Người dịch: Phạm Thị Ngọc Nho
Biên tập: Phạm Thu Hường
MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ
CHƯƠNG 2: Phương Pháp Và Tâm lý Của Sự Trì Hoãn
(Phần 16)
2B. Những chiếc cầu dễ gãy: Năng lượng hạt nhân và những nhà máy điện thu giữ và lưu trữ cac bon bằng bất kỳ giá nào? (tiếp theo)
Nguy cơ xung đột xã hội
Dự án CCS là một điệu nhảy trên đỉnh một ngọn núi lửa. Là một sự cứu trợ sống còn cho ngành công nghiệp than, phương án này rõ ràng là được cho phép với chi phí nhiều hơn so với năng lượng tái tạo.
Cường độ áp lực được sử dụng để tác động lên các thành viên của Quốc hội Đức nhằm thúc đẩy thông qua Đạo luật CCS của Đức năm 2009 nói lên nhiều điều. Marco Biilow, trong vai trò là diễn giả cho Đảng Dân chủ Xã hội về môi trường, mô tả chi tiết làm thế nào vận động hành lang tiếp tục can thiệp vào quá trình lập pháp. Các công ty điện lực đang đặt cược vào các chính phủ đảm nhận các rủi ro tài chính và chính trị của họ.
Do đó Chủ tịch RWE đã yêu cầu chính phủ Đức gánh vác các chi phí thi công và tài trợ các đường ống dẫn, bởi vì cung cấp cơ sở hạ tầng là việc công (một quan điểm ông loại bỏ khi nói đến mạng lưới điện). Bất cứ điều gì xảy ra, xã hội bị bỏ lại với những rủi ro vốn có đối với CCS, cũng giống như với điện hạt nhân. Tuy nhiên, thực tế là vấn đề đã bị bỏ lại cho công cụ chính sách nhằm đối phó với sự chống đối phổ biến đối với các đường ống và các giải pháp xử lý thải bỏ CO2 lâu dài này. Cuộc biểu tình chống đối lớn ở Schleswig-Holstein, đã gióng hồi chuông ban đầu cho cơ sở xử lý thải bỏ CO2 lâu dài đầu tiên, là sự nếm trải trước hết.
Sự chống đối tương tự sẽ nổ ra bất cứ nơi nào CCS bắt đầu được thiết lập. Nhận thức được điều này, Bộ trưởng Môi trường Đức, Norbert Rottgen, đã tuyên bố rằng các cơ sở xử lý thải bỏ CO2 lâu dài sẽ chỉ được thành lập ở nơi nào có sự chấp thuận của địa phương. Trong một dự thảo luật mới về CCS, trình lên Quốc hội Đức vào tháng Bảy năm 2010, các cơ sở xử lý thải bỏ CO2 lâu dài xuất phát từ nhà ở đô thị sẽ nhận được bồi thường tài chính tương xứng với khối lượng CO2 lưu trữ. Ngoài ra, luật này chỉ nên là một thử nghiệm với giới hạn số lượng xử lý lưu trữ hàng năm ở 8 triệu tấn.
Nói quá lên những lợi thế giả định của CCS không chỉ thiếu thận trọng về mặt khoa học và kinh tế, mà còn liều lĩnh về mặt chính trị. Các nhà khoa học lên tiếng bảo vệ cho CCS không phải trả lời về những rủi ro đầu tư nên không thể đoán trước nguy hiểm phát sinh. Họ cũng không phải giành chiến thắng cuộc bầu cử dân chủ khi đối mặt với các trận lũ phản đối từ dân chúng, những người có lý do để ngày càng ít sẵn lòng tin tưởng hơn đối với các tuyên bố khoa học về bản chất vô hại của CCS.
Các dự án CCS được dựa trên cơ sở chuyển rủi ro từ chỗ này sang chỗ khác hơn là khắc phục vấn đề, và là một biện pháp tốn kém và cực kỳ nguy hiểm chỉ để trì hoãn sự chuyển đổi năng lượng. Các lý do tài chính và sự chống đối chính đáng đảm bảo rằng CCS gần như chắc chắn là thất bại. Vấn đề của dự án CCS là dự án này làm mắc kẹt hàng tỷ vốn đầu tư chứ không làm cho CO2 biến mất, và một lần nữa lãng phí sự quan tâm và thời gian cần thiết cho quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo.
Tái chế thay vì xử lý lâu dài
Sự lừa dối về CCS (thu giữ và lưu trữ cacbon) bắt đầu với thuật ngữ nói giảm nói tránh “lưu trữ“. Bác bỏ cách tiếp cận CCS không có nghĩa là bao hàm việc tiếp tục thải một lượng lớn CO2 vào khí quyển trong khi chúng ta tiếp tục đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là một lượng lớn CO2 thoát ra trong các quy trình sản xuất khác như sản xuất xi măng (CO2 được thoát ra từ nguyên liệu đá vôi). Việc tái chế CO2 thì hợp lý hơn nhiều, tức là không thu giữ và lưu trữ cacbon, nhưng thu giữ và tái chế cacbon (Carbon Capture and Recycling – CCR). Nhờ thế CO2 sẽ được chuyển đổi từ chất thải nguy hại (mà bầu không khí hiện đang bị lạm dụng như một “bãi chứa tự nhiên”) thành một nguyên liệu tái sử dụng. Tái chế các sản phẩm của quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch không phải là hoàn toàn tránh được CO2, nhưng cho chúng ta cơ hội có thể giảm một nửa lượng khí thải CO2.
Một phương pháp tái chế là việc sản xuất tảo (algae). Khi kết hợp với CO2 trong một “lò phản ứng tảo” nhỏ tương tự như một bình thủy tinh, chỉ trong một ngày và sử dụng ánh sáng mặt trời tự nhiên, các hạt giống tảo tạo ra một mảng tảo là một sinh khối công nghiệp có thể sử dụng. Hiệu suất của sản lượng tảo từ một hecta các lò phản ứng này là nhiều hơn gấp tám lần so với các vụ thu hoạch sinh khối. Tuy vậy, các hệ thống tái chế như thế này không thể biện minh cho việc đầu tư mới các nhà máy điện đốt than, mặc dù phương pháp này có thể phục vụ cho việc tái sử dụng khí CO2 thải ra trong quá trình sản xuất xi măng chẳng hạn.
Tái chế chỉ có thể thiết thực khi lượng CO2 thải ra trong một địa điểm đơn lẻ không quá lớn, không giống như ở các nhà máy điện lớn với lượng khí thải hàng năm là 10 triệu tấn CO2. Bởi vì các sản phẩm tái chế được sử dụng trên một diện tích rộng và trong vô số các hình thức khác nhau, sản xuất của chúng cần được phi tập trung hóa. Điều này là không tương thích với các nhà máy điện lớn cũng như cơ sở hạ tầng đường ống. Một lần nữa, chúng ta đi đến kết luận chống lại các động lực quan trọng trong khái niệm CCS – đó là sự quyết tâm bám vào các cấu trúc quy mô lớn về cung cấp năng lượng và các rào cản cấu trúc đối với sự chuyển đổi năng lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
(còn tiếp)
—
© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH
Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.
Bản quyền bản dịch: dotchuoinon.com