nguyenbinh_ĐB

Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Cô Lái Đò” – Nguyễn Bính & Nguyễn Đình Phúc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Cô Lái Đò” của Thi sĩ Nguyễn BínhNhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc.

Thi sĩ Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918–1966); là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng. Ông được coi như là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc.

Thi sĩ Nguyễn Bính sinh ngày 13-2-1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).

Cha của ông tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Trọng Bính.

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).

Bà cả Giần là chị ruột của mẹ ông, nhà bà lại giàu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của ông và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em ông về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé, được cậu Khiêm khen hay nên rất được cưng.

Năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:

…Anh đố em này:
Làng ta chưa vợ mấy người ?
Chưa chồng mấy ả, em thời biết không
Đố ai đi khắp tây đông,
Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây?
Làm sao như rượu mới say,
Như giăng mới mọc, như cây mới trồng ?
Làm sao như vợ như chồng ?
Làm sao cho thỏa má hồng răng đen
Làm sao cho tỏ hơi đèn ?
Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?
Làm sao ? anh khen em tài ?
Làm sao ? em đáp một lời làm sao… ?

Trúc Đường thi đỗ thành crung (đíp-lôm) vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.

Năm 1932, 1933 Nguyễn Bính có theo người bạn học ở thôn Vân lên Đồng Hỷ, Thái Nguyên dạy học, có lẽ những vần thơ như:

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh
Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm
Da trời ai nhuộm mà lam
Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai

Là được Nguyễn Bính viết trong thời gian này.

Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài “Cô Hái Mơ”. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ “Tâm Hồn Tôi” tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn. Họa sĩ Nguyệt Hồ nhớ lại:

“Tôi quen Nguyễn Bính từ khi anh chưa có tiếng tăm gì, ngày ngày ôm tập thơ đến làm quen với các tòa soạn báo. Tôi thích thơ anh và đã giới thiệu anh với Lê Tràng Kiều, chủ bút Tiểu thuyết Thứ Năm, đã đăng bài “Cô hái mơ”, bài thơ đầu tiên của anh đăng báo. Tôi khuyên anh gửi thơ dự thi, và anh đã chiếm giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn… chúng tôi thân nhau từ đó, khoảng 1936-1940, quãng đầu đời thơ của anh,…

Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đề tài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình. Cũng trong năm này Trúc Đường chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi Huế tìm đề tài sáng tác. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất của gia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính.

Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ ra cho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau. Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: “Xuân tha hương” và “Oan nghiệt”. Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn. Trong thời gian này Nguyễn Bính đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài ‘Hành Phương Nam’, tặng Kiên Giang, ‘Từ Độ Về Đây’,…”

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc.

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (20/8/1919 – 28/5/2001) chẳng những là một nhạc sĩ, mà ông còn là một họa sĩ và là một nhà thơ. Ông nổi tiếng với ca khúc “Cô Lái Đò”, “Lời Du Tử” (trước 1945)… Ngoài ra ông còn có bút danh Nguyễn Thơ.

Ông sinh ngày 20 tháng 8 năm 1919 tại huyện Thanh Oai, Hà Nội. Từ nhỏ, ông theo gia đình về sống ở Hà Nội, ông học trường tiểu học Hàng Vôi, sau học trung học Thăng Long, rồi học Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Khởi đầu học hội họa nhưng do say mê âm nhạc nên ông đã cùng lúc theo học đàn với nhạc sĩ người Nga lưu vong Sibirev. Học ở trường họa ít lâu thì ông bị đuổi khỏi trường do chống lại thầy giáo người Pháp xúc phạm dân An Nam.

Năm 1942, ông sáng tác ca khúc đầu tay “Cô Lái Đò” (phổ thơ Nguyễn Bính).

Năm 1943, tại phòng triển lãm Đông Dương ở Hà Nội, ông đã đoạt giải nhất với bức tranh “Chú Bé Thổi Sáo” và đã dùng số tiền thưởng để đi du lịch xuyên Việt.

Trong chuyến đi ông đã sáng tác ca khúc “Lời Du Tử”. “Lời Du Tử” sau này được tài tử Ngọc Bảo trình diễn rất thành công. Đồng thời “Cô Lái Đò” thì lại được và các ca sĩ Thương Huyền, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Sĩ Phú, Anh Ngọc, tài tử Ngọc Bảo, NSƯT Hồng Vân,… trình diễn và làm cho “Cô Lái Đò” trở thành một ca khúc tiền chiến nổi tiếng qua nhiều thế hệ.

Ngoài sáng tác ca khúc, NS Nguyễn Đình Phúc còn sáng tác khí nhạc, nhạc phim. Ông là một trong những nhạc sĩ viết nhạc phim đầu tiên của Việt Nam. Ông đã sáng tác nhạc cho bộ phim truyện đầu tiên “Chung Một Dòng Sông”

Ông còn viết nhạc trong phim hoạt hình “Nàng Ngà” (giải thưởng Bông Sen Vàng của Liên hoan phim Việt Nam). Ông còn là hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam, là một họa sĩ chuyên vẽ chân dung các văn nghệ sĩ Việt Nam. Ông đã từng vẽ chân dung Văn Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Xuân Diệu, Tô Hoài,Vũ Trọng Phụng… tổng cộng khoảng 120 bức. Ông đã mở một triển lãm chân dung các văn nghệ sĩ và in một tuyển tập gồm 80 bức tranh (do bà S. Letch, một nhà sưu tập người Mỹ, tài trợ).

Ngoài tranh và họa, ông còn xuất bản một số tập thơ như “Lá Hát”“Thư Tình Không Gửi”. Ông còn nghiên cứu về văn hoá truyền thống của các dân tộc miền núi và văn hoá Lào, Campuchia. Ông đã xuất bản một số sách như “Sổ Tay Văn Nghệ”, “Vài Nét Về Văn Nghệ Truyền Thống Campuchia: Ca – Múa – Nhạc”… hay quyển sách “Tiếng Nói Của Bàn Tay” (nghiên cứu về xem bàn tay).

Ông mất ngày 28 tháng 5 năm 2001, hưởng thọ được 82 tuổi.

nguyenbinh1

Thi phẩm “Cô Lái Đò” (Thi sĩ Nguyễn Bính)

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô lái ở bên sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề.

Nhưng rồi người khách tình quân ấy,
Đi biệt không về với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô lái mòn mỏi trông.

Xuân này đến nữa, đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân.

Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.

nguyenbinh_Cô Lái Đò

Thi khúc “Cô Lái Đò” (Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc)

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô lái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình quân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mải
Mấy lần cô lái mòn mỏi trông

Xuân này đến nữa đã ba xuân
Đóm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân

Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ giòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Vắng bóng cô em từ dạo ấy
Để buồn cho những khách sang sông…

Dưới đây mình có các bài:

– Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc
– Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc: Người đưa “Cô lái đò” từ thơ qua nhạc (trích)
– Chuyện tình người nhạc sĩ ca khúc “Cô Lái Đò”

Cùng với 5 clips tổng hợp thi khúc “Cô Lái Đò” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nguyenbinh_bìa tập thơ

Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc (trích)

(Ngô Minh)

Đúng là ông luôn hiện lên trong chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông bên những người Việt đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay.

Thơ Nguyễn Bính hay như thế, nhưng một thời được cho là “lãng mạn tiêu cực”, “tiểu tư sản” không được in và phổ biến. Mãi đến khi đất nước thống nhất, thơ Nguyễn Bính được xuất bản, nhiều bạn trẻ mới được đọc. Nhưng trong sổ tay anh Ngô Tấn Ninh, người anh trai yêu thơ của tôi ở làng biển Thượng Luật những năm 60 của thế kỷ trước vẫn chép đầy thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Anh tôi giấu cuốn sổ thơ ấy kỹ lắm.

Tôi lớn lên, sổ tay thơ cũng chép đầy thơ Nguyễn Bính – những “Lỡ bước sang ngang”, “Cô lái đò”, “Cô hái mơ”, “Tương tư”, “Chân quê”, “Người hàng xóm”, “Giời mưa ở Huế”, “Hành phương Nam” v.v… Không hiểu mình thành chàng trai trước hay thuộc thơ tình Nguyễn Bính trước! Thật biết ơn ông anh trai si thơ!

Con gái Hà Nội, con gái tỉnh Nam xưa thuộc Kiều và thuộc cả tập thơ “Lỡ bước sang ngang”. Nhà thơ của chúng ta đồng hành với ông thợ cắt tóc, với cô lái đò, các cô gái ngoại ô bơi thúng hái rau bên sông Tô Lịch cho đến các bà các cô trong phòng khuê nhung lụa. Nhà văn Chu Văn kể câu chuyện về Nguyễn Bính và cô lái đò bên bến sông Châu tên Thoa thật cảm động. Nguyễn Bính hàng ngày đi chợ vẫn nhờ đò cô đưa sang. Cô lái không lấy tiền. Và hình như thi sĩ cũng có tặng cô thơ, nên cô rất quí ông. Khi nghe tin Nguyễn Bính mất, cô Thoa đã nấc lên nghẹn ngào, gục mặt lên mái chèo”. Ước chết thay cho thi sĩ!”. Thế mới biết thơ thật diệu kỳ. Qua thơ, nhà thơ đến với mọi người như một người cật ruột, tin tưởng, gửi gắm.

Đồng hành thân thiết với nhiều thế hệ, nhưng Nguyễn Bính lại là một người cô đơn, cô độc. Ông cô độc cả về cảnh ngộ và tâm trạng thi sĩ, là một lữ khách giang hồ lên Bắc vào Nam. Chỉ trong vòng 15 năm, từ 1939 đến 1954, theo địa danh ghi dưới các bài thơ Nguyễn Bính đã “lăn lóc có dư mười mấy tỉnh” Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, lục tỉnh miền Đông. Ông đi và sống được nhờ lưng vốn thơ với tâm tình độc giả mến mộ. Rồi ở trọ một mình, xê dịch một mình. Hồi vô Sài Gòn năm 1939, ông có lúc phải mà cả ngã giá bán từng câu thơ đăng báo để kiếm sống.

Tiền thì ít nhưng “Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết / Ngày mai ra sao rồi hãy hay… (Hành Phương Nam). Tiền không có những vẫn trọng thơ hơn tiền, coi khinh bọn định giá văn chương. Theo lời kể của ông Hoàng Tấn (dẫn theo Hà Đình Nguyên – Báo Thanh Niên), ông chủ bút tờ Dân Báo đặt Nguyễn Bính một bài thơ để đăng trên số đặc biệt Tết Giáp Thân (1944). Ông chủ bắt Nguyễn Bính phải sửa đi sửa lại hai câu cuối đến ba lần. Khi báo in ra, Nguyễn Bính đến đòi nhuận bút. Ông chủ báo đưa 10 đồng, Nguyễn Bính chê ít, không nhận.

Ông chủ báo nói: “Với các văn sĩ nổi tiếng khác, tôi trả cao lắm cũng chỉ 5 đồng…”. Nguyễn Bính lập tức ném xấp tiền xuống đất rồi ra về. Ngay chiều hôm đó, tòa soạn phải cử người đến xin lỗi và đưa cho Nguyễn Bính 50 đồng! Túng tiền, Nguyễn Bính còn bỏ ra năm ngày chép tay tập thơ Lỡ bước sang ngang với chữ ký của mình để “bán đấu giá”… Kiếp giang hồ, nhiều khi nhà thơ bơ vơ nơi sông khách:

Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng

Có lúc đơn chiếc đến tê dại trên sân ga:

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly

Nguyễn Bính yêu nhiều, yêu si mê, đã hiến cho tình yêu nhiều bài thơ đặc sắc, nhưng ông mãi mãi là người cô đơn trong tình yêu. Nhà văn Tô Hoài kể rằng, ngày trước, Nguyễn Bính đi đâu cũng kè kè cái hộp sắt tây. Loại hộp bánh bích quy, nhưng không đựng bánh mà đựng toàn thư tình, thơ tình. Nguyễn Bính thỉnh thoảng lại mở ra đọc, ngắm rồi lại vuốt lại, xếp lại, đêm ngủ thì gối cái hộp trên đầu. Thì ra những bức thư, là thư tình cũ của các cô nương luôn thề non hẹn biển, có lúc dọa cắt tóc đi tu hay uống thuốc phiện, dấm thanh cho chết (!), nhưng chẳng ai chịu “ăn đời ở kiếp” với nhà thơ nghèo khó!

Nguyễn Bính cắp cái hộp đựng tình yêu cũ ấy đi từ Bắc vào Nam như là một bảo vật! Ông đi cô độc giữa cái mê hồn trận cay đắng ấy, để rồi chạm đến là ngân thành thơ. Một thứ thơ nồng nàn mà se xiết phận người! Ông như người sinh ra cho những duyên kiếp lỡ làng, ông là sự dấn thân cho thơ, cho cái đạo thơ!

Trong hồi ký “Cát bụi chân ai”, Tô Hoài kể rằng, thời kỳ Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956 ) có một người con gái đã đến với ông. Họ có với nhau một mụn con đặt tên là Hiền. Rồi hai người xa nhau. Cô gái mang cậu con trai đến trả cho Nguyễn Bính! Ngày ngày nhà thơ ẵm vác cậu bé một bên vai, như mèo tha con. Một tối kia, Nguyễn Bính say rượu bế con thẫn thờ ra phố.

Rồi không hiểu sao, trong vô thức nhà thơ lại trao con cho một người đàn ông xa lạ đang đi tới. Trở về, cơn say vật Nguyễn Bính thiếp đi. Quá nửa đêm quờ tay không thấy con, lật đật chạy đi kêu cứu bạn bè, mặt mày tái nhợt. Mọi người đổ đi tìm khắp thành phố, đi báo nhờ Công an tìm… Nhưng, đứa con ấy ba chục năm ròng vẫn không tìm thấy… Ôi, cuộc đời nhà thơ sao mà đau khổ, thương tâm thế !

Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc tuyệt vời của chúng ta sinh năm 1918, nếu còn sống, năm nay vào tuổi 90. Ông mất sáng 30 Tết Bính Ngọ, tức ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ (20/1/1966). Con người tài tử, từng giang hồ mưa gió bốn phương ấy lại thổ huyết chết vì một luồng gió độc trong vườn tại quê nhà. Lạ thật! Cuối năm 2007, trong đợt về thăm thành phố Nam Định, tôi đã cùng người bạn thân – nhạc sĩ Huy Tập – về làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, Vụ Bản cách Nam Định gần chục cây số viếng mộ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ số một Việt Nam về thơ làng quê đồng bằng sông Hồng. Thắp nhang vái ông, tôi lại nhẩm những câu thơ ông viết về Huế trong đợt hành phương Nam của nhà thơ đầu những năm 40 của thế kỷ trước:

Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một loài mây

Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may…
(Giời mưa ở Huế)

Bởi thế, về Nam Định đến thắp nhang lạy ông là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Một sự trùng hợp rất ý vị là hai hôm trước ở Hà Nội, tại Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ, lần đầu tiên tôi gặp và bắt tay nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái miền Nam của thi sĩ. Bây giờ, tôi lại đứng bên mộ ông. Mộ nhà thơ được xây ngoài vườn nhà rất khang trang. Trong nhà là bàn thờ, những kỷ vật của Nguyễn Bính. Tôi và Huy Tập thắp nhang lạy Nguyễn Bính rồi ghi vào sổ lưu niệm. Theo Huy Tập kể thì trước đây là ngôi nhà cũ của gia đình, lúc Nguyễn Bính đi xa, người em trai ở.

Để có được ngôi nhà lưu niệm nhà thơ tài hoa, gia đình đã bàn với ông em đi làm nhà ở chỗ khác, để anh em góp tiền sửa sang xây lại ngôi nhà cũ thành nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính. Ở xứ ta, mộ nằm giữa làng quê đầm ấm thân thuộc châu thổ Sông Hồng này cũng hạnh phúc lắm lắm. Tiếc là bây giờ, những hình ảnh thôn quê trong thơ Nguyễn Bính như dậu mùng tơi, khăn mỏ quạ, quần nái đen v.v… đã thành quá vãng. Các cô gái quê nhà “đi tỉnh”, đi Hà Nội, đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, Đài Loan… áo phông hở lưng, hở rốn, quần jin lửng, và không bao giờ về làng nữa…

Nguyễn Bính đã sống và viết nhiều thơ về Huế. Trong hai tập “Người con gái lầu hoa” và “Mười hai bến nước” của ông có nhiều bài thơ đặc sắc về Huế, đã trở thành tài sản tâm hồn của mọi người. Người Huế không ai không thuộc đôi đoạn, đôi câu trong các bài “Giời mưa ở Huế”, “Vài nét Huế”, “Người con gái lầu hoa”, “Lửa đò”, “Xóm Ngự Viên” v.v… Nhiều hình ảnh, hình tượng thơ về Huế Nguyễn Bính dùng đã trở thành cổ điển, khó vượt qua. Như các hình ảnh “Giời mưa ở Huế” hay “Cầu cong như chiếc lược ngà…”, “Con đò không chở những người chính chuyên” v.v… và đây là tiếng đàn kỹ nữ xưa:

Đàn ai chừng đứt dây tình
Vẳng lên một tiếng buồn tênh rồi chìm

Từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều tập thơ và tuyển thơ Nguyễn Bính lại được in đi in lại, đến với độc giả yêu thơ cả nước. Mới hay cái trường tồn của một thi sĩ là những bài thơ “rút ruột đẻ ra”, những bài thơ “chân quê” nói về cái “tôi trữ tình” của tác giả, “cái tôi” muôn thuở kiếm tìm, khao khát của con người! Thơ Nguyễn Bính nói với tôi nhiều điều tâm đắc về sự được mất trong thơ.

Trong một bức thư gửi bạn Trọng Miên năm 1939, Hàn Mặc Tử đã viết rằng: “Bởi muốn cho Loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ ở Thế gian này – nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời – Chúa Trời bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình. Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý. Thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình…”.

Điều đó đúng với Hàn Mặc Tử và đúng cả với Nguyễn Bính!

Nguyễn Bính lại đồng hành với tuổi trẻ hôm nay và sẽ còn đồng hành với nhiều thế hệ lứa đôi mai sau. Thi sĩ ơi, ông là người cô độc nhưng thơ ông mãi mãi là bạn đồng hành cùng trái tim con người.

(Ngô Minh)

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc.

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc: Người đưa “Cô Lái Đò” từ thơ qua nhạc (trích)

(baomoi.com – 29/10/2011 – 08:29)

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc quê ở xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ông sinh năm 1919 và qua đời năm 2001 – cách đây vừa chẵn 10 năm.

Sự mến chuộng của công chúng đối với “Cô lái đò” đã đem lại danh vọng và tiền tài cho một số ca sĩ. Chính tài tử Ngọc Bảo từng có lần thổ lộ với tác giả của nhạc phẩm: “Nhiều năm lưu lạc và kiếm sống bằng ca hát ở Pháp, bài hát “Cô lái đò” đã làm giàu cho tôi”. Ngày 13/12/2009, trong chương trình âm nhạc có tên gọi “Bóng ai qua thềm” được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội, Tùng Dương – một ca sĩ trẻ được coi là giọng ca “thời thượng” hiện nay cũng đã chọn “Cô lái đò” để thể hiện chất giọng cũng như cảm xúc của mình…

Nhiều người đã biết, “Cô lái đò” là một trong số những bài thơ thường được nhắc tới của thi sĩ Nguyễn Bính. Trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” nổi tiếng của Nguyễn Bính, đây cũng là một trong những bài thơ ấn tượng. “Lỡ bước sang ngang” được xuất bản lần đầu năm 1940, song phải đến năm 1942, chàng trai trẻ Nguyễn Đình Phúc mới có được tập thơ này và chỉ mới tiếp xúc với “Cô lái đò”, ông đã “kết” ngay. Bà Trần Thị Bảo, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc từng có lần kể lại: Ông Phúc rất say mê bài thơ “Cô lái đò”, trong khi nhạc sĩ Phạm Duy thì lại mê bài thơ “Cô hái mơ” (cũng của Nguyễn Bính). Thế là một lần, vào chiều thứ Bảy, hai ông rủ nhau đi dạo quanh Hồ Hoàn Kiếm và giao ước với nhau, khi về nhà, ai nấy phải sáng tác được một ca khúc. Kết quả là khán thính giả yêu âm nhạc Việt Nam từ đó được biết đến hai ca khúc hay, hiện vẫn được xem như những cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền tân nhạc Việt Nam.

Nhân đây cũng cần nói thêm: Nguyễn Đình Phúc thuộc típ nghệ sĩ đa tài. Ngoài sáng tác nhạc, ông còn làm thơ, vẽ tranh, viết sách nghiên cứu dân gian và cả sách hướng dẫn xem… vân tay, đoán số. Ông khởi đầu sự nghiệp bằng loại hình hội họa chứ không phải âm nhạc. Ông từng theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau vì chống lại thầy giáo người Pháp xúc phạm học sinh An Nam mà bị đuổi khỏi trường. Năm 1943, với bức tranh “Chú bé thổi sáo”, Nguyễn Đình Phúc giành được giải nhất tại cuộc triển lãm tranh Đông Dương tổ chức ở Hà Nội. Phần thưởng đủ để ông làm một chuyến du lịch xuyên Việt nhiều ngày với tấm vé tàu hỏa hạng sang.

Nguyễn Đình Phúc tiếp thu những kiến thức âm nhạc đầu tiên từ một nghệ sĩ già người Nga lưu vong tên gọi Sibirev. Ông Sibirev chơi đàn violoncelle ở một phòng trà trên phố Tràng Tiền. Từ đó, theo bước Siberev, Nguyễn Đình Phúc trở thành một nghệ sĩ tự do kiếm sống bằng nghề kéo violoncelle tại một số phòng trà ở khu vực trung tâm Hà Nội.

Mặc dù “Cô lái đò” là ca khúc đầu tay của Nguyễn Đình Phúc, song nó đã thể hiện một sự già dặn, chững chạc trong thủ pháp. Thơ Nguyễn Bính vốn dĩ có duyên với âm nhạc. Theo ghi nhận tạm thời của một độc giả thì đến nay, đã có một số thi phẩm của Nguyễn Bính được phổ nhạc: Bài “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc; bài “Người hàng xóm” được Anh Bằng phổ nhạc (đổi tên là “Bướm trắng”); bài “Cô hái mơ” được Phạm Duy phổ nhạc; bài “Lỡ bước sang ngang” được Song Ngọc phổ nhạc; bài “Nhạc xuân” được Đức Quỳnh phổ nhạc; bài “Thời trước” được Văn Phụng phổ nhạc (đổi tên là “Trăng sáng vườn chè”); bài “Ghen” được Trọng Khương phổ nhạc; bài “Gái xuân” được Từ Vũ phổ nhạc…

Nếu nói về độ phổ biến thì so với ca khúc “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Hữu Trí, cũng khó nói ca khúc “Cô lái đò” của Nguyễn Đình Phúc được khán giả biết đến nhiều hơn, được hát nhiều hơn. Tuy nhiên, ý kiến sau đây của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (được dẫn lại trong một bài viết của nhà văn Vũ Bằng) cũng là một “kênh” đáng để chúng ta tham khảo: “Trong tất cả các bài thơ được phổ nhạc từ trước tới nay, kể từ bài “Thằng Bờm” của Nguyễn Xuân Khoát cho đến các bài mới như “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, thơ Hồ Dzếnh, kể cả thơ phổ nhạc của Phạm Duy, theo ý tôi, không có bài nào thành công vẻ vang như bài “Cô lái đò” của Nguyễn Bính do nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc”.

Ở đây, Nguyễn Hữu Ba cắt nghĩa: “Trong suốt bản nhạc, thính giả không một lúc nào cảm giác thấy bản nhạc bị gò bó trong một bài thơ, mà chính bài thơ cũng không hề bị nhạc hãm hiếp làm cho mất tính cách nguyên thủy và trong trắng của nó. Nghe thì việc đó tầm thường, nhưng công việc tạo tác một bản nhạc qua một bài thơ mà làm cách nào cho thơ và nhạc hỗ tương nhau, thơ không bị nhạc hãm hiếp, thực quả là một công việc hết sức khó khăn, hết sức vất vả, nếu nhạc sĩ không yêu bài thơ triệt để, không thông suốt tinh thần của nhà thơ, không cảm thông với nhà thơ như hình với bóng thì không thể nào làm nổi”.

Bài thơ “Cô lái đò” được Nguyễn Bính viết theo thể thất ngôn, gồm cả thảy 4 khổ, 16 câu. Nguyễn Đình Phúc gần như trung thành với nguyên tác. Đây là điều khó, rất khó. Một độc giả đã nhận xét: “Ca khúc được xây dựng trên nền hợp âm mi thứ với những quãng lạ mang âm hưởng dân ca. Phải là một nhạc sĩ giỏi mới có thể phổ nhạc nguyên bài thơ thất ngôn hay và thành công như vậy”.

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc từng kể lại những suy nghĩ, xúc cảm của mình trong một lần đối mặt với con sông Hồng mùa lũ: “Ngồi trên mặt đê, nhìn làn nước mênh mông, đỏ quạch phù sa đang sôi réo ngay dưới chân trước mặt, tôi thấy nôn nao trong lòng… Những người màn trời chiếu đất trên mặt đê này sẽ dạt về đâu? Tôi vừa tự hỏi vừa nhìn những xoáy nước đang xoay vần với những đám bọt đỏ ngầu và cánh bèo tây dập dềnh giai điệu con thuyền xa bến chợt vang lên trong tôi…”. Đoạn hồi ký khiến ta không khỏi nhớ tới những câu thơ của Nguyễn Bính trong “Cô lái đò”: “Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng trong/ Cô lái đò kia đi lấy chồng/ Vắng bóng cô em từ dạo ấy/ Để buồn cho những khách sang sông”.

Tính từ ngày ra đời đến nay, ca khúc “Cô lái đò” đã được nhiều ca sĩ chọn làm “bài tủ” của mình. Với ca từ man mác buồn, lại mang âm hưởng dân gian Bắc Bộ, bài hát cứ lặng lẽ thấm quyện lòng người, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và với mỗi lứa nghệ sĩ, họ dường như lại tìm thấy trong ca khúc một cách thể hiện. Tuy nhiên, theo những người sành điệu thì một trong những ca sĩ đầu tiên chắp cánh cho ca khúc này bay cao chính là Thương Huyền, và cho đến hôm nay, cũng chưa có ai thành công hơn Thương Huyền trong việc thể hiện “Cô lái đò”. Sinh thời, nghệ sĩ chèo Tào Mạt rất mê “Cô lái đò”, hễ có dịp là ông lại cất giọng hát ca khúc này.

Những năm cuối đời, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc như dồn hết tâm lực của mình vào việc vẽ. Ông vẽ nhiều, đa phần là tranh sơn dầu và giấy dó. Ông thích thú vẽ chân dung các văn nghệ sĩ, những người ông từng gặp và mến trọng về tài năng và nhân cách. Nhiều bức ông vẽ bằng trí nhớ. Bức chân dung danh họa Nguyễn Phan Chánh là bức vẽ cuối cùng trong cuộc đời ông, được ông hoàn thành 2 ngày trước khi mất.

Nhà văn Chu Văn – trong một bài viết về Nguyễn Bính đã kể lại cuộc đối thoại giữa ông với cô Thoa – cô lái đò trên dòng sông Châu. Sau khi nghe Chu Văn thông báo: “Cô Thoa, bác Bính làm thơ, vẫn hàng ngày đi chợ nhờ đò cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi cô ạ”, cô Thoa đã gục mặt lên mái chèo, tiếng lạc đi: “Cháu biết! Giá chết thay được, thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ”. Không rõ trong đời mình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã gặp một cô lái đò nào có thể chia sẻ với ông đến vậy, song thực tế, lòng ngưỡng mộ của khán thính giả nhiều thế hệ đối với ông thông qua ca khúc nói trên dường như chưa bao giờ phai nhạt. Và đó chính là phần thưởng vô giá đối với một người nghệ sĩ ưa chuộng cuộc sống tự do như ông…

(baomoi.com – 29/10/2011 – 08:29)

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc và hiền thê Nguyễn Thị Bảo thời trẻ.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc và hiền thê Trần Thị Bảo thời trẻ.

Chuyện tình người nhạc sĩ ca khúc “Cô Lái Đò” (trích)

(PHƯƠNG UYÊN – Phụ Nữ Việt Nam cuối tuần)

Người vợ của cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc kể rằng, chưa bao giờ trong đời, bà thấy người chồng tài hoa của mình cười hạnh phúc tới vậy… Đó là khi bà thủ thỉ nói: “Em ước, mình cứ đi mãi cùng nhau thế này tới tận thiên đường”.

Căn nhà của cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc nhỏ nhưng ăm ắp kỷ niệm của gia đình với những bức họa được bày biện ngăn nắp của ông.

Bà Trần Thị Bảo – người vợ suốt 60 năm gắn bó với ông từ thưở ban đầu lưu luyến nay cũng đã hơn 90 tuổi. Bà là con gái bà Phùng Thị Tài – chủ hiệu phở Cát Tường nổi tiếng trên phố Cầu Gỗ (Hà Nội).

Nhớ lại thời thơ ấu, dù rất ham học nhưng là phận gái nên cô bé Bảo chỉ được bố mẹ cho học hết lớp 3 – sau khi đã biết đọc, biết viết, biết tính những phép tính đơn giản. Thèm học nên mỗi tối, khi gia sư đến dạy học cho các anh trai, Bảo lại đứng cửa nhìn các anh học và tự lẩm nhẩm làm toán. Về sau, cha cô xin cho học chữ Nho tại cửa hàng sách của ông bác gần nhà. Những khi bác không để ý, cô bé mải miết đọc hết sách này tới sách khác có trong thư viện.

Ở tuổi 17, cô gái Bảo đã nổi tiếng với nước da trắng nõn, đôi mắt đăm chiêu, miệng cười duyên dáng khiến ông Tham tán, chủ doanh nghiệp phải ngó nghiêng.

Thời gian đó, Bảo gặp nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc tại hiệu sách của anh trai Cả Ngoạn ở 110 Cầu Gỗ. Anh Phúc là người thường xuyên trong số bạn bè hay lui tới đọc. Với cô Bảo ngày ấy: “Anh Phúc thật thà, nói chuyện có duyên, tuy nhà nghèo nhưng học giỏi đỗ Tú tài. Gia cảnh anh Phúc khó khăn, đông anh em, mẹ bán cá ở chợ Đồng Xuân, tối anh phải đi kéo đàn Cello ở các Bar kiếm tiền giúp mẹ nuôi các em nên trong thâm tâm Bảo rất cảm kích. Một ngày, anh Phúc đưa Bảo mảnh giấy, vỏn vẹn mấy chữ: “Cô Bảo có muốn là vợ anh không?”. Tôi không trả lời, nhưng trong dạ thầm nghĩ, nếu lấy chồng sẽ lấy anh Phúc, nếu không thành sẽ không lấy ai cả”.

Khi biết mối quan hệ giữa cô con gái và nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc, gia đình Bảo phản đối kịch liệt vì không muốn gửi gắm cô con gái vàng ngọc cho “loại xướng ca vô loài”.

Bà Bảo kể: “Thầy tôi gọi tôi lên hỏi với giọng nghiêm khắc. Tôi chột dạ khi nhìn thấy con dao đặt trên bàn. Thầy quát: Dao đây, con đâm thầy một nhát! Thấy thầy lên cơn giận dữ tam bành, tôi đành tìm kế hoãn binh, giơ tay xin thề: Con xin hứa sẽ không lấy anh Phúc ạ!”.

Năm 1949 (cô Bảo tròn 25 tuổi và Nguyễn Đình Phúc 30 tuổi), sau khi lo cho các em ổn định, Bảo lên Thái Nguyên tổ chức đám cưới với người mình yêu vào ngày 19/8/1949 trong không khí vui vẻ, nhà văn, nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng và nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi làm chủ hôn.

và khi về già.
và khi về già.
Bà Trần Thị Bảo trong tranh Nguyễn Đình Phúc.
Bà Trần Thị Bảo trong tranh Nguyễn Đình Phúc.

Là người phụ nữ vững vàng và luôn nuốt nước mắt vào trong nên ngay cả khi nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc ra đi, bà Bảo vẫn lặng lẽ không khóc. Trọn 100 ngày xa chồng, bà đã viết cuốn hồi ký nồng nàn, da diết như tiếng đàn bầu sâu thẳm, dày 102 trang có tựa đề: “100 ngày anh ơi. Em thiết tha kể chuyện chúng mình”.

Năm 2001, khi nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc sắp mất, đã vội cầm tay nói với bà Bảo rằng: “May quá, đời tôi lấy được bà”, rồi cười mãn nguyện. “Ông ấy chỉ trả nợ một câu ấy, nhưng tôi nhớ mãi” – bà Bảo bồi hồi.

Trước khi ông mất không lâu, khi họ khoác tay nhau dạo bước, bà Bảo thủ thỉ với người chồng mà bà luôn ngưỡng mộ, yêu thương da diết rằng: “Em ước, mình cứ đi mãi cùng nhau thế này tới tận thiên đường”… Chưa bao giờ trong đời, bà Bảo thấy người chồng tài hoa của mình cười hạnh phúc tới vậy…

(PHƯƠNG UYÊN – Phụ Nữ Việt Nam cuối tuần)

oOo

Cô Lái Đò –Ca sĩ Hoàng Oanh:

 

Cô Lái Đò – Ca sĩ Sĩ Phú:

 

Cô Lái Đò – NSƯT Hồng Vân:

 

Cô Lái Đò – Ca sĩ Ngọc Bảo:

 

Cô Lái Đò – Ca sĩ Anh Ngọc:

 

Cô Lái Đò – Ca sĩ Khánh Ly:

 

6 cảm nghĩ về “Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Cô Lái Đò” – Nguyễn Bính & Nguyễn Đình Phúc”

  1. Giọng hát tài tử Ngọc Bảo tuyệt vời!
    Rất cảm ơn thông tin về nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc và nhà thơ Nguyễn Bính.

    Like

  2. Cám ơn bạn. Những bài viết của trang rất kỹ, thu thập nhiều thông tin cung cấp cho bạn đọc. Mình rất thích, chúc website ngày càng phát triển và được nhiều người yêu thích.

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s