Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đêm Hoàng Lan” – Trần Dạ Từ & Hoàng Thanh Tâm

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn hai thi khúc “Đêm Hoàng Lan” (“Mộng Đời”) của Thi sĩ Trần Dạ TừNhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm.

Thi sĩ Trần Dạ Từ sinh năm 1940, tên thật là Lê Hạ Vĩnh, sinh tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 khi đất nước chia cắt, định cư tại Sài Gòn, nơi ông bắt đầu làm thơ và viết báo, trở thành một thi sĩ được yêu thích trong giới văn nghệ miền Nam. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với thi sĩ Nguyên Sa làm tờ “Gió Mới”.

Năm 1963 ông bị chính quyền ông Ngô Đình Diệm bắt giam vì bất đồng chính kiến.

Sau biến cố 30/4/1975, ông cùng vợ là nhà văn Nhã Ca, bị nhà nước miền Bắc bắt giữ và bị buộc tội là “biệt kích văn hóa”. Ông bị giam cầm từ năm 1976 đến 1988. Thời gian này ông cho ra đời hàng loạt bài thơ, nổi tiếng nhất là bài “Hòn Đá Làm Ra Lửa” dài hơn 4000 câu.

trandatu_TDT-NC

Năm 1989, dưới sự bảo trợ của chính phủ Thụy Ðiển, gia đình ông được sang nước này định cư. Đến năm 1992 gia đình ông di cư sang Orange County, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tại đây cùng với bà Nhã Ca, vợ chồng ông xuất bản tờ Việt Báo.

Các tác phẩm của ông:

– Thuở Làm Thơ Yêu Em (Sài Gòn, 1960)
– Tỏ Tình Trong Đêm (Sài Gòn, 1965)
– Nụ Cười Trăm Năm (viết tại Mỹ, chưa xuất bản)

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thời trẻ.
Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thời trẻ.

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm sinh ngày 14 tháng 4 năm 1960 tại Sài Gòn, anh là thứ nam của ông Hoàng Cao Tăng, cố giám đốc Đài Phát Thanh Pháp Á (Radio France Asie). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thuộc thế hệ nhạc sĩ trẻ sau 1975, có những ca khúc đi sâu vào lòng người, và được xếp loại chung với những sáng tác của các thế hệ đàn anh trước 1975.

Với hơn 60 tác phẩm sáng tác trong khoảng 3 thập niên từ 1980-2009, trong số đó có những nhạc phẩm nổi bật như: “Tháng Sáu Trời Mưa”, “Lời Tình Buồn”, “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Ngập Ngừng”, “Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi” vv…, đã đem tên tuổi Hoàng Thanh Tâm đến với mọi tầng lớp khán thính giả khắp nơi, giúp anh có một chỗ đứng vững chãi trong làng âm nhạc Việt Nam.

Nghệ danh Hoàng Thanh Tâm là tên thật của nhạc sĩ, anh tự học nhạc qua sách vở, và đã biết sử dụng đàn guitar thành thạo từ nhỏ. Hoàng Thanh Tâm đã bắt đầu chập chững viết những note nhạc đầu tiên vào lúc 13 tuổi tại Sài Gòn, phổ nhạc thi phẩm “Cô Hái Mơ” của thi sĩ Nguyễn Bính, và đã hoàn chỉnh nhạc phẩm này tại Canberra, Úcvào năm 1987, sau khi ra mắt album đầu tay “Tình Khúc Hoàng Thanh Tâm” với chủ đề “Lời Tình Buồn” tại Hoa Kỳ năm 1986.

Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Pétrus Ký, Hoàng Thanh Tâm vượt biên đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai và được hội từ thiện Caritas bảo lãnh sang Bỉ năm 1979.

Anh đã theo học ngành Tin học (L’informatique) 3 năm tại trường Đại học Tự do Bruxelles và một lần nữa anh lại di cư sang Úc Đại Lợi vào năm 1982, và định cư luôn tại Úc cho đến bây giờ…

Trong 3 năm ở Bruxelles, Hoàng Thanh Tâm đã viết rất nhiều ca khúc về những nỗi nhớ thương quê nhà, cho những cuộc tình dang dở của anh, và nỗi cô đơn buồn tủi trên xứ người. Điển hình là những nhạc phẩm như: “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Đêm Tha Hương”, “Dáng Xưa”, “Xuân Mơ”, “Đêm Hoàng Lan” (phổ thơ Trần Dạ Từ), “Lời Cho Người Tình Xa”, “Tìm Em” vv…

Nhạc phẩm đầu tay anh viết tại hải ngoại là nhạc phẩm “Trả Lại Thoáng Mây Bay” đã được ca sĩ Lệ Thu trình bày lần đầu tiên trong băng nhạc “Thu Hát Cho Người” do chính Lệ Thu thực hiện năm 1982.

Qua Úc năm 1982, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã sống 6 năm đầu tại thủ đô Canberra. Trong thời gian này, anh có rất nhiều hứng khởi sáng tác, và đã tiếp tục viết rất nhiều tình khúc, cũng như phổ nhạc nhiều bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ thời tiền chiến và cận đại như “Tháng Sáu Trời Mưa” & “Cần Thiết” của Nguyên Sa, “Áo Trắng” & “Buồn Đêm Mưa” và “Tự Tình” của Huy Cận, “Ngập Ngừng” (Em Cứ Hẹn) của Hồ Dzếnh, “Đây Thôn Vỹ Dạ” và “Giọt Lệ Tình” của Hàn Mặc Tử, “Một Mùa Đông” của Lưu Trọng Lư, “Đêm Trăng” của Xuân Diệu, “Một Tháng Giêng” (Đêm Hoàng Lan)“Tình Tự Mưa” của Trần Dạ Từ, hoàn chỉnh thi phẩm “Cô Hái Mơ” của Nguyễn Bính vv…

Sau khi qua Mỹ năm 1986 để thực hiện album đầu tay “Lời Tình Buồn” và album thứ hai “Khúc Nhạc Sầu Cho Em” năm 1987 do trung tâm Giáng Ngọc của Lê Bá Chư phát hành, anh trở về Úc và chuyển về sinh sống ở Sydney năm 1988.

trandatu_Mộng Đời

Thi phẩm “Mộng Đời” (Thi sĩ Trần Dạ Từ)

Hoa và trái một đêm nào thức dậy,
Nghe mộng đời xao-xuyến giấc xuân xanh.
Con đường đó một đêm nào trở lại
Cùng gío mưa phùn trên cánh tay anh.

Hoa bỗng nở và trái sầu bỗng chín
Tim xa-xưa còn đó chút trông-chờ
Màu thơ dại vẫn tươi màu kỷ-niệm,
Bóng cây nào ôm mãi mắt hư-vô.

Tháng giêng đó, anh mỉm cười bước tới,
Khi yêu em tay cũng mở như lòng.
Môi Thần-Thánh biết gì đâu tội-lỗi,
Lối đi nào ngây-ngất bước song-song?

Anh sẽ nhắc trong những tàn phai ấy,
Ðêm hoàng-lan thơm đến ngọt vai mình,
Ai sẽ biểu trong một lần trở lại,
Hoàng-lan xưa còn nức-nở hồn anh.

Tháng Giêng hết thôi giận hờn đã muộn,
Khi xa em, vai mới biết đau buồn,
Tơ gấm biếc nào nâng từng bước chậm
Trả giùm tôi về những dấu chân chim.

Hoa và trái đêm nay đây thức dậy
Ôi mộng đời em hiểu chữ xuân-xanh
Con đường đó đêm này đây trở lại;
Cùng gió mưa phùn buốt cánh tay anh…

trandatu_Đêm Hoàng Lan

Thi khúc “Đêm Hoàng Lan” (Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm)

Hoa và trái một đêm nào thức dậy
Nghe mộng đời xao xuyến giấc xuân xanh
Con đường đó một đêm nào trở lại
Với gió mưa phùn trên cánh tay anh

Hoa bỗng nở và trái sầu bỗng chín
Tim xa xưa còn đó chút trông chờ
Ngày yêu dấu vẫn tươi màu kỷ niệm
Bóng cây nào ôm mãi mắt hư vô

Mùa xuân đó anh mỉm cười bước tới
Khi yêu em tay cũng mở như lòng
Môi thần thánh biết gì đâu tội lỗi
Lối đi nào ngây ngất bươc song song

Ai sẽ nhắc trong những tàn phai ấy
Đêm hoang lan thương đến ngọt vai mềm
Ai sẽ về trong một lần trở lại
Hoàng Lan xưa còn nức nở hồn anh

Mùa xuân hết thôi giận hờn đã muộn
Khi xa nhau vai mới biết đau buồn
Tơ gấm biếc nào nâng bước chậm
Mang trả dùm tôi những dấu chân chim

Hoa và trái một đêm nay thức dậy
Ôi mộng đời phai tàn dấu xuân xanh
Con đường đó một đêm nay trở lại
Với gió mưa phùn lạnh cánh tay anh

Dưới đây mình có bài:

– Ca khúc Trần Dạ Từ, một bất-ngờ-hạnh-phúc
– Hoàng Lan và Hà Nội

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Đêm Hoàng Lan” do các hai ca sĩ Vũ Khanh và Quang Ngọc diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Trần Dạ Từ.
Thi sĩ Trần Dạ Từ.

Ca khúc Trần Dạ Từ, một bất-ngờ-hạnh-phúc

(Du Tử Lê)

Trong sinh hoạt thi ca 21 năm miền Nam (1954-1975) những đóng góp của nhà thơ Trần Dạ Từ ở lãnh vực này, đã được khẳng định rất sớm.

Trước 1975, thi tập đầu tiên của Trần Dạ Từ là “Tỏ Tình Trong Ðêm” xuất bản năm 1966 tại Sài Gòn, gồm những bài thơ về chiến tranh. Ngay từ cuối thập niên 60′, nhiều bài trong tập thơ thời chiến này nhanh chóng được chọn dịch sang Anh ngữ, phổ biến và có ảnh hưởng tại Hoa Kỳ (1). Riêng tại Việt Nam, thi tập “Thủa Làm Thơ Yêu Em,” gồm những bài thơ tình đầu của Trần Dạ Từ, xuất bản năm 1970, được trao tặng giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1971.

Ðóng góp lớn lao của tác giả “Tỏ Tình Trong Ðêm” ở lãnh vực thi ca, không dừng lại sau biến cố tháng 4, 1975.

Mà, sau hơn 12 năm tù đày, ông đã tặng hiến cho thi ca Việt Nam trường khúc “Hòn đá làm ra lửa” dài hơn 4000 câu.

Ðó cũng là bài thơ đầu tiên, duy nhất tính tới hôm nay, đã khiến một thi sĩ gốc Việt, được mời đọc thơ trong một họp mặt trang trọng tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4, 1992. (2)

Với tôi, vinh dự đó, không chỉ dành riêng cho tác giả mà, còn cho cả dòng thơ miền Nam sau tháng 4, 1975. Nhưng, một Trần Dạ Từ nhạc sĩ, một Trần Dạ Từ của những ca khúc gần như chưa từng xuất hiện trong dòng chảy tân nhạc Việt Nam gần một thế kỷ, thì, với tôi lại là một bất-ngờ-hạnh-phúc, khác.

Hạnh phúc bất ngờ này, mãi tới thập niên thứ hai của thế kỷ 21, tôi mới có dịp biết, khi nghe CD đầu tiên của nhà thơ do Khánh Ly thực hiện. Tôi không nhớ được mình đã nghe đĩa nhạc đầu tay của thi sĩ Trần Dạ Từ vào lúc nào? Ở đâu? Chỉ biết đó là một hạnh phúc bất ngờ.

Mới đây, khi đọc lại bài viết của Ngọc Lan, tường thuật buổi ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” trên nhật báo Người Việt thì, tôi lại được hít thở một lần nữa cái không gian đầm đầm những bất ngờ và hạnh phúc, khác ấy.

Ngọc Lan viết:

“Tôi đến với đêm ra mắt CD ‘Trần Dạ Từ-Khánh Ly’ và ‘Nụ Cười Trăm Năm’ khi miệng tôi đã có thể nghêu ngao những câu hát ‘Chiều mưa. Mưa cho ta nhớ. Ta nhớ ôi ngày thơ. Thành phố xưa, hai đứa ta. Nơi hẹn hò, quán nhỏ chiều mưa lũ…’ cũng bằng cảm xúc của những miên man, se sắt, và thấm đẫm những nhớ nhung đến nao lòng.

“Nghĩa là, ‘Nụ Cười Trăm Năm’ đủ sức níu tôi nghe, nghe, và lại tiếp tục nghe để càng lúc càng nhận ra những điều thật lạ qua những ca từ, những thanh âm vừa mới vừa quen của nhạc sĩ/thi sĩ Trần Dạ Từ, cùng giọng ca có ma lực của Khánh Ly.

“Khán phòng sang trọng của The Turnip Rose nằm ở thành phố Costa Mesa chiều tối Chủ Nhật qua đầy nghẹt người. Họ là những người thân, những bằng hữu, những khán giả, những người cùng thế hệ, đến để gặp gỡ, để lắng nghe, để chúc mừng Trần Dạ Từ và Khánh Ly lần đầu tiên ra mắt CD.

“‘Nụ Cười Trăm Năm’ CD đầu tiên của nhà thơ, nhạc sĩ và người ca sĩ đã hiện diện trong dòng thơ nhạc Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua, đáng để người ta phải nghe và phải có lắm chứ!

“Tôi thuộc loại người thường không nhớ và không hay tìm hiểu về tác giả của những bài thơ, những tình khúc. Tôi chỉ mê nghe, và nhẩn nha theo những giai điệu có thể khiến lòng mình chùng lại, dịu đi, để rồi sau đó lại chùng chình, xốn xang, rưng rức những nỗi niềm, những kỷ niệm buồn vui, của mình, và cả của người.

“Thế nên, tôi đã cảm thấy ngạc nhiên đến bất ngờ thích thú khi nhận ra điều mà có lẽ nhiều người đã nhận ra từ lâu: Tác giả của lời thơ trong các bài hát ‘Người đi qua đời tôi’ (nhạc Phạm Ðình Chương), ‘Thuở làm thơ yêu em’ (nhạc Cung Tiến), ‘Nụ hôn đầu’ (nhạc Phạm Duy)… không ai khác hơn chính là Trần Dạ Từ, người nhạc sĩ của ‘Nụ Cười Trăm Năm.’”

Bài viết của Ngọc Lan đã giúp tôi nhớ ra điều chính mình từng phát biểu trong buổi ra mắt CD của người bạn thi sĩ:

“Nhà thơ Du Tử Lê, trong lời phát biểu của mình tại buổi ra mắt CD ‘Nụ Cười Trăm Năm’ đã cho rằng, ‘Vẫn là thành phố, vầng trăng, con sông, và tình yêu, nhưng đất trời nhân gian trong nhạc (cũng như trong thơ Trần Dạ Từ) là một đất trời, một nhân gian khác, không phải là cái mà chúng ta thường thấy trong tình khúc của chúng ta trong quá khứ.’”

Cám ơn Ngọc Lan. Nhớ lại, vẫn thấy đúng là một hạnh phúc bất ngờ.

Loạt bài này viết thêm về hạnh phúc ấy, từ một Trần Dạ Từ nhạc sĩ.

1- Trần Dạ Từ, từ thơ tới nhạc

Từ những năm giữa thập niên 1950s, trong một loạt bài 3 kỳ, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong thời đó, cố thi sĩ Hồ Ðình Phương đã không ngần ngại gọi ông là “Thần đồng thi ca.” Theo bài viết, đầu năm 1956, thi sĩ họ Hồ là thành viên hội đồng giám khảo của cuộc thi thơ xuân mừng tết nguyên đán do đài phát thanh Pháp Á tại Sài Gòn tổ chức, với giải thưởng trị giá bạc ngàn, khá lớn thời ấy. Sau khi kết quả được công bố, người đến đòi nhận giải nhất thơ chỉ là một cậu bé di cư chưa đầy 16 tuổi, cũng chẳng có giấy tờ. Giám đốc chương trình đài Pháp Á thời ấy là ông Hoàng Cao Tăng phải yêu cầu hội đồng giám khảo mở phiên họp truy xét cậu bé đủ cách để chứng thực. Sau khi đã duyệt xét bản thảo cả trăm bài thơ do cậu bé mang tới và thử thách đủ kiểu, chính thi sĩ Hồ Ðình Phương, với tư cách thư ký hội đồng giám khảo, phải ký tên bảo lãnh cho “thần đồng thi ca” có thể nhận tiền thưởng. Cậu bé di cư năm ấy sau này chính là Trần Dạ Từ. Nhận định của họ Hồ được thời gian thực chứng, với những đường bay thi ca tân kỳ qua những thi phẩm sau đó của Trần Dạ Từ.

Bộ sách hai tập “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại” của Trần Tuấn Kiệt do Khai Trí xuất bản trong những năm 60′ tại Sài Gòn phần về Trần Dạ Từ, viết nguyên văn như sau:

“Từ lúc phong trào thơ tự do xuất hiện, những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa… viết nhiều bài nói đến một ý thức mới của thi ca thời hậu chiến, thì Trần Dạ Từ âm thầm sáng tác và gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, sinh viên học sinh và giới trí thức hôm nay. Chẳng khác nào một Xuân Diệu của thời tiền chiến, thời nay người ta đua nhau đọc thơ của Trần Dạ Từ. Phải nói là sau thời chiến tranh (Việt Pháp) những tiếng thơ cũ không gây say sưa trong giới đọc thơ nữa. Người duy nhất làm cho chúng ta ngây ngất là Trần Dạ Từ với tiếng thơ của ông.”

Trần Tuấn Kiệt là người làm thơ. Sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại” của ông có thể chỉ là những cảm nghĩ chủ quan của một thi sĩ thời tuổi trẻ, như chính Trần Dạ Từ từng có lần nhận xét khi được hỏi. Nhưng tôi từng biết, “Thủa Làm Thơ Yêu Em” của Trần Dạ Từ là một trong dăm ba thi tập được tái bản nhiều lần trước 1975.

Từ đó tới nay, suốt 40 năm, dù đã an cư tại California, Trần Dạ Từ không in lại thơ cũ, cũng không phổ biến thơ mới, cho tới khi Khánh Ly Productions cho ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” ngày Chủ Nhật 13 Tháng Giêng năm 2011.

Câu chuyện về CD này được Khánh Ly, người hát, đồng thời cũng là nhà sản xuất, kể lại như sau:

“Mùa Hè 1959, ông Mặc Thu, sếp chương trình Tiếng Thơ, Ðài Phát Thanh Saigon, trịnh trọng bảo một anh nhóc tì, ‘Thi sĩ coi cháu Mai (4) tập bài này, điệu ru con miền Bắc.’ Tức cười. Năm ấy tôi 14. Thi sĩ bất quá chỉ hơn dăm ba tuổi. Hai anh em cùng dân bà cả đọi, đi xin ngâm thơ để kiếm cơm. Biết nhau từ đó.

“Ba mươi năm sau, tháng Chín 1989, mừng đón Trần Dạ Từ lần đầu tới Mỹ, một số bạn thân gồm các anh Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Trầm Tử Thiêng, chị Kiều Chinh và chúng tôi họp nhau ở Cerritos. Ngồi vòng tròn trên sàn nhà, tới phiên anh Từ, thay vì đọc thơ, anh cầm đàn. ‘Một mùa hè chết oan bên trời…’ Anh hát và nói, chỉ là loại bài hát lầm bầm cho qua trong tù thôi, chẳng để làm gì.

“Từ đó về sau, không thấy anh nhắc gì đến việc ca hát nữa.

“Mùa Hè 2009, bỗng nhớ bài hát cũ, tôi đi tìm anh Từ, bảo anh ngó quanh coi còn ai. Các ông ấy chết rồi. Anh cũng sắp chết. Những bài hát 13 năm tù đâu, đưa ngay chúng cho em.

“Nhờ vậy, có Nụ Cười Trăm Năm.”

(Trích sách nhỏ kèm CD Nụ Cười Trăm Năm)

Dù câu chuyện đã được Khánh Ly kể lại, việc một nhà thơ bỗng dưng thành nhạc sĩ vẫn gây nhiều thắc mắc. Trong mục “Trò chuyện với tác giả” trên trang nhà Du Tử Lê, chính nhà thơ Trần Dạ Từ từng trực tiếp trả lời với độc giả, thính giả. Xin trích nguyên văn phần hỏi đáp:

– Ðỗ Lê (San Francisco)

..Tôi đã đọc bài nhà thơ Du Tử Lê viết về Trần Dạ Từ, đã nghe Khánh Ly hát Chuông và Mưa, nghe Quang Tuấn hát Sinh Nhật Ca và đang theo dõi mục “Trò chuyện với nhà thơ.” Trong kỳ 3 vừa rồi, có câu hỏi của ông Quý Trần, về sự gần gụi và khác biệt giữa thơ và nhạc. Câu hỏi rất hay. Ðúng là điều chính tôi từng thắc mắc. Nhưng câu trả lời của nhà thơ thì quá vắn tắt, không trả lời gì cả, nên câu hỏi còn nguyên. Và tôi cũng còn nguyên thắc mắc. Xin cho biết theo ông, thơ và nhạc gần gũi và khác biệt ra sao.

– Nhà thơ Trần Dạ Từ trả lời:

..Ðể cám ơn sự nhắc nhở của ông Ðỗ Lê và tạ lỗi với câu hỏi rất hay của ông Quí Trần, thật khó vắn tắt. Ðành xin phép dài dòng.

Về sự gần gụi giữa thơ và nhạc, tôi đã thưa gọn rằng ông Quý Trần đúng, quan hệ thơ nhạc vốn tuy hai mà một.

Theo sự nhắc nhở của ông Ðỗ Lê, xin phụ họa thêm: Chỉ riêng các từ ngữ thi ca hoặc kinh thi, đã cho thấy chính thi dẫn đến ca hoặc kinh. Ấy là vì thơ vốn là cách nói, mà loài người thì biết nói trước khi biết hát, sau đó mới biết tới kinh sách hay trống kèn đàn địch.

Như chúng ta đều biết, chính thơ dân gian – đồng dao, ca dao – là gốc của mọi loại dân ca, dân nhạc, thánh ca. Bên Tàu, từ cả ngàn năm trước Tây lịch, ca dao 15 nước thời Xuân Thu đã là gốc của bộ “Kinh Thi” do Khổng Tử san định. Bên ta, ca dao là gốc mọi điệu ru, điệu hò, điệu hát. Cùng vậy, tại Trung Ðông, thơ dân gian Do Thái là gốc của thi thiên hay thánh vịnh trong Cựu Ước; Tại vùng thung lũng sông Hằng ở Ấn Ðộ, thơ dân gian Aryans là gốc của thánh ca Veda/Vệ Ðà.

Chúng ta cũng biết, như sử sách cho thấy, tài ba âm nhạc ít được kể tới trong lãnh vực sáng tạo: Lý Bạch viết Thanh Bình Ðiệu, Tô Ðông Pha làm mới Tống từ; Fujiwara no Teika khai sinh những bài ca vùng Yamato của nước Nhật cổ; Trần Nhân Tôn, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, viết đạo ca, ca trù, hát nói bằng chữ nôm… Tại Pháp, Guillaume de Machaut hoàn chỉnh các thể điệu tây phương ballade, rondeau, virelai. Vậy mà tất cả đều là thi sĩ, không thấy vị nào được gọi là nhạc sĩ. Rõ ràng về “danh phận” khi hai hợp thành một, tài thơ là chính, tài nhạc là phụ, giống như các bà vợ phải mang tên họ của ông chồng. Thậm chí, không thấy một nhạc sĩ nào được ghi lại tiểu sử, nếu nhạc sĩ không chịu làm thi sĩ, hệt như các cô không chồng thì xin miễn danh phận, chẳng có gì đáng kể.

Tình trạng “bất công” này kéo dài đã nhiều thiên niên kỷ, mãi tới thế kỷ 18 mới chịu kết thúc tại Âu Châu, nhờ thành quả của thời kỳ Baroque (mở đầu cho thời kỳ khai sáng, phát động bởi nhà thờ Ý, từ 1600 tới 1760, được thị dân hưởng ứng, lan khắp Âu Mỹ, mãi tới thế kỷ 20 mới tới Việt Nam do ảnh hưởng văn hóa Pháp.) Phong cách Baroque – từ ngữ gốc Bồ Ðào Nha có nghĩa là xù xì, thô ráp – coi mọi khuôn mẫu nghệ thuật cũ là ngọc đã mài xong, chẳng còn gì để làm. Muốn sáng tạo cái mới, phải coi mọi loại nghệ thuật là thứ ngọc còn xù xì thô ráp để mài lại từ đầu: Thơ nhạc phải phá bỏ mọi mẫu mực cố định (formes mixex/fixed forms) ví dụ: thể rondeau gồm 15 câu, ballade, Virelai từ 10 tới 13 câu, tương tự thể cố định của thơ Ðường luật là thất ngôn bát cú.

Từ đây, thơ và nhạc tách biệt và tự chuyên biệt hóa: thi (và) ca mỗi bài tự tạo thể điệu riêng, âm nhạc tự tạo thêm hòa điệu, nhịp điệu, không chỉ là thanh nhạc ca hát véo von, mà còn là khí nhạc hòa tấu không lời… cứ thế mà sinh sôi biến hóa cho đến ngày nay, đưa đến “những khác biệt quan trọng” giữa thơ và nhạc mà ông Quý và ông Ðỗ thắc mắc.

Về yêu cầu phân tích, tôi đã thưa thật với ông Quý là “không quen.” Xin mượn kiểu phân tích “bài hát-câu thơ” trong kinh Veda, phân khúc Atharva Veda:

Anh là chàng, em là nàng/Anh là bài hát, em là câu thơ/Anh là bầu trời, em là mặt đất
Ðôi ta cùng ăn ở tại đây,/cùng tạo ra con trẻ.

Veda/vệ đà, có nghĩa “tri thức,” bộ kinh gốc của Ấn Ðộ Giáo. Atharva Veda, có nghĩa “Tri thức theo các thầy tư tế ghi lại.” Trích theo bản anh ngữ:

I am he; you are she./I am song; you are verse. I am heaven; you are earth.
Let us two dwell together here;/ let us generate children. (Atharva Veda 3:29:3)

Từ thời Veda đến nay đã là 3000 năm. Cuộc hôn phối “bài hát-câu thơ” đã sản sinh nhiều thế hệ con trẻ. Biến dạng của chúng là vô cùng. Thú thật tôi không đủ khả năng phân tích, nên đành tự an ủi, rằng thơ nhạc cũng giống như tình yêu, vẻ đẹp hoặc món ăn, thay vì phân tích, ta có thể thưởng thức. Ðề nghị hai ông Quý-Ðỗ thưởng thức hát nói Nguyễn Công Trứ, từ khúc Tản Ðà, thơ Du Tử Lê, nghe hò Huế hay hát quan họ, hòa tấu khúc của J. S. Bach, và cả ca khúc… Lady Gaga. Hy vọng sẽ thanh thản “cảm nhận” như từ ngữ ông Quý đã dùng, thay vì nhức đầu đọc phân tích dài dòng.

(http://www.dutule.com/D_1-2_2-128_4-3736_5-10_6-12_17-173_14-2_15-2/tro-truyen-voi-nha-tho-tran-da-tu-ky-6.html)

Khi phát hành CD đầu tiên năm 2011, Trần Dạ Từ nói “Cám ơn Khánh Ly, người đã đánh thức những bài hát ngủ quên.” Bốn năm sau, trong Tháng Năm 2015, Trần Dạ Từ và Khánh Ly sẽ tiếp tục ra mắt thêm 2 CD mới, gồm 23 ca khúc. Bên cạnh các bài hát từ thời nhà tù, còn thêm nhiều bài hát mới viết. Như vậy, không chỉ “những bài hát ngủ quên,” mà cả người nhạc sĩ ngủ quên nhiều thập niên cũng đã được đánh thức, như tên gọi của hai CD này cho thấy. Trong thơ nhạc Việt, “Gội Ðầu/Bay” là thứ chưa từng thấy. “Gọi Tên Dòng Sông” là niệm khúc đầu tiên – một “requiem” hướng về các nghệ sĩ. Tôi rúng động khi nghe. Tưởng như thấy thời đại mình thở. Hơi thở ấy ra sao?

(Kỳ sau tiếp)
________________________________________

Chú thích:

(1) Sách “A Gift of Barbed Wire,” của Dr. Robert S. McKelvey/University of Washington Press. Tựa đề đặt theo bài thơ “Tặng Vật Tỏ Tình” được trích trang trọng trang đầu sách: “I give you a barbe wire / some creeping vine of this new age. Tran Da Tu.”

(2) Bản dịch Anh ngữ của “Hòn Ðá Làm Ra Lửa” do GS Nguyễn Tự Cường, Hoa Thịnh Ðốn. Người tổ chức và giới thiệu Trần Dạ Từ trong buổi đọc thơ là ông Jim (James) Webb, nhà văn cựu chiến binh, nhà làm phim, từng là thứ trưởng Quốc Phòng, bộ trưởng Hải Quân và thượng nghị sĩ liên bang, hiện đang thăm dò việc làm ứng viên tổng thống Hoa Kỳ 2016.

(3) Sách “Thi Ca Hiện Ðại” của Trần Tuấn Kiệt cũng như nhiều tư liệu khác ghi nhà thơ Trần Dạ Từ, tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh ở Hải Dương. Nhưng họ Lê đã chính thức xác nhận rằng tên thật của ông là Lê Hạ Vĩnh, tức làng Hạ Vĩnh huyện Thanh Hà, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Ðây là nơi có cây “vải tổ” của Hải Dương-Hưng Yên, vùng đất trồng vải thiều nổi tiếng khắp miền Bắc. Vụ án lịch sử đời nhà Lê, liên quan tới Nguyễn Trãi và Thị Lộ được sử sách ghi là “Vụ án Lệ Chi Viên,” có nghĩa vụ án vườn vải (thiều).

(3b) Trích từ trang 955, sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại,” tập II, bản in lại tại Hoa Kỳ theo kiểu photocopy.

(3) “Cháu Mai” là gọi theo tên thật của Khánh Ly, Nguyễn thị Lệ Mai.

(Du Tử Lê)

trandatu_Đêm Hoàng Lan

Hoàng Lan và Hà Nội

(Xuân Phương)

Tác giả Nguyễn Đình Tùng đã viết một bài tiểu luận với tựa đề: “Đọc một bài thơ như thế nào?”. Bài này gồm bốn phần là: Ẩn dụ; Sự hấp dẫn của chữ; Bài thơ và tác giả; Điểm nhìn và nhân vật.

Trong bài “Sự hấp dẫn của chữ”, có đoạn như sau:

“Khi phỏng vấn loạt bài thơ đến từ đâu tôi phải đọc nhiều thơ và trường ca của các nhà thơ đi từ miền Bắc, vốn xa lạ với tôi. Ngoài Bắc gọi đó là các nhà thơ thế hệ “chống Mỹ”. Tôi nhận ra rằng các nhà thơ này (Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha…) có thể so sánh với các nhà thơ miền Nam cùng thời hay trước họ một thế hệ thơ (Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Quách Thoại, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Bắc Sơn, Du Tử Lê, Viên Linh, Nguyễn Tất Nhiên…) nếu xét riêng về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, và chỉ riêng về mặt này mà thôi, trong những thời điểm chiếu sáng nhất của họ, và chỉ trong những thời điểm đó mà thôi, đã đạt đến mức tài hoa điêu luyện, mà các nhà thơ trẻ hiện nay, muốn chạy đuổi theo họ cũng còn… hơi bị lâu!”

Và trong phần dẫn thơ cuối cùng, ông đưa ra hai câu thơ của thi sỹ Trần Dạ Từ: “Trăng mười sáu tuổi, em mười sáu. Áo lụa phơi buồn sân gió xưa” để kết luận: “Tôi không cần phải bình nữa. Đọc lên thơm cả không gian.”

Trong bài Ẩn dụ ông có viết:

“Ẩn dụ gắn với các hình ảnh. Hình ảnh trong thơ là một chữ có tác dụng mang lại các yếu tố cảm giác như nhìn, sờ, nếm, ngửi, nghe. Nghĩa của chữ do đó được tăng lên nhờ các xúc động mang tính chất vật thể. Khác với văn xuôi và ngôn ngữ báo chí, người đọc cần để ý rằng trong thơ, ý nghĩa của một câu là rất quan trọng, nhưng chính hình ảnh của câu thơ đó mới quyết định sự thành công của nó. Hay không thành công…Ngôn ngữ thơ có hiệu lực mô tả những kinh nghiệm phức tạp mà ai cũng từng trải qua. Nghĩa của chữ do đó được tăng lên nhờ các xúc động mang tính chất vật thể: Gặp lại người bạn thân thuở thiếu thời, phẫn nộ trước cảnh bất công, sự mất mát đau đớn, v.v… Hay là tình yêu lâng lâng đầu đời.”

“Đọc lên thơm cả không gian – Nghĩa của chữ do đó được tăng lên nhờ các xúc động mang tính chất vật thể – Ngôn ngữ thơ có hiệu lực mô tả những kinh nghiệm phức tạp mà ai cũng từng trải qua như: Tình yêu lâng lâng đầu đời” – Các yếu tố đó hội đủ trong bài thơ “Mộng đời “của thi sỹ Trần Dạ Từ được nhạc sỹ Hoàng Thanh Tâm phổ thành nhạc phẩm “Đêm hoàng lan”. Trong đoạn thứ tư của bài thơ, thi sỹ đã chọn chữ “nức nở” một cách tài hoa điêu luyện trong câu: “Hoàng lan xưa còn nức nở hồn anh”, để mỗi khi đọc lên hay nghe hát đến, ta cảm thấy bàng bạc cả không gian mùi thơm ngọt ngào của hoa hoàng lan.

Anh sẽ nhắc trong những tàn phai ấy,
Đêm hoàng lan thơm đến ngọt vai mình,
Ai sẽ biểu trong một lần trở lại,
Hoàng lan xưa còn nức nở hồn anh.

Dựa theo chi, theo họ, hoàng lan là tên gọi của ba loại hoa thuộc ba họ thực vật khác nhau:
1- Một loài địa lan, thuộc họ Orchidaceae (Lan), có tên khoa học là Cymbidium lowianum.
2- Một loài nằm trong chi Michelia (Ngọc lan), thuộc họ Magnoliaceae (Mộc lan), cùng gia đình với hoa Mangolia (dạ hợp, thiết mộc lan), tên khoa học là Michelia champaca.
3-Một loài thuộc chi Cananga ( Công chúa), họ Annonaceae (Na / Mãng cầu), có tên khoa học là Cananga odorata.

*Thứ nhất, loài hoàng lan thuộc chi Ngọc lan = chi giổi (Michelia), họ Mộc lan (Magnoliaceae), tên khoa học là Michelia champaca hay Magnolia champaca.

Cây có tên là hoàng lan, hoàng ngọc lan, ngọc lan vàng, ngọc lan ngà, sứ vàng, tiếng Hán là đại hoàng quế, hoàng miễn quế, tiếng Anh là Fragant champaca hay Orange champak, tiếng Pháp là Champaca. Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ, Phi Luật Tân và Java.

Cây thân gỗ, cao đến 35m, có tán lá rộng 3- 4m. Lá hình bầu dục thuôn, dài 13-25 cm, rộng từ 5-9 cm. Mặt trên lá bóng láng màu xanh đậm, mặt dưới màu xanh lợt và có lông. Hoa nở mùa xuân, có màu từ trắng ngà đến vàng cam cam, rất thơm, mọc thành cụm giữa các nách lá. Dùng ướp trà hoặc chiết xuất tinh dầu.

Cây rất mạnh, là loài cây xanh được trồng ở đường phố để làm cảnh, cho bóng mát, cũng như để lấy hoa chiết xuất tinh dầu trong công nghiệp sản xuất nước hoa.

Ở Saigon trước năm 1975, một số cây hoàng ngọc lan này được trồng trong vài biệt thự nằm trên một con hẻm hình chữ L, thông từ đường Bà Huyện Thanh Quan qua Kỳ Đồng, gần trường Anh Ngữ Diên Hồng của ông Lê Bá Kông .

Đây đóa hoàng lan, đóa ngọc lan
Rưng rưng hoa thắm nở trên bàn
Hoa vào giấc ngủ, vào trang viết
Như tấm tình em, yêu chứa chan
(Nguyễn Văn Chương)

* Thứ hai loài hoàng lan thuộc chi công chúa (Cananga), họ Na / Mãng cầu (Annonaceae), tên khoa học là Cananga ordonata, tên cũ là Uvaria odorata.

Cây có các tên: Hoàng lan, hoàng ngọc lan, ngọc lan tây, lan tua, sứ tây, sứ xơ mít, sứ công chúa, ylang công chúa, y lăng … tiếng Ang gọi là Ylang- ylang (nguồn gốc từ tiếng Talagog: có nghĩa là hoa của các loài hoa), tiếng Pháp gọi là Cananga, tiếng Thái lan gọi là Kradangnga-songkhla, tiếng Mã lai gọi là Chenanga, tiếng Nam dương (Javanese) gọi là Kenanga.

Cây có nguồn gốc từ Phi Luật Tân, Nam Dương và Mã Lai, nhưng cũng phân bố tự nhiên rộng khắp ở các đảo Thái Bình Dương, vùng bắc Úc Đại Lợi, Polynesia, Melanesia, Micronesia, Ai Lao, Thái Lan và Việt Nam.

Cây thân gỗ, cao từ 10-15m, vỏ cây màu xám trắng, không có lông. Cành thường mọc nhánh ngang hay thòng, mang lá song đính, tức là lá đơn mọc cách, xếp thành hai hàng trên cành nhỏ, dễ rụng. Phiến lá mềm, mỏng.Lá cây hình xoan dài, hơi lệch, mép hơi gợn sóng, đỉnh thuôn, hai mặt lá nhẵn và bóng láng, dài 15-20cm, rộng 5-8cm.

Cây cho hoa nhiều tháng trong năm. Hoa có mùi thơm rất nồng, mọc từ nách lá, thành từng cụm trên những càng ngắn không lá. Hoa có hình dáng rất đặc biệt, hoa lớn nhưng cuống lại nhỏ nên luôn luôn rủ xuống phía mặt đất, với sáu cánh dài hình dải thuôn, lượn sóng, xếp thành hai vòng, hoa mới nở màu xanh lục, sau chuyển qua màu vàng ánh xanh, đầu hoa xoè rộng và xoắn lại, có người nói hoa giống như một cô gái tóc vàng đội vương miện, nên gọi văn vẻ hoa là sứ công chúa, hoặc tượng hình bình dân là sứ xơ mít.

Mỗi hoa cho ra một chùm trái, chứa khoảng 10 – 12 hột giống như hột mãng cầu.

Em là ylang công chúa
Hoa của các loài hoa
Em đã từ đâu tới!
Rung động trái tim ta
(Hoàng Thái Sơn)

Tinh dầu hoa hoàng lan được chưng cất, dùng trong công nghiệp sản xuất nước hoa (Hiệu Amarige của Givenchy – Pháp và hiệu Ylang Ylang của Decléor – Pháp)

Loài cây tương cận, gần với cây hoàng lan = sứ công chúa = ylang công chúa này là cây công chúa = hoa giẻ (giẻ đây là giẻ rách), tên khoa học là Cananga latifolia, lá rộng, chỉ có 1- 3 hoa mọc đối diện lá, trái có eo chỉ chứa một hột, hoa cũng màu vàng xanh rất thơm, tìm thấy nhiều ở vùng Tây Ninh, Thủ Đức, Biên Hòa. Ngoài ra, còn có một loại dây leo gọi là dây công chúa, tên khoa học là Antabotrys hezapetalus.

Cây hoàng lan thích hợp với nơi có nhiều nắng, nhiều mưa, nên hiện diện ở cả ba miền Việt Nam, nhưng chỉ trồng rải rác, lác đác một vài cây ở sân đình, chùa, am, miếu, công viên, công sở… hay nhà dân để lấy bóng mát hay làm cảnh, chứ không được trồng phổ biến ở các đường phố vì cành cây giòn, dễ gẫy khi có gió lớn. Hoàng lan ở VN cũng chưa được quan tâm nghiên cứu trồng tập trung để sản xuất tinh dầu.

Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa
Riêng đóa hoàng lan trong mắt tôi
Làm sao anh biết khi xa bạn
Tôi cũng như chiều: tôi mồ côi
(Du Tử Lê)

Cây hoàng lan phải trồng được ít nhất sáu, bảy năm rồi mới ra hoa. Phần nhiều những cây hoàng lan ở Hà Nội ngày nay là đại thụ (do người Pháp đưa tới cả trăm năm trước), nên cây rất cao, cành lá duỗi dài trong không gian. Hoa nở thành chùm trên cành, khi còn xanh non thì lẫn trong màu xanh của đám lá, giống như các tàn lá tìm cách cất giấu hoa của chúng vậy! Khi hoa chín chuyển sang màu vàng, đứng dưới gốc ngước mặt trông lên, chùm hoa bò lan trên cành cây, giống như một loài hoa tầm gửi. Cành cây nhìn thì to lớn, nhưng dễ gẫy, nên ít ai trèo cây để hái hoa, hoặc dùng cây sào để khoèo hoa tươi như những người hàng hoa, hoặc đợi hoa rụng nhặt mang về. Hoa rụng rồi còn rất thơm, để trong nhà cũng được vài ba ngày rồi mới héo, nếu bỏ hoa vào túi nylon cất trong tủ lạnh, thì giữ được lâu hơn, dùng để ướp thạch rau câu chẳng hạn.

Những chùm hoa hoàng lan vàng đong đưa mềm mại trên cây, người ta bảo giống như bàn tay Phật, nên hoa được dùng làm hoa cúng của người Hà thành.

“Rằm mồng một, bao giờ bà tôi thắp hương cũng có hoa đĩa, còn gọi là hoa gói. Mỗi gói có năm loại hoa: cúc vạn thọ, thiên lý, hoàng lan, hồng bạch và ngâu, được gói trong lá dong riềng (buộc lai nhờ chiếc lạt giang mỏng manh). Những thứ hoa này không cắm vào lọ mà đặt trên đĩa” (Phạm Kim Anh)

Anh đừng ngắt hoàng lan khi hoa còn xanh
Mầu áo ấy, là thời hoa trinh nữ !
Em nhặt nàng tiên chết trẻ
Hồn hoa run ngón tay thon
(ĐV Hoàng Nguyên)

Hoa ngọc lan được nhiều người biết đến, nên người ta thường dùng ngọc lan để mô tả hoàng lan. Về màu sắc, hoa ngọc lan cánh thon trắng muốt, hoa hoàng lan cánh cong vàng hây. Về hình
thức, hoàng lan tương đối giống ngọc lan, đều có cánh thuôn dài, nhưng cánh hoa hoàng lan to hơn, dày dặn hơn. Hơn nữa, hoa hoàng lan tươi lâu hơn hoa ngọc lan. Về hương thơm, mùi hoa ngọc lan man mát, dịu dàng, còn mùi hoa hoàng lan thì mạnh mẽ và ngọt ngào hơn (Nhất là sau mỗi cơn mưa, mùi hoa hoàng lan ngọt ngào như mùi kẹo). Cả hai loài hoa này cùng có hương thơm thoang thoảng để cảm nhận, chứ không cần đưa lên mũi ngửi, lại rất sâu và bền (sâu làm ta khó quên, bền thì thơm lâu dài), nhưng hoa ngọc lan cho ta cảm giác mát lạnh, còn hoa hoàng lan thì nồng ấm hơn .

Ngọc lan xưa em trồng
Cánh nõn nà như tuyết
Hoàng lan xưa anh trồng
Cánh vàng chen lá biếc
(Minh Nguyệt)

Ngọc lan và hoàng lan không ra hoa cùng một thời điểm, hoàng lan với hoa sữa lại là hai loại hoa đặc biệt riêng của Hà Nội tháng mười, tháng một (mười một). Vào lúc này, Hà Nội tràn ngập trong hương thơm của những cây hoàng lan và hoa sữa trên đường. Hoa hoàng lan ngọt ngào, hoa sữa nồng nàn thi nhau tỏa hương trong không gian: phảng phất nơi góc phố, xôn xao trong vườn, ngào ngạt thấm sâu vào từng mái ngói…

“Hẳn có người khó ngủ nếu bên cửa sổ có xòa một cành sữa mùa thu. Có người như bị dị ứng, không chịu được mùi hương ấy nên ghét cay, ghét đắng, mỗi mùa hoa nở chỉ mong cho thu chóng tàn để rời xa nó. Nhưng phần lớn người Hà Nội lại say nó như mối tình đầy chờ đợi, đợi cứ sang thu được đắm mình vào một thứ hương tình không nơi nào có được.

“Nếu hoàng lan cứ ngan ngát suốt đêm thu như thứ nước hoa Chanel quí phái, thì hoa sữa phàm trần hoan, thế tục hơn, đậm đặc hơn, thức gọi hơn. Hoàng lan là cô gái cấm cung hơi ẻo lả vóc mai gầy. Còn hoa sữa lại là thiếu phụ “trông mòn con mắt”, mập mạp, má au lên sức sống tràn căng bừng bừng, đòi hỏi một điều gì dữ dội hơn, mê đắm hơn. Ai hay đi ngủ sớm chắc nhẹ tình cùng hoa sữa. Còn mái đầu nào thích chung đèn thi với đêm thâu, hẳn khi thành phố lên đèn còn gõ bước chân những ngã ba, ngã tư cho vai áo mình lổ đổ bóng thêu, cho tóc mình ngạt ngào loài hương tình ái ấy”. (Băng Sơn)

Em ơi! Hà Nội phố
Ta còn em mùi hoàng lan
Còn em hoa sữa.
Tiếng giày gọi đường khuya
Thang gác cọt kẹt thời gian
Thân gỗ …
(Phan Vũ)

Đoạn văn trên của nhà văn Băng Sơn, chuyên viết về Hà Nội (Hà Nội là nơi sinh sống, là tình yêu, là máu thịt, là nguồn cảm hứng vô tận của tác giả). Khi đề cập đến mùi hương giữa hoa hoàng lan và hoa sữa thì có người nói: “Đôi lúc nhắc đến Hà Nội, tôi lại nghĩ đến một mùi hoa thơm thoang thoảng cả vẻ đẹp của Hà Nội hòa vào trong gió ? Đó là mùi hoa sữa của những cặp tình nhân, mùi hoàng lan của những hồn thi sĩ, dạ lan hương của những lời thủ thỉ, đóa quỳnh hương như khúc hát tự tình.” (Khán giả TLMN)

Có người lại viết:” Ai đó nói rằng Hà Nội là thành phố của hoa đào, hoa huệ tây, hoa sữa.. nhưng có lẽ sâu xa nhất, lật giở những áng văn thơ cũ, phải chăng loài hoa đặc trưng của Hà Nội mới chính là hoàng lan, hoa nhài, hoa thủy tiên ? “

Tháng mười một gió ngạt ngào
Hoàng lan nở muộn đêm sao nồng nàn
Heo may tháng chạp khẽ khàng
Thủy tiên trinh tiết dịu dàng thiết tha
(Tiểu Vũ Vi)

Có một đoạn văn trong bài viết “Về Hà Nội “của tác giả Vũ Tuất Việt như sau:” Còn cây hoa sữa ? Loài cây yêu quý này sống với Hà Nội lâu rồi, nhưng hương hoa sữa thực sự lên ngôi từ khi thủ đô ta vĩnh viễn về với chúng ta. Khó có thể nói khác rằng hương hoa sữa là một khám phá Hà Nội. Người cả nước cùng khám phá. Văn, thơ, nhạc, họa đều có công “.

Đêm nghe gió rít qua thềm
Nhớ về Hà Nội của em vô chừng
Cuối thu trăng vẫn sáng trưng
Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian
(Tế Hanh)

Trong bút ký “Thương Nhớ Mười Hai “của nhà văn Vũ Bằng (tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách viết về người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971), phần “Tháng Chín gạo mới chim ngói “có đoạn:

“Trời tháng chín ở Bắc Kỳ lạ lắm. Có nhiều lúc trời đang nắng hanh vàng bỗng tím về một hướng rồi mưa rào rào một lúc rồi tạnh, rồi bất thần lại mưa. Đó là mưa bóng mây, đó là mưa rươi.
Cái mưa này, tuy vậy không có gì độc hết. Thường thường, người ta chỉ se mình, khó ở một chút thôi. Nhưng trời khéo đa tình, cứ vào lúc màn đêm rủ xuống, gió bấc nổi lên thì máu phát ra từ con tim dường như chảy mạnh hơn và cả vợ cả chồng đều thấy diễm tình bát ngát trên làn môi thương thương, trong đuôi mắt yêu yêu… Đến khuya, cả hai vợ chồng vẫn nằm mở mắt trong bóng tối để nghe tiếng gió lay động những cành hoàng lan…”
Viết một bài thơ để tặng em
Đêm khuya cho mượn gió bên thềm
Trăng khuya cho mượn gương treo cửa
Tình tứ hoàng lan hương chín thêm.
Ngày sống bên nhau vẫn nhớ nhau
Tương tư đâu chỉ buổi ban đầu
Tương tư nào chỉ khi xa cách
Nỗi nhớ nằm trong nỗi ước ao
(Huy Cận)

Những đoạn văn trích trong truyện ngắn rất nhẹ nhàng “Dưới Bóng Hoàng Lan “của nhà văn Thạch Lam, đọc xong tưởng như tác giả chưa viết hết, kết thúc để người đọc tự suy nghĩ. (Bóng hoàng lan đây là bóng mát cuối cùng của một thời quá khứ. Một chốn bình yên không bao giờ còn có lại cho riêng cuộc đời tác giả):

“Bà cụ đi ra. Thanh bỗng thấy mệt mỏi. Chàng lặng nằm xuống giường, ruổi chân tay, khoan khoái. Ngoài khung cửa sổ, trời xanh ngắt ánh sáng; lá cây rung động dưới làn gió nhẹ. Một thân cây vút cao lên trước mặt. Cùng một lúc, chàng lẩm bẩm: “cây hoàng lan!”, mùi hương thơm thoang thoảng đưa vào. Thanh nhắm mắt ngửi hương thơm và nhớ đến cái cây ấy chàng thường hay chơi dưới gốc nhặt hoa. Ðã từ lâu lắm, ngày mới có căn nhà này, ngày cha mẹ chàng hãy còn. Rồi đến ngày một bà một cháu quấn quít nhau. Thanh ra tỉnh làm rồi đi về hàng năm, các ngày nghỉ. Bây giờ cây đã lớn.

…Bữa ăn xong. Thanh với Nga đã trở lại thân mật như khi còn nhỏ. Thanh dắt nàng đi thăm vườn; cây hoàng lan cao vút, cành lá rủ xuống như chào đón hai người. Có lúc gần nhau, Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng thơm như có giắt hoàng lan. Nhưng hoa lan chưa rụng, vẫn còn tươi xanh ở trên cành, Nga bảo Thanh:

– Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá.

Thanh chẳng biết nói gì; chàng vít một cành lan xuống giữ ở trong tay để Nga tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Nắng soi vào vai hai người, nhưng dưới chân đất vẫn mát như xưa.

…Ðêm ấy, một bà, một cháu với một cô láng giềng chuyện trò dưới bóng đèn mãi tới khuya, khi trăng lên. Qua vườn, Thanh tiễn Nga ra đến cổng, đi qua hai bên bờ lá đã ướt sương. Mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gió ngát”.

Trăm đường phố chọc trời cao thẳm mây
dễ quên sao cô hàng xén to tần
Hoàng lan một thoáng, trăng còn ngát
Sợi tóc nào nào neo giữ tháng năm ?
Văn nhân, tài tử đời sương khói
hồn lạc nơi nào giữa bán mua ?
Ba mươi sáu phố phường tìm hỏi mãi
bỗng gặp anh trong gió đầu mùa !
(Nguyễn Vũ Tiềm)

Hà Nội tuy có nhiều cây hoàng lan thâm niên, nhưng rải rác mỗi nơi một đôi cây như bên Hồ Tây, trên phố Phan Đình Phùng, Chu Văn An, Đội Cấn, Đại Cồ Việt, Tô Ngọc Vân, Điện Biên Phủ…

Ngõ Tức Mạc, ở phố Trần Hưng Đạo trước kia có danh hiệu là ngõ hoàng lan, ngày nay hai cây hoàng lan cổ thụ nơi đây đã bị chặt đi rồi.

Đoạn phố ngắn trên đường Điện Biên Phủ, gần cổng Bộ Ngoại Giao, được những người yêu Hà nội đặt tên là phố hoàng lan, vì nơi đây có nhiều cây hoàng lan nhất, hơn mười cây từ trên phố, trong tư gia, trong khuôn viên Bộ Ngoại giao, kể cả trong vườn Kính Thiên. Mùa thu về, đi ngang qua nơi đây, người ta cảm thấy như cả không gian được ướp trong hương hoa hoàng lan mênh mang.

Cũng phải nói thêm về đoạn phố Điện Biên Phủ này (thời Pháp thuộc là đại lộ Puginier, người dân Hà Nội vẫn quen gọi là đường Cột Cờ, vì cột cờ Hà Nội, do vua Minh Mạng cho xây năm 1812, nằm bên đường trong khu vực đó. Sau 1945, đường có tên là đường Cộng Hòa, rồi đổi là đại lộ Nguyễn Tri Phương. Sau 1964, trở thành đường Điện Biên Phủ); phố Phan Đình Phùng (đại lộ Carnot) và phố Hoàng Diệu (trước là đại lộ Victor Hugo, sau là đại lộ Pierre Pasquier) là ba con phố mà giới trẻ ngày nay cho là đẹp nhất Hà Nội.

Đi suốt con phố hoàng lan
Lòng kẻ lữ hành rộn rã
Hành khất hương thơm vòm lá
Ngập ngừng hơi thở
Đêm
Bất chợt gặp trong hồn một ai đó rất quen
Nụ cười thả vào lòng của phố
(hoacucxanh22)

Mùa thu Hà Nội và hoa hoàng lan đã có một gắn bó lạ kỳ. Mỗi năm đến mùa, như không hề thay đổi, các cây hoàng lan ở Hà Nội chỉ bắt đầu tỏa hương khi những cơn gió heo may nhè nhẹ, dìu dịu, gây gây, đủ chớm lạnh để gọi thu về. Gió mang theo mùi thơm nồng nàn của hoàng lan bay dài trên phố.

“Những đêm chuyển mùa gió heo may, từ cửa sổ của căn gác nhỏ, chẳng cần chuyên tâm chú ý cũng có thể nghe thấy một bản giao hưởng hương hoa đang thánh thót ngân nga dưới đôi tay tài tình của người nghệ sĩ thiên nhiên vô cùng điêu luyện. Thanh âm trong trẻo, thánh thót của những chùm hoàng lan tinh khôi, giai điệu du dương đài các này là tiếng rung nhè nhẹ được gió đưa đẩy mộc mạc, chân thành…Dường như có bao nhiêu hoa là có bấy nhiêu cung bậc thanh trầm. Chúng cứ ngân lên, hòa quyện vào nhau rồi lại tan loãng ra, rồi lại vút lên như bất tận.
Đêm càng về khuya, mùi thơm càng đậm, bản nhạc hương hoa càng da diết, bồi hồi vì chỉ trong đêm khuya, mùi oi nồng của nắng, mùi khói xe qua lại của nhịp sống gấp gáp đã tạm lắng đi, nhường chỗ cho một không gian thanh tịnh chỉ có hương hoa xao xuyến.
Có lẽ, cũng chỉ ở Hà Nội mới cảm nhất được hết mùi hương thanh tao đó của hoa hoàng lan, không thắc thỏm, da diết đưa hương quyện đan trong gió thành một thứ ngôn từ rất riêng báo hiệu sự quay trở lại rất đỗi bâng khuâng của hoa sữa mùa thu. Hoàng lan là cả một sự tinh tế đến nhu mì rất đỗi duyên dáng như thể con gái Hà thành sắp bước sang tuổi cặp kê. Có chăng vì lẽ đó mà phải những người có tâm, có tình mới cảm nhận được sự có mặt của hoa thoang thoảng đâu đó, xa xăm mà như gần gũi thân thương vô cùng.”
(Tuyết Minh)

Heo may trong trẻo về qua phố
Hoa hoàng lan thơm mãi mà say
(hanoicoxua)

Hoàng lan thuộc về không gian của một Hà thành cổ kính, của một thời quá khứ đầy ắp kỷ niệm- Những căn nhà cũ xưa, thâm trầm, với những lớp ngói rêu phong hàng trăm năm, đã san sát, nương tựa vào nhau ở các khu phố Ta, mà đầu ngõ nhỏ hay mảnh sân gạch chung của ba, bốn gia đình có trồng hoàng lan, ngọc lan, cây bàng, cây sấu…

Mùi hương hoàng lan như gắn bó cùng những ngôi biệt thự xây từ thời Pháp thuộc, tường quét vôi vàng, với ống khói lò sưởi, với các ô cửa sổ cuốn vòm… mang vẻ kiến trúc đầu thế kỷ, ở các khu phố Tây. Hàng rào trồng cây găng, cây ô rô được tỉa xén cẩn thận bao quanh nhà. Vườn thường ở trước nhà, trồng hoa. Và bao giờ ở trước cửa sổ cũng có hoặc cây hoàng lan, hoặc cây ngọc lan, cây hoa đại (sứ cùi)…Vườn trong phố và hương hoa của các cây này đã tạo cho Hà Nội một nét đặc biệt riêng.

Phố bình yên là phố của ngày xưa
Phố ngái ngủ dưới bóng hoàng lan đêm trầm vào hơi thở
Tôi tưởng mình phiêu linh vô cớ
Tìm về nhà trên con đường xa
Tìm về nhà trên con đường qua
(PĐ Thiên Thư)

“… Nó không thuộc về những cái thất thường, ngắn ngủi. Hơi cổ một chút, hơi cũ một chút, hoài niệm một chút – đó là khoảng không gian mà hoàng lan thuộc về. Ba gốc hoàng lan trong sân Bảo Tàng Mỹ Thuật, hàng cây đầu Điện Biên Phủ, cuối Tràng Tiền, ngã ba Hàng Lược… đều tỏa bóng trước những tòa biệt thự cổ. Tưởng như chỉ cần dừng chân lại đó lâu lâu một chút, sẽ thấy một thiếu nữ Hà Nội xưa áo dài tóc mai cặp cao, tay cầm chiếc xắc nhỏ, khẽ khàng mở cánh cửa gỗ xanh đầy bụi và nhịp guốc đi qua lạo xạo lá và hương hoàng lan, ra phố…” (PN)

Anh tìm
Gốc hoàng lan dưới mùa thơm ngát
Người ơi
Đôi mắt về nẻo khác
Vời vợi rồi
Người cũ
Ở đâu?
(Thái Thăng Long)

Qua hai đoạn văn trích dẫn phía trên, những đóa hoa hoàng lan được hai tác giả Tuyết Minh và PN ví như những thiếu nữ Hà thành ngày xưa đến tuổi cập kê (cập kê = cài trâm. Theo Kinh Lễ Trung Hoa thì con gái đến tuổi 15 thì được cài trâm, đủ trưởng thành dể lấy chồng).

Những căn biệt thự cổ ẩn dưới những gốc cây hoàng lan- trên trăm năm trở thành cổ thụ- được tàn lá che chở, làm cho ta một cảm nhận được một cái gì đó thật êm đềm, bình yên.

Hai yếu tố này gợi cho ta trở về một hình ảnh đầy nét trữ tình, thơ mộng; Với bối cảnh là tiết thu nhẹ nhàng của Hà Nội, với thời gian là những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX, với không gian là những khuôn viên êm đềm vây quanh nhà, đến mùa hoa hoàng lan rụng đầy trên sân. ấp ủ hương thơm cho những ngôi biệt thự cổ thâm u, cánh cổng thường khép chặt, để nhìn qua cánh cửa mở, thấp thoáng bên song, là bóng dáng những thiếu nữ Hà Nội ngày xưa yêu kiều, e ấp.

Các cô gái mới lớn thường chưa búi tóc, niềm tự hào của họ vẫn là mái tóc dài, dầy, đen nhánh và mượt mà. Phía trước tóc mai kẹp cao, chải tóc vuốt ra phía sau buông xõa quá bờ vai hay kẹp hững hờ bằng chiếc kẹp ba lá. Hồi xưa, các nữ sinh Hà Nội mang guốc mộc đi ra đường, chứ không đi dép.

Năng thu xinh xinh màu nắng mai
Vàng nhẹ nhàng như em mười sáu
Cái chớm nở của tuổi vừa mới lớn
Ngát hương trong như cánh hoàng lan
(yuri)

Khoảng những năm 30, các cô gái Hà Nội không chít khăn tơ nhiễu, hay khăn hoa nhiều màu nữa mà vấn đầu trần, nghĩa là quấn lọn tóc quanh đầu, rồi giữ chặt lại bằng cái trâm hay chiếc lược. Rồi họ chuyển sang bới tóc, nhưng búi tóc bấy giờ buông thõng thấp che kín gáy, tạo nên vẻ duyên dáng. Có lẽ thay đổi lớn nhất là lối chải tóc bồng phía trước trán đơn giản đến quấn sâu kèn, khiến cho cái trán trở nên cao hơn, dáng người trở nên thanh thoát hơn. Họ thường có chiếc khăn san mỏng quấn hờ quanh cổ, để làm đẹp nhiều hơn là để cho ấm. Áo dài tân thời được các thiếu nữ Hà thành ưa chuộng, vì nó phô diễn cái đẹp trong sáng, cái dịu dàng của họ một cách tinh tế, lịch duyệt.

Theo một nhà nghiên cứu về Hà Nội nhận xét thì: “Thiếu nữ Hà Nội xưa được tiếng là kín đáo, nết na, đảm đang, khéo léo. Giọng nói luôn nhẹ nhàng, ý nhị, lịch sự, phát âm chuẩn. Họ không nói trống không, không hói tục hay cười hô hố, hoặc gọi nhau í ới ngoài đường. Bước đi lúc nào cũng khoan thai, uyển chuyển, nhấc cao chân để không phát ra tiếng động nơi công cộng, không gõ guốc cồm cộp hay kéo lê đôi dép quèn quẹt …”

Làn thu sớm buông ngang thời thiếu nữ
Hương hoàng lan gối thao thức mùa trăng
… Biết heo may ăm ắp mùa đang gió
Trời hanh hao nắng hạ bớt bên thềm
(Quốc Bảo)

Khi đề cập đến cái đẹp của phụ nữ Hà Nội, người ta thường “hoài cổ “, nhớ lại vẻ đẹp của cô gái Hà thành thời xưa kia, hay là thời cận đại, những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX. Người con gái Hà Nội như danh tiếng truyền tụng, là mẫu người thanh tao, đoan trang, nhã nhặn, thể hiện trong cách đi đứng nhẹ nhàng, khoan thai; cách ăn nói nhỏ nhẹ, ý tứ, đó là phong cách thanh lịch. Phong cách thanh lịch không chỉ có ở nữ giới, mà còn có ở cả nam giới – trai thanh, gái lịch – phong cách chung của người dân mảnh đất kinh kỳ, ngàn năm văn vật.

Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi muốn hiểu hai chữ thanh lịch của người Tràng An thực sự thì phải hiểu từ bản chất:

“Thanh lịch nên được hiểu nôm na là “nền nã” thì đúng hơn. Tràng An là nơi hội tụ của bốn phương đất nước sớm nhất, và đã trải qua gần mười thế kỷ. Chính chiều dày lịch sử đó đã tạo nên con người với một sự ứng xử thế nào cho đẹp và quan trọng là có được cái ý thức về sự tự do. Xã hội Tràng An nổi bật lên vì trong cả một cái biển mênh mông là nông thôn và làng mạc với tư tưởng tiểu nông và nền dân chủ công xã “cá đối bằng đầu”, bên trên thì rất sợ mấy ông chánh phó lý, không làm gì có sự tự do. Khi anh ra đến môi trường Hà Nội với các nghề thủ công và buôn bán, với các phường hội, anh bắt đầu cảm nhận được vòng dây trói bấy lâu thít chặt nay đã nới lỏng ra ít nhiều. Anh bắt đầu có chút tự do, được cải tiến nghề nghiệp và cạnh tranh với người khác để tăng tiến trong nghề, nên trong ứng xử anh phải cố giữ cho được cái đó. Thế giới của những người thợ thủ công và những người dân buôn bán còn có thêm ảo vọng về việc thoát khỏi cái xiềng tập tục tư tưởng nào đấy mà nông thôn không thoát được. Thế nên càng phải tôn trọng cái đó để xử sự cho đẹp, tôn trọng tự do của nhau. Những cái đó cứ được cố kết lại, đúc lại dần dần. Đồng thời thêm vào đó là học vấn, là văn hóa; sự cư xử phù hợp với học vấn và văn hóa càng góp phần tạo ra nét thanh lịch của Hà Nội”.

Trăng non thấp thoáng sau mái cổ
Tóc dài như liễu giữa Tràng An
Hoàng lan ai thả theo tiếng hát
Heo may lướt khẽ mặt hồ vơi
(Lương Hữu Quang)

Tôi chỉ biết Hà Nội ngày trước qua các câu chuyện kể lại của ông bà cố ngoại, qua các tấm ảnh đen trắng đã úa màu của gia đình bên ngoại, trong sách vở, trong các bài thơ, bài nhạc, nói chung là kiến thức từ chương mà thôi.

Thăng Long – Hà Nội được phác họa đầu tiên trong trí óc tôi bằng các cuốn sách giáo khoa ở trường. Học lịch sử với những triều đại Lý, Trần, Lê , Mạc…, những “địa linh nhân kiệt “của ngàn năm, tên của những vị anh hùng gợi bao niềm cảm xúc khôn nguôi! Học địa lý để biết Hà Nội, miền Bắc chốn ấy, nơi nào, nghe sao quen thuộc, dù chưa một lần đặt chân đến. Sách quốc văn, nhất là sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn (Trước 1975, có học sinh trung học nào mà chưa từng đọc qua sách của Tự Lực Văn Đoàn không vậy?), qua họ tôi biết đại cương về cách ăn, cách mặc, cách ở của người Hà Nội thời cận đại, chẳng hạn vấn tóc trần là kiểu tóc của các nữ nhân vật chính trong các tiểu thuyết như: Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Gánh Hàng hoa, Nửa Chừng Xuân…

Rồi dần dần tôi đọc những ký sự của đầu thế kỷ XX, những phóng sự, những tự truyện, những tùy bút của giai đoạn văn học hiện thực 30- 45, những tiểu thuyết của các nhà văn trong giai đoạn 20 năm văn học miền Nam, mượn ở thư viện trường hay thành phố. Đặc biệt chuyện ẩm thực của người Hà Nội, nổi tiếng qua câu “Ăn Bắc- Mặc Kinh “với ba nhà văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam và Vũ Bằng. Nguyễn Tuân trong “Vang Bóng Một Thời “tìm lại bóng dáng Hà Nội qua những thú chơi của các bậc tao nhân, mặc khách. Thạch Lam nhìn cảnh trí, con người với con mắt của một nhà thơ trong “Hà Nội 36 Phố Phường “. Vũ Bằng ca ngợi sự tinh tế của các món ăn, với sự khoái khẩu của người thưởng thức trong “Miếng Ngon Hà Nội”.

Dưới con mắt của các thi nhân, Hà Nội được thi vị hóa, được diễn tả bằng những cái đẹp khôn tả: cổ kính, mơ màng, ẩm ướt rêu phong, lung linh cổ tích… Đôi khi trong những vần thơ, Hà Nội hiện ra như một cô gái đẹp đến nỗi không thể có thật trong cuộc đời tầm thường này !

Hà Nội trong các bài hát giữa thập niên 50, sau ngày đất nước chia đôi, của các nhạc sỹ phải lìa xa Hà Nội, nơi họ đã sống, đã yêu, đã hạnh phúc, đã đau khổ… như: Giấc Mơ Hồi Hương – Vũ Thành; Thương Về Năm Cửa Ô Xưa – Tạ Tỵ&Y Vân; Nỗi Lòng Người Đi – Anh Bằng; Hướng Về Hà Nội – Hoàng Dương; Mưa SàiGòn Mưa Hà Nội- Hoàng Anh Tuấn & Phạm Đình Chương

Hình chụp lại của các bức tranh vẽ về những thiếu nữ Hà Nội trước năm 1945, của các họa sỹ Tô Ngọc Vân (Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé); Dương Bích Liên (Thiếu nữ và hoa cúc trắng, Cô Mai); Trần Văn Cẩn (Hai thiếu nữ trước bình phong, Em Thúy); Nguyễn Sáng (Thiếu nữ bên hoa sen) …

Hà Nội yêu, vẫn y nguyên tưởng nhớ
Nên nghìn năm vẫn ngỡ mới hôm qua
Bóng hoàng lan, sân gạch mát sau nhà
Còn vương vấn trong những bài thơ cũ
(Hoàng Anh Tuấn)

Hà Nội ngày nay- Nhiều người, nhất là lớp trẻ mới lớn lên đã hoài nghi rằng: Có hay Có còn không một Hà Nội thanh lịch như hằng lưu truyền? Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã trả lời câu hỏi” Hình như cái thanh lịch của người Hà Nội giờ đã khác xưa lắm? “như sau:

“Hà Nội bây giờ mất thanh lịch đi nhiều. Sự tăng dân số một cách cơ học quá nhanh và quá lớn đã làm văn hóa truyền thống của Hà Nội phai nhạt đi. Cấu trúc gia đình cũ của Hà Nội bị phá vỡ cũng là một nguyên nhân quan trọng. Vào khoảng sau 1954, một ngôi nhà từ đời ông đời cha để lại bị chia sẻ thành năm bảy cái nhà con, cho rất nhiều hộ từ đâu đâu về ở, khiến cho ứng xử của họ không còn giống như khi ngôi nhà ấy còn là một biệt thự êm đềm, trong đó có tôn ti, có nhường nhịn, có đi nhẹ nói khẽ nữa. Trật tự văn hóa đã thay đổi. Để trở lại thanh lịch như mong muốn thì phải chờ thời gian xác lập lại trật tự hợp với quy luật. Không phải bằng giáo dục một cách “nhân vi” mà được”.

Cái gì đã là “nhân vi” thì không phải là kết quả của diễn tiến tự nhiên, tức là theo quy luật. Nó sẽ mất đi rất nhanh thôi. Tôi chỉ mong rằng có một cơ chế biết thuận theo quy luật tự nhiên để dân Hà Nội, dân Việt Nam được hưởng cái gọi là sự phát triển một cách bình thường, hồn nhiên, hồn toàn để mà đi tới. Cái đó sẽ đẹp hơn là nhân vi. Với nhân vi, anh cứ ép cho người ta một cái tốt đẹp nào đó theo ý anh mà người ta không tiếp nhận được thì rốt cuộc cũng chẳng được lâu bền”.

Em vẫn nói Hà Nội của riêng em
Với con đường hoàng lan trong kí ức
(Bùi Sim Sim)

Theo quan sát của sử gia Dương Trung Quốc phần hồn cốt thanh lịch của một Hà Nội xưa cũ bị phá vỡ, bị phai nhạt là vào hai thời điểm:

“Thứ nhất, những năm cuối của thập niên 50 của thế kỷ trước. Và, một giai đoạn khác nữa là thời điểm khoảng những năm đầu thập kỷ 90 cũng của thế kỷ trước khi chúng ta chuyển đổi hình thái kinh tế từ bao cấp sang thị trường.
Trong những thời điểm có tính lịch sử đó, chúng ta đã thay máu, gần như thay đổi tất cả cư dân ở nơi đây đi nơi khác, và người mới từ những nơi khác đổ vào. Với việc quản lý hoàn toàn buông lỏng đã phá vỡ kết cấu không gian văn hóa một thời của Hà Nội.
Đến gần đây khi chúng ta có được cái rất cơ bản là phát triển kinh tế thì lại thêm vấn đề khác, một là người ta thực dụng hóa, quyền sở hữu trong tay nên vì tư lợi cá nhân, người ra lại càng phá vỡ, cộng với bộ máy quản lý vẫn buông lỏng nên văn hóa Hà Nội đã phai nhạt nay lại càng nhạt phai đến độ không còn tìm thấy nữa”.

Phố xưa em đi rồi
Mùi hoàng lan còn đọng
Căn nhà xưa vắng rồi
Hoa hoàng lan hắt bóng
Bao nhiêu năm thoáng chốc
Sợi tóc bạc trên đầu
Hoàng lan ơi đã mất
Anh tìm đâu tìm đâu
(HĐ Huy Quan)

Trong bài “ Nét đan thanh người Hà Nội “của nhà văn Băng Sơn, một người rất mực yêu Hà nội, đã viết rằng:

“Năm 1954 ước tính Hà Nội có khoảng 25 vạn, trừ người di cư “Theo Chúa vào Nam” thì Hà Nội còn chừng 15 vạn. Nửa thế kỷ, Hà Nội có số dân 3 triệu, so nội thành nay và trước, khoảng triệu rưỡi thì số dân gấp mười. Dân đông gấp mười nhưng đất đai, nhà cửa, đường sá… lại không nở ra theo tỷ lệ thuận, cho nên Hà Nội vẫn đang là bài toán cho bao nhiêu lo toan, tính toán, suy nghĩ, trăn trở….
Cây quanh Hồ Gươm xanh hơn. Tóc liễu buông rèm tha thướt đẹp như con gái thế kỷ hăm mốt quanh ta trên đường Hà Nội, dù rằng lẫn vào các đường thiếu nữ thanh tân ấy, không thiếu gì lố lăng kệch cỡm như con gái mà để tóc con trai, mà nhuộm đỏ, nhuộm vàng… Nói năng của Hà Nội xưa là thanh tao, lịch lãm, nói đúng giọng, dùng đúng chữ, mềm mỏng, dễ nghe thì nay bao nhiêu chiếc tai đau khổ phải nghe từ các ca từ đến ngôn ngữ chợ búa tục tằn, nhí nhố, lai Tây lai Tầu, tục tĩu, ngọng líu, ngọng lìu….Công bằng mà nói Hà Nội vẫn rất Hà Nội qua những con đường rợp bóng xanh xuân, xanh hạ, xanh thu…. vẫn dịu dàng yểu điệu những tà áo thướt tha mềm mại cho lòng ta bay lên niềm mơ mộng lung linh của cuộc đời tươi đẹp, vẫn còn những em học sinh, sinh viên, những trai thanh gái lịch đầy kiêu sa, thơm thảo, hiền dịu nết na, để có thể đủ sức đánh bật đi bao nhiêu rác rưởi không đẹp, không Hà Nội lẫn vào….
… Những đêm thu Hà Nội, mùa đẹp nhất trong năm và cũng là mùa Hà Nội đẹp nhất cho lòng ta ngây ngất đắm say, mà ân tình với Hà Nội trầm tư trong sôi động, thanh tao đài các trong xô bồ, thanh thản trong bận rộn… Hà Nội tự mình đan cài các trạng thái để tự mình không đơn điệu như một nhà thơ đầy tài năng không hề đơn điệu.

Đôi khi ta bắt gặp một hương hoa hoàng lan trên đường Phan Đình Phùng. Lại cũng không quên một cây nơi cung Thiếu Nhi, một cây giữa phố Lý Thường Kiệt, một cây giữa phố Triệu Quốc Đạt, một cây gần Văn Miếu…. Hoa hào phóng thế, cứ cho người Hà Nội toàn bộ hương mình, hình như có thế hoa mới tự hài lòng, và có thế người Hà Nội mới thanh tao lịch lãm, diễm lệ đến thế….”

Khi hoàng lan thương ngọt nhớ đêm huyền
Và bước chân ai khe khẽ hiền từ
Cho anh biết thu đang về qua ngõ
Phố dịu dàng như một bàn tay
(T1380)

Mùa thu Hà Nội, mùa của những nỗi buồn man mác, mùa của những cảm xúc nôn nao … Mùa thu Hà Nội chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn ngủi, nên nó thật mong manh, thật là mơ hồ và hư ảo như những mối tình đầu. mùa thu ưu ái mang về cho Hà Nội một không gian như thực như hư, như hoài niệm về quá khứ, như xôn xao với hiện tại. Giữa khoảnh khắc chuyển mùa, giữa cái cũ và cái mới còn đang xen lẫn vào nhau, thời tiết lúc này khiến cho con người lại càng cảm thấy xao xuyến khôn nguôi, lại càng xúc động mạnh hơn nữa trước biết bao hình ảnh khó tả: một chút nắng vàng mùa hạ còn nhè nhẹ sót lại, một chút gió heo may man mác lành lạnh, một vài chiếc lá bắt đầu rơi rụng và một thoáng huơng thơm của những cây hoàng lan nhà ai đâu đó, phả mênh mang trong lòng phố …

Mùi hoàng lan lãng đãng, nhẹ thấm vào người, khiến ta giật minh nhận ra một mùi hương quen thuộc. Mùi hương như tâm sự thầm kín của hoa, lay gọi bao nỗi niềm, như một chiếc chìa khóa mở tung cánh cửa của những muôn vàn kỷ niệm ngày xưa, đánh thức những buồn vui đang chực chờ quay về.

Xin trả cho anh mùi hoàng lan
Đêm nao nồng nàn con phố
Se sắt mùa thu
Trả cho anh
Hà Nội phồn hoa
Lung linh
Hà Nội buồn tênh
Một mình …
(HoaTiNa)

Mùi hương hoàng lan thuộc về miền ký ức, nó gắn liền với một hình bóng nào đó đã khắc sâu trong tâm khảm, một tình cảm nào đó đà đi qua theo thời gian trôi chảy dửng dưng, mà ta không thể cầm giữ được, dù hoàng lan vẫn lặng lẽ tỏa hương dai dẳng khi những mùa thu Hà Nội đi qua. Có người nhớ về mùi hoàng lan như nhớ về tuổi hoa niên, thời đi học, những tháng năm mơ mộng yêu đương của mình.

Mùi hương hoàng lan như mang cả hương sắc của những mùa thu Hà Nội một thời xa xưa trao lại cho ta. Đó là nỗi niềm chênh vênh, day dứt với mùa thu: Cảm thu! Đó là nỗi niềm luyến tiếc, nhớ thương Hà Nội: Hoài niệm Hà Nội! Đó là nỗi niềm chung của những người còn yêu Hà Nội, còn muốn đi tìm lại Hà Nội như tìm lại một phần đời của mình đã gởi lại nơi chốn ấy. Đó cũng là nỗi niềm riêng của sự chia ly, cảnh xa lìa với tình yêu một thuở của mỗi thanh niên Hà Nội ngày đó – Ngày đất nước chia đôi, ngày di cư vào Nam, ngày giã từ khoảng trời hoa mộng, dệt bao ước mơ trong cuộc sống…- Chàng trai mang theo trong hồn mình Hà Nội qua hình ảnh những thiếu nữ Hà Nội thướt tha, đằm thắm, e ấp, thẹn thùng … “dáng yêu kiều của ngày tháng qua “. Những hình ảnh mà giờ đây đã trở thành quá vãng, không mong gì gặp lại, dù xa xôi nhưng biết mấy tươi đẹp, dù rất mong manh nhưng lại rất bền chặt, như “tình yêu lâng lâng đầu đời “vẫn còn tồn tại trong tâm cảnh của người con trai Hà Nội qua những bài thơ tình của thi sỹ Trần Dạ Từ:

“Hư ảo vì mất mát. Mất mát vì xa cách …Nhưng hư ảo cũng còn là vì nhà thơ không đành tâm với sự mất mát. Ông cố níu giữ cái mà ông vĩnh viễn không còn … tất cả đều bị nhà thơ ảo hóa trong cái thế giới kỷ niệm của riêng ông …
Mất mát, nhớ tiếc và ảo hóa hiện thực thành kỷ niệm: đó là ba nét nổi bật trong dòng thơ về tình yêu và tuổi trẻ của Trần Dạ Từ. Những bài thơ khác nhau về đối tượng, về giọng điệu, vẫn gặp gỡ nhau ở một điểm chung. Là mất mát trong cuộc sống. Là nhớ tiếc trong tâm hồn. Và ảo hóa thành kỷ niệm trong động tác thơ”.

Anh sẽ nhắc trong những tàn phai ấy,
Đêm hoàng lan thơm đến ngọt vai mình,
Ai sẽ biểu trong một lần trở lại,
Hoàng lan xưa còn nức nở hồn anh
(Trần Dạ Từ)

(Xuân Phương)

oOo

Đêm Hoàng Lan – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Đêm Hoàng Lan – Ca sĩ Quang Ngọc:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s