Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 2: Hôm qua và Hôm nay (Phần 3)

Powering Planet Earth:
Energy Solutions for the Future

by Nicola Armaroli, Vincenzo Balzani, Nick Serpone

Chapter 2: Yesterday and Today – Chương 2: Hôm qua và Hôm nay (Phần 3)

Từ lửa đến điều hòa không khí

Người thời tiền sử sưởi ấm mình bằng cách sử dụng lửa. Trong hàng thiên niên kỷ, gỗ đã là nguồn năng lượng để nấu thức ăn và để bảo vệ con người qua thời gian lạnh giá. Thậm chí cho đến hôm nay, khoảng một tỷ người vẫn chỉ có gỗ, phân, và củi khô để nấu ăn và để giữ ấm. Nếu chúng ta loại trừ Nam Phi và các nước Địa Trung Hải, sinh khối vẫn chiếm 70% lượng năng lượng sơ cấp tiêu thụ ở châu Phi.

Sinh khối (biomass), trong đó bao gồm chủ yếu là gỗ, các mảnh vụn thực vật, phân khô, các vật liệu tự nhiên khác và chất thải có nguồn gốc sinh vật, được sử dụng làm nhiên liệu ở các nước nghèo. Bộ phận yếu hơn của người dân, chủ yếu là phụ nữ, dành phần lớn thời gian trong ngày để kiếm các nguồn năng lượng và nước trong tự nhiên để phục vụ cho tiêu dùng trong nước. Đối với nhiều triệu người, viễn cảnh nhấn một nút hoặc mở một van để có được năng lượng hoặc nước mà không cần lao động mệt nhọc vẫn còn là một giấc mơ xa vời. Từ thời Phục Hưng, nhà ở của giới quý tộc và người châu Âu giàu có đã được sưởi ấm bằng lò đốt củi. Theo thời gian, các vật này đã trở thành tác phẩm nghệ thuật được ngưỡng mộ trong nhiều bảo tàng. Với sự ra đời của than đá, đã cho phép chế tạo được nồi hơi mạnh hơn, và cùng với sự giúp đỡ của động cơ điện để điều khiển được sự lưu thông không khí và nước nóng, và cuối cùng tạo thành hệ thống sưởi ấm trung tâm (centralized heating systemscung cấp sự ấm áp cho toàn bộ tòa nhà, hoặc một phần của một tòa nhà, từ một điểm truyền nhiệt đến nhiều phòng -ND).

Do tác động tàn phá môi trường của khói (bạn chắc hẳn đã nghe nói tới “đám sương khói khổng lồ của Luân Đôn” – London smoke*?), than đã dần dần được thay thế đầu tiên bằng dầu và sau đó bằng khí thiên nhiên. Khi chi phí điện bắt đầu có giá cả phải chăng hơn vào giữa thế kỷ 20, và với sự giàu có hơn dân số, máy điều hòa không khí (air conditioners – ACs) bắt đầu lan rộng ở Mỹ, đầu tiên là máy điều hòa cửa sổ cho phòng đơn, và sau đó là hệ thống máy điều hòa trung tâm. Việc sử dụng điều hòa không khí đã nhanh chóng mở rộng tại các nước giàu và ở nhiều khu vực của thế giới với khí hậu nóng và ẩm ướt. Hầu hết các xe hơi hiện nay đều được trang bị điều hòa không khí.

Việc sử dụng rộng rãi điều hòa không khí trong các tòa nhà đã làm thay đổi sâu sắc sự phân bố lượng điện tiêu thụ trong thời gian nhất định trong năm. Cho đến một vài năm trước đây, mức tiêu thụ điện cao điểm được ghi nhận trong những tháng lạnh hơn và trong những ngày tối nhất của mùa đông. Bây giờ, tuy nhiên, mức tiêu thụ cao điểm này cũng xảy ra trong những tháng mùa hè nóng nhất.

Năng lượng tiêu thụ để sưởi ấm hoặc làm mát một ngôi nhà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như hướng của ngôi nhà, thiết kế kiến ​​trúc, vật liệu cách nhiệt bức tường, và thậm chí nhiều hơn thế là phụ thuộc vào loại của cửa sổ. Một nghiên cứu ở Đức cho thấy, vào năm 1970 một ngôi nhà ở của một gia đình 100 mét vuông (khoảng 1100 feet vuông) tiêu thụ khoảng 3500 lít (khoảng 1.000 gallons) nhiên liệu mỗi năm. Sau các quy định cho cách nhiệt của năm 1982, tiêu thụ giảm xuống còn 1700 lít (485 gallons), và sau đó xuống 1000 lít (khoảng 285 gallons) sau những quy định bổ sung của năm 1995. Với công nghệ hiện đại, tiêu thụ năng lượng còn có thể giảm hơn nữa khoảng 500 lít (140 gallons). Ở những vùng ôn đới, thậm chí còn có thể xây dựng những ngôi nhà thụ động (passive houses**) không tiêu thụ năng lượng, mà chỉ sử dụng ánh sáng mặt trời để chiếu sáng và sưởi ấm. Hiện nay, có khoảng 20 000 tòa nhà thụ động như vậy ở Đức.

Mặc dù cấu trúc của ngôi nhà đã được cải thiện, luôn luôn có nguy cơ rằng năng lượng tiêu thụ trong nước sẽ tiếp tục tăng. Điều này là do sự tăng trưởng bùng nổ của các thiết bị và tiện ích tiêu thụ năng lượng điện. Trong khi hiệu quả của một số thiết bị (ví dụ, tủ lạnh và máy giặt) và bóng đèn đang tăng lên, hiệu quả của một số khác là giảm; đó là trường hợp của điện thoại và TV plasma. Sự phung phí vô lý nhất của năng lượng là khi các thiết bị điện tử vẫn tiêu thụ điện được đặt trong chế độ chờ (standby), đó là, vẫn đang được bật nhưng không hoạt động. Điều này sẽ được nói đến cụ thể trong chương kế tiếp.

Từ tin tức trên lưng ngựa đến e-mail

Trong vài năm qua, không có gì thay đổi nhanh như số lượng và tốc độ lan truyền thông tin – xa lộ thông tin. Một giáo sư đại học California ước tính rằng một số duy nhất của tờ báo New York Times chứa nhiều thông tin hơn một người cùng thời với Shakespeare có thể thu thập được trong suốt cuộc đời của mình.

Trong những năm 1800, như trong thời La Mã, thông tin được truyền bởi khách du lịch hoặc – trong vài trường hợp rất đặc biệt – bởi sứ giả trên lưng ngựa có thể di chuyển nhanh nhất là 200 km (khoảng 120 dặm) một ngày. Tin tức về chiến thắng của đô đốc Nelson vào ngày 21 Tháng 10 năm 1805, trong cuộc chiến với Đồng minh Pháp – Tây Ban Nha tại Trafalgar***, phía Tây Gibraltar, đến được với nước Anh gần 2 tuần sau đó vào ngày 04 tháng 11. Vào năm 1865, tin tức về vụ ám sát tổng thống Lincoln của Hoa Kỳ tới châu Âu chỉ mất một tuần sau đó. Năm 1953, bản thảo mô tả công việc của Watson và Crick về cấu trúc của ADN mất hơn một tháng để đến được với các biên tập viên của tạp chí Nature. Ngày hôm nay, các bài báo khoa học được gửi đến các nhà xuất bản trực tuyến thông qua Internet chỉ trong vài giây.

Tất cả điều này tất nhiên đã có một ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí. Ví dụ, chi phí của việc gửi một bức điện tín ở nước ngoài trong những năm 1950 là 20 cent cho mỗi từ. Hôm nay một thông báo e-mail dài tùy ý theo mong muốn có thể được gửi từ đầu này đến đầu kia của thế giới ngay lập tức, chỉ phải trả một khoản phí hàng tháng tương đối nhỏ để một nhà cung cấp dịch vụ cho phép chúng ta kết nối với Internet.

Sản xuất và phân phối một số lượng lớn thông tin trong thời gian trực tiếp là một trong những tính năng đặc biệt của xã hội hiện đại. Những gì được gọi là kỷ nguyên xã hội thông tin hôm nay đã được phát triển đến đỉnh cao với những sáng chế đặc trưng của 130 năm qua: điện thoại, đài phát thanh, điện ảnh, truyền hình, bóng bán dẫn, máy tính, vệ tinh, viễn thông, internet, và e-mail, trong số nhiều phát minh khác.

Hôm nay chúng ta có thể gửi thông tin ngay tại chỗ từ bất cứ nơi nào trên thế giới bằng cách gõ trên bàn phím của máy tính cá nhân của chúng ta. Hành động rất đơn giản này rõ ràng đã được thực hiện bởi năng lượng điện. Hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực này cũng đang được cải thiện nhanh chóng.

Máy tính điện tử đầu tiên (chiếc ENIAC vào năm 1944) tiêu thụ 200 kW. Ngày hôm nay, một máy tính để bàn, sử dụng ít hơn một phần ngàn của công suất đó; một máy tính xách tay chỉ đòi hỏi có 50 W. Tuy nhiên, năng lượng tiêu thụ đang tăng lên theo cấp số nhân vì hiện nay có hàng trăm triệu máy tính với máy in và máy photocopy (và nhiều loại nữa) trên toàn thế giới. Ngoài ra, năng lượng được tiêu thụ bởi các máy tính không chỉ để truyền thông tin, mà còn để duy trì những mạng viễn thông quốc tế phức tạp khổng lồ để giúp trao đổi các gói thông tin một cách nhanh chóng và đáng tin cậy bất cứ lúc nào.

Tuy nhiên dòng thông tin này có là vô ích hay không, sai, hay bị nhầm lẫn hoặc sai lệch, lại là một vấn đề khác, mà ai đó đã tóm tắt như là: Tại một thời gian chúng ta đã cố tìm kiếm sự khôn ngoan, sau đó chúng ta đã hài lòng với kiến thức, bây giờ chúng ta chỉ còn lại với thông tin (At one time we sought wisdom, then we were happy with knowledge, now we’re left only with information).

Từ thuốc súng đến bom nguyên tử

Trong 150 năm qua, sự phổ biến của năng lượng chi phí thấp cũng đã phục vụ, một cách ấn tượng, để tăng sức mạnh hủy diệt của kho vũ khí quân sự thế giới, đưa nhân loại đến bờ vực của sự tự hủy diệt. Mặc dù chiến tranh lạnh đã kết thúc hơn 20 năm trước đây, sự thật là cả Nga và Mỹ vẫn giữ lại gần 10 000 đầu đạn hạt nhân như một phần trong kho vũ khí quân sự của họ.

Năng lượng đóng ba vai trò trong nền kinh tế thời chiến tranh. Một lượng lớn năng lượng cần được dùng để sản xuất vũ khí (súng trường, súng, xe tăng, máy bay, tàu chiến, tên lửa) có khả năng bắn vào kẻ thù các dạng năng lượng được đóng gói trong các dạng tập trung nhất và sức công phá khủng khiếp nhất (viên đạn, chất nổ, bom cháy, vũ khí hóa học, hạt nhân). Sau khi chiến tranh kết thúc, tất nhiên dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng lại các cơ sở hạ tầng của quốc gia đã bị tàn phá với chi phí năng lượng còn lớn hơn. Vũ khí sử dụng trong thời gian giữa thế kỷ 19 không khác nhiều so với những thứ có sẵn trong thế kỷ thứ 18. Vật liệu nổ mới (thuốc nổ dynamite và cyclonite), mạnh hơn rất nhiều so với thuốc súng truyền thống, được chế tạo trong khoảng thời gian giữa năm 1860 và 1900. Sự phát triển hiện đại của luyện kim bằng cách sử dụng than đá dẫn đến việc sản xuất thép chất lượng tốt hơn. Điều này cho phép tăng phạm vi sát thương của súng từ 2 lên đến 30 km (tức là từ khoảng 1 lên đến 18 dặm) trong những năm giữa 1860 và 1900.

Các tàu chiến và tàu ngầm đầu tiên đã được đưa vào sử dụng trong những năm 1900. Vào đêm trước của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh đã quyết định nâng cấp hải quân của mình từ sử dụng năng lượng than đá sang sức mạnh của dầu. Kể từ đó, dầu đã trở thành vật liệu chiến lược quan trọng nhất của cơ sở quân sự.

Máy bay quân sự xuất hiện trên chiến trường của Thế chiến I, nơi mà vũ khí hóa học (khí mù tạt, clo, và phosgene) đã được sử dụng trên quy mô lớn lần đầu tiên, đặc biệt là trên mặt trận Pháp-Đức, khiến cho hàng trăm ngàn người thương vong. Sự phát triển và chế tạo các xe tăng, máy bay chiến đấu, máy bay ném bom và tàu chiến đã diễn ra trong một vài năm trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.

Lần lượt vào ngày 6 và ngày 9 tháng 8 năm 1945, hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản đã bị san bằng bởi vũ khí hạt nhân đầu tiên được chế tạo – bom nguyên tử. Sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai đã chứng kiến sự chia đôi thế giới thành hai khối: phương Đông và phương Tây. Điều này dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang không kiềm chế để phát triển các công nghệ mới có sức phá hủy, chẳng hạn như máy bay ném bom tầm xa, tàu ngầm hạt nhân và tàu chiến, tên lửa liên lục địa: tất cả các vũ khí chiến tranh mang đầu đạn hạt nhân có sức mạnh hủy diệt hàng ngàn lần lớn hơn những thứ đã được sử dụng trên Hiroshima và Nagasaki. Người ta ước tính rằng từ năm 1940 trở đi, khoảng 10% của tất cả các năng lượng sử dụng trên thế giới đã được dùng cho sự phát triển và chế tạo vũ khí.

Sự triển khai hỏa lực quân sự cũng được phát triển dần dần: năm 1914 Không quân Hoàng gia Anh đã có khoảng 154 máy bay. Trong Thế chiến II, Hoa Kỳ đã sản xuất hơn 250 000 máy bay chiến đấu.

Các cuộc tấn công lớn nhất của Chiến tranh thế giới I sử dụng 600 xe tăng, trong khi ở cuộc tấn công cuối cùng của Thế chiến II, Liên Xô sử dụng 11 000 xe tăng, 8000 máy bay, và 50 000 khẩu pháo và bệ phóng tên lửa để chống lại Berlin.

Năm 1944, khối Đồng Minh (the Allies) có trường hỏa lực mạnh hơn gấp ba lần so với Khối Trục (Axis Powersgồm 3 thế lực chính Đức Quốc Xã, Phát-xít Ý và Đế quốc Nhật Bản -ND), là những kẻ đã gần cạn kiệt các nguồn năng lượng để nuôi bộ máy chiến tranh. Đây là lý do chủ yếu gây ra sự đảo ngược thế trận trong cuộc xung đột.

Để đánh bại chế độ Quốc xã (the Nazi regime), quân Đồng Minh đã thả tổng cộng khoảng một triệu tấn bom trên nước Đức. Chi phí kinh tế của việc triển khai sức mạnh này là rất lớn: năm 1944 Hoa Kỳ và Liên Xô đã sử dụng, lần lượt là, 54% và 75% tổng sản phẩm trong nước (GDP) cho chi tiêu quân sự.

Chi phí nhân lực cho sự hủy diệt của vũ khí chiến tranh cũng tăng dần: trận chiến đẫm máu nhất của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (tại Somme, năm 1916 – 1918) gây ra khoảng một triệu thương vong; trận đánh Stalingrad – nay là Volgograd (từ ngày 22 tháng 8 năm 1942 đến ngày 02 tháng 2 năm 1943) – là một trong những trận chiến đẫm máu nhất trong lịch sử chiến tranh đã lấy đi sự sống của hơn 2 triệu người, chưa kể đến cuộc bao vây Leningrad (nay là St Petersburg) gần 900 ngày kể từ ngày 8 tháng 9 năm 1941 đến ngày 27 tháng 1 năm 1944, đã được mô tả như là cuộc bao vây nguy hiểm nhất trong lịch sử thế giới, đã gây ra gần 1.5 triệu thương vong (cả binh lính và dân thường) và sơ tán 1.4 triệu người (chủ yếu là phụ nữ và trẻ em) trong đó nhiều người chết trong thời gian sơ tán do đói và bị trúng đạn. Vụ đánh bom vào Đức thực hiện bởi quân Đồng Minh gây ra 600 000 thương vong; hai quả bom hạt nhân thả xuống Nhật Bản tiêu diệt hơn 100 000 dân thường chỉ trong vài khoảnh khắc. Số người chết trong Chiến tranh thế giới II lên tới khoảng 55 triệu người, 70% trong số đó là dân thường.

Cuộc tàn sát đã kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức và Nhật Bản vào năm 1945. Kể từ đó, vẫn có những dòng các cuộc xung đột nhỏ và lớn đã khiến cho hàng triệu người thương vong. Để cung cấp cho bạn đọc một ý tưởng về sử dụng các nguồn tài nguyên ngày nay trong việc phát triển vũ khí và xúc tiến cuộc chiến tranh – mỹ từ hóa thì gọi là “chi tiêu quốc phòng” – trong năm 2011, tổng chi tiêu quân sự trên thế giới được ước tính là 1738 tỷ USD, tương ứng với 2.5% tổng sản phẩm của toàn cầu hoặc 249 USD cho mỗi người.

Các vấn đề đang nổi lên

Với sự tổng kết này, chúng tôi đã cố gắng để cung cấp cho các bạn – người đọc – một ý tưởng làm thế nào tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào năng lượng. Nó cần phải được nhấn mạnh rằng những thay đổi lớn được đề cập ở trên không phải là ảnh hưởng trên tất cả các quốc gia trên thế giới, và thậm chí cũng không phải tất cả các công dân của cái gọi là các quốc gia tiên tiến đều được hưởng lợi từ sự phong phú năng lượng này. Một sự tiến triển theo vòng xoáy sự sẵn có của năng lượngphát triển công nghệsự giàu cósự tiêu thụ năng lượng đã được tạo ra và dẫn đến sự bất bình đẳng lớn giữa con người và giữa các quốc gia. Bất bình đẳng này sẽ rất khó để có thể vượt qua. Ví dụ, với khoảng 330 triệu dân, Hoa Kỳ có khoảng 842 xe có động cơ trên 1000 người, bao gồm cả trẻ em, trong khi ở Trung Quốc và Ấn Độ, với dân số tổng cộng khoảng 2.5 tỷ thì chỉ có tương ứng là 40 và 20 xe cho mỗi 1000 cư dân.

Để khắc phục sự bất bình đẳng như vậy sẽ đòi hỏi phải bố trí sắp xếp một lượng rất lớn năng lượng cho các quốc gia đang phát triển. Ví dụ, nếu Trung Quốc và Ấn Độ đã có 842 xe mỗi nghìn người, giả sử mỗi người đi trung bình khoảng 10 000 km mỗi năm (khoảng 6000 dặm một năm) và mức tiêu thụ của 7 lít cho mỗi 100 km (khoảng 1 gallon Mỹ cho mỗi 30 dặm), hai quốc gia này sẽ tiêu thụ khoảng 8 tỷ thùng dầu mỗi năm. Điều này nghĩa là 22 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhiều hơn gấp đôi sản lượng của Saudi Arabia, nơi sản xuất một phần tư nguồn cung cấp dầu của thế giới hiện tại.

Ai sẽ cung cấp nhiên liệu cho Trung Quốc? Câu hỏi này, mà trong nhiều năm qua đã quét qua nhiều trung tâm kinh tế và chính trị, đã trở thành một cơn ác mộng, điều này đã dẫn đến giá dầu tăng đáng kể từ năm 2003. Những chi phí tăng lên, tuy nhiên, cũng đã được gây ra bởi cơn khát năng lượng vô độ liên tục từ các nước phát triển.

Lịch sử của 150 năm qua dạy chúng ta rằng sự giàu có và đầy đủ vật chất ngày càng lan rộng ở các nước tiên tiến hơn tạo ra nhiều nhu cầu mới. Hãy lấy du lịch như một ví dụ, nó gần như không tồn tại cho đến 50 năm trước đây, và bây giờ là một trong những hoạt động tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên thế giới.

Việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng là rất thuận tiện và rất hữu ích. Nó là một kho báu thật sự được tìm thấy trong độ sâu của tàu vũ trụ Trái Đất, một kho báu mà con người đã phát hiện và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trong vòng 20-30 năm qua kho tàng này đã đặt ra một số vấn đề nghiêm trọng. Đó là nó buộc phải đến lúc cạn kiệt. Sự sử dụng nó gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường. Sự phân bố không đồng đều của nó trong các khu vực khác nhau của hành tinh đã tạo ra sự bất bình đẳng kinh tế, căng thẳng chính trị, và thậm chí cả những cuộc chiến tranh.

Làm thế nào những vấn đề này có thể được giải quyết? Làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua (cùng một lúc), những bất bình đẳng đe dọa hòa bình, đáp ứng nhu cầu của những người đã quen với sự xa xỉ, lãng phí, giải quyết những hạn chế về nhiên liệu hóa thạch, và tránh thiệt hại cho sinh quyển từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch?

Những thách thức lớn đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta phải đối phó với chúng càng sớm càng tốt, trước khi xảy ra những sự kiện ảnh hưởng về thể chất có thể trở nên không thể ngăn cản và không thể quản lý, khả năng đi kèm với tình trạng bất ổn xã hội và chính trị, và mang đến cho nhân loại một tương lai đau đớn. Như chúng ta sẽ thấy sau này, những thách thức này không phải là không thể vượt qua. Trong thực tế, chúng thậm chí còn có thể bật ra được những cơ hội tuyệt vời.

 

Hết Chương 2.

Người dịch: Phạm Thu Hường

Chú thích của người dịch:

* London smoke: ý nói đến đám sương khói khổng lồ là sự kiện ô nhiễm không khí nghiêm trọng ảnh hưởng đến Luân Đôn trong tháng 12 năm 1952. Từ ngày 5-8/12/1952 là một giai đoạn thời tiết lạnh, kết hợp với một gió thổi ngược cùng với các chất gây ô nhiễm không khí, chủ yếu từ việc sử dụng than đá, đã tạo thành một lớp dày của sương mù trên toàn thành phố. Đây được coi là sự kiện không khí ô nhiễm tồi tệ nhất trong lịch sử Vương quốc Anh. Sự kiện này đã dẫn đến một số thay đổi trong thực hành và các quy định, bao gồm Đạo luật Không khí sạch 1956.

** Passive house: Nhà thụ động, mang nghĩa liên quan đến tiêu chuẩn về hiệu quả năng lượng trong các tòa nhà nhằm giảm thiểu tác động sinh thái của công trình lên môi trường. Tiêu chuẩn này đưa đến sự ra đời của những tòa nhà sử dụng năng lượng cực thấp để giữ ấm hoặc làm mát không gian bên trong.

*** Trận Trafalgar: Trận Trafalgar là một trận thủy chiến giữa Hải quân Hoàng gia Anh và đội tàu của Hải quân Pháp và Tây Ban Nha, là một phần của cuộc chiến tranh Liên minh thứ ba, trong các cuộc chiến tranh của Napoléon (1803-1815). Trận chiến này là chiến thắng quan trọng nhất của Đế quốc Anh trong những cuộc chiến tranh chống Napoléon, mở ra thời kỳ bá quyền của nước Anh trên biển cả, và mở đường cho cả dân tộc lên đỉnh cao vinh quang dưới triều Nữ hoàng Victoria sau này. Do đó, chiến thắng này có ý nghĩa huyền thoại đối với chiều dài lịch sử nước Anh.

 

© copyright Zanichelli and Wiley-VCH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 2: Hôm qua và Hôm nay (Phần 3)”

  1. Phần này rất hay, tác giả nêu lên những thách thức và bất bình đẳng do hậu quả của quá trình phát triển trong nhu cầu sử dụng năng lượng. Đồng thời đặt những câu hỏi cần giải pháp. Em sẽ sớm có một bài đề cập giải pháp cho vấn đề này :). Cảm ơn dịch giả

    “Làm thế nào những vấn đề này có thể được giải quyết? Làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua (cùng một lúc), những bất bình đẳng đe dọa hòa bình, đáp ứng nhu cầu của những người đã quen với sự xa xỉ, lãng phí, giải quyết những hạn chế về nhiên liệu hóa thạch, và tránh thiệt hại cho sinh quyển từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch?”

    Thích

  2. Cảm ơn Hằng đã dẫn chị đến với vấn đề năng lượng cực kì lý thú này. Ngày nào cũng mơ đến năng lượng gió và năng lượng mặt trời cho mọi người dân quê, em học nhanh lên nhé mình cùng về quê lập nghiệp năng lượng tái tạo và bền vững ^^

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s