Xắn tay áo

Chào các bạn,

Tử hồi con bé ta được bố mẹ bảo học hành để lớn lên làm việc này, việc nọ. Trong trí óc trẻ thơ, cuộc đời chia thành hai phần rõ rệt: nhỏ đi học, lớn làm việc. Khi không còn bé nữa, tiếc thay, ta lại quá quen với công thức suy tư “hai thời” như vậy, và nhiều người trong chúng ta hầu như không bao giờ thoát ra khỏi vòng kềm kẹp của công thức—đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, ta luôn luôn ngồi học, và không bao giờ thấy mình đủ kiến thức để làm.

Dĩ nhiên đó là một suy tư rất sai lầm, ít ra là đối với người lớn, vì thực ra học và làm là một. Cuộc đời thật không chia thành học và làm. Có con thì làm bố, và làm bố là làm bố chứ chẳng phải học làm bố, và học làm bố thực sự là làm bố. Dĩ nhiên, ta có thể vào một lớp “học làm bố” vài ba tiếng, nhưng mấy lớp đó thật là chẳng nghĩa lý gì cả. Bất kỳ người vào đã có con cũng đều xác nhận là lúc làm bố là lúc học làm bố, và ngày nào còn làm bố là ngày đó còn học làm bố, kể cả khi con mình đã trưởng thành và đã làm bố–lúc đó mình vẫn còn phải học làm bố của một người bố. Làm quản lí cũng vậy. Lúc bắt đầu làm quản lí là lúc thực sự học làm quản lí, và mình cứ từ từ tăng cấp làm quản lí và học làm quản lí hằng ngày. Bất cứ việc làm nào trên đời cũng là việc học—làm một tí là học thêm một tí kinh nghiệm, một tí kiến thức.

Đẩy!
Đẩy!

Điều này có nghĩa là gì? Thưa, có nghĩa là, sống là hành động. Sống không có nghĩa là ngồi lý thuyết cho đến lúc thấy mình đủ năng lực rồi mới làm. Thực ra nếu không làm thì chẳng bao giờ đủ năng lực, mà nếu làm thì khi nào cũng đủ năng lực. Ngay cả trẻ con học nói, chẳng có đứa bé nào “học nói” cho đến lúc “biết nói” rồi mới bắt đầu “nói”—học nói, biết nói và nói chỉ là một việc. Đó là công thức đương nhiên của cuộc sống. Học yêu, biết yêu, và yêu, là một. Học làm, biết làm, và làm, là một. Không làm là không học, không biết, và không sống.

Bên cạnh việc “ngồi học cho đến khi biết đủ”, nhiều người trong chúng ta còn có thói quen xem các vấn đề xã hội chung quanh là “việc của chúng nó.” Chúng nó nào? Xã hội ta đang sống là việc của mỗi người chúng ta. Chẳng có chúng nó nào từ một hành tinh khác chịu trách nhiệm về xã hội của ta cả. Ngay cả khi ta chỉ vào chính quyền và nói “chúng nó”, thì chẳng khác nào chỉ ngón tay vào một người anh trong gia đình và đổ lỗi “chính hắn”, cứ như là các vấn đề trong gia đình chỉ một người chịu trách nhiệm còn những anh chị em khác thì vô can. Einstein nói: “Thế giới là một nơi đầy nguy hiểm, không phải vì những kẻ làm ác, mà vì những kẻ đứng nhìn và chẳng làm gì cả.” Triết gia Anh Edmund Burke nói: “Điều cần thiết duy nhất để tội ác chiến thắng là những người tốt chẳng làm gì cả.” Im lặng là đồng lõa với tội ác. Không làm gì để giải quyết vấn đề là đồng lõa với vấn đề.

Đôi khi ta muốn làm gì đó để giúp giải quyết một vấn đề xã hội nào đó, câu “khuyến khích” ta có thể được nghe ngay lập tức là “Một con én không làm được mùa xuân.” A! Thái độ “chưa đánh đã thua” đó mà cũng đáng cho chúng ta tốn thời giờ bàn luận đến sao? Đa số các cuộc cách mạng–tư tưởng, kinh tế, thương mại, chính trị–trong lịch sử con người bắt đầu với chỉ một người. Nhà thuyết giảng Mỹ Edward Everett Hale nói: “Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một. Tôi không thể làm được tất cả, nhưng tôi vẫn có thể làm được việc gì đó; và bởi vì tôi không thể làm được tất cả, tôi sẽ không từ chối việc gì đó mà tôi có thể làm.”

Goethe nói: “Cuộc đời không biết ngừng trong tiến hóa và phát triển, và luôn buông lời nguyền rủa sự bất động.” Ta làm việc gì là vì việc đó nên làm, như đói thì ăn, không cần phải đợi có người ăn cùng. Hữu xạ tự nhiên hương; ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cứ bắt đầu hăng hái một mình, từ từ sẽ có hai mình, ba mình, và nhiều mình.

Mồ hôi và nụ cười
Mồ hôi và nụ cười

Và khi hành động thì ta thường nghe: “Thất bại là mẹ thành công.” Câu này cũng có một tí tính tích cực, và nghe qua thì rất có lý, nhưng nếu bạn đã là người hành động tích cực nhiều kinh nghiệm thì lại thấy là câu này sai từ trong căn bản, bởi vì từ “thất bại” không đúng. Thất bại là gì? Ta cứ tạm thời dùng định nghĩa thông thường—thất bại là không đạt được mục tiêu đề ra. Giả sử hai võ sĩ đấu đài, người thua trận gọi là người thất bại sao? Nếu bạn xem đấu võ thường xuyên thì bạn thấy các võ sĩ thua trận thường nói “Tôi không thắng,” chứ hầu như chẳng ai nói “Tôi thất bại.” Tại sao? Vì mục đích đầu tiên của các võ sĩ (và các vận động viên) luôn luôn là tự thắng mình. Mục đích thứ hai là cố gắng hết sức vì nghệ thuật. Đấu võ là vì hai mục đích đó. Hơn thua là chuyện thường tình, chẳng ai đặt nó lên hàng đầu. Hơn thua cũng chỉ là một trong những phương cách để tự thắng chính mình thôi. Vì vậy, dù là thua cuộc thì hai mục tiêu hàng đầu là tự thắng và phục vụ nghệ thuật vẫn luôn luôn đạt được. Sao có thể gọi đó là thất bại? Vì vậy, ta thấy các võ sĩ thua cuộc thường cũng rất vui vẻ, ôm hôn kẻ chiến thắng rất thân ái, vì thực ra họ là chiến hữu với nhau.

Tất cả mọi hoạt động của chúng ta trên đời cũng có ý nghĩa như vậy. Mở một công ty dịch vụ văn phòng chẳng hạn. Tất cả những người làm thương mãi đều nói với bạn rằng lý do quan trọng nhất mà họ mở công ty là để làm cho đời sống của họ có nhiều thử thách hơn và họ cảm thấy “tròn đầy” hơn. Dĩ nhiên làm ra tiền thường là lý do sau đó. Nhưng nếu vì tình trạng suy thoái kinh tế mà họ phải đóng cửa công ty, chắc chẳng ai cho đó là thất bại. Và dù có đóng cửa, thì những vui thích khi được làm chủ chính mình, cũng như những kinh nghiệm vô giá đã gặt được, cũng đã rất đáng đồng tiền bát gạo. Chẳng mấy chủ công ty gọi đó là “thất bại.” Cho nên, nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về các họat động của mình trên đời, một cách tích cực, thì thực sự chẳng hề có cái gọi là “thất bại”. Chỉ có thành công nhiều hay thành công ít mà thôi. Nghĩa là nếu hành động với một tâm tư tích cực, ta luôn luôn thành công, hoặc it hoặc nhiều. Từ “thất bại” không có trong tự điển của ta.

Xây dựng
Xây dựng

Helen Keller, người câm điếc Mỹ đầu tiên đạt được bằng cử nhân năm 1904 và sau đó thành một nhà hoạt động chính trị xã hội nỗi tiếng của Mỹ, nói: “An ninh thường là chuyện mê tín. An ninh không có thật trong đời sống tự nhiên, và loài người nói chung không chứng nghiệm an ninh. Trong trường kỳ, chạy trốn hiểm nguy cũng chẳng khá hơn là cứ đối diện hiểm nguy thẳng mặt. Sống là phiêu lưu táo bạo, hay chẳng là gì cả.”

Một trong những lỗi lầm người ta hay gặp phải khi bắt đầu một dự án là bắt đầu quá lớn và quá xa vời với thực tế. Hãy mơ đến cả bầu trời, nhưng bắt đầu bằng từng bước chân. Think globally, work locally. Nếu bạn chưa làm nhà hàng bao giờ, đừng bỏ hết vốn liếng, vay mượn ngân hàng, để mở một quán phở có 500 chỗ ngồi. Làm một chỗ 30 chỗ ngồi trước đi. Nếu thành thì từ từ tăng diện tích, có mất mát gì đâu? Việc gì mà phải gia tăng may rủi một cách không cần thiết ngay từ đầu?

Bắt đầu nhỏ, nếu không thành thì cũng chẳng mất mát nhiều, coi như đó là bỏ tiền học kinh nghiệm. Những người bắt đầu quá lớn (so với kinh nghiệm của mình), thường bị tật háo danh chi phối. Không thích làm cái gì nhỏ. Dĩ nhiên ta luôn luôn nên “think big”, nhưng nên “start little”. Bạn có thể mơ ước đến một đám cưới to nhất nước, nhưng ngay lúc này thì bắt buộc phải chịu khó làm các việc lặt vặt như là ngồi đợi nàng trước cửa trường hằng ngày. Chẳng có cách nào khác. Hơn nữa, như Helen Keller nói: “Tôi muốn làm được những chuyện vĩ đại và cao quí, nhưng nhiệm vụ chính của tôi là làm những việc khiêm tốn cứ như chúng là những việc vĩ đại và cao quí. Thế giới chuyển động, không phải chỉ nhờ những cú tống đạp của các anh hùng, mà còn nhờ tổng hợp những đùn đẩy nhỏ bé của mỗi người lao đông chân chất.”

Thế giới thực sự không thể tự nó mà tiến hóa. Thế giới tiến hóa là vì những cá nhân trong thế giới tiến hóa. Một con kiến thợ thì nhỏ xíu. Nhưng đàn kiến tiến hóa là nhờ mọi kiến thợ. Và kiến thợ sinh ra chỉ để chạy tới chạy lui làm việc. Suy nghĩ cho cùng, chúng ta sinh ra cũng chỉ để làm cho thế giới con người tiến hóa. Ngoài mục đích này thì chẳng còn gì khác để làm cho đời sống con người có ý nghĩa. Và đã là kiến thợ thì hãy xắn tay áo lên. Vào cuộc!

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Tay, óc và tim

“Người làm việc với bàn tay là người lao động; người làm việc với bàn tay và đầu óc là một nghệ nhân; người làm việc với bàn tay, đầu óc và quả tim là một nghệ sĩ.”

TDH dịch

“A man who works with his hands is a laborer; a man who works with his hands and his brain is a craftsman; but a man who works with his hands and his brain and his heart is an artist.”

Louis Nizer

Ngôn ngữ của thân thể

Chào các bạn,

Chúng ta nói với nhau đâu phải chỉ bằng lời nói, mà còn bằng ngôn ngữ của thân thể. Vì vậy mà chàng chỉ lướt ngang và nhìn nàng trong 2 giây đồng hồ là nàng đã biết ngay là chàng muốn làm quen. Và chàng mới gật đầu chào thì đã biết ngay là nàng đang xi-nhan: “Xin lỗi, tôi đang đợi anh ấy.” Ngôn ngữ của thân thể là body language. Ngày trước, các diễn viên, điều tra viên, doanh nhân, luật sư và chính trị gia đều học. Ngày nay môn học này rất phổ biến, và hầu như tất cả mọi người đều học.

Nhưng dù là chưa vào lớp nào thì bạn cũng đã biết kha khá rồi. Ai trong chúng ta cũng đã “học ăn học nói học đi học đứng” từ hồi nhỏ và cũng biết nhận xét người khác qua tướng mạo và phong cách bên ngoài. Học là để giỏi thêm thôi. Điều khác biệt quan trọng giữa lời nói và body language là lời nói được điều khiển bởi ý thức (trừ khi bị ma men hành :-)), còn body language thì do tiềm thức điều khiển nhiều hơn. Vì vậy, body language thường đáng tin hơn là lời nói. Ví dụ, chàng nói “Anh thề là anh chẳng có ai khác ngoài em,” nhưng nếu ánh mắt chàng tự nhiên đảo đi một ít, hoặc là nếu chàng chớp mắt hơi nhiều một tí, có thể đó là chàng đang nói dối. Hoặc là chàng đang cố tươi cười thân thiện, nhưng lại tựa người ra sau và khoanh tay, có thể là chàng đang trong trạng thái phòng thủ.

Tất cả các bộ phận trong cơ thể ta đều có thể nói ra điều gì đó, từ cách ngồi, cách đứng, động tác của bàn tay, của các ngón tay, ánh mắt, mi mắt, môi, mặt, v.v… Chúng ta cần phải học body language vì:

1. Ta không muốn vô tình để body language nói những điều ta không muốn nói. Ví dụ, bắt tay quá lõng lẻo trong khi mắt lại không nhìn thẳng mặt người mình đang bắt tay, có nghĩa là “tôi chẳng cần quan tâm đến anh.” Thế thì công lao tốn nước bọt cả một tiếng đồng hồ trước đó để trình bày dự án coi như là đổ sông đổ biển.

2. Ta muốn đọc được ý thật của người đối diện: Khi body language và lời nói của người đối diện không ăn khớp với nhau, nhất định là ta phải xét lại lời nói của họ. Và rất có thể là body language của họ đáng tin hơn.

Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!
Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!

Các bạn có thể tìm các websites về body language dễ dàng trên Internet. (Bạn nào biết được sites nào, xin vui lòng giới thiệu, bằng cách post vào comment). Trong bài này, chúng ta không đi vào chi tiết kỹ thuật của body language mà chỉ nhắc đến một vài điểm cốt cán cần lưu tâm:

1. Body language là một loại ngôn ngữ ta bắt buôc phải thông thạo, cũng như học nói bằng lời hay học viết. Không thể làm việc hiệu quả nếu ta không biết cách ăn nói.

2. Mỗi người có một cách nói chuyện khác nhau; mỗi người cũng có cách dùng body language khác nhau. Dù rằng ngôn ngữ thì chung, nhưng cách dùng thì đương nhiên là mỗi người có cung cách riêng phù hợp với mình. Cứ máy móc làm theo sách, thì có thể là như mấy cô cậu học trò đọc theo tuồng cải lương để viết thư cho người yêu. (Nhưng lúc đầu thì cứ phải theo bài tập, cho đến lúc thuần thục).

3. Ngôn ngữ chỉ học được bằng thực hành, cho nên bạn chỉ thuần thục được body language khi phải giao tiếp nhiều. Vì vậy, nếu không tiếp xúc thường xuyên với người lạ, thì nên cố gắng tham dự các hoạt động xã hội để mình có cơ hội giao tiếp với mọi người.

4. Body language có rất nhiều điểm chung giữa các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau. Ví dụ: Người sợ thì mặt hơi tái hơn, mắt có thể mở to hơn hoặc quay đi hướng khác. (Vì vậy, người không biết ngoại ngữ vẫn có thể nói chuyện với tây bằng cách “múa võ”!) Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa cũng có một số body language đặc thù, không giống các nền văn hóa khác. Ví dụ, người Mỹ khi nói chuyện thì nhìn thẳng vào mặt nhau, kiểu như người Việt đang thách thức đánh nhau. Nếu nói mà nhìn xuống như kiểu người Việt, thì đó là nói dối theo kiểu Mỹ. Vì vậy, khi tiếp xúc với người từ một nền văn hóa khác, ta phải biết body language của họ.

5. Khi nói chuyện với người nước ngoài, đương nhiên ta phải dùng body language của họ, nếu ta không muốn họ hiểu lầm ta. Tuy nhiên, ta vẫn có thể dùng body language của ta, nếu body language đó dễ hiểu với người nước ngoài, và nếu ta có thể dùng nó rất hay. Ví dụ: Người tây phương thường bắt tay bằng một bàn tay. Người đông phương có thể bắt tay bằng cả hai bàn tay. Nếu vụng về thì hai tay có thể thấy khúm núm, mất tự tin. Nhưng nếu biết làm, thì bắt tay bằng hai tay có thể đưa ra một thái độ tự tin nhưng rất dịu dàng, ấm áp và khiêm tốn. Điều này thì hầu như không có cách nào ở tây phương có thể sánh được.

6. Dù là ngôn ngữ nào đi nữa, thì sức mạnh của ngôn ngữ–cả lời nói lẫn ngôn ngữ của thân thể–luôn luôn nằm trong lòng tin và sự thật. Nếu bạn nói dối, thì bạn chẳng tin vào lời bạn nói; vì vậy, “lời” bạn nói không thể có sức mạnh thuyết phục.

Đối với những người chú trọng về tư duy tích cực như chúng ta, có vài điểm trong tương quan giữa body language và tư duy tích cực ta cần phải lưu tâm.

1. Cá tính tiêu cực hay tích cực bên trong của ta luôn luôn biểu lộ qua lời nói và body language bên ngoài. Ví dụ: Người tiêu cực thường có dáng đi khép kín, rút vai, rút lưng, và nói thì hay nói phủ định (“không”) và dùng các từ tiêu cực (“chán, ghét, xấu, v.v…”). Người tích cực thường có dáng đi mở rộng hơn, lưng thẳng hơn, vai rộng hơn, tay đong đưa hơn, và khi nói thì hay dùng thể xác định và dùng các từ tích cực (“đẹp, tốt, hay, giỏi, v.v…”).

2. Ngược lại, lời ăn tiếng nói và cử chỉ bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến tâm tính của ta bên trong. Ta có thể làm cho mình thêm tính tích cực bằng cách “nói” những câu tích cực (Nói với người khác, và nói thầm với chính mình. Điều này ta đã nói đến trong bài “Sức mạnh của tư tưởng”). Và ở đây, “nói” còn có thêm nghĩa “nói bằng body language.” Ví dụ, nếu ta lựa chọn một dáng đi tích cực thích hơp với mình nhất, và cứ đi theo dáng đó hằng ngày, thì tâm tính tiêu cực của ta cũng nhờ đó mà từ từ biến thành tích cực.

Và đây là điều cuối cùng, quan trọng nhất: Cả thân thể ta có khoảng 600 bắp thịt. Nếu trong khi nói chuyện với ai mà ta phải chú ý điều khiển 600 bắp thịt để chúng có thể làm đúng ý ta muốn thì nhất định là ta không thể nói chuyện gì với ai được. Vì vậy, học là để biết, nhưng khi thực hành thì phải thông minh hơn một tí. Ta biết rằng thân thể ta thường “nói” tự nhiên, do tiềm thức điều khiển. Vậy thì hãy để tiềm thức điều khiển ngôn ngữ của thân thể. Trước khi nói chuyện với ai, ta hãy chắc chắn là trong lòng ta thích thú nói chuyện với người đó, ta có thiện cảm với họ, ta sẽ thành thật trong khi nói chuyện, ta sẽ xem họ như là bạn tốt của ta. Nếu ta đã tâm niệm như vậy trước khi vào cuộc, thì trong khi nói chuyện, thân thể ta sẽ tự động nói ra điều đó, mà ta không cần phải điều khiển bằng ý thức. Vì vậy, nhiều nhà ngoại giao lớn trên thế giới ngồi tĩnh tâm rất lâu trước khi vào phòng họp cho các cuộc họp quan trọng.

Tức là, dùng tâm để làm chủ hành động của mình. Điều này hoàn toàn không xa lạ gì với các nghệ sĩ bậc thầy. Ca sĩ chẳng hạn. Ca sĩ nào cũng đã học kỹ thuật ca hát rất kỹ. Tuy nhiên, người ca sĩ chỉ có thể đưa bài hát lên đến mức tuyệt đỉnh nếu cô ta thực sự cảm nhận mạnh mẽ, tận đáy sâu của quả tim, từng lời nhạc, từng nốt nhạc, trong khi hát. Nếu không, thì nghe cứ như là thợ hát.

Ở đây có một khái niệm rất căn bản trong đời sống mà chúng ta cần ghi nhớ, vì nó sẽ chi phối tất cả mọi sinh hoạt sống của ta: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Nếu ta chỉ làm việc theo công thức và dùng suy nghĩ hời hợt bên ngoài để điều khiển, ví như một người bán hàng không thật tình, cứ tìm đủ mọi thủ thuật để thuyết phục người ta mua hàng, thì kết quả chỉ như học trò mới học đàn. Tuy nhiên, nếu ta cứ tự nhiên phục vụ người khách tận tình như là một người bạn tốt mà không cần biết họ sẽ mua hay không, thì có lẽ là mọi người sẽ đến mua nhiều hơn. Trong đời sống, chúng ta học rất nhiều kỹ thuật—nói chuyện, quản lý, tiếp thị, v.v… Tuy nhiên, khi thực hành ta không thể thực hành kỹ thuật mà phải thực hành nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì phải đi từ tâm đi ra.

Trước khi chấm dứt mình xin hỏi các bạn một câu: Body language dịch ra là “ngôn ngữ của thân thể” thì lòng thòng quá. “Ngôn ngữ thân thể” thì vẫn lòng thòng, mà thỉnh thoảng còn làm vài câu văn thành tối nghĩa. “Thân ngữ” có được không? Xin các bạn cho ý kiến. Cám ơn các bạn rất nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use