Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 5 (PHẦN 6)

Người dịch: Nguyễn Thị Phi Yến

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 5: NĂNG SUẤT SIÊU TƯỞNG (Phần 6)

5C. SỰ GIẢI PHÓNG: CƠ HỘI CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT “NỀN KINH TẾ SA MẠC”

Tình cảnh thảm hại của các nước đang phát triển khi nhận ra họ không được thừa nhận và chú ý đến nếu không đề cập đến hệ thống cung cấp năng lượng truyền thống, vì họ chính là nạn nhân chủ yếu đầu tiên của chính hệ thống đó. Bi kịch năng lượng của họ bắt đầu từ thời điểm mà công trình cung cấp năng lượng tập trung được thiết lập, công trình mà đã được phát triển dần dần ở các nước đã công nghiệp hóa. Nguồn năng lượng-xã hội học này “sụp đổ từ sự ngây thơ”, mà những hậu quả kèm theo của nó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, và đã dẫn đến việc các thành phố lớn hơn được cung cấp năng lượng từ nguồn điện được tạo ra từ các trạm phát điện quy mô lớn – nhưng lại không phải là khu vực nông thôn, nơi mà hơn 90% dân số đã hoặc đang đang sống, bởi vì sức mạnh kinh tế của các nước này không đủ để hỗ trợ việc xây dựng và vận hành mạng lưới trên khắp đất liền. Với các thành phố lớn một mặt được mô hình theo các nước công nghiệp đã phát triển và mặt khác theo cấu trúc ruộng đất nông nghiệp truyền thống, điều này đã dẫn đến việc gia tăng sự phân chia xã hội và sự phát triển nhanh chóng ‒ các thành phố với các khu nhà ổ chuột mọc lên như nấm là một điểm đặc biệt có tính lịch sử.

Các nước đang phát triển có tổng sản lượng quốc gia (gross national product ‒ GNP) tính theo đầu người thấp hơn 10-20 lần các nước công nghiệp giàu có nhưng vẫn phải trả cùng một mức giá cho năng lượng nhập khẩu như các nước công nghiệp giàu có khiến các nước đang phát triển này bị vướng trong một cái vòng luẩn quẩn. Các nước đang phát triển bị buộc phải nhập khẩu công nghệ nhà máy điện hiện đại mặc dù các nhà máy này không cung cấp đủ cho phần lớn dân số với nguồn năng lượng được tạo ra từ hệ thống như vậy. Thông thường, các nước đang phát triển phải nhập khẩu năng lượng để vận hành các nhà máy này, nhưng lại không hề có đủ sức mua bằng đơn vị tiền tệ của mình. Ở rất nhiều nước đang phát triển, chi phí nhập khẩu năng lượng lớn hơn tổng thu nhập ngoại tệ của họ; và thậm chí là vậy, phần lớn dân số vẫn không tiếp cận được các nguồn cung cấp năng lượng. Mọi hình thức hoạt động kinh tế bổ sung khác muốn thoát khỏi tình trạng này đòi hỏi việc sử dụng nhiều năng lượng và do đó nhập khẩu năng lượng nhiều hơn, vì vậy sản lượng tiềm năng đã bị thâu tóm trước bởi các chi phí năng lượng bổ sung. Vào năm 2007, khi giá dầu tăng vọt đột ngột, hóa đơn nhập khẩu dầu của các nước đang phát triển tăng khoảng 100 tỷ USD chỉ trong vòng một năm, tức là nhiều hơn toàn bộ ngân sách viện trợ phát triển hằng năm của các nước công nghiệp (khoảng 70 tỷ USD). Mặc dù vậy, các nhà kinh tế năng lượng vẫn tiếp tục thuyết phục chính phủ các quốc gia này rằng sự chuyển đổi từ năng lượng nhập khẩu lâu dài đắt đỏ của họ sang năng lượng tái tạo tại tại địa phương là một gánh nặng kinh tế.

Cùng lúc, sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ năng lượng truyền thống cản trở các nước đang phát triển tìm ra hướng đi rõ ràng nhất của sự phát triển: đó là chuyển từ vai trò là nhà cung cấp các sản phẩm thô nông nghiệp và khoáng chất trở thành nhà chế biến nguyên liệu thô và xuất khẩu những sản phẩm sơ chế và đã được chế biến hoàn thành. Để làm được như vậy, nền nông nghiệp phải có hiệu quả hơn và được thực hiện theo cách được chấp nhận về mặt xã hội, tức là không thông qua các công ty kinh doanh nông nghiệp lớn, nhưng thông qua các hiệp hội được thành lập từ những nông trại nhỏ. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi năng lượng cần được nhanh chóng cung cấp đến các khu vực nông thôn. Cũng cần phải có đủ năng lượng để chế biến nguyên liệu thô – nguồn năng lượng mà không cần phải là thứ năng lượng nhập khẩu đắt tiền. Tóm lại: các nước này phải huy động nguồn dự trữ năng lượng tái tạo của chính nó.

Một ví dụ đơn giản minh họa về bẫy năng lượng trong đó các nước đang phát triển tự thấy mình mắc phải: 50% trữ lượng bauxite toàn cầu (nguồn nguyên liệu quan trọng nhất để sản xuất nhôm) nằm ở Guinea, Châu Phi. Tuy nhiên, do thiếu năng lượng, họ chỉ xử lý được khoảng 2% lượng bô-xít khai thác được hàng năm. Do đó, một tình thế khó xử đáng chú ý ở các nước phát triển là: một mặt, các hệ thống năng lượng truyền thống phải nhường chỗ cho việc phát triển một hệ thống năng lượng tái tạo cơ bản; mặt khác, các nhà chức trách tiếp tục phấn đấu cho việc duy trì một hệ thống cung cấp điện tập trung mặc dù việc tăng giá nhiên liệu hóa thạch làm cho điều này ngày càng không thể đạt được.

Ngay cả khi hầu hết các nước đang phát triển cần phải nhập khẩu các công nghệ sử dụng năng lượng tái tạo, điều này vẫn mang lại cho họ hai lợi ích mang tính quyết định: các nước này ngày càng có thể tránh được sự cần thiết phải nhập khẩu năng lượng và sẽ tăng cường vị thế kinh tế của riêng mình bằng cách chế biến nguyên liệu thô ủa mình. Do đó, họ có thể bắt đầu việc đầu tư vào năng lượng tái tạo và thay thế việc nhập khẩu năng lượng mà không bị phụ thuộc vào ngân sách viện trợ phát triển. Họ có thể mở rộng các hoạt động này bằng cách sử dụng các khoản cho vay của các ngân hàng quốc gia cho các thiết kế đầu tư thay thế việc nhập khẩu năng lượng. Họ có thể tài trợ cho các sáng kiến độc lập sử dụng nguồn thu nhập ngoại tệ không còn cần thiết cho việc nhập khẩu năng lượng. Họ cũng có quyền định hướng hỗ trợ phát triển từ các bên thứ ba đối với năng lượng tái tạo, và sử dụng các ngân hàng hợp tác để thực hiện tín dụng vi mô phổ biến rộng rãi theo hệ thống ngân hàng Grameen Shakti tại Bangladesh.

“Nền Kinh Tế Sa Mạc”

Giải pháp thay thế cho dự án DESERTEC (hay những nỗ lực tương tự sử dụng các tiềm năng từ bức xạ mặt trời ở các vùng sa mạc để cung cấp năng lượng trên quy mô quốc tế) là để cho các nước sa mạc tận dụng tiềm năng này cho lợi ích riêng của họ. Năng lượng mặt trời và gió cho phép các quốc gia sa mạc đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của họ và đưa nền kinh tế của họ đi lên. Việc nhận được trực tiếp một nguồn năng lượng có giá trị kinh tế lớn hơn nhiều đối với những nước này so với tiềm năng xuất khẩu điện cho người tiêu dùng trong tương lai ở tại những nước xa xôi khác (một quan điểm bị thách đố với nhiều điều không chắc chắn, như đã đề cập trong Chương 3).

Đối với các quốc gia sa mạc có nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt như Iraq, Kuwait Saudi Arabia, Abu Dhabi, Libya, Qatar hoặc Algeria, việc sử dụng năng lượng tái tạo để cung cấp năng lượng cho toàn bộ nhu cầu trong nước vẫn chưa được chú ý nhiều về mặt kinh tế. Ngược lại, đối với Morocco, Tunisia, Ai Cập hay các nước vùng Sahel, việc sử dụng năng lượng tái tạo đã trở thành một vấn đề kinh tế sống còn. Các quốc gia ở sa mạc Sahara có nhiều tài nguyên khoáng sản, cho đến nay, họ hầu như không chế biến: cát và cao lanh trong sản xuất silicon, thủy tinh và đồ gốm; bari (Ba) cho việc sản xuất các ống chân không, bugi và chất dẻo; chì (Pb) trong sản xuất pin hoặc vật liệu bảo vệ khỏi bức xạ; canxi (Ca) cho sản xuất hợp kim, xi măng hoặc là chất khử cho đất hiếm (vanadi, thorium, zirconium, yttrium); flo (F) được sử dụng trong sản xuất nhôm, hệ thống điện phân, xử lý bề mặt, sản xuất sơn, men răng và kem đánh răng; coban (Co) trong sản xuất các nam châm, hợp kim thép và cho việc chụp X-quang y tế; magiê (Mg) như là một kim loại nhẹ và dùng trong công nghệ y tế; mangan (Mn) cho sản xuất hợp kim thép và Titan (Ti) trong vận chuyển và công nghệ y tế; phốt-phát (PO4) cho phân bón và các chất tẩy rửa, v.v… Những tài nguyên khoáng sản này chủ yếu nằm ở các khu vực miền núi của sa mạc Sahara, chẳng hạn ở vùng Atlas và các chân đồi của nó, ở Hoggar (miền nam Algeria), Tibesti và Ennedi (Chad) hoặc trong cát sa mạc. Hầu hết đều được khai quật bởi các công ty khai thác mỏ quốc tế trước khi được vận chuyển đến châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á để xử lý và chế biến. Do thiếu năng lượng, cũng như thiếu nước, hầu hết các quốc gia sa mạc không thể tự mình xử lý các nguồn tài nguyên này. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của năng lượng mặt trời và năng lượng gió, những thiếu hụt này đều có thể vượt qua. Việc khử muối trở thành có thể, đồng thời cung cấp cho người dân nước uống và nước cho việc tăng cường các hoạt động nông nghiệp.

Sử dụng năng lượng tái tạo trong phát điện giúp các quốc gia sa mạc tạo ra lợi ích chi phí tương đối. Điều này giúp các quốc gia sa mạc xử lý các nguồn tài nguyên khoáng sản của riêng mình dễ dàng hơn hơn là xuất khẩu các nguồn tài nguyên này sang các nước công nghiệp – một vai trò mang tính cổ điển, được áp đặt lên các quốc gia này trong thời kỳ thuộc địa và vẫn được thực hiện cho đến ngày nay. Tương lai kinh tế của các quốc gia sa mạc liên hệ chặt chẽ với nguồn cung cấp năng lượng này. Một ví dụ: Morocco là quốc gia ổn định nhất của Bắc Phi và là quốc gia tương đối phát triển, tốc độ tăng dân số nhanh với khoảng 34 triệu dân. Nhưng hiện tại quốc gia này phải sử dụng hơn 1/3 thu nhập ngoại tệ hằng năm cho việc nhập khẩu 96% nhu cầu năng lượng bao gồm dầu, khí đốt và than đá. Nếu Liên Đoàn Châu Âu hỗ trợ Morocco và các quốc gia sa mạc khác trong quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, điều này sẽ góp phần rất lớn để phát triển làm các quốc gia này và giúp họ ổn định hơn. Chỉ riêng biện pháp này sẽ giúp giảm bớt sự tăng số lượng người tị nạn kinh tế từ các nước này.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s