao vai trò của Thơ và trao cho Thơ những khả năng nhiệm mầu, những sứ mạng vô cùng cao cả.

Xin trích vài đoạn trong bài “Nghĩ về Thơ” bao gồm 21 đoạn do anh viết năm 1989:

“Thơ có một số người ghét vì quá nhiều người yêu Thơ
Kẻ ghét Thơ là những ông Vua không có văn hóa, những Tướng lãnh bất tài, những kẻ có quyền hành mà áp bức người khác, bọn trọc phú và những người ngu dốt
Họ ghét Thơ vì Thơ đả động đến những thói xấu.
Họ sợ Thơ vì Thơ không ích Kỷ.

*

Thơ là sự Tuyệt Đối
Một Nhà Văn thành công cũng muốn viết dăm ba bài thơ, nhưng một Thi Sĩ thành công chẳng bao giờ muốn viết truyện dù rằng một cuốn.
Trong Thơ cũng có tranh, có nhạc, nên Thi Sĩ cũng chẳng bao giờ mơ ước trở thành Họa sĩ, Nhạc sĩ.
Trong cuộc sống đã cho thấy những ông Vua muốn trở thành Thi Sĩ, nhưng chẳng có một Thi Sĩ nào trở thành một ông Vua.
Có lẽ con đường mà ngườI Thi Sĩ lựa chọn là con đường bạc bẽo nhất, nhưng cũng có hoa thơm cỏ lạ và tuyệt vời nhất.

*

Thơ là Tai Họa. Thơ chống lại sự suy thoái về Chánh Trị, sự u mê về Tín Ngưỡng, sự sa đọa về Văn Hóa.
Người làm Thơ bị kết án, bị bỏ tù, bị giết chết. Tính mạng được treo giá.
Thi Phẩm bị cấm đoán, bị tịch thu, bị thiêu đốt.
Thơ khai chiến với Điều Xấu. Điều Xấu thắng: Thơ là Tự sát.

*

Thơ là Sự Can Đảm. Can Đảm đứng trước cái Chết
Can Đảm đứng giữa bờ Tử Sinh.
Từ bỏ cái Thực đi vào cái Mộng
Từ bỏ Giầu sang đi vào Nghèo Nàn.
Từ bỏ cái Vui để vào Buồn Phiền.
Từ bỏ Hạnh Phúc để vào Đớn Đau.
Từ bỏ cái Nguyên vẹn để vào cái Tan Vỡ.
Từ bỏ cái Có để vào cái Không.
Từ bỏ cái Nhất Thời để vào cái Vĩnh Viễn,
Hay đôi khi trái ngược lại.
Can Đảm của Thơ là yêu người mà người không yêu mình.
Yêu Đời mà Đời phụ mình. Và Thi Sĩ là một người sống trong một Thế Giới Treo Ngược.”
(SONG HỒ – Trích Nghĩ Về Thơ -1989)

Vĩnh biệt Song Hồ, một nhà Thơ Việt Nam đích thực của những năm dài khổ đau vì chiến tranh, vì chia rẽ hận thù, vì đè nén, áp bức và cả vì những ngày dài lưu lạc trên xứ người.

Với tâm hồn thấm đẫm chất Thơ của anh, bạn bè đều tin tưởng anh sẽ tìm thấy được sự bình an nơi cõi vĩnh hằng.

(Nhật Tiến – Cali tháng 6/2009)

Thi sĩ Song Hồ.
Thi sĩ Song Hồ.

Mấy Lời Về Tác Giả Song Hồ

(NXB Hướng Dương)

Song Hồ là bút hiệu ký dưới những bài thơ từ 1952 tới nay. Ngoài ra ông còn có một số bút hiệu khác, Chính Sử là bút hiệu về xã luận và nhận định thời cuộc và cũng là người chủ trương Ban Đọc Truyện Trầm Hương trên Đài phát thanh Sài Gòn từ 1965 đến 1975.

Ông cũng là một nhà báo, nhà giáo. Bài thơ đầu tiên ông viết là bài thơ Thư Gởi Người Em Hà Nội vào cuối năm 1949 tại núi rừng Bắc Việt. Năm 1962, ông hồi cư về Hà Nội tiếp tục việc học và vừa sáng tác, vừa viết báo, cộng tác với các báo Tia Sáng, Giang Sơn (Hà Nội), Đời Mới, Nguồn Sống Mới (Sài Gòn).

Năm 1954, đất nước bị chia đôi, ông di cư vào Nam. Đại tá Hồ Hán Sơn trong quân đội Cao Đài từ Tây Ninh về Sài Gòn đón ông, đưa ông gặp Trung tướng Nguyễn Thành Phương và yết kiến Hộ pháp Phạm Công Tắc. Tại tổng tư dinh của quân đội Cao Đài ở Giang Tân, ông được giao chức Cố vấn văn nghệ và báo chí, phụ trách tuần báo Quyết Thắng và Đài phát thanh Long Hoa.

Lúc này cuộc chống đối giữa Hộ pháp Phạm Công Tắc và Thủ tướng Ngô Đình Diệm trỏ nên gay gắt. Ông thấy tình thế bất lợi cho Cao Đài, ông cáo bệnh về Sài Gòn. Tại Sài Gòn, ông làm việc cho Văn Hóa Vụ của Kiến trúc sư Vĩ Đức Diên. Sau ông sang làm việc cho Luật sư Trần Chánh Thành. Tại đây, ông viết tin tức và bình luận cho các báo và đài phát thanh.

Cuối năm 1955, ông được cử đi công tác tại Cambodia, cải tổ nhật báo Hồn Việt cho Việt kiều ở Pnom Penh và làm chủ bút một thời gian. Năm 1959, ông trở về Sài Gòn và được giao phụ trách tờ Hình Ảnh Việt Nam tới năm 1960, là lúc ông bị mất việc sau khi xuất bản tập thơ đầu tiên. Cuốn thơ “Hai Cánh Hoa Tim” xuất bản đầu năm 1960 tại Sài Gòn, trong đó có bài Những Nỗi Buồn Nhỏ Nhặt, đã làm ông lao đao, suýt bị tù và nguy hiểm tính mạng.

Cũng trong thời gian này, ông đi dạy văn chương ở các trung học tư thục Sài Gòn. Năm 1963, sau cách mạng 11/11, ông cho xuất bản tập thơ Song Hồ do nhà sách Khai Trí in. Năm 1969 ông bị bắt nhập ngũ, mặc dù ông ở trong tình trạng con một.

Ông bị đưa ra chiến trường Bình Định, Kontum. Tại đây, ông viết nhiều bài thơ về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuốn “Đám Cháy Trên Địa Cầu”, gồm hơn 1600 câu thơ. Cuốn sách này đã không được phép in năm 1973 và tháng 5/1975 bị đoàn thanh niên quàng khăn đỏ của nhà nước Cộng sản đương thời đốt mất cùng các sách báo xuất bản dưới chế độ cũ.

Khi nhà nước Cộng sản đương thời vào Sài Gòn, ông có tên trong danh sách “nhóm 50 tên văn nghệ sĩ phản động” của chế độ miền Nam – được công bố rộng rãi trên báo chí và đài phát thanh. Ông đã đến Mỹ vào cuối năm 1987 và định cư tại Houston Texas, USA.

NXB Hướng Dương Ghi chú thêm: Song Hồ sinh ngày 08-8-1932, qua đời ngày 20-5-2009, tại Hoa Kỳ, thọ 77 tuổi.

nguyenhien_Nhạc sĩ Nguyễn Hiền1

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, một dung hợp điển hình giữa tài năng và nhân cách

(Du Tử Lê – 14.06.2010)

Trong chừng mực nào đó, dường như đám đông, dân tộc nào, cũng dành cho giới văn nghệ sĩ một cái “lề”, một đường biên rộng, đủ cho họ sống một đời sống tương đối phóng khoáng hơn người bình thường.
Tại sao?

Có thể từ lòng yêu mến tác phẩm hay, tài năng một văn nghệ sĩ mà đám đông đã mặc nhiên có cái nhìn bao dung, rộng lượng với các văn nghệ sĩ.

Cũng vẫn thuộc về đám đông, có người lý trí hơn, cho rằng, để giới văn nghệ sĩ có thể cung ứng những sản phẩm tinh thần giá trị, hay để họ phát huy được, rực rỡ hơn tài năng trời cho họ, xã hội nên dành cho họ một vài biệt lệ, miễn không quá đáng…

Có người còn nhiệt tình hơn, khi lý luận rằng: Nếu bắt nhà thơ A, nhà văn B, nhạc sĩ C. phải là có đời sống của một công chức chính ngạch, thuộc loại “thượng hạng ngoại hạng”, hay một nhà đạo đức, một nhà mô phạm gương mẫu… thì làm sao họ có thể cho chúng ta những tác phẩm thơ mộng, lãng mạn như chúng ta đã từng được thụ hưởng?

Chẳng biết có phải từ những cái nhìn ưu ái đặc biệt vừa kể mà, người Việt Nam dường đã có chung một kết luận mang đầy tính thông cảm, rằng: “có tài, có tật”.

Tóm gọn lại, trong sinh hoạt xã hội, đôi khi bạn có một vài hành vi vượt ngoài khuôn khổ đời thường, thí dụ cờ bạc, hút sách, trai gái, sống bừa bãi, cẩu thả…nhưng, nếu được đám đông “phê” cho mấy chữ, đại loại”văn nghệ sĩ mà”… thì kể như bạn đã được tha thứ hoặc, chí ít cũng được giảm khinh.

Lời phê ấy, giống như một thứ giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” vậy.

Nhìn vào sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ thời tiền chiến, người ta thấy có nhiều nhà văn, nhà thơ nghiện thuốc phiện, mê đi hát cô đầu…

Thế hệ kế tiếp, tính từ điểm mốc 1954, ở miền nam Việt Nam, số văn nghệ sĩ nghiện thuốc phiện không nhiều. Nhưng số người thích đỏ đen và, những cuộc phiêu lưu tình ái…lại có phần gia tăng…

Tuy nhiên không phải tất cả những văn nghệ sĩ được đám đông công nhận tài năng, tên tuổi đều là những người “sử dụng” cái giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” mà xã hội đã ưu ái ban, cấp cho họ.

Chẳng những thế, trong số này, còn có nhiều văn nghệ sĩ vẫn sáng tác được những tác phẩm giá trị mà, đời riêng của họ, lại rất nghiêm chỉnh, mẫu mực. Phẩm chất đời sống xã hội của họ, có phần cao hơn người bình thường nữa.

Một trong những văn nghệ sĩ có được cùng lúc hai mặt tưởng chừng đối chọi nhau kia, là cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền.

Lần đầu tiên tôi được gặp nhạc sĩ Nguyễn Hiền vào khoảng đầu năm 1965 ở tiệm phở 44, trước đài phát thanh Saigòn, cuối đường Phan Đình Phùng, cùng với thi sĩ Đinh Hùng. (Tiệm này lấy số nhà 44, làm tên.)

Thời gian đó, tôi đang viết cuốn “Năm sắc diện, năm định mệnh” mà, cố thi sĩ Đinh Hùng là 1 trong 5 người tôi chọn, nên chúng tôi thường gặp nhau.

Tôi muốn mở một cái ngoặc ở đây, để nói rõ hơn rằng: Trong số những văn nghệ sĩ miền Nam không bao giờ lái xe, dù xe hai bánh hay xe hơi, không phải là cố nhà văn Mai Thảo.

Thời gian tham gia kháng chiến nhà văn Mai Thảo đã từng phải đạp xe từ khu này qua khu khác. Thời gian chủ trương tạp chí sáng Tạo ở Saigòn, ông có xe hơi riêng và tự lái. Chỉ sau khi bán đi chiếc Austin, lúc đó, tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” mới dùng tới phương tiện xích lô…

Riêng thi sĩ Đinh Hùng thì tuyệt đối không.

Thời gian ở trong vùng kháng chiến, tác giả “Mê hồn ca” cũng chưa một lần đạp xe đạp. Di cư vào miền Nam, ông cũng chưa một lần tự lái xe. Dù cho công việc buộc ông phải thường xuyên xê dịch.

Phương tiện di chuyển quen thuộc nhất của tác giả “Mộng dưới hoa” là: Anh em văn nghệ hoặc, sử dụng taxi, xích lô…

Trở lại với tiệm phở 44, giữa khi chúng tôi đang ăn thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bước vào. Đó là một người đàn ông nho nhã, trắng trẻo. Ông có dáng dấp một nhà giáo nhiều hơn một nghệ sĩ đã có nhiều năm chơi nhạc cho một số dancing nổi tiếng ở Hà Nội cũng như Saigòn.

Là bạn thân của nhau, nên khi thấy bạn, thi sĩ Đinh Hùng gọi, như reo:

“Lại đây. Lại đây. Nguyễn Hiền.”

Rất từ tốn, người nhạc sĩ nổi tiếng từ khi còn rất trẻ ở Hà Nội, với nhạc phẩm “Người em nhỏ”, phổ thơ Thiệu Giang, bước lại bàn. Ông bắt tay chúng tôi. Ngồi xuống.

(Qua một bài viết của tác giả VDA, gần đây, tôi mới biết họ Nguyễn sáng tác ca khúc “Người em nhỏ” nhằm tặng người bạn đời của ông.)

Sau khi nghe thi sĩ Đinh Hùng giới thiệu về tôi, họ Nguyễn bảo, ông tin cuộc đời có cái gọi là “hữu duyên”!

Ông nhìn tôi, giải thích:

“Mấy ngày qua tôi có ý tìm anh. Tôi vừa xin được địa chỉ và số điện thoại nơi làm việc của anh qua Mai Trường…”

Số là ông mới phổ nhạc xong bài thơ “Khi người về” của tôi. Ông muốn đổi tên nó thành “Tiếng hát ru tôi”.

Ông nhấn mạnh, ông giữ được gần như nguyên vẹn lời thơ và, kết luận, nếu tôi cũng đồng ý thì, bản nhạc sẽ được trình bày nay mai trên đài phát thanh với nhan đề ấy.

Tôi nói, nhan đề ông chọn cho ca khúc, có phần thơ hơn nhan đề chính. Tôi thích lắm, và:

“Chắc anh không biết, anh là người thứ hai sau anh Mai Trường phổ nhạc thơ của tôi…”

Từ đấy, họ Nguyễn nói về thơ, nồng nhiệt như một thi sĩ.

Ông kể:

“Có anh Đinh Hùng ở đây, anh ấy biết, tôi rất thích thơ. Thơ trên báo hay thơ in thành sách…Hễ đến tay tôi là tôi đều đọc hết. Tôi đọc rất kỹ những bài tôi thích…Tôi có thói quen chú ý nhiều tới những động từ và tĩnh từ trong thơ…”

Thi sĩ Đinh Hùng chăm chú nghe với những cái gật gù, như đắc ý về những nhận định của bạn ông.

Trước khi chia tay, để hai người ngồi lại với nhau, tôi nói:

“Thưa anh, nếu được, xin anh làm ơn cho tôi biết trước giờ phát bản nhạc để tôi đón nghe!”

Tác giả “Hoa bướm ngày xưa” gật đầu. Ông rút trong túi, miếng giấy nhỏ, đọc lại số số điện thoại nơi tôi làm việc…

Tôi không biết có phải tính nghiêm túc, cẩn trọng (nhưng vẫn cởi mở của ông,) hay do chiếc cầu nối là thi sĩ Đinh Hùng mà, chúng tôi đã có được một tình thân trong tương kính khá mau chóng.

Đúng như những gì tôi cảm nhận được về ông, từ gặp gỡ thứ nhất, mỗi lần ca khúc “Tiếng hát ru tôi” được thu thanh, hoặc phát lại, ông đều tìm cách cho tôi biết.

Là một nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng họ Nguyễn cũng là con người của đời sống gia đình. Có thể vì thế , dù ở cùng một thành phố với nhau, tôi chớ gặp ông ở những quán café, nhà hàng chúng tôi hay la cà, thuở ấy. Mỗi khi muốn gặp ông, để nói một chuyện gì đó, tôi phải điện thoại trước và, điểm hẹn thường là phở 44, trước giờ ông thu thanh.

Tuy nhiên, tác gỉa “Lá thư gửi mẹ”, phổ từ thơ của Thái Thủy, cuối cùng, đã cho tôi một kỷ niệm vô cùng ý nghĩa.

Tôi nhớ kỷ niệm này tới mức mỗi khi bị hỏi về chuyện nhuận bút hay bản quyền tác phẩm, những ngày đầu cuộc đời làm văn nghệ của mình, tôi đều nhắc lại, cũng như đã từng viết xuống.

Đó là sự kiện, bẵng đi một thời gian không gặp tác giả “Mái tóc dạ hương” (thơ Đinh Hùng,) một buổi trưa, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nhờ tôi chở ông từ café La Pagode về Đài Saigòn. Ngay khi vừa cặp chiếc xe sát lề đường, trước cửa Đài, tôi nhác thấy nhạc sĩ Nguyễn Hiền từ phía phở 44 băng qua.

Ông dơ tay nửa như chào, nửa như muốn bảo đợi…

Bước lên lề, trước mặt Nguyễn Đình Toàn, ông rút từ túi sau, một khoản tiền, bọc trong một miếng giấy trắng (giống như đã chuẩn bị sẵn,) đưa cho tôi.

Ông nói:

“Một trung tâm băng nhạc nó mới thu bài “Tiếng hát ru tôi”. Đây là phần tác quyền của anh”.

Ông không nói, tôi cũng không hỏi số tiền tác quyền ông chia cho tôi là bao nhiêu. Điều đó, với tôi, thực sự không quan trọng. Điều tôi cảm khích, tôi nhớ mãi, tựa hồ mới xẩy ra, chính là cái cung cách cư xử, ăn ở của ông.

Cung cách như một truyền thống văn hóa có tự bao đời của những người trí thức làm văn nghệ.

Không biết có phải vì sự việc xẩy ra bất ngờ, hay vì một nguyên nhân nào khác, khiến tôi không nói thêm được với ông lời nào, ngoài ba chữ “Cám ơn anh.”

Kể lại chuyện này, tôi chỉ muốn nói tới nhân cách của họ Nguyễn.

Nhiều năm trước đây, nhà hàng Tài Bửu (khi còn tọa lạc ở ngã tư đường Magnolia và Bolsa, thuộc thành phố Westminster,) là nơi sinh thời, tác giả ca khúc “Anh cho em mùa xuân” (thơ Kim Tuấn,) hay có những buổi sáng ngồi uống café với bằng hữu.

Trong những gặp gỡ này, mỗi khi có dịp, tôi lại kể kỷ niệm trên, (trước mặt ông,) như một cố tình, bày tỏ lòng quý trọng của cá nhân tôi, đối với ông. Người nhạc sĩ tài hoa, tới cuối đời, vẫn giữ được cho mình, một nhân cách cao quý.

oOo

Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ – Ca sĩ Hoàng Oanh:

 

Hai Mươi Câu Tuổi Trẻ – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s