Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Không thể nào có sơn phết giả tạo tại Nhà Trắng” – Richard Nixon

Các bạn thân mến,

Tuần này chúng ta tìm hiểu về một bài diễn văn liên quan đến vụ Watergate: bài diễn văn công bố sự từ chức của 2 cố vấn thân cận của tổng thống Nixon ngày 30/4/1973.

Vụ Watergate là một vụ bê bối chính trị nổi tiếng bắt đầu từ ngày 17/6/1972, và ám ảnh tổng thống Nixon trong suốt nhiệm kỳ 2, cuối cùng dẫn đến việc ông phải từ chức vào ngày 9/8/1974. Trong suốt khoảng thời gian từ tháng 6/1972 đến 8/1974, tổng thống Nixon đã liên tục chiến đấu mong thoát khỏi vụ việc này nhưng cuối cùng ông đã thất bại.

Tóm tắt vụ Watergate (có rất nhiều sách tường thuật chi tiết về vụ này, mọi người có thể tìm đọc):

Năm 1972 là năm vận động bầu cử tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ, và tổng thống đương nhiệm Nixon thuộc đảng Cộng Hoà đang được sự ủng hộ to lớn của nhân dân Hoa Kỳ.

Vào ngày 17/6/1972, bắt đầu bằng 1 sự tình cờ, FBI đã bắt được nhóm 5 người, được đào tạo chuyên nghiệp, đột nhập vào trụ sở đảng Dân Chủ để cài máy nghe trộm. Vụ việc được công bố rộng rãi và FBI vào cuộc điều tra, nhanh chóng xác định có liên quan đến Uỷ Ban Tái Cử Tổng Thống Nixon.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, cũng chưa có nhiều nghi ngờ vụ việc này liên quan trực tiếp đến tổng thống Nixon, và uy tín của Nixon dù có bị giảm sút chút ít, ông vẫn giành chiến thắng vang dội : chiến thắng tại 49 bang và được hơn 60% phiếu. “Lẽ ra ông ấy có thể đã giành được nhiều phiếu hơn nữa nếu không có vụ Watergate” theo ông Buchanan cố vấn của Nixon.

Ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ Tổng thống thứ 2, tháng 1/1973, vụ Watergate đã chiếm hết thời gian, sức lực của Nixon. “Ông ấy giành rất nhiều thời gian cho vụ Watergate. Tỉ lệ ủng hộ ông ngày càng giảm, và thái độ của ông ấy trở nên rất thất thường”, một cựu quan chức trong chính quyền Nixon phát biểu. “Đó là một quãng thời gian khủng hoảng: nói dối và che giấu”. Nhiều tiền đã được chi ra để bịt các đầu mối, thậm chí là phái nhân viên điều tra CIA để cản trở FBI.

Tuy nhiên, sự việc cứ ngày càng lớn dần, ban đầu liên quan đến Uỷ Ban Tái Cử Tổng Thống Nixon rồi từng bước từng bước liên quan đến cấp cao hơn, cuối cùng đến 2 cố vấn thân cận nhất của Nixon là Haldeman và Ehrlichman.

Tổng thống vẫn chiến đấu nhằm thoát khỏi vụ án này, ông liên tục “hy sinh” bộ máy của mình. Và ngày 30/4/1973 chứng kiến 1 trong những mất mát lớn nhất của bộ máy hỗ trợ ông: Sự từ chức của 2 cố vấn thân cận nhất. Và chúng ta sẽ đọc bài diễn văn tuyên bố của tổng thống về sự việc này. Trong bài diễn văn, chúng ta thấy một sự kiên quyết và lạc quan của tổng thống với sự việc này

Tuy nhiên trong cuốn sách mang tựa đề: “Tổng thống Nixon: Một mình trong Nhà Trắng”, tác giả Richard Reeves kể lại những gì đã xảy ra sau khi Nixon yêu cầu hai cố vấn từ chức. Tổng thống ngồi một mình trong trại David, “tất cả các đèn trong phòng đều tắt và ông đứng như hoá đá bên cửa sổ, nhìn ra những dãy núi bên ngoài… Rồi ông quay về phía Trợ lý báo chí Ron Ziegler và nói: “Mọi việc đã kết thúc rồi Ron, ông biết điều này không?”… Ông ngồi xuống và khóc”.

Sau bài diễn văn này, sau khi những cố vấn tin cẩn nhất đã ra đi, Nixon vẫn tiếp tục chiến đấu trên chiếc ghế Tổng thống thêm 1 năm, 3 tháng nữa. Cho đến phiên điều trần trước Thượng viện tháng 7/1973, một phụ tá của Nixon, ông Alexander Butterfield tiết lộ về sự tồn tại của hệ thống thu âm tự động do tổng thống Nixon thu âm về ông, cho riêng ông, coi đó là một kiểu nhật ký hàng ngày. Ông hy vọng chúng sẽ là di sản còn lại sau khi rời Nhà Trắng, tuy nhiên các cuộn băng này đã chấm dứt sự nghiệp của ông

Sau nhiều nỗ lực, Quốc hội thu giữ những băng ghi âm này, và phát hiện những bằng chứng cho thấy nỗ lực của Nixon nhằm che giấu sự thật xung quanh vụ đột nhập vào khách sạn Watergate (Ngoài ra còn 1 loạt các phát hiện khác như dự định tiếp tục tiến hành chiến tranh Việt Nam, ngăn cản phong trào phản chiến trong khi tuyên bố đang cố gắng hoà bình)

Ngày 9/8/1974, tổng thống tuyên bố từ chức trước khi Hạ viện bỏ phiếu luận tội ông.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

 

Nixon’s First Watergate Speech
April 30, 1973

Diễn Văn Watergate 1 của Nixon
Ngày 30.4.1973

Good evening:

Xin chào:

I want to talk to you tonight from my heart on a subject of deep concern to every American.

Tối nay tôi muốn nói chuyện với các bạn từ trái tim tôi về một chủ đề mà mọi người Mỹ đều quan tâm sâu sắc.

In recent months, members of my Administration and officials of the Committee for the Re-Election of the President— including some of my closest friends and most trusted aides—have been charged with involvement in what has come to be known as the Watergate affair. These include charges of illegal activity during and preceding the 1972 Presidential election and charges that responsible officials participated in efforts to cover up that illegal activity.

Trong những tháng gần đây, các thành viên Chính Phủ và quan chức của Uỷ ban Tái-Ứng cử Tổng thống — kể cả một số bạn thân và phụ tá đáng tin cậy nhất của tôi — đã bị buộc tội liên quan tới những điều đã dần dần có tên là Watergate. Những điều này bao gồm các hoạt động bất hợp pháp trong và trước kỳ bầu cử Tổng thống năm 1972 và các quan chức có trách nhiệm đã nỗ lực tìm cách để che dấu các hoạt động bất hợp pháp đó.

The inevitable result of these charges has been to raise serious questions about the integrity of the White House itself. Tonight I wish to address those questions.

Kết quả không thể tránh khỏi của các cáo buộc này đã nêu lên những câu hỏi nghiêm trọng về tính liêm chính của Nhà Trắng. Tối nay tôi muốn giải quyết những câu hỏi này.

Last June 17, while I was in Florida trying to get a few days rest after my visit to Moscow, I first learned from news reports of the Watergate break-in. I was appalled at this senseless, illegal action, and I was shocked to learn that employees of the Re-Election Committee were apparently among those guilty. I immediately ordered an investigation by appropriate Government authorities. On September 15, as you will recall, indictments were brought against seven defendants in the case.

Ngày 17 tháng 6 qua, khi tôi đang ở Florida để cố gắng có vài ngày nghỉ sau chuyến thăm Moscow, lần đầu tiên tôi được biết qua các bản tin về vụ Watergate break-in. Tôi đã kinh hoàng về hành động vô nghĩa, bất hợp pháp này, và tôi đã bị sốc khi biết rằng nhân viên của Ủy ban Tái-Ứng cử lại là trong số những người có tội. Tôi lập tức ra lệnh các cơ quan chính phủ có thẩm quyền mở cuộc điều tra. Ngày 15 tháng 9, như các bạn còn nhớ, bản cáo trạng được đưa ra cho bảy bị cáo trong vụ kiện.

As the investigations went forward, I repeatedly asked those conducting the investigation whether there was any reason to believe that members of my Administration were in any way involved. I received repeated assurances that there were not. Because of these continuing reassurances, because I believed the reports I was getting, because I had faith in the persons from whom I was getting them, I discounted the stories in the press that appeared to implicate members of my Administration or other officials of the campaign committee.

Trong khi các cuộc điều tra tiến hành, tôi đã liên tục hỏi những người lãnh đạo cuộc điều tra xem liệu có bất kỳ lý do gì để tin rằng các thành viên trong chính phủ của tôi có liên quan trong bất cứ cách nào. Tôi nhận được sự bảo đảm, lặp đi lặp lại nhiều lần, là không. Bởi vì những cam đoan liên tục này, bởi vì tôi tin vào các báo cáo mà tôi nhận được, bởi vì tôi có niềm tin vào những người tôi cho tôi thông tin, tôi xem nhẹ các câu chuyện trên báo chí có vẻ cáo buộc các thành viên chính phủ hoặc các quan chức khác của ủy ban vận động tranh cử của tôi.

Until March of this year, I remained convinced that the denials were true and that the charges of involvement by members of the White House Staff were false. The comments I made during this period, and the comments made by my Press Secretary in my behalf, were based on the information provided to us at the time we made those comments. However, new information then came to me which persuaded me that there was a real possibility that some of these charges were true, and suggesting further that there had been an effort to conceal the facts both from the public, from you, and from me.

Cho đến tháng Ba năm nay, tôi vẫn tin chắc rằng những điều phủ nhận đó là đúng sự thật và những cáo buộc liên quan tới các nhân viên Nhà Trắng là sai. Những lời tôi nosit trong thời gian này, và những lời nói của tùy viên báo chí của tôi thay mặt cho tôi, là dựa trên thông tin cung cấp cho chúng tôi vào thời gian chúng tôi nói những lời đó. Tuy nhiên, sau đó thông tin mới đến với tôi thuyết phục tôi rằng có khả năng thực tế là một số cáo buộc này là đúng, và hơn thế nữa đã có một nỗ lực để che giấu sự thật đối với công chúng, đối với các bạn, và đối với tôi.

As a result, on March 21, I personally assumed the responsibility for coordinating intensive new inquiries into the matter, and I personally ordered those conducting the investigations to get all the facts and to report them directly to me, right here in this office.

Kết quả là, ngày 21 tháng 3, đích thân tôi nhận trách nhiệm phối hợp các vụ thẩm vấn mới đào sâu vào vấn đề, và tôi đích thân ra lệnh các lãnh đạo điều tra phải thu thập tất cả mọi sự kiện và báo cáo trực tiếp với tôi, ngay tại văn phòng này.

I again ordered that all persons in the Government or at the Re-Election Committee should cooperate fully with the FBI, the prosecutors, and the grand jury. I also ordered that anyone who refused to cooperate in telling the truth would be asked to resign from Government service. And, with ground rules adopted that would preserve the basic constitutional separation of powers between the Congress and the Presidency, I directed that members of the White House Staff should appear and testify voluntarily under oath before the Senate committee which was investigating Watergate.

Tôi lại ra lệnh cho tất cả những người trong Chính phủ hay trong Ủy ban Tái-Ứng cử nên hợp tác chặt chẽ với FBI, các công tố viên, và đại bồi thẩm đoàn. Tôi cũng đã ra lệnh rằng bất cứ ai từ chối hợp tác trong việc nói lên sự thật sẽ bị yêu cầu từ chức. Và, với nguyên tắc cơ bản duy trì sự tách biệt hiến định quyền lực giữa Quốc hội và Tổng thống, tôi chỉ đạo rằng các thành viên của Nhân viên Nhà Trắng nên tự nguyện đến và tuyên thệ trước ủy ban Thượng viện điều tra vụ Watergate.

I was determined that we should get to the bottom of the matter, and that the truth should be fully brought out—no matter who was involved.

Tôi đã quyết định rằng chúng ta nên điều tra vấn đề cho đến cùng, và sự thật nên được phơi bày—bất kể ai là người liên quan.

At the same time, I was determined not to take precipitate action and to avoid, if at all possible, any action that would appear to reflect on innocent people. I wanted to be fair. But I knew that in the final analysis, the integrity of this office—public faith in the integrity of this office—would have to take priority over all personal considerations.

Đồng thời, tôi đã quyết định không hành động hấp tấp và để tránh, nếu có thể, bất kỳ hành động nào sẽ làm ảnh hưởng đến những người vô tội. Tôi muốn có sự công bằng. Nhưng tôi biết rằng trong sự phân tích cuối cùng, tính liêm chính của văn phòng tổng thống— niềm tin của công chúng vào tính liêm chính của văn phòng này—phải có ưu tiên cao hơn mọi quan tâm cá nhân.

Today, in one of the most difficult decisions of my Presidency, I accepted the resignations of two of my closest associates in the White House—Bob Haldeman, John Ehrlichman—two of the finest public servants it has been my privilege to know.

Hôm nay, một trong những quyết định khó khăn nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của tôi, tôi chấp nhận đơn từ chức từ hai cộng sự viên thân cận nhất của tôi trong Nhà Trắng—hai trong những viên chức ưu tú nhất mà tôi được đặc quyền biết đến.

I want to stress that in accepting these resignations, I mean to leave no implication whatever of personal wrongdoing on their part, and I leave no implication tonight of implication on the part of others who have been charged in this matter. But in matters as sensitive as guarding the integrity of our democratic process, it is essential not only that rigorous legal and ethical standards be observed but also that the public, you, have total confidence that they are both being observed and enforced by those in authority and particularly by the President of the United States. They agreed with me that this move was necessary in order to restore that confidence.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng trong việc chấp nhận đơn từ chức này, tôi có ý là không để lại bất cứ hàm ý nào là họ đã làm gì sai trái, và tối nay tôi không để lại hàm ý nào về phần của những người khác đã bị buộc tội trong vấn đề này. Tuy nhiên, trong các vấn đề nhạy cảm như bảo vệ sự toàn vẹn của tiến trình dân chủ của chúng ta, là điều cần thiết không những là các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức nghiêm ngặt được tuân thủ, mà còn là công chúng, các bạn, có được sự tín nhiệm hoàn toàn rằng cả luật và đạo đức được tuân thủ và thi hành bởi những người cầm quyền và đặc biệt là bởi Tổng thống Hoa Kỳ. Họ [Bob Haldeman và John Ehrlichman] đồng ý với tôi rằng động thái này là cần thiết để khôi phục lại sự tín nhiệm đó.

Because Attorney General Kleindienst—though a distinguished public servant, my personal friend for 20 years, with no personal involvement whatever in this matter—has been a close personal and professional associate of some of those who are involved in this case, he and I both felt that it was also necessary to name a new Attorney General.

Bởi vì Bộ trưởng Tư Pháp Kleindienst—dù là một công chức ưu tú, một người bạn 20 năm của tôi, không có liên quan cá nhân đến bất cứ điều gì trong vấn đề này—lại liên quan cá nhân và nghề nghiệp đến một vài người có liên quan trong vụ này, ông và tôi cả hai đều cảm thấy cần thiết nên có Bộ trưởng Tư pháp mới.

The Counsel to the President, John Dean, has also resigned.

Luật sư của Tổng thống, John Dean, cũng đã từ chức.

As the new Attorney General, I have today named Elliot Richardson, a man of unimpeachable integrity and rigorously high principle. I have directed him to do everything necessary to ensure that the Department of Justice has the confidence and the trust of every law-abiding person in this country.

Về Bộ trưởng Tư pháp, hôm nay tôi đề cử Elliot Richardson, một người với tính liêm chính không tì vết và nguyên tắc sống nghiêm ngặt cao. Tôi đã yêu cầu ông làm tất cả mọi thứ cần thiết để đảm bảo rằng Bộ Tư Pháp có sự tin cậy và tin tưởng của mọi công dân của đất nước này.

I have given him absolute authority to make all decisions bearing upon the prosecution of the Watergate case and related matters. I have instructed him that if he should consider it appropriate, he has the authority to name a special supervising prosecutor for matters arising out of the case.

Tôi đã cho ông quyền tuyệt đối để thi hành tất cả các quyết định ảnh hưởng đến truy tố vụ Watergate và các vấn đề liên quan. Tôi đã chỉ thị cho ông rằng nếu ông thấy phù hợp, ông có quyền đề cử một công tố viên giám sát đặc biệt cho các vấn đề phát sinh trong vụ kiện.

Whatever may appear to have been the case before, whatever improper activities may yet be discovered in connection with this whole sordid affair, I want the American people, I want you to know beyond the shadow of a doubt that during my term as President, justice will be pursued fairly, fully, and impartially, no matter who is involved. This office is a sacred trust and I am determined to be worthy of that trust.

Bất cứ điều gì có thể là sự kiện trước đây, bất cứ hoạt động gì không đứng đắn chưa được khám phá trong vụ việc nhơ nhớp này, tôi muốn người dân Mỹ, tôi muốn các bạn biết mà không hề có bóng dáng của sự nghi ngờ nào rằng trong nhiệm kỳ của tôi như là một Tổng thống, công lý sẽ được theo đuổi một cách công bằng, đầy đủ, và vô tư, bất chấp ai là người dính dáng. Văn phòng này là một sự tin tưởng thiêng liêng và tôi nhất định là xứng đáng với sự tin tưởng đó.

Looking back at the history of this case, two questions arise:
• How could it have happened?
• Who is to blame?

Nhìn lại lịch sử của vụ án này, hai câu hỏi đề ra:
• Sao nó lại có thể xảy ra?
• Ai là người để đổ lỗi?

Political commentators have correctly observed that during my 27 years in politics I have always previously insisted on running my own campaigns for office.

Các nhà bình luận chính trị đã quan xát một cách chính xác rằng trong suốt 27 năm làm chính trị trước đây tôi khăng khăng đòi tự vận động tranh cử cho văn phòng.

But 1972 presented a very different situation. In both domestic and foreign policy, 1972 was a year of crucially important decisions, of intense negotiations, of vital new directions, particularly in working toward the goal which has been my overriding concern throughout my political career—the goal of bringing peace to America, peace to the world.

Nhưng 1972 đưa đến một tình huống rất khác biệt. Trong cả hai chính sách quốc nội và quốc ngoại, 1972 là một năm của những quyết định hết sức quan trọng, của những đàm phán căng thẳng, của những đường hướng mới sinh động, đặt biệt trong việc làm hướng đến mục đích luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu trong suốt nghề nghiệp chính trị của tôi – mục đích mang hòa bình cho nước Mỹ, hòa bình cho thế giới.

That is why I decided, as the 1972 campaign approached, that the Presidency should come first and politics second. To the maximum extent possible, therefore, I sought to delegate campaign operations, to remove the day-to-day campaign decisions from the President’s office and from the White House. I also, as you recall, severely limited the number of my own campaign appearances.

Đó là lý do tại sao tôi quyết định, khi cuộc vận động 1972 đến, rằng nhiệm vụ Tổng Thống là trên hết và chính trị là thứ hai. Trong phạm vi tối đa có thể, vì vậy, tôi tìm người giao phó chiến dịch vận động, để loại bỏ các quyết định vận động ngày-qua-ngày ra khỏi văn phòng Tổng Thống và ra khỏi Nhà Trắng. Tôi cũng, như các bạn nhớ lại, hạn chế nghiêm ngặt số lần chính tôi xuất hiện để vận động tranh cử.

Who, then, is to blame for what happened in this case?

Rồi ai là người để đổ lỗi cho những gì đã xảy ra trong vụ kiện này?

For specific criminal actions by specific individuals, those who committed those actions must, of course, bear the liability and pay the penalty.

Với những hành động phạm tội cụ thể bởi những cá nhân cụ thể, những ai vi phạm những hành động đó phải, dĩ nhiên, chịu trách nhiệm và chịu phạt.

For the fact that alleged improper actions took place within the White House or within my campaign organization, the easiest course would be for me to blame those to whom I delegated the responsibility to run the campaign. But that would be a cowardly thing to do.

Trên thực tế rằng với những hành động bị cáo buộc là không thích đáng trong Nhà Trắng hay trong tổ chức vận động tranh cử của tôi, quá trình đơn giản nhất cho tôi là đổ lỗi cho những ai mà tôi giao phó trách nhiệm thi hành cuộc vận động. Nhưng điều đó sẽ là một làm việc hèn nhát.

I will not place the blame on subordinates—on people whose zeal exceeded their judgment and who may have done wrong in a cause they deeply believed to be right.

Tôi sẽ không đổ lỗi cho cấp dưới—cho những người có lòng nhiệt thành vượt lên sự phán đoán của họ và cho những ai đã làm sai trong một mục đích tốt mà họ đã tin một cách sâu sắc là đúng.

In any organization, the man at the top must bear the responsibility. That responsibility, therefore, belongs here, in this office. I accept it. And I pledge to you tonight, from this office, that I will do everything in my power to ensure that the guilty are brought to justice and that such abuses are purged from our political processes in the years to come, long after I have left this office.

Trong bất kỳ tổ chức nào, người ở trên phải nhận lãnh trách nhiệm. Trách nhiệm đó, do đó, thuộc về ở đây, trong văn phòng này. Tôi chấp nhận nó. Và tối nay tôi cam kết, từ văn phòng này, tôi sẽ làm tất cả mọi thứ trong khả năng của tôi để đảm bảo rằng các tội phạm được đưa ra trước công lý và những lạm dụng như vậy được thanh lọc qua các quá trình chính trị của chúng ta trong nhiều năm tới, mãi sau khi tôi rời văn phòng này.

Some people, quite properly appalled at the abuses that occurred, will say that Watergate demonstrates the bankruptcy of the American political system. I believe precisely the opposite is true. Water- gate represented a series of illegal acts and bad judgments by a number of individuals. It was the system that has brought the facts to light and that will bring those guilty to justice—a system that in this case has included a determined grand jury, honest prosecutors, a courageous judge, John Sirica, and a vigorous free press.

Vài người, rất chính đáng, kinh hoàng về những lạm dụng đã xảy ra, sẽ nói rằng Watergate thể hiện sự phá sản của hệ thống chính trị Hoa Kỳ. Tôi tin tưởng một cách chính xác rằng điều ngược lại là đúng. Watergate đại diện cho một loạt hành vi bất hợp pháp và sự phán xét sai lầm bởi một số cá nhân. Chính hệ thống đã mang sự thật ra ánh sáng và sẽ mang những người có tội ra công lý—một hệ thống mà trong trường hợp này bao gồm một đại bồi thẩm đoàn quả quyết, các công tố viên thành thật, một thẩm phán dũng cảm, John Sirica, và một hệ thống báo chí tự do.

It is essential now that we place our faith in that system—and especially in the judicial system. It is essential that we let the judicial process go forward, respecting those safeguards that are established to protect the innocent as well as to convict the guilty. It is essential that in reacting to the excesses of others, we not fall into excesses ourselves.

Bây giờ điều tối quan trọng là chúng ta đặt lòng tin vào hệ thống đó—và đặt biệt là vào hệ thống tư pháp. Điều tối quan trọng là chúng ta để quá trình tư pháp tiến tới, tôn trọng những biện pháp bảo vệ được thành lập để bảo vệ những người vô tội cũng như kết án những người có tội. Điều tối quan trọng là trong khi phản ứng đến các việc thái quá của những người khác, chúng ta không rơi vào sự thái quá của chính chúng ta.

It is also essential that we not be so distracted by events such as this that we neglect the vital work before us, before this Nation, before America, at a time of critical importance to America and the world.

Cũng là điều tối quan trọng rằng chúng ta không bị phân tâm bởi những sự kiện như sự kiện này mà chúng ta bỏ bê công việc quan trọng đang đối diện chúng ta, Đất nước này, nước Mỹ, tại một thời điểm tối quan trọng cho nước Mỹ và thế giới.

Since March, when I first learned that the Watergate affair might in fact be far more serious than I had been led to believe, it has claimed far too much of my time and my attention. Whatever may now transpire in the case, whatever the actions of the grand jury, whatever the outcome of any eventual trials, I must now turn my full attention—and I shall do so—once again to the larger duties of this office. I owe it to this great office that I hold, and I owe it to you—to my country.

Kể từ tháng Ba, khi lần đầu tiên tôi được biết rằng vụ Watergate trên thực tế có thể nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì tôi đã được dẫn dắt để tin, nó đã dành quá nhiều thời gian và sự chú ý của tôi. Bây giờ, bất cứ điều gì có thể tiết lộ trong vụ này, bất cứ hành động gì của đại bồi thẩm đoàn, bất cứ kết quả gì của bất cứ phiên tòa sẽ đến, bây giờ tôi phải chuyển sự chú ý hoàn toàn của tôi—và tôi sẽ làm như vậy—một lần nữa đến các nhiệm vụ lớn hơn của văn phòng này. Tôi nợ văn phòng tuyệt vời này nơi tôi đang giữ chức vụ, và tôi nợ các bạn—nợ tổ quốc tôi.

I know that as Attorney General, Elliot Richardson will be both fair and he will be fearless in pursuing this case wherever it leads. I am confident that with him in charge, justice will be done.

Tôi biết rằng là Bộ trưởng Tư pháp, Elliot Richardson sẽ vừa công bằng và vừa không sợ hãi trong việc theo đuổi vụ án này dù là nó dẫn đến bất cứ nơi nào. Tôi tin chắc rằng với sự phụ trách của ông, công lý sẽ được thực hiện.

There is vital work to be done toward our goal of a lasting structure of peace in the world—work that cannot wait, work that I must do.

Có công việc quan trọng phải được thực hiện để hướng mục tiêu của chúng ta tới một cấu trúc lâu dài cho hòa bình thế giới—công việc không thể chờ đợi, công việc mà tôi phải làm.

Tomorrow, for example, Chancellor Brandt of West Germany will visit the White House for talks that are a vital element of “The Year of Europe,” as 1973 has been called, We are already preparing for the next Soviet-American summit meeting later this year.

Ví dụ như ngày mai, Quốc trưởng Tây Đức Brandt sẽ viếng thăm Nhà Trắng cho các cuộc đàm phán mà là một yếu tố quan trọng của “Năm của Châu Âu,” như năm 1973 đã được gọi, Chúng ta đang sẵn sàng chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh Xô-Mỹ kế tiếp năm nay.

This is also a year in which we are seeking to negotiate a mutual and balanced reduction of armed forces in Europe, which will reduce our defense budget and allow us to have funds for other purposes at home so desperately needed. It is the year when the United States and Soviet negotiators will seek to work out the second and even more important round of our talks on limiting nuclear arms and of reducing the danger of a nuclear war that would destroy civilization as we know it. It is a year in which we confront the difficult tasks of maintaining peace in Southeast Asia and in the potentially explosive Middle East.

Đây cũng là năm mà chúng ta tìm kiếm để thương lượng một sự giảm thiểu chung và quân bình cho các lực lượng vũ trang ở châu Âu, điều đó sẽ giảm bớt ngân sách quốc phòng và cho phép chúng ta có kinh phí cho các mục tiêu khác rất cần một cách khủng khiếp ở trong nước. Năm nay là năm những nhà thương lượng Mỹ và Xô Viết sẽ tìm kiếm giải pháp trong cuộc nói chuyện lần thứ hai, và là lần quan trọng hơn, trong việc hạn chế vũ khí hạt nhân và giảm thiểu nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân mà như chúng ta biết sẽ phá hủy nền văn minh. Năm nay là năm mà chúng ta đối diện với những nhiệm vụ khó khăn trong việc duy trì hòa bình ở Đông Nam Á và tiềm lực bùng nổ Trung Đông.

There is also vital work to be done right here in America: to ensure prosperity, and that means a good job for everyone who wants to work; to control inflation, that I know worries every housewife, everyone who tries to balance a family budget in America; to set in motion new and better ways of ensuring progress toward a better life for all Americans.

Ngoài ra còn có công việc quan trọng được thực hiện ngay đây tại nước Mỹ: để đảm bảo sự thịnh vượng, và điều đó có nghĩa là một công việc tốt cho tất cả những ai muốn làm việc, để kiểm soát lạm phát, mà tôi biết là mối lo lắng cho mỗi bà nội trợ, những người cố gắng để cân bằng ngân sách gia đình trong nước Mỹ; để bắt đầu chuyển động các con đường mới và tốt hơn để đảm bảo sự tiến bộ nhằm hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả người Mỹ.

When I think of this office—of what it means—I think of all the things that I want to accomplish for this Nation, of all the things I want to accomplish for you.

Khi tôi nghĩ về văn phòng này—về ý nghĩa của nó—tôi nghĩ về tất cả những điều mà tôi muốn thực hiện cho Quốc gia này, về tất cả những điều tôi muốn thực hiện cho các bạn.

On Christmas Eve, during my terrible personal ordeal of the renewed bombing of North Vietnam, which after 12 years of war finally helped to bring America peace with honor, I sat down just before midnight. I wrote out some of my goals for my second term as President.

Vào đêm Giáng sinh, trong thời gian thử thách khủng khiếp của riêng tôi trong vụ đánh bom mới với miền Bắc Việt Nam, sau 12 năm chiến tranh, rốt cuộc đã giúp mang lại hòa bình với vinh dự cho nước Mỹ, tôi ngồi xuống ngay trước nửa đêm. Tôi đã viết ra vài mục tiêu cho nhiệm kỳ thứ hai của tôi như là một Tổng thống.

Let me read them to you:

Hãy để tôi đọc cho các bạn:

• “To make it possible for our children, and for our children’s children, to live in a world of peace.
• “To make this country be more than ever a land of opportunity—of equal opportunity, full opportunity for every American.
• “To provide jobs for all who can work, and generous help for those who cannot work.
• “To establish a climate of decency and civility, in which each person respects the feelings and the dignity and the God-given rights of his neighbor.
• “To make this a land in which each person can dare to dream, can live his dreams—not in fear, but in hope—proud of his community, proud of his country, proud of what America has meant to himself and to the world.”

• “Để làm cho con em của chúng ta, và cho con em của con em chúng ta, có thể sống trong một thế giới hòa bình.
• “Để làm cho đất nước này hơn bao giờ hết một vùng đất của cơ hội – của cơ hội bình đẳng, tràn đầy cơ hội cho mỗi người Mỹ.
• “Để cung cấp việc làm cho tất cả những ai có thể làm việc, và giúp đỡ hào phóng cho những ai không thể làm việc.
• “Để thiết lập một môi trường đúng đắn và lễ độ, trong đó mỗi người tôn trọng cảm xúc và nhân phẩm và quyền Thiên Chúa ban cho người láng giềng của Ngài.
• “Để làm cho vùng đất này lầ vùng đất trong đó mỗi người có thể dám mơ ước, có thể sống với những giấc mơ của mình—không trong sợ hãi, nhưng trong hy vọng— tự hào về cộng đồng của mình, tự hào về đất nước của mình, tự hào về ý nghĩa của nước Mỹ đối với anh ta và đối với thế giới .”

These are great goals. I believe we can, we must work for them. We can achieve them. But we cannot achieve these goals unless we dedicate ourselves to another goal.

Đây là những mục tiêu tuyệt vời. Tôi tin rằng chúng ta có thể, chúng ta phải làm việc cho các mục tiêu đó. Chúng ta có thể đạt được chúng. Nhưng chúng ta không thể đạt được các mục tiêu này, trừ khi chúng ta dâng hiến bản thân của chúng ta cho một mục tiêu khác.

We must maintain the integrity of the White House, and that integrity must be real, not transparent. There can be no whitewash at the White House.

Chúng ta phải duy trì tính liêm chính của Nhà Trắng, và tính liêm chính đó là thực, không giả tạo. Không thể nào có sự sơn phết giả tạo tại Nhà Trắng.

We must reform our political process— ridding it not only of the violations of the law but also of the ugly mob violence and other inexcusable campaign tactics that have been too often practiced and too readily accepted in the past, including those that may have been a response by one side to the excesses or expected excesses of the other side. Two wrongs do not make a right.

Chúng ta phải cải cách đường lối chính trị của chúng ta—bỏ đi không chỉ những vi phạm pháp luật nhưng cũng bỏ đi bạo lực xấu xa của đám đông và những chiến thuật vận động tranh cử không thể tha thứ mà quá thường xuyên được thực hiện và quá sẵn sàng để được chấp nhận trong quá khứ, kể cả những đáp trả của một bên đối với các thái quá hay kỳ vọng thái quá của bên kia. Hai cái sai không làm thành một cái đúng.

I have been in public life for more than a quarter of a century. Like any other calling, politics has good people and bad people. And let me tell you, the great majority in politics—in the Congress, in the Federal Government, in the State government—are good people. I know that it can be very ‘easy, under the intensive pressures of a campaign, for even well-lntentioned people m fall into shady tactics—to rationalize this on the grounds that what is at stake is of such importance to the Nation that the end justifies the means. And both of our great parties have been guilty of such tactics in the past.

Tôi sống đời sống công chức hơn một phần tư thế kỷ. Giống như bất kỳ các ngành khác, chính trị có người tốt và người xấu. Và hãy cho tôi nói với bạn, đại đa số trong chính trị—trong Quốc hội, trong Chính phủ Liên bang, trong Chính phủ Tiểu bang—là những người tốt. Tôi biết rằng có thể rất “dễ dàng, dưới áp lực mạnh mẽ của cuộc vận động tranh cử, ngay cả người có chủ ý tốt cũng rơi vào chiến thuật mờ ám—hợp lý hóa điều này trên cơ sở rằng những gì đang tranh chấp là quan trọng cho Quốc gia đến mức mục đích biện minh cho phương tiện. Và cả hai đảng vĩ đại của chúng ta đã phạm tội với những chiến thuật như vậy trong quá khứ.

In recent years, however, the campaign excesses that have occurred on all sides have provided a sobering demonstration of how far this false doctrine can take us. The lesson is clear: America, in its political campaigns, must not again fall into the trap of letting the end, however great that end is, justify the means.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, những vận động tranh cử thái quá xảy ra trong tất cả các phe đảng đã thể hiện tỉnh táo chủ nghĩa sai lầm này có thể đưa chúng ta đến đâu. Bài học rõ ràng: nước Mỹ trong các vận động tranh cử chính trị, không thể một lần nữa rơi vào cái bẫy của sự để mục đích, dù cho nó có vĩ đại đến đâu, biện minh cho phương tiện.

I urge the leaders of both political parties, I urge citizens, all of you, everywhere, to join in working toward a new set of standards, new rules and procedures to ensure that future elections will be as nearly free of such abuses as they possibly can be made. This is my goal. I ask you to join in making it America’s goal.

Tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo của cả hai đảng phái chính trị, tôi kêu gọi công dân, tất cả các bạn, bất cứ nơi nào, hợp tác làm việc để hướng tới một bộ tiêu chuẩn, quy tắc và thủ tục mới để đảm bảo rằng những cuộc bầu cử trong tương lai được thực hiện không có những sự lạm dụng càng nhiều càng tốt. Đây là mục tiêu của tôi. Tôi yêu cầu các bạn tham gia trong việc biến nó thành mục tiêu của nước Mỹ.

When I was inaugurated for a second time this past January 20, I gave each member of my Cabinet and each member of my senior White House Staff a special 4-year calendar, with each day marked to show the number of days remaining to the Administration. In the inscription on each calendar, I wrote these words: “The Presidential term which begins today consists of 1,461 days—no more, no less. Each can be a day of strengthening and renewal for America; each can add depth and dimension to the American experience. If we strive together, if we make the most of the challenge and the opportunity that these days offer us, they can stand out as great days for America, and great moments in the history of the world.”

Khi tôi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai vào ngày 20 tháng 1 vừa qua, tôi cho mỗi thành viên trong Nội các và mỗi thành viên của Nhân viên Nhà trắng một cuốn lịch 4-năm đặc biệt, với mỗi ngày được đánh dấu để chỉ số ngày còn lại của Chính quyền. Qua câu khắc trên cuốn lịch, tôi đã viết những chữ: “Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày hôm nay gồm có 1,461 ngày—không thêm, không bớt. Mỗi ngày có thể là một ngày của sự củng cố và đổi mới cho nước Mỹ; mỗi ngày có thể thêm chiều sâu và kích thước cho kinh nghiệm của nước Mỹ. Nếu chúng ta cùng nhau cố gắng, nếu chúng ta sử dụng đến mức tối đa các thách thức và cơ hội mà những ngày này cho chúng ta, chúng có thể là những ngày vĩ đại nổi bật nhất của nước Mỹ, và những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong lịch sử thế giới.”

I looked at my own calendar this morning up at Camp David as I was working on this speech. It showed exactly 1,361 days remaining in my term. I want these to be the best days in America’s history, because I love America. I deeply believe that America is the hope of the world. And I know that in the quality and wisdom of the leadership America gives lies the only hope for millions of people all over the world that they can live their lives in peace and freedom. We must be worthy of that hope, in every sense of the word. Tonight, I ask for your prayers to help me in everything that I do throughout the days of my Presidency to be worthy of their hopes and of yours.

Tôi nhìn cuốn lịch của riêng tôi tại Trại David khi tôi soạn bài diễn văn này. Nó cho thấy chính xác 1,361 ngày còn lại trong nhiệm kỳ của tôi. Tôi muốn những ngày này là những ngày tốt nhất trong lịch sử nước Mỹ, bởi vì tôi yêu nước Mỹ. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng nước Mỹ là niềm hy vọng của thế giới. Và tôi biết rằng chất lượng và trí tuệ mà người lãnh đạo Mỹ cống hiến nằm trong niềm hy vọng duy nhất của hàng triệu người trên cả thế giới rằng họ có thể sống cuộc sống của họ trong hòa bình và tự do. Chúng ta phải xứng đáng với niềm hy vọng đó, trong mỗi ý nghĩa của từ hy vọng. Tối nay, tôi xin lời cầu nguyện của các bạn để giúp cho tôi trong mọi việc tôi làm trong suốt những ngày của nhiệm kỳ Tổng thống của tôi để xứng đáng với những niềm hy vọng của họ và của các bạn.

God bless America and God bless each and every one of you.

Chúa ban phước lành cho nước Mỹ và Chúa ban phước lành đến mỗi người và mọi người chúng ta.

(Diệu Sương dịch)

http://www.watergate.info/nixon/73-04-30watergate-speech.shtml

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Không thể nào có sơn phết giả tạo tại Nhà Trắng” – Richard Nixon”

  1. Cảm ơn Diệu Sương và Kiệt.

    Bây giờ đọc lại bài diễn văn này thấy tội Nixon. Một mặt thì chẳng có gì đáng tin cậy về Watergate, một mặt thì muốn đưa mọi người sang hướng khác. Nhưng sao có thể bẻ lái kiểu đó được.

    Điểm interesting là bài này được phát biểu ngày 30.4.1973.

    Số lượt thích

  2. Đây có phải là một bài học của lịch sử về sự thành thật không nhỉ?

    Dù sao, một dất nước, một xã hội mà một câu hỏi về thành thật có thể hủy hoại hoàn toàn một sự nghiệp chính trị, cũng là một viễn cảnh đẹp về sự phát triển của đạo đức chính trị. Thật sự bản chất chính trị Mỹ là như vậy hay những vấn đề đạo đức này chỉ là cái cớ để đảng phái đối địch khai thác?

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s