Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Người Về Như Bụi” – Du Tử Lê & Hoàng Quốc Bảo

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Người Về Như Bụi” (“Một Bài Thơ Nhỏ”) của Thi sĩ Du Tử LêNhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Thi sĩ Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.

Sau Hiệp Định Genève, 1954, Lê Cự Phách di cư vào Nam cùng với gia đình. Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, trường Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa.

Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài “Bến Tâm Hồn”, đăng trên tạp chí Mai.

Thi sĩ Du Tử Lê.
Thi sĩ Du Tử Lê.

Ông từng là sĩ quan thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu phóng viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của Nguyệt San Tiền Phong (một tạp chí của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn.

Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm “Thơ Tình Du Tử Lê” 1967-1972.

Ngày 17 tháng 4 năm 1975, Du Tử Lê cùng với Mai Thảo và Phạm Duy bị kết án tử hình vắng mặt trên đài phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vì có thái độ đối nghịch quyết liệt. Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông sang tỵ nạn ở Hoa Kỳ.

Hiện ông đang sống tại miền Nam California, tiếp tục nghề viết, và là nhân viên khế ước của đài tiếng nói Hoa Kỳ từ năm 1996. Ông cũng từng là chủ nhiệm các báo Việt Ngữ Nhân Chứng, Tay Phải, và Văn Nghệ ở Hoa Kỳ.

dutule6

Tại hải ngoại, Du Tử Lê đã và đang có những thành công nhất định:

– Cho tới hôm nay, ông là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times (1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học Hoa Kỳ và Châu Âu.

– Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào một trong năm tác giả Việt Nam để in vào phần “Thế Kỷ 20: Thi Ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tập “World Poetry An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time” (“Tuyển Tập Thi Ca Thế Giới Từ Xưa Đến Nay”).

– Trong cuốn “Understanding Vietnam”, tác giả, giáo sư Neil L. Jamieson đã chọn dịch một bài thơ của Dư Tử Lê viết từ năm 1964. Cuốn sách này sau trở thành tài liệu giáo khoa, dùng để giảng dạy tại các đại học Berkeley, UCLA, và Cambridge, London.

– Ông cũng là nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong số đó có nhiều ca khúc nổi tiếng như của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, với “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển”, “Quê Hương Là Người Đó” (“Xa Nguồn Yêu Thương”), Trần Duy Đức với “Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời”, “Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau”, Nguyên Bích với “Hiến Chương Yêu”, Đăng Khánh với “K. Khúc của Lê”, Anh Bằng với “Khúc Thụy Du”, Phạm Duy với “Kiếp Sau Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau”, Hoàng Quốc Bảo với “Người Về Như Bụi”, Từ Công Phụng với “Trên Ngọn Tình Sầu”… Từ những ca khúc này, ông đã tuyển chọn để thực hiện 3 CD “K. Khúc của Lê” năm 2001.

Tuy nhiên, ông không được hoan nghênh và biết đến nhiều ở trong nước. Điển hình là vào ngày ngày 18 tháng 8 năm 2005, báo Công An (Sài Gòn) đã đăng bài “Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê” của hai tác giả Trọng Đức và Lê Nguyễn, phản bác cho việc Nhà Xuất Bản Văn Nghệ xuất bản tập thơ Du Tử Lê, với nhiều ý kiến công kích cả về thơ ca lẫn con người của ông.

Tính đến thời điểm 2014, thi sĩ Du Tử Lê đã xuất bản 58 tác phẩm đủ thể loại.

dutule_ĐB2

Thi phẩm “Một Bài Thơ Nhỏ” (Thi sĩ Du Tử Lê)

vàng trang sách xưa
người về như mưa
soi tìm dấu cũ
tôi buồn như cỏ
một đời héo khô
tôi buồn như gió
ngang qua thềm nhà
thấy ai ngồi đợi
bóng hình chia đôi
sầu tôi lụ khụ

người về như sóng
buồn tôi quanh năm
người về như đêm
tình tôi phập phều
những tăm phụ bạc
lòng tôi gian ác
dấu trong miệng cười

người về như sương
ẩn sau hang động
người về trong gương
thấy mình mất tích

người về như sông
tràn tôi, lụt lội
hồn tôi thả nổi
như khóm lục bình
sầu ai về cội
(1974)

dutule_ĐB

Thi khúc “Người Về Như Bụi” (Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo)

Người về như bụi mờ
vàng trang sách xưa
người về như mưa
soi tìm dấu cũ
người về như mưa

Tôi buồn như cỏ dại
một đời héo khô
lạnh lùng mưa qua
tôi buồn như gió
bay ngang thềm nhà
thấy ai ngồi đợi
sầu tôi đã già

sầu tôi đã già
sầu tôi lụ khụ
đành tôi với người
bóng đời chia đôi

Người về như sóng
buồn tôi quanh năm
tôi buồn, tôi buồn quanh năm
Người về đêm gió
Tình tôi phập phều
những tâm phụ bạc
của lòng tôi của đời tôi gian ác
dấu trong miệng cười

người về sương đọng chập chùng
tả tơi phấn gương
người về trong gương
thấy mình mất tích
Người về tan thương

Người về sông rộng
Hồn tôi bão lên
người về như đêm
mơ hồ cõi chết
Người về trăm năm

Dưới đây mình có các bài:

– Một Bài Thơ Nhỏ (Người Về Như Bụi)
– Nhạc Sĩ Hoàng Quốc Bảo Và “Khúc Vô Thanh”
– Hoàng Quốc Bảo, dòng nhạc như chiếc cầu tâm linh nối liền đời thường và nẻo đạo

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Người Về Như Bụi” do ca sĩ Kim Tước và guitarist Minh Đức diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dutule_ĐB3

Một Bài Thơ Nhỏ (Người Về Như Bụi)

(Du Tử Lê)

Tác giả viết năm 1967. Nhan đề đầu tiên là “Một bài thơ nhỏ.” Bài thơ viết cho Huyền Châu, linh hồn của ca khúc “Trên ngọn tình sầu.”

Nguồn cảm hứng đến với tác giả khi tác giả tình cờ đọc lại một truyện ngắn cũ, từ những trang sách đã bụi phủ, đã ố vàng, mà nhân vật trong chuyện là Huyền Châu, khiến tác giả liên tưởng tới những hạt bụi thời gian. Từ hạt bụi thời gian, tác giả liên tưởng tới những bụi của một cuộc tình, những hạt bụi định mệnh một đời người…

Nhưng thế nào thì, cuối cùng hạt bụi cũng vẫn là hạt bụi. Nó không thể là gì khác…

Và con người không chỉ được làm thành bởi những hạt bụi, mà họ còn cộng-sinh nhiều hạt bụi khác. Trong đó có cả những hạt bụi mưu đồ, hạt bụi lường gạt, hạt bụi tự ái, hạt bụi tà tâm, hạt bụi gian ác, vân vân… Trước khi, con người, cuối cùng, lại trở về hạt bụi.

Bài thơ này được Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc, nhan đề bài nhạc là “Người Về Như Bụi”:

vàng trang sách xưa
người về như mưa
soi tìm dấu cũ
tôi buồn như cỏ
một đời héo khô
tôi buồn như gió
ngang qua thềm nhà
thấy ai ngồi đợi
bóng hình chia đôi
sầu tôi lụ khụ

người về như sóng
buồn tôi quanh năm
người về như đêm
tình tôi phập phều
những tăm phụ bạc
lòng tôi gian ác
dấu trong miệng cười

người về như sương
ẩn sau hang động
người về trong gương
thấy mình mất tích

người về như sông
tràn tôi, lụt lội
hồn tôi thả nổi
như khóm lục bình
sầu ai về cội
1974

ìa CD nhạc Khúc Vô Thanh của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.
ìa CD nhạc Khúc Vô Thanh của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Nhạc Sĩ Hoàng Quốc Bảo Và “Khúc Vô Thanh”

(Phan Tấn Hải)

Khi những tiếng nhạc của các ca khúc thời “Tịnh Tâm Khúc” bắt đầu rơi vào dòng thời gian miên viễn, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo – sau hơn hai thập niên giữ im lặng – bây giờ xuất hiện trở lại, và cho phát hành đĩa nhạc “Khúc Vô Thanh.”

Phải chăng, khúc vô thanh có nghĩa là cây đàn guitar phải treo lên vách để phơi bụi sau một thời của những tình ca tuyệt vời?

*

Những tình khúc thời xa xưa của Hoàng Quốc Bảo hiện vẫn còn nghe được trên mạng YouTube, trong đó có những tiếng nhạc tha thiết tới mức, như dường là, chỉ cần hát thêm một câu nữa là có thể dây đàn tự động sẽ đứt vì không chịu đựng nỗi các cảm xúc trong hồn.

Cảm giác đó có thể thấy được khi bạn nghe ca khúc “Người Về Như Bụi” – trong đó, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã chép xuống những dòng đẹp và buồn như cổ thi, với, “Người về như bụi mờ. Vàng trang sách xưa. Người về như mưa. Soi tìm dấu cũ. Người về như mưa. Người về như mưa. Tôi buồn như cỏ… dại. Một đời héo khô. Lạnh lùng mưa qua…” Cũng như ở các ca khúc khác.

Và bây giờ, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, xuất hiện trở lại trong trang phục một nhà sư của dòng Thiền Trúc Lâm. Đĩa CD nhạc cầm trên tay nhạc sĩ thiền sư này là “Khúc Vô Thanh,” kèm với tập nhạc in trên giấy đẹp, khổ lớn, kích thước 8X11 inches, dày 72 trang.

*

Làm thế nào có thể nghe được khúc vô thanh? Làm thế nào có thể lắng nghe được những âm thanh không âm thanh?

Mười ca khúc trong CD nhạc “Khúc Vô Thanh” của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thực ra là những âm thanh hiếm hoi, âm thanh trong vắt, âm thanh đầy cảm xúc và lặng lẽ của một nhà sư sau những kỳ nhập thất dài ngày, sau khi những bụi mờ trần gian đã bị gió cuốn đi.

Thủ bút Hoàng Quốc Bảo giải thích về tịch lặng Khúc Vô Thanh.
Thủ bút Hoàng Quốc Bảo giải thích về tịch lặng Khúc Vô Thanh.

Ông viết, trên một bản đề tặng, “Âm nhạc, rộn rã dâng cho người niềm vui, hay vỗ về cho đời vơi nỗi khổ. Nhưng niềm vui nỗi khổ ấy không bền. Khúc Vô Thanh, quay về tịch lặng. Nguyện làm kẻ đồng hành trên con đường giác ngộ, ở mãi với ai biết từ bỏ dục lạc thế gian, hướng về nẻo giải thoát.”

À ha… khúc vô thanh, quay về tịch lặng, hướng về nẻo giải thoát.

Đây là những âm thanh của đạo, âm thanh của tịch lặng được một nhà sư ghi xuống thành nhạc.

*

ìa CD nhạc Khúc Vô Thanh của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.
ìa CD nhạc Khúc Vô Thanh của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Nếu chúng ta nhìn lại dòng văn học nghệ thuật Việt Nam, chúng ta có cảm giác rằng những thanh âm của vô thanh có vẻ như là độc quyền của các nhà sư. Có ai độc quyền được những âm thanh, hay phải chăng là sẽ rất khó bắt gặp được các âm thanh vô thanh, nếu bạn không phải là một nhà sư?

Thí dụ, như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh với những dòng thơ của tịch tĩnh:

Tạ từ xuôi ngược bể dâu
Tạ từ danh tướng sắc màu thế gian
Non sâu đã lặng tiếng đàn
Đêm đêm nguyệt trúc gió ngàn vô thanh…

Kỳ lạ thay, những dòng thơ của nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh cũng như dường đang kể lại cuộc đời của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, cũng tạ từ danh tướng trần gian, rồi cũng lặng tiếng đàn hai thập niên, và rồi bây giờ trờ thành nhà sư Thích Đăng Châu để ghi xuống những nốt nhạc vô thanh.

*

Hãy đọc từ “Lời Tựa” trong tập nhạc Khúc Vô Thanh, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo viết, trích:

“Hai phạm trù năng và sở trong vòng Không luân, nhập thành một. Nói khác đi, Bản môn và Tích môn, nhập vào một, đạt tới chỗ Không, cứu cánh tịch lặng…

…thể nhập sâu sắc pháp môn “Phản văn văn tự tánh,” thấy hình tướng và tự táng đều Không, Tịch lặng.

Âm nhạc đạt đến chỗ cứu cánh, tột cùng của nó, cũng vậy, là trở về với nhiên lặng, Không tính…” (trang 5)

Những dòng chữ trên, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo viết vào Mùa Xuân 2014, từ Hải Ngạn Am, ở thị trấn Oceanside, California.

Nhưng tập nhạc và CD nhạc là công trình của nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo trải qua nhiều năm — từ những cảm xúc cuối thập niên 90s khi bước vào một hiệu bán đồ cổ ở Los Angeles, nhìn thấy tượng thần âm nhạc Apsara của tín ngưỡng Bà la môn, cho tới vài năm sau, khi đi Kampuchia nhìn được các tượng thần Apsara điêu khắc trên đá ở những ngôi đền Angkor Wat… rồi cảm xúc khi hành hương tới Bồ Đề Đaọ Tràng, Ấn Độ, năm 2009, nhìn bóng trăng trên cao lúc 3 giờ rưỡi sáng… rồi cảm xúc khi được nghe vị Ni sư Giải Thiện từ VN sang thăm Thiền Viện Đại Đăng và giảỉ thích cho nhạc sĩ về chữ há trong một câu trên bức hoàng phi “Chân Ngôn Há Xuất Khẩu”…

Tất cả những cảm xúc đó trôi qua trong những ngày thiền định của nhà sư Thích Đăng Châu, và khi nhà sư này một hôm bước ra khỏi thiền đường, ông nhấc cây đàn guitar đầy bụi trên vách xuống, lại nhập vai nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, chép xuống giấy các nốt nhạc nghe rất mực lặng lẽ– và đó là nhân duyên để hình thành CD nhạc Khúc Vô Thanh.

*

Khúc Vô Thanh, với 10 bản nhạc, có 6 ca khúc là nhạc và lời của Hoàng Quốc Bảo.

Hai ca khúc do Hoàng Quốc Bảo phổ thơ Tuệ Sỹ, một ca khúc phổ thơ Nhất Hạnh, một ca khúc phổ thơ Hoàng Quy (bài thơ Hoàng Quy cũng là diễn theo ý thơ cổ của Bố Đại Hòa Thượng, với những dòng thi kệ bất tử của “Một bát cơm ngàn nhà, thân chơi vạn dặm xa…”).

Trong các nghệ sĩ đóng góp, có phần đàn đệm piano của Tiến sĩ Âm nhạc Đỗ Bằng Lăng, các ca sĩ Quang Tuấn, Kim Tước… và hai vị ca sĩ, cũng là bác sĩ Bích Liên và Hồ Phượng Thư.

Trong tập nhạc, có nhiều tranh cuả Đinh Cường — một họa sĩ có nét vẽ và các gam màu rất mực tịch lặng. Nơi bìa tập nhạc Khúc Vô Thanh là một tranh Đinh Cường, nơi đó một cành sen mọc lên giữa những mảng màu xanh của trăng và nước.

Một bức tốc họa, do họa sĩ Võ Đình vẽ Hoàng Quốc Bảo nhiều thập niên trước.
Một bức tốc họa, do họa sĩ Võ Đình vẽ Hoàng Quốc Bảo nhiều thập niên trước.

Và đặc biệt, Đỗ Hồng Ngọc vẽ tốc họa Hoàng Quốc Bảo, âm bản ở trang 13, và dương bản ở trang 34. Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ nổi tiếng, đồng thời cũng là một trong vài nhà văn viết hay nhất về Phật Giáo. Trong khi hầu hết học giả viết về Đạo Phật chăm chú sử dụng những cái đầu uyên bác (đôi khi kèm với tâm thức cao ngạo), Đỗ Hồng Ngọc đi một hướng ngược lại: họ Đỗ viết về Đạo Phật bằng trái tim, bằng hơi thở đời thường đầy những xương da máu thịt thắm đẫm trong Lời Vàng Đức Phật. Và bây giờ, Đỗ Hồng Ngọc vẽ Hoàng Quốc Bảo, cũng bằng cảm nhận rất mực tịch lặng về Khúc Vô Thanh. Hy hữu. Rất mực hy hữu.

Phụ bản ảnh của Peter Dũng Nguyễn. Thượng Tọa Thích Tâm Chánh nhuận đính bài Tựa.

Và như thế, CD nhạc và tập nhạc Khúc Vô Thanh hoàn tất.

*

Nơi đây cũng cần phải nói lên một sự thật trong bài giới thiệu CD nhạc này: tôi đã từng khai thật với nhạc sĩ Trần Duy Đức rằng, “Tớ nói thiệt với bạn, tớ không phải i tờ về âm nhạc đâu, mà thiệt ra là tớ mù chữ âm nhạc. Chỉ nghe hay, thì nói là biết hay, nghe dở, nói dở… nhưng ký âm hay lý thuyết nhạc thì chẳng biết gì hết. Coi tớ như người rừng nghe nhạc cũng được.”

Với tấm lòng đơn sơ đó, tôi đã nghe nhạc Hoàng Quốc Bảo từ nhiều thập niên qua, và cảm nhận theo kiểu riêng của mình.

Bài “Giữa Mùa Trăng,” do Quang Tuấn và Hồ Phượng Thư hát là tuyệt vời. Lời rất mực đaọ học, kèm với những tiếng nhạc như rơi sâu tận trong tim mình:

Nghe ngàn thu trong lá rơi
Trăng vời vợi xanh mắt người
Hạt bụi thời gian ghé chơi
Sinh tử bật lên tiếng cười… (hết trích)

Nhạc hay, lời hay, giọng ca hay. Hiển nhiên rằng, nhạc của Hoàng Quốc Bảo khó phổ cập trong công chúng vì nghĩa cao vời quá. Tuy rằng, nhiều ca khúc trong Khúc Vô Thanh được Hoàng Quốc Bảo sáng tác trước khi xuất gia.

Nói như thế, cũng nên nhắc rằng: phải có đại cơ duyên, phải tu thiện hạnh rất nhiều kiếp mới có thể gặp Đaọ Phật, tin được Đạo Phật. Khó là như thế: Đạo Phật kén tín đồ là thế. Nhạc Hoàng Quốc Bảo cũng tương tự: nhạc của ông kén người nghe.

Nhạc Hoàng Quốc Bảo cũng cao kỳ, hệt như nhạc Cung Tiến, tuy rằng hai nhạc sĩ này ở hai phương trời âm nhạc dị biệt, và đặc biệt độc đáo còn là vì nhạc họ Hoàng mang rất nhiều hình ảnh Kinh Phật.

*

Hoàng Quốc Bảo đã đi một con đường rất mực gian nan, nếu nhìn theo đời thường.

Như những câu mang hình ảnh cửa Thiền trong ca khúc “Quê Nhà”:

“Quê cũ mù sương khói, mưa bụi lầm một cõi biển dâu vô thường, Em hãy làm giọt nước thanh tịnh tràn yêu thương, Làm mưa rơi trên bốn mùa, lòng Không xuân mãn khai hoa… Làm hoa tên em Bát La, nghìn năm dậy hương thái hòa, Làm chuông Từ-tâm thoát xa… ở nơi đâu cũng quê nhà…” (hết trích)

Hình ảnh Thiền vị, kinh điển như thế… làm sao phổ nhạc cho hay được? Vậy mà Hoàng Quốc Bảo làm được theo kiểu của anh. Rất hay, rất lạ.

Ca khúc dài nhất trong CD Khúc Vô Thanh là bản “Tiếng Gầm Sư Tử Lớn” do Hoàng Quốc Bảo phổ thơ Nhất Hạnh. Đây là bài thơ nổi tiếng, nhiều người biết, với hai dòng đầu là “Mây bay… mây trắng bay, Một đóa tường vi nở.”

Trong ca khúc này, có những dòng chữ hẳn là các nhạc sĩ khác sẽ tránh né, trích:

Có Không đều như nhau
Có đã là bịa đặt
Không cũng là bịa đặt
Có Không tạo khổ đau
Có Không cho tôi cười…(hết trích)

Thực sự là khó để phổ nhạc. Nếu bạn đọc kỹ mấy dòng trên, sẽ thấy tất cả hình ảnh đều là trừu tượng, chỉ duy có chữ “cười” là cái gì có thể hình dung ar cụ thể. Bởi vậy, mới thấy dòng nhạc nơi đây đi rất mực gian nan giữa các dòng chữ trưù tượng như thế..

Ca khúc cuối cùng trong tập là bản “Phù Vân Khứ Lai” — xin mời bạn đọc mấy dòng đầu tiên ca khúc này, trích:

Ngũ uẩn như mây nổi, đi về một cửa Không
Tam độc bọt nước giả, Còn mất mấy hồng trần…
Sắc vốn thực là Không, Không vốn thực là Sắc…
Thọ Tưởng Hành Thức kia, mây bay ngoài cửa động…”(hết trích)

Vậy đó. Diễn lại Kinh Phật bao giờ cũng khó. Nhất là khi dùng âm nhạc.

Quả là hy hữu. Cực kỳ hy hữu.

*

Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo sinh vào mùa xuân năm 1950, tại làng Rãng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, học nhạc từ nhỏ, nhưng khi rời Trung học đã vào Đại học Khoa học Sài Gòn. Trước 1975, từng làm ở Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, phân vụ truyền thanh, làm xướng ngôn viên đọc tin tức, bình luận, đọc truyện, đóng kịch truyền thanh, biên tập và Producer cho các đài phát thanh của miền Nam cho đến năm 1975. Sang Hoa Kỳ học nhạc bổ túc đó đây ở các đại học, nhưng rồi mưu sinh bằng kỹ thuật điện toán, làm thảo chương cho Nha Thuỷ Điện thành phố Los Angeles trong khi cuốc đất, làm vườn và thiền quán.

Trong các tác phẩm đã xuất bản, điển hình có: Vườn Tàn Phai, Sài Gòn, 1972; Tịnh Tâm Khúc, Hoa Kỳ, 1984…

Xuất gia với Hòa Thượng Thích Thanh Từ, và hiện đang hành đạo tại Thiền Viện Đại Đăng (www.thienviendaidang.net) ở Quận San Diego.

Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.
Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Hoàng Quốc Bảo, dòng nhạc như chiếc cầu tâm linh nối liền đời thường và nẻo đạo

(Du Tử Lê)

Cùng với sự rộ, nở của sinh hoạt văn chương, qua những diễn đàn văn học, hiện diện từ giữa thập niên 50, khởi đầu với những tạp chí như Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Bách Khoa, sinh hoạt âm nhạc miền Nam với hàng trăm trung tâm, nhà xuất bản, thu băng, đĩa, tất cả đem lại cho người nghe những dòng nhạc tiêu biểu của một Phạm Ðình Chương, Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Cung Tiến, Lê Trọng Nguyễn, Ðan Thọ, Nguyễn Hiền, Tuấn Khanh, Y Vân, Lâm Tuyền, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Nguyễn Văn Ðông, Trúc Phương,v.v… đó là cột mốc thứ nhất.

Ở cột mốc văn học thứ hai, song song với sự hiện diện của những tạp chí như Hiện Ðại, Văn Nghệ, Văn, Văn Học, Nghệ Thuật… xuất hiện những năm đầu thập niên, một số kéo dài tới giữa thập niên 70, sinh hoạt âm nhạc cụng mang tới người nghe, những đời nhạc tươi, mới khác. Ðó là sự lên đường, rồi định hình của những dòng nhạc mang tên Trịnh Công Sơn, Nguyễn Ánh 9, Trần Thiện Thanh,…

… Anh Việt Thu, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ðức Quang, Phạm Trọng Cầu, Ngô Minh Thu, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên v.v…

Xuất hiện sau những Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên một vài năm, và, sau Trịnh Công Sơn khoảng sáu, bảy năm; nhưng nếu lấy con số 10 năm làm thước đo, đếm một thế hệ, thì Hoàng Quốc Bảo là người cuối cùng, lấy được chiếc vé lên chuyến tầu âm nhạc, chung với những tên tuổi vừa kể. Khi chuyến tầu âm nhạc đi khắp cùng đất nước kia, chỉ còn một vài ghế trống.

Tuy nhiên, nếu Trịnh Công Sơn rướn mình, giơ cao ngọn cờ kêu đòi chấm dứt chiến tranh; Vũ Thành An với những bài không tên viết cho một (hay những) cuộc tình tuyệt vọng, Từ Công Phụng với nỗ lực đi tìm vàng son, thuở trước… thì, Hoàng Quốc Bảo, tự những nhát cuốc vỡ đất sáng tác đầu tay, đã cho thấy khuynh hướng xới sâu cõi hư không. Ðời giả tạm.

Ngay với những tình khúc rực rỡ chia ly, nát nhàu thống khổ, ở đâu đó, giữa những hợp âm được nối kết bởi Hoàng Quốc Bảo, vẫn mang tới cho người nghe, cảm nhận muốn vươn, thoát khỏi những trói buộc hạn hẹp của kiếp người. Tham vọng xóa bỏ sự phân biệt hình/tướng. Ðem nhị nguyên đúng/sai, thành/bại, phải/trái… về nhất thể.

Bằng âm nhạc, tự những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, họ Hoàng đã thiết lập cho mình (hay cho người), những chiếc cầu tâm linh, bắc qua đôi bờ nhân gian và, lẽ đạo.

Thủ bút NS Hoàng Quốc Bảo.
Thủ bút NS Hoàng Quốc Bảo.

Dù không một chỉ dấu, chẳng một tận khai cố tình, bằng cõi tâm tĩnh, lặng, Hoàng Quốc Bảo, với cõi nhạc của mình, đã mặc nhiên mang đến người nghe, những hồi chuông lai tỉnh. Những thời kinh, những câu kệ nhắc gọi chúng sinh, hồi hướng bến giác.

Tính thiền hay lời gọi kêu chúng sinh rời bỏ bờ mê trong đời nhạc Hoàng Quốc Bảo, mỗi lúc, một thêm nồng nàn sở nguyện, bằng vào bản thân, qua những năm luân lạc, quê người, họ Hoàng càng thực chứng lẽ vô thường. Ðời hữu hạn.

Nơi cõi tạm, tôi nhớ cuối năm 1975, đầu năm 1976, Hoàng Quốc bảo, đưa thân mẫu từ tiểu bang Illinoise về quận hạt Orange County, ở miền Nam California.

Một buổi tối, nơi căn apartment ở thành phố Costa Mesa, trong căn phòng không đồ đạc, Hoàng Quốc Bảo ôm đàn, hát cho chúng tôi nghe một số nhạc cũ, mới của ông.

Trong số đó, có ca khúc nhan đề “Hồ Như”, với những câu như:

“Có lẽ ta về ai biết đâu – Trồng vàng hoa trên núi sương hào – có lẽ trăm rừng xanh trở lại – gọi đàn chim xa mãi về phương nào – có lẽ ta về như giấc mơ – làm dòng sông bôi xóa đôi bờ – có lẽ người hồi sinh trở lại – nhìn cuộc chơi quên bấy lâu nay.”

Khi nghe lần thứ hai câu “…làm dòng sông bôi xóa đôi bờ…” tôi rất muốn hỏi ông, “Hồ Như” là ca khúc được viết thời gian nào? Trước hay sau 30 tháng 4? Nhưng cuối cùng, tôi im lặng. Tôi im lặng vì trong một thoáng mơ hồ, người thanh niên ngồi bệt trên thảm, trước mặt tôi, người thanh niên lúc nào cũng như ngơ ngác, lạc lõng, dường không còn là Hoàng Quốc Bảo. Ông là một người khác. Với tôi, ông không “làm” (tôi nhấn mạnh) “dòng sông bôi xóa đôi bờ” mà ông chính “là” (tôi nhấn mạnh) dòng sông. Và, dòng sông ấy đã “bôi xóa đôi bờ.”

Tôi không hỏi “đôi bờ” trong ca khúc “Hồ Như” của Hoàng Quốc bảo là đôi bờ nào. Tôi không hỏi bởi tôi nghĩ, nếu hỏi, chưa chắc giải thích của ông và cảm nhận riêng của tôi, đã gặp gỡ nhau. Với tôi, đó là “đôi bờ” của biến cố kinh hoàng, điếng tê mới xẩy ra. Còn tưa máu. “Ðôi bờ” với tôi là trong/ngoài một tổ quốc. “Ðôi bờ” với tôi là hai miền tử/sinh mà, con người bị phanh thây, đứng giữa…

Ðó cũng là thời gian chúng tôi cùng làm việc ở hãng Rockwell International, chi nhánh Newport Beach, trên đường Jamboree. Một năm sau, ông cho tôi biết, đã xin nghỉ việc để nhận công việc mới là thảo chương viên, cho công ty nước ngoài ở thành phố Los Angeles. Từ đó, chúng tôi ít có dịp gặp nhau.

Nhưng, tôi vẫn dõi theo bước đi của người “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ”! Như dõi theo những mơ ước bất toàn của chính mình.

Và, thời gian cho tôi hiểu, những thực chứng, những sở nguyện khởi tự khá nhiều nghịch cũng như thuận duyên, đã mang lại cho Hoàng Quốc Bảo (hay cho chúng ta) nhiều số tác phẩm mới. Những tác phẩm càng lúc càng cho thấy tính “bôi xóa đôi bờ” nơi ông.

NS Hoàng Quốc Bảo - tranh HS Võ Đình.
NS Hoàng Quốc Bảo – tranh HS Võ Đình.

Mười ca khúc phổ từ thi kệ, thiền thi của của các thiền sư như Nhất Hạnh, Huyền Không, Tịnh Từ, trong đĩa nhạc mang tên “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không,” Hoàng Quốc Bảo một lần nữa, thống thiết trải rộng tấm lòng yêu người, trái tim thương đời của mình, tới người nghe, như một lời cảm ơn những ơn phước (mà, ông đã nhận được từ cảnh đời. Cảnh đời, hiểu theo một nghĩa nào, là phản quang hay, ảo hóa của ngục A Tỳ.)

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một ký giả của đài Little Saigon Radio ở miền Nam California, từ nhiều năm trước, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo cho biết, kể từ đĩa nhạc mang tên “Tịnh Tâm Khúc” cách đây nhiều chục năm, thì “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” là đĩa nhạc thứ hai của ông. Phần lớn những ca khúc trong đĩa nhạc vừa kể, được họ Hoàng sáng tác đầu thập niên 80. Nhạc sĩ Hồ Ðăng Tín đã bỏ ra 5 năm, cho phần soạn hòa âm.

“Rồi nhiều thiện duyên đến, nhất là với tâm ý hân hoan và, thôi thúc trong việc kỷ niệm mùa Ðản Sinh đầu thiên niên kỷ, chúng tôi nguyện đem lòng thực hiện,” tác giả “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” tâm sự.

Khi được hỏi quan điểm riêng về những ca khúc và những băng nhạc Phật Giáo ra đời trong những năm tháng gần đây, Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo nói:

“Tôi là người Cư sĩ Phật tử, lại trong giới sáng tác âm nhạc, thấy việc làm nào cũng có mặt tốt của nó. Nhạc mình như một đóa hoa nhỏ, trong vườn hoa nghệ thuật đầy mầu sắc. Có người thưởng ngoạn chỉ vì màu sắc sặc sỡ, lại có kẻ trang trọng với dị thảo, kỳ hương. Trong công tác nghệ thuật, tôi chỉ nguyện chính mình trân trọng hết sức với nghệ phẩm của mình. Không để bị chi phối vì bất cứ mục đích gì khi sáng tác, quyền lợi hay danh vị. Nhất là khi thực hiện, lấy nghệ thuật làm mục đích chính. Thứ đến mới nhượng bộ những điều kiện khác. Ðã làm hết sức mình rồi, kết quả ra sao, lúc ấy mới hoan hỉ chấp nhận…”

Câu trả lời của họ Hoàng, cho thấy quan điểm cũng như cung cách ứng xử của ông, không chỉ với nghệ thuật, mà còn với cả cuộc sống hàng ngày nữa.

Vẫn theo lời giới thiệu của ký giả phỏng vấn nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo, thì họ Hoàng chính thức sáng tác ca khúc kể từ năm 1969, thời còn ở Việt Nam.

Ông từng là người chủ trương những chương trình âm nhạc cho các đài phát thanh ở Thủ đô Saigòn, trước tháng 4, 1975, như đài Tiếng Nói Tự Do, đài Phát Thanh Saigon, đài Tiếng Nói Quân Ðội, nhưng ông không hề lợi dụng vị trí của mình, để phổ cập tên tuổi ông.

Ðề cặp tới đĩa nhạc “Hú Dài Một Tiếng Lạnh Về Hư Không” của Hoàng Quốc Bảo, một nhà báo khác, trong một bài viết trên nhật báo Việt Báo, cho biết nhan đề ấy, vốn là một câu thơ của Không Lộ Thiền Sư đời nhà Lý. Ðó là câu: “Có khi lên thẳng non hề/hú dài một tiếng lạnh về hư không.”

Cũng trên nhật báo Việt Báo, số cuối năm 2005 loan tin nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo… xuất gia. Xuống tóc. Ði tu. Tôi chia sẻ với người viết bản tin, khi nhấn mạnh rằng, sự việc vừa kể, không làm nhiều người ngạc nhiên. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn ghi lại bản tin này, như một ghi chú quan trọng ở những năm cuối đời của họ Hoàng. Với cá nhân tôi, nó cũng là một hình thức “bôi xóa đôi bờ” mà thôi. Nguyên văn bản tin đó, như sau:

“Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã rời bỏ California để về xuất gia ở một Thiền Viện tại Việt Nam trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Ðược biết, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã tham dự lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 27 tháng 11, 2005 và rồi vài ngày sau đã trở về Thiền Viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt và xuống tóc xuất gia với Thiền Sư Thích Thanh Từ trong những ngày đầu tháng 12, 2005.” Việc nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo xuống tóc đi tu không làm bao nhiêu người bất ngờ, vì nhạc sĩ đã nói ý nguyện này từ lâu, từ những ngày làm việc trong ngành Tin Học ở Sở Cấp Nước Los Angeles. “Mới vài năm trước, trong chuyến Hòa Thượng Thanh Từ lần cuối viếng thăm California, nhạc sĩ đã có tên trong danh sách xuống tóc đi tu trong buổi lễ ở Thiền Viện Ðại Ðăng, Nam Calif., nhưng khi xướng tên trên danh sách, tới khi đọc tên Hoàng Quốc Bảo, thì nhạc sĩ không có mặt – trước đó, nhạc sĩ đã lẳng lặng bước ra ngoài và chờ dịp khác.” Và lần này là một cơ duyên lớn. Nhân dịp lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Ðảo, một thiền viện tuy là mới tân trang cho Trúc Lâm Thiền Phái của HT Thanh Từ, nhưng theo sử thì chính nơi đây là dấu tích Phật Giáo xưa cổ nhất, chính nơi đây là chỗ các nhà sư do Vua Asoka của Ấn Ðộ cổ thời đặt chân vào Việt Nam làm trú xứ. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên còn là một thắng cảnh lớn với núi rừng nguyên sơ, cao 300 mét trên mặt biển…

Thiền sư Hoàng Quốc Bảo.
Thiền sư Hoàng Quốc Bảo.

“Sau khi dự lễ, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã về Trúc Lâm Thiền Viện ở Ðà Lạt, và xuất gia với HT Thanh Từ, vị Thiền Sư nổi tiếng nhất tại quê nhà và đang hoằng pháp Thiền Tông Trúc Lâm tại cả trong và ngoài nước.

“California tuy mất đi một nghệ sĩ tài hoa, nhưng Thiền Tông VN ở quê nhà lại đang có thêm một người gánh vác mới…”

Cách đây không lâu, nhân tang lễ một người thân trong gia tộc, tại một nhà quàn quận hạt Orange County, một số thân hữu đã được gặp lại tu sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Ông không hát nữa. Dĩ nhiên. Có thể ông cũng không nữa “hồ như”…

Riêng tôi, gặp lại ông, tôi lại tự hỏi:

– Phải chăng, ông đã “là” “dòng sông bôi xóa đôi bờ” tự một xa xưa, tiền kiếp nào.

oOo

Người Về Như Bụi – Ca sĩ Kim Tước:

 

Người Về Như Bụi – Guitarist Minh Đức:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s