Gian nan thừa phát lại
Thứ Ba, 21:58 09/12/2014
NLD – Nhiều lần các nhân viên thừa phát lại gọi điện báo trước để xin gặp đương sự thì họ tìm cách từ chối, đến tận nơi thì đương sự không có mặt tại địa chỉ cư trú hoặc vắng nhà với vô vàn lý do
8 giờ một ngày đầu tháng 11-2014, chúng tôi có dịp cùng anh Thái Văn Khâm, thư ký nghiệp vụ Văn phòng Thừa phát lại Bình Định, đi tống đạt quyết định của tòa án cho một đương sự ở xã Phước Mỹ, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Chỉ đủ tiền xăng xe
Dù quãng đường từ trụ sở văn phòng đặt tại trung tâm TP Quy Nhơn đến xã ngoại ô này chỉ khoảng 20 km nhưng vì trời mưa tầm tã, đường vào nhà đối tượng lại ngoằn ngoèo, sâu hun hút dưới chân núi nên phải hơn 1 giờ vừa đi vừa hỏi thăm, chúng tôi mới đến đúng địa chỉ. Đến nơi, nhà đóng cửa vắng tanh, chúng tôi đành đứng ngoài hiên đợi.
Quá trưa, mới có người về nhà. Sau khi giới thiệu công việc của mình và “thẩm tra lý lịch”, biết chủ nhà đúng là đương sự cần tống đạt, anh Khâm cẩn thận trao quyết định của tòa án rồi yêu cầu ký vào biên bản.
“Hôm nay như vậy vẫn còn may. Có hôm chờ cả buổi không tống đạt trực tiếp được văn bản cho đương sự nên phải ra UBND xã niêm yết. Làm xong các thủ tục niêm yết theo quy định thì mất trọn một ngày là thường, trong khi lệ phí tống đạt quyết định chỉ 65.000 đồng/văn bản, đủ tiền xăng xe” – anh Khâm thở dài và cho biết công việc tống đạt văn bản tuy vất vả nhưng còn “dễ thở” hơn so với xác minh điều kiện thi hành án.
Ông Trương Việt Kon Tum, Văn phòng Thừa phát lại Bình Định, bức xúc: “Theo quy định, trong vòng 3 ngày, các cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm phản hồi đề nghị của thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án. Thế nhưng, có khi chúng tôi đi lại cả chục lần trong một tháng trời họ mới trả lời. Thậm chí, có trường hợp từ chối thẳng thừng vì cho rằng văn phòng thừa phát lại là cơ quan tư nhân, không đủ thẩm quyền đề nghị hỗ trợ, phối hợp”.
Trong buổi tọa đàm “Công tác thừa phát lại khu vực phía Nam” do Cục Công tác phía Nam của Bộ Tư pháp tổ chức tại TP HCM mới đây, ông Nguyễn Ngọc Tàu, Văn phòng Thừa phát lại tỉnh Vĩnh Long, kể có vụ án nọ được xét xử vào ngày 15 thì ngày 10 tòa án đã giao cho thừa phát lại đi tống đạt văn bản mà nơi tống đạt cách trung tâm gần 50 km. Nhân viên văn phòng thừa phát lại chạy xe máy tới, đi đò sang kênh, lội ruộng tìm được đương sự nhưng người này không nhận. Tiếp tục đi tìm trưởng ấp, ông ta coi giấy tờ xong rồi nói “đưa tiền, tôi mới ký”. Tìm đến chính quyền địa phương thì chủ tịch UBND xã không nhận, cán bộ tư pháp nhận nhưng cho biết 15 ngày sau mới trả lời. Nhân viên văn phòng thừa phát lại mang văn bản tống đạt về trả tòa, tòa không trả tiền. Vậy là cả ngày chạy tốn công, tốn xăng xe mà không được gì cả.
Cơ chế phối hợp chưa cụ thể
Các nhân viên Văn phòng Thừa phát lại Hoàn Kiếm (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) cũng như các văn phòng thừa phát lại ở TP HCM đều cho biết nhiều trường hợp do việc thay đổi tổ dân phố, số nhà, số khu, nhất là trong các khu tập thể, khiến nhân viên thừa phát lại khó khăn trong việc tìm địa chỉ, không biết cụ thể đương sự ở đâu nên khó xác định được tổ trưởng, tổ phó dân phố mà đương sự cư trú là ai để xin xác nhận trong trường hợp tống đạt không thành.
Đối với đối tượng phải tống đạt là người đang chấp hành bản án tù giam thì còn gay go hơn khi thân nhân của họ không cung cấp thông tin rõ ràng hoặc có tâm lý che giấu thông tin, việc tống đạt gián tiếp thông qua người nhà (với cam kết giao tận tay cho đương sự) luôn gặp nhiều rủi ro và sai về mặt thủ tục.
Chưa kể, rất nhiều lần các nhân viên thừa phát lại gọi điện báo trước để xin gặp đương sự thì họ tìm cách khất lần cuộc hẹn, bỏ công tìm đến tận nơi thì đương sự không có mặt tại địa chỉ cư trú (đi làm, đi học) hoặc vắng nhà với vô vàn lý do nên phải tống đạt gián tiếp thông qua người thân hay thủ trưởng cơ quan, đơn vị của đương sự. Trường hợp này phải mời tổ trưởng dân phố làm chứng, xin chứng thực của UBND xã, phường hoặc cơ quan, đơn vị của đương sự. Đây là thủ tục mất nhiều thời gian do phải gặp gỡ, liên lạc với nhiều người.
Các nhân viên thừa phát lại ở quận Thủ Đức, TP HCM còn nhớ nhiều lần họ đi niêm yết văn bản tống đạt đã gặp khó khăn khi bản thân chính quyền, người dân tại khu vực đó không cho niêm yết, thậm chí còn khẳng định ở địa phương này không có ai như vậy. Trong khi việc tìm đương sự lắm trắc trở như vậy thì cơ chế phối hợp giữa thừa phát lại với chính quyền, công an, tổ trưởng dân phố lại chưa cụ thể, rõ ràng nên việc tống đạt càng trở nên khó khăn hơn.
Thực hiện 4 nhóm công việc chính
Theo Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ quan tham mưu nghiên cứu thực hiện và phát triển các dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Qua đó, từng bước thực hiện xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho các tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án. Ngày 14-11-2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết 24/2008/QH12 về việc thi hành án dân sự để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự; giao Chính phủ quy định tổ chức thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại một số địa phương. Trên tinh thần đó, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương đã tổ chức thí điểm chế định thừa phát lại tại TP HCM từ năm 2010. Năm 2013, Bộ Tư pháp có quyết định mở rộng thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại. Theo đó, ngoài TP HCM có thêm 12 tỉnh, thành trực thuộc trung ương được chọn thí điểm, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long.
Theo quy định, thừa phát lại được thực hiện 4 nhóm công việc chính: tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại do bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và cấp thẻ hành nghề.
H.Đặng
Kỳ tới: Nhiều cán bộ vẫn chưa biết
GIAN NAN THỪA PHÁT LẠI
Nhiều cán bộ vẫn chưa biết
Thứ Tư, 22:57 10/12/2014
NLD – Mở văn phòng thừa phát lại và “thất nghiệp” suốt 3 tháng vì không ai nhờ; ở nhiều nơi, cán bộ không hề biết thừa phát lại là gì…
Một khảo sát thí điểm thừa phát lại do Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp thực hiện mới đây cho biết tại Hà Nội, 34% người dân khi được hỏi cho biết không quan tâm và không biết gì về thừa phát lại; với hoạt động lập vi bằng, 89% người dân cho biết sẵn sàng sử dụng dịch vụ này khi có nhu cầu, các hoạt động khác thì khoảng 30% sẵn sàng. Khảo sát tại chính quyền cơ sở nơi đặt các văn phòng thừa phát lại có 20% cán bộ cơ sở cho biết họ có hợp tác trong hoạt động tống đạt, thi hành.
Nhiều nơi thờ ơ
Những số liệu nêu trên cho biết ngay tại Hà Nội, vẫn còn nhiều người dân và cán bộ cơ sở chưa biết hoặc thiếu sự hợp tác với thừa phát lại. Nhưng như thế vẫn đã là lý tưởng so với 12 tỉnh, thành khác cùng thí điểm hoạt động này.
Tại tỉnh Thanh Hóa, nhiều cán bộ công chức cho biết chỉ nghe nói mang máng và hầu hết là không biết gì về thừa phát lại. Một cán bộ tư pháp còn khẳng định đã làm trong ngành mười mấy năm nhưng giờ mới được nghe.

Bà Nguyễn Thị Vân Quỳnh, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại TP Thanh Hóa, cho biết ngay từ ngày đầu thành lập văn phòng đã phải đi xuống các xã phường, cơ quan đơn vị để phối hợp tuyên truyền, phát tờ rơi nhưng rất nhiều nơi thờ ơ.
“Ở nhiều phường, cán bộ tư pháp cũng không biết thừa phát lại là gì. Hôm đến một UBND phường ngay TP Thanh Hóa, chúng tôi đi 3 người mặc quần áo vest chỉn chu. Chị cán bộ tư pháp phường hỏi đi đâu, có việc gì? Nghe chúng tôi trả lời ở văn phòng thừa phát lại, chị này lơ mơ nói không biết đó là gì và còn hỏi các anh chị bên công ty gạch nào. Chúng tôi ngớ người” – bà Quỳnh kể tiếp.
Thiếu sự phối hợp
“Chế định thừa phát lại ra đời với kỳ vọng sẽ giúp chia sẻ gánh nặng công việc với ngành tòa án và thi hành án nhưng hiện các văn phòng thừa phát lại đang gặp rất nhiều khó khăn vì chính những cơ quan này chưa có sự hợp tác, không cung cấp văn bản, giấy tờ, chi phí hoặc cung cấp chậm” – ông Phạm Thanh Sơn, quyền Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa, đánh giá.
Cũng theo ông Sơn, chính vì sự thờ ơ của nhiều địa phương mà trong quá trình tống đạt giấy tờ, lập vi bằng, thừa phát lại luôn gặp khó, thậm chí là bất hợp tác của chính quyền nhiều cơ sở, có nơi nói thẳng rằng đây không phải là cơ quan nhà nước nên không việc gì phải hợp tác.
Bà Võ Thị Ngọc Huệ, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại Bình Dương (tỉnh Bình Dương), cho biết văn phòng được thành lập từ tháng 3-2014 và mất chừng 3 tháng liền không có việc làm, không nhận được hợp đồng nào vì người dân không biết. Đi tống đạt văn bản hoặc xác minh tài sản thì các cơ quan chức năng không cho tiếp cận, nhất là trại giam.
Tại TP HCM, các văn phòng thừa phát lại đều thường gặp khó khăn trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án. Mặc dù thừa phát lại có thẩm quyền xác minh tài sản của đương sự, tự tổ chức thi hành án (được hiểu là thi hành án tư) nhưng một số cơ quan nhà nước từ chối cung cấp thông tin về tài sản của đương sự và kiên quyết chỉ cung cấp thông tin cho thi hành án dân sự của nhà nước.
Tống đạt văn bản cũng khó
Việc tống đạt văn bản ngỡ đơn giản là thừa phát lại đến nơi cư trú của đối tượng, trao văn bản, lấy xác nhận là xong nhưng hiện đang gặp nhiều khó khăn do một số tòa án yêu cầu phải có đóng dấu của chính quyền nơi đối tượng được tống đạt cư trú, có xác nhận của chính quyền địa phương nếu người được tống đạt vắng mặt. Tuy nhiên, chính quyền địa phương lại không đồng ý đóng dấu lên văn bản do họ không trực tiếp chứng kiến người được tống đạt ký nhận văn bản, cũng không có thời gian đi cùng thừa phát lại thực hiện tống đạt. Vì vậy, một số tòa án từ chối kết quả tống đạt, coi như việc tống đạt chưa đạt.
Tại TP HCM, bà Vũ Thị Trường Hạnh, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại quận 8, cho biết tư pháp xã, phường và tổ trưởng tổ dân phố càng ở vùng sâu, vùng xa thì càng không biết về thừa phát lại nên họ không phối hợp. Cán bộ tư pháp phường lấy lý do thường xuyên họp hành nên khó gặp, hẹn trước cũng không gặp được nên về thời gian tống đạt không bảo đảm; quy định 5 ngày các cơ quan liên quan phải trả lời cho thừa phát lại nhưng nhiều nơi 30 ngày mới trả lời; nhiều công ty không chịu cung cấp thông tin liên quan đến nhân viên vì lý do bảo mật.
Ông Lê Mạnh Hùng, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh, nói thêm là công tác tống đạt gặp khó khăn còn do quy định chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu. Cụ thể, tống đạt theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Luật Tố tụng dân sự chưa thống nhất, đặc biệt là khi có sự tham gia của thừa phát lại. Có trường hợp cùng một tình huống, một nội dung văn bản tống đạt nhưng tòa án này chấp nhận mà tòa án khác lại không. Thậm chí, trong cùng một tòa án mà thẩm phán này chấp nhận nhưng thẩm phán khác thì không. n
Hoàn toàn trong sự kiểm soát của nhà nước
Công tác tổ chức thi hành án của thừa phát lại gặp nhiều khó khăn, theo ông Lê Mạnh Hùng là còn do việc phối hợp giữa văn phòng thừa phát lại và các cơ quan có thẩm quyền liên quan (thuế, ngân hàng, đăng ký quyền sử dụng đất…) chưa tốt. Hiện có quan điểm không đồng tình về thẩm quyền cưỡng chế có sử dụng thừa phát lại vì thừa phát lại hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, tự chủ về tài chính, không phải cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, phải thấy văn phòng thừa phát lại do UBND cấp tỉnh thành lập, thừa phát lại là người được nhà nước bổ nhiệm và trao quyền tổ chức thi hành án tương tự như chấp hành viên và thực hiện các công việc khác. Quá trình tổ chức thi hành án, thừa phát lại chịu sự quản lý của sở tư pháp, Cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp), chịu sự kiểm sát của VKSND. Như vậy là hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của nhà nước.
Kỳ tới: Bi hài chuyện lập vi bằng
GIAN NAN THỪA PHÁT LẠI
Còn nhiều nỗi lo
Thứ Sáu, 22:59 12/12/2014
NLD – Chỉ những người yêu nghề, tâm huyết với nghề mới làm được thừa phát lại. Đồng lương của họ quá ít trong khi áp lực công việc lại nhiều, chi phí đi lại rất tốn kém nhưng doanh thu chưa tương xứng…
Việc nhiều cán bộ, người dân không biết các dịch vụ từ thừa phát lại (TPL) cũng như việc nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức không hỗ trợ theo đúng quy định đang khiến hầu hết văn phòng TPL trên cả nước rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí có thể đóng cửa.
Thu không đủ bù chi
Theo đề án được phê duyệt, tỉnh Thanh Hóa thành lập 4 văn phòng TPL nhưng hiện mới bổ nhiệm được 5 TPL và chỉ có 3 TPL thành lập văn phòng. Sau nhiều tháng hoạt động, chỉ có Văn phòng TPL Bỉm Sơn (thị xã Bỉm Sơn) và Văn phòng TPL TP Thanh Hóa hoạt động. Về chuyên môn, với 4 nhóm công việc chính (tống đạt theo yêu cầu, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành các bản án và quyết định của tòa án) thì TPL ở Thanh Hóa hiện chỉ mới làm 2 việc là tống đạt và lập vi bằng.
Ông Phạm Thanh Sơn, quyền Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa, cho biết đã kiến nghị TAND Tối cao, Tổng cục Thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp có văn bản chỉ đạo TAND và Cục Thi hành án dân sự địa phương thực hiện chuyển giao văn bản, giấy tờ cho các văn phòng TPL tống đạt theo quy định. “TPL ra đời để gánh bớt công việc của các ngành này nhưng họ vẫn ôm đồm, làm theo lối cũ và chưa xem trọng TPL” – ông Sơn nhấn mạnh.

Bà Nguyễn Thị Vân Quỳnh, Trưởng Văn phòng TPL TP Thanh Hóa, cho biết văn phòng đã thành lập được hơn 6 tháng. Tuy nhiên, trong số 10 vi bằng và 100 giấy tờ tống đạt chủ yếu là do văn phòng TPL này phối hợp với các văn phòng công chứng và văn phòng luật sư chứ ít có từ người dân trực tiếp yêu cầu.
Bà Quỳnh thẳng thắn: “Chỉ có những người yêu nghề, tâm huyết với nghề mới làm được TPL. Đồng lương của họ quá ít trong khi áp lực công việc lại nhiều. Có nhiều vụ việc phải đi tận miền núi, vào các bản làng xa xôi cách thành phố cả trăm km để lập 1 vi bằng, chi phí đi lại rất tốn kém nhưng doanh thu chưa tương xứng”.
Dù là văn phòng TPL duy nhất trong một tỉnh nhưng doanh thu của Văn phòng TPL Bình Định cũng không đủ bù đắp chi phí. Từ khi thành lập (tháng 3-2014) đến nay, doanh thu của văn phòng chỉ được khoảng 80 triệu đồng, trong khi chi phí hoạt động đã hơn 30 triệu đồng/tháng.
“Thu không đủ chi nên chúng tôi vừa cắt bớt 4 nhân sự, giảm gần 50% so với khi thành lập nhưng vẫn lỗ” – ông Trần Quang Phụng, Trưởng Văn phòng TPL Bình Định, cho biết.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tàu, Văn phòng TPL tỉnh Vĩnh Long, văn phòng thành lập được 9 tháng nhưng đến 8 tháng lỗ vì không có việc làm hoặc có việc làm mà không được thanh toán tiền. Bà Võ Thị Ngọc Huệ, Trưởng Văn phòng TPL Bình Dương, cũng cho biết: “Từ khi thành lập đến nay, Văn phòng TPL Bình Dương tống đạt 200 văn bản nhưng chưa được thanh toán vì các cơ quan, đơn vị liên quan cho biết phải hết năm mới trả”.
Chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc
Ở góc độ chuyên môn, ông Lê Mạnh Hùng – Trưởng Văn phòng TPL quận Bình Thạnh, TP HCM – phản ánh một số vướng mắc trong hoạt động lập vi bằng. Cụ thể, Sở Tư pháp TP HCM căn cứ vào Công văn 1128/BTP-TCTHADS ngày 18-4-2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm TPL) để từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản nhất định (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực.
Ông Hùng phân tích: Quy định loại trừ quyền lập vi bằng của TPL khi thuộc thẩm quyền công chứng, chứng thực nên được hiểu là “các trường hợp mà pháp luật bắt buộc phải công chứng, chứng thực”, còn những trường hợp khác thì không nên giới hạn lập vi bằng. Thực chất, các văn phòng TPL chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký.
Với vướng mắc này, Sở Tư pháp TP HCM cho biết đã báo cáo Bộ Tư pháp và đề xuất sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền đăng ký vi bằng đối với những trường hợp vi bằng ghi nhận việc giao nhận tiền; ký tên, lăn tay vào văn bản thỏa thuận liên quan đến việc mua bán bất động sản; ký tên, lăn tay vào văn bản xác nhận, thỏa thuận chuyển nhượng phần vốn góp; ký thỏa thuận chuyển giao quyền và nghĩa vụ liên quan khoản vay nợ ngân hàng… Tuy nhiên, dù đã kiến nghị nhiều lần nhưng văn bản của Bộ Tư pháp ban hành vừa qua vẫn không hướng dẫn rõ nên chưa thể giải quyết dứt điểm những vướng mắc của các TPL.
Theo Sở Tư pháp TP HCM, sau hơn 4 năm hoạt động, các văn phòng TPL đã tống đạt 319.391 văn bản, lập 20.448 vi bằng, thực hiện 348 vụ xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án 75 vụ việc. Đại diện Cục Thi hành án dân sự TP HCM ghi nhận: “Mỗi năm, chúng tôi tiếp nhận khoảng 80.000 vụ việc thi hành án. Các văn phòng TPL giảm bớt những vụ việc thi hành án cho Cục Thi hành án dân sự, chỉ cần gánh giùm 10% thôi là mừng rồi”.
Tổ chức thi hành án rất tốt
Tại hội nghị liên ngành giải quyết khó khăn, vướng mắc trong hoạt động TPL do Sở Tư pháp TP HCM chủ trì mới đây, VKSND TP cho biết các văn phòng TPL tổ chức thi hành án rất tốt, ưu điểm là đạt được thỏa thuận rất cao cho các đương sự, hiếm hoi lắm mới có cưỡng chế. Đặc biệt, các văn phòng TPL không bỏ dở hồ sơ trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên, kiểm sát 44 hồ sơ đã thi hành xong thì hầu như đều sai sót nên VKSND TP đã có 4 kiến nghị đến 4 văn phòng TPL. Sau đó, chỉ có TPL quận 1 và quận 5 phúc đáp.
Đại diện các văn phòng TPL cho biết việc thanh toán chi phí tống đạt của TAND và cơ quan thi hành án dân sự cho văn phòng TPL chưa kịp thời, không rõ ràng và hợp lý. Hiện còn 16 cơ quan tòa án, 15 chi cục thi hành án dân sự nợ chi phí tống đạt; các ngân hàng chậm cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án; cơ quan đăng ký tài sản cung cấp chưa kịp thời thông tin về tài sản của người phải thi hành án theo yêu cầu của TPL; cơ quan thuế từ chối cung cấp thông tin về báo cáo thuế hằng tháng, báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thậm chí, nhiều trường hợp còn khẳng định yêu cầu cung cấp thông tin của TPL là không có căn cứ pháp lý.
Lần đầu em nghe đến cái tên “Thừa phát lại”.
Em search ra một bài dưới đây thì thấy đây là “dịch vụ” giúp ích cho dân khi đụng tới pháp luật. Có lẽ vậy. (em cũng không chắc lắm vì có nhiều từ ngữ em chưa hiểu).
***
Tại sao gọi là Thừa phát lại, nghe khó hiểu quá
Bạn GIANG PHƯỢNG, Nữ 28 tuổi:
Vì sao lại đặt tên Thừa phát lại nghe khó hiểu quá? Sao không tìm một cái tên nào đó dễ hiểu và dễ nhớ để ít nhất những người dân ít học họ cũng hiểu cơ quan này làm chức năng gì chứ? Nếu như đã có cơ quan Thi hành án rồi thì nhiệm vụ của Thừa phát lại để làm gì?
Ông NGUYỄN ĐỨC CHÍNH, Thứ trưởng Bộ Tư pháp:
Tên gọi “thừa phát lại” là một thuật ngữ có gốc Hán – Việt và có tính lịch sử, nó được tồn tại ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ trước năm 1975. Tên “thừa phát lại” đã đi vào tiềm thức của người dân phía Nam. Nghĩa của nó chỉ một người công lại (một người không phải nhân viên nhà nước nhưng lại mang trong mình quyền lực nhà nước vì người đó được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm). Trong vốn từ ngữ Việt Nam hiện nay, cũng có người đề xuất có tên khác như: thừa hành viên, ở các tỉnh phía Bắc cũng có thời kỳ có các nhân vật “mõ tòa”. Nhưng xét về tổng thể, thừa phát lại không chỉ là thừa hành viên, thừa phát lại cũng không chỉ là mõ tòa.
Thực ra cũng rất chia sẻ với bạn rằng tên “thừa phát lại” đúng là khá lạ, bản thân tôi là người nghiên cứu về chế định này đã nhiều năm, và các nhà khoa học thảo luận trong nhiều hội thảo cũng đề xuất nhiều thuật ngữ khác nhưng cuối cùng đã thống nhất lấy tên gọi thừa phát lại là phù hợp nhất. Tôi cho rằng lúc đầu “thừa phát lại” có thể lạ với một số người, nhưng với những người sống trước năm 1975 ở các tỉnh phía Nam thì không thấy lạ. Tôi lấy ví dụ, những năm 80 của thế kỷ trước, ở các tỉnh phía Bắc nghe từ “cử nhân luật” rất lạ tai, nhưng nay thì từ này rất quen. Tôi hy vọng rằng sau 5, 10 năm nữa, bạn và nhiều người dân sẽ thấy từ này rất thân thuộc.
Về việc đã có thi hành án rồi, sao lại còn có thừa phát lại: đây là một câu hỏi khá hay. Thừa phát lại có chức năng rộng hơn thi hành án, trong đó có chức năng lập vi bằng, giúp cho người dân sử dụng vi bằng đó để chủ động làm chứng cứ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, chỉ với một chức năng này thôi của thừa phát lại, nó đã xác lập được một kênh mới trong việc tạo lập chứng cứ, nó vừa giúp cho người dân vừa làm phong phú nguồn chứng cứ cho tòa án, cho cơ quan nhà nước khi xem xét các vụ việc có tranh chấp. Như thế cũng tăng sự chủ động, giúp cho người dân chủ động bảo vệ quyền lợi của mình. Chỉ riêng ý này đã thể hiện giá trị khá lớn của thừa phát lại.
Giá trị thứ hai của thừa phát lại là thừa phát lại được giao chức năng tống đạt các văn bản của tòa án, đây cũng là tạo sự khác biệt và tạo nên nề nếp, tạo sự tin cậy, xác tín trong việc chuyển các văn bản của tòa án tới đương sự. Hiện nay, việc tống đạt các văn bản của tòa án thường gửi qua bưu điện hoặc trong trường hợp cần thiết là do thư ký tòa án đi tống đạt trực tiếp cho đương sự. Trong khi đó, việc tống đạt các văn bản của tòa tới các đương sự có giá trị và ý nghĩa rất lớn. Nhiều trường hợp, nếu văn bản của tòa án không biết có tới được đương sự hay không gây nên việc phải hoãn xét xử, hoãn phiên tòa. Còn việc giao cho thừa phát lại tống đạt các văn bản của tòa án là thực hiện theo những thủ tục được quy định chặt chẽ, có các biểu mẫu cụ thể và có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp (thư ký nghiệp vụ của thừa phát lại) để đem đến tận nơi cho đương sự. Do vậy, việc giao cho thừa phát lại thực hiện tống đạt các văn bản của tòa tới đương sự vừa tạo lập sự tin cậy, tạo lập nề nếp, có ý nghĩa rất lớn, khác với việc gửi qua bưu điện và đây cũng là ý nghĩa rất lớn của thừa phát lại.
Tại sao cả thi hành án và thừa phát lại đều tổ chức thi hành án? Ý nghĩa chung ở đây là thí điểm xã hội hóa các công việc mà cơ quan nhà nước đang làm, giảm tải gánh nặng các công việc và tài chính của nhà nước. Do vậy, thừa phát lại có một ý nghĩa khác và đó cũng là mục đích tại sao lại cho thí điểm tổ chức thừa phát lại.
LikeLike