Category Archives: Video & PPS

Vương Quốc Bhutan

Quốc kỳ Bhutan
Quốc kỳ Bhutan

Bhutan có thể xuất phát từ từ ‘Bhu-Utthan’ trong tiếng Phạn có nghĩa “cao nguyên”. Một giả thuyết khác cho rằng nó là sự Phạn hóa, từ Bhoṭa-anta có nghĩa “nơi chấm dứt của Tây Tạng” hay “phía nam Tây Tạng”. Tuy nhiên, một số người Bhutan gọi đất nước họ là Druk Yul, còn người dân là Drukpa. Cái tên Dzongkha (và Tây Tạng) cho đất nước này là Druk Yul (Vùng đất của Rồng Sấm). Vì sự thanh bình và thanh khiết của đất nước, cũng như những phong cảnh tại đó, Bhutan ngày nay thỉnh thoảng được gọi là Shangri-La cuối cùng.

Bản đồ Bhutan
Bản đồ Bhutan

Vương quốc Bhutan là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Toàn bộ nước này đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vũng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Độ cao tăng dần từ các đồng bằng cận nhiệt đới lên các đỉnh Himalaya băng tuyết vượt quá 7,000 m. Nền kinh tế truyền thống của Bhutan dựa trên lâm nghiệp, chăn nuôi, và nông nghiệp, nhưng chúng chưa chiếm tới 50% Tổng sản phẩm quốc nội hiện nay bởi Bhutan đã trở thành nước xuất khẩu thủy điện. Cây trồng, du lịch, và hỗ trợ phát triển (chủ yếu từ Ấn Độ) hiện cũng giữ vai trò quan trọng. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc tiến hành tháng 4 năm 2006 cho thấy nước này có 672,425 người. Thimphu là thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất nước.

Bhutan là một trong những quốc gia cô lập nhất trên thế giới. Những ảnh hưởng nước ngoài và ngành du lịch bị nhà nước quản lý để bảo tồn nền văn hoá Phật giáo Tây Tạng truyền thống. Đa số người Bhutan hoặc học tại trường Phật giáo Tây Tạng Drukpa Kagyu hoặc trường Nyingmapa. Ngôn ngữ chính thức là Dzongkha (dịch nghĩa “ngôn ngữ của dzong”). Bhutan thường được miêu tả là nền văn hóa Phật giáo Himalaya truyền thống duy nhất còn sót lại.

Về lịch sử và văn hóa: Bhutan có liên hệ với vùng láng giềng Tây Tạng phía bắc, tuy nhiên về chính trị và kinh tế hiện vương quốc này có quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ.

taktshangBhutan đã trở thành một chế độ quân chủ từ năm 1907. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 nhường chỗ cho người con trai lớn. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông – Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia, cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008.

Loan Subaru
.

Ngọn núi thiêng Kailash, Tây Tạng

 kailash_north2Kailash là đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Gangdise to lớn, với độ cao 6,600m so với mực nước biển. Núi này nằm gần hai hồ thiêng: Manasarowa và Rakshastal. Với đặc điểm riêng, Kailash là địa điểm linh thiêng được tôn sùng nhất thế giới nhưng hiếm người thăm viếng, một siêu thánh địa của cả bốn nền tôn giáo: Đạo Phật, Đạo Hindu, Đạo JainsĐạo Bon, với hàng tỉ tín đồ. 

kailash_south_sideTuy thế, hàng năm không có hơn một nghìn người hành hương Kailash. Sự kỳ lạ này được lý giải vì ngọn núi nằm ở phía tây hẻo lánh của Tây tạng nên di chuyển rất khó khăn và đây thường là những chuyến đi đầy nguy hiểm. Thời tiết ở đây quanh năm buốt giá, có thể thay đổi đột ngột nên những người hành hương buộc phải mang theo rất nhiều đồ dự trữ cần thiết cho suốt cuộc hành trình. 

Kailash có nghĩa là Kho báu hay Vị thánh của núi tuyết. Đỉnh núi rất nhọn, trông như một kim tự tháp vươn lên chọc trời xanh. Nhìn từ phía Nam, những khối băng dựng đứng và những tảng đá đâm ngang trông giống như biểu tượng chữ thập ngoặc 卐 trong Phật giáo, thể hiện quyền năng bất diệt của Đức Phật. Kỳ diệu hơn, những đám mây sẽ tụ thành chòm ngay trên đỉnh núi vào những ngày đẹp trời khiến người ta nghĩ đến phúc lành.

Tín đồ Phật giáo tin rằng Đức Phật đã có chuyến viếng thăm kỳ diệu đến Kailash vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, trong khi đạo Phật chỉ thâm nhập vào Tây Tạng thông qua Nepal và Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên.

lake-manosaravar1Hầu hết những người hành hương đến Kailash đều nhúng mình xuống Hồ Manosaravar gần đó, một nơi cực kỳ linh thiêng và dĩ nhiên cũng vô cùng lạnh giá. Từ “manas” có nghĩa là trí tuệ hoặc tỉnh thức. Manasaravar có nghĩa là Hồ tỉnh thức và khai sáng. Kế bên Manasaravar là Rakshastal, hay còn gọi là Rakshas: Hồ ma quỷ. Cuộc hành hương đến ngọn núi thiêng và 2 hồ thần kỳ này là một trải nghiệm thay đổi cuộc sống và là một cơ hội để nhìn một số kỳ quan trên toàn bộ hành tinh.

Loan Subaru
.

212 độ — Thêm một độ

Tại 211 độ Fahrenheit nước nóng. Tại 212 độ F nước sôi. Và đi theo nước sôi là hơi nước. Và hơi nước có thể tạo năng lượng chạy máy. Chỉ thêm một độ là có thể tạo ra tất cả khác biệt. Và, chỉ thêm một độ cố gắng trong doanh nghiệp hay đời sống là có thể tạo ra cách chia giữa người khá và người vĩ đại.
.

Yosakoi

Sáng nay (10/4), lễ hội Hoa Anh Đào đã khai mạc rất hoành tráng tại Hà Nôi bằng một điệu múa truyền thống của Nhật – Yosakoi, được trình diễn bởi hơn 500 diễn viên không chuyên. Nhân dip lễ hội Hoa Anh Đào, mình cũng muốn giới thiệu với các bạn đôi nét về điệu múa này (bài giới thiệu về Yosakoi mình nhận được sáng nay!)

yosakoiYosakoi – là một loại hình nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Nhật Bản được khai sinh từ tỉnh Kochi vào năm 1954, xuất phát từ một điệu múa truyền thống về mùa hè của Nhật. ‘Yosakoi’ là phương ngữ của Kochi, nghĩa là ‘Đêm nay mời bạn đến’. Điệu múa này là sự kết hợp giữa các động tác múa truyền thống, nền nhạc hiện đại cùng với dụng cụ múa đặc sắc Naruko tạo nên một Yosakoi rất sôi động và mạnh mẽ. Các điệu múa thường được dàn dựng cho những đội múa đông người. Ai cũng có thể tham gia múa Yosakoi, bất kể tuổi tác hay giới tính. Đây cũng là sự kiện nổi bật trong các kỳ lễ hội ở Nhật. Điệu múa đi kèm với các bài dân ca của Kochi với cái tên Yosakoi-Buchi.

yosakoi97Trang phục mặc khi biểu diễn Yosakoi rất phong phú, trong đó loại áo khoác truyền thống happi và áo yukata phối màu rực rỡ là hai thứ thường được sử dụng nhất. Các đội múa cũng thường tự thiết kế trang phục dựa trên các sự kiện lịch sử, theo xu thế thời trang thịnh hành hay theo y phục dân tộc.

Từ năm 1954, Yosakoi đã phát triển mạnh ở Nhật Bản với lễ hội hàng năm của các đội trên toàn quốc. Không những thế, sức mạnh của điệu múa đã vượt qua ngoài biên giới Nhật Bản và rất được yêu thích trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Năm qua trong lễ hội hoa anh đào được tổ chức ở Việt Nam, tiết mục diễu hành Yosakoi là 1 trong những tiết mục được đón xem nhiệt tình nhất. Tất cả các đội, khuôn mặt tươi cười cùng với những điệu múa Yosakoi sôi động đã làm nên một ngày hội giao lưu văn hóa tuyệt vời.

Người nằm mơ rất đẹp

sleepingbeauty
Chào các bạn,

Beautiful Dreamer là bản nhạc rất nổi tiếng, do Stephen Foster viết trước khi ông chết năm 1864, lúc 37 tuổi. Stephen Foster viết tổng cộng khoảng 200 bản nhạc và được xem là “cha đẻ của âm nhạc Mỹ quốc”.

Bing Crosby (1903-1977) là một ca sĩ rất nổi tiếng của Mỹ, với rất nhiều tài, kể cả khiêu vũ. Chúng ta có video Bing Crosby hát bài Beautiful Dreamer dưới đây.

The Beatles cũng có bản Beautiful Dreamer, chuyển từ nhạc nhẹ nguyên thủy sang nhạc kích động. Chúng ta cũng có 2 video bản này của The Beatles, theo sau video của Bing Crosby. Video 1 có hình ảnh rõ ràng, vì vậy nhiều người thích xem. Video 2 hình rất mờ, nhưng là phim quay The Beatles hát bản Beautiful Dreamer có lẽ khi còn ở Liverpool, lúc chưa ai biết The Beatles là ai.

Chúc các bạn một ngày vui !

Hoành

.

Người nằm mơ rất đẹp

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh,
Ánh sao và sương khuya đang đợi chờ em;
Ồn ào thế giới cộc cằn nghe cả ngày,
Đã được ánh trăng ru ngủ, đi mất hết rồi !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, nữ hoàng của bài nhạc của anh,
Hãy nghe anh theo đuổi em bằng âm điệu dịu dàng;
Những lo lắng của đám đông trong đời đã rời xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, ngoài khơi
Ngư nhân đang hát bài truyện hoang sơ
Trên dòng suối nhỏ hơi nước đã đọng về
Đợi lúc dần tan khi ngày sáng đến.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy chiếu sáng tim anh,
Như đầu ngày chiếu sáng suối con và biển cả;
Rồi tất cả đoàn mây sầu muộn sẽ lìa xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Trần Đinh Hoành dịch

.

Beautiful Dreamer

Beautiful dreamer, wake unto me,
Starlight and dewdrops are waiting for thee;
Sounds of the rude world heard in the day,
Lull’d by the moonlight have all pass’d away!

Beautiful dreamer, queen of my song,
List while I woo thee with soft melody;
Gone are the cares of life’s busy throng.

Beautiful dreamer, awake unto me!
Beautiful dreamer, awake unto me!

Beautiful dreamer, out on the sea,
Mermaids are chaunting the wild lorelie;
Over the streamlet vapors are borne,
Waiting to fade at the bright coming morn.

Beautiful dreamer, beam on my heart,
E’en as the morn on the streamlet and sea;
Then will all clouds of sorrow depart,

Beautiful dreamer, awake unto me!

Poem and lyric by Stephen Foster

Beautiful Dreamer sang by Bing Crosby

.

.

The Beatles — Beautiful Dreamer 1
.


.

The Beatles — Beautiful Dreamer 2
.

Đối diện những người khổng lồ

Khi đối diện những địch thủ khổng lồ, ta cứ phải tập luyện dữ dội hơn, đến mức mà ta nghĩ là mình “không bao giờ làm được.” Và nếu cứ cố gắng không bỏ cuộc, ta sẽ làm được điều “không bao giờ làm được.” Đây là câu chuyện của một đội bóng luyện tập để đấu với một đội bóng mạnh rất nổi tiếng.
.

Vũ điệu Odissi

odissi

Lịch sử nghệ thuật Ấn Độ bao trùm khoảng 5.000 năm. Và như một hệ quả tất yếu, nó hết sức phức tạp và phong phú. Nghệ thuật Ấn Độ giàu có như chính các tôn giáo mà nó thể hiện, trong đó múa cổ điển được xem là tinh hoa, là đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Ấn Độ. 

Odissi là một trong bảy điệu múa cổ điển của Ấn Độ (Bharatnatyam, Kathak, Kathakali, Manipuri, Kuchipudi, Mohinyiattam và Odissi). Vũ điệu này có nguồn gốc từ Bang Orissa – phía Đông Ấn độ.

Vũ điệu Odissi được xem là một trong những vũ điệu cổ xưa nhất còn tồn tại (dựa vào các bằng chứng về khảo cổ học). Điệu múa Odissi được đề cập rất nhiều trong những câu chữ khắc trên bia đá, hoặc được chạm trổ trên những công trình điêu khắc ở các đền đài Hindu Brahmeswara, và đền Mặt trời ở Konark.

odissi-002Theo luận thuyết Natya Sashtra, điệu múa Odissi đã có từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên. Odissi hiện nay là kết quả của một quá trình dài, tổng hợp và biên tập lại từ những điệu múa truyền thống của bang Orissa như Mahari, Gotipua và Bhandanritya. (Mahari là vũ nữ đền đài, bản sao của vũ nữ Devadasi ở phía Nam. Gotipua là nam giới trong trang phục nữ và múa giống vũ nữ Mahari. Theo qui định, sau 18 tuổi, những vũ nữ, vũ nam này không được phép vào đền thờ).

Sau thế kỷ thứ 17, vũ điệu Odissi bị sút giảm uy tín đáng kể. Có một dạo, các vũ nữ này bị mọi người khinh rẻ và coi thường. Vì thế, vào thời điểm này, không ai dám theo học múa Odissi. Tuy nhiên, đến năm 1950, vũ điệu Odissi được hồi sinh nhờ vào công của ông Kalicharan Pattanayaka.

Odissi rất giống điệu múa Bharatnatyam nổi tiếng ở Tamil Nadu (miền Nam Ấn Độ), với những động tác múa độc đáo được thể hiện chủ yếu ở hông, chân và nét mặt. Điệu múa biểu cảm với những đường cong của cơ thể, những chuyển động của mắt, các bước nhảy và xoay tròn kèm theo nhiều kiểu di chuyển bàn tay. Điều này tạo cho Odissi một nét khác biệt, độc đáo với những ngôn từ rất riêng.

Vũ điệu Odissi thể hiện một cách đầy đủ truyền thuyết về Thần Krishna – sự hóa thân lần thứ 8 của thần Vishnu (thần bảo hộ trong Ấn độ giáo và Bà La Môn giáo, đã giáng trần nhiều lần để cứu độ). Điệu múa Odissi nhẹ nhàng, trữ tình miêu tả khung cảnh của Orissa và triết lý liên quan đến vị thần được yêu chuộng nhất – thần Jagannath (hình thái khác của thần Krishna).

Tình Yêu

reachforlove

Chào các bạn,

Hôm trước chúng ta đã có chương Giving của The Prophet của Kahlil Gibran. Hôm nay chúng ta sẽ đọc chương về Tình Yêu. Phần tiếng Anh nguyên thủy theo sau phần tiếng Việt. Cuối cùng là link đến video, với nhạc Angeli (thiên thần) của Guy Farley.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành Continue reading Tình Yêu

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

cemetery
Do not stand at my grave and weep, là bài thơ của Mary Frye. Năm 2001, tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn nhạc người Nhật, Arai Mitsuru, đã dịch sang tiếng Nhật, và phổ nhạc cho bài thơ này. Lúc đầu, ông chỉ phát hành 30 dĩa đơn để tặng cho bạn bè thân quen. Ngày 28/8/2003 bài hát tiếng Nhật này được đăng trên báo Asahi và bắt đầu gây được tiếng vang. Năm 2005, bài hát này được biểu diễn trong buổi hòa nhạc từ thiện, kỷ niệm 10 năm trận động đất thế kỷ ở Hanshin – Osaka. Năm 2006, ca sĩ Akikawa Masafumi xuất bản đĩa đơn bài hát này và gây được sự chú ý đặc biệt trên toàn nước Nhật. Ngày 22/1/2007, bài hát này đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn hay nhất trong lịch sử nhạc cổ điển ở Nhật. Ngay khi giành được vị trí đầu bảng, tuần đầu tiên đã bán được 29,094 đĩa, tuần thứ hai (29/1/2007), 89,994 đĩa và tuần tiếp theo (5/2/2007), 101,532 đĩa.

Sau phần dịch tiếng việt của chị Loan Subaru, là lời nguyên thủy tiếng Anh, và link đến video bài hát do Akikawa Masafumi trình bày.

Mến,

Hoành

.
Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không ngủ.
Tôi là ngàn cơn gió thổi qua.
Tôi là kim cương lấp lánh trên tuyết.
Tôi là nắng ánh trên cánh đồng lúa chín.
Tôi là cơn mưa thu dịu dàng.

Khi bạn thức giấc trong sớm mai tĩnh lặng,
Tôi là nét vút cao rất nhanh
Của bầy chim lặng lẽ lượn vòng
Tôi là ánh sao đêm dịu dàng.

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không chết.

Loan Subaru dịch

.

Do not stand at my grave and weep

Do not stand at my grave and weep;
I am not there. I do not sleep.
I am a thousand winds that blow.
I am the diamond glints on snow.
I am the sunlight on ripened grain.
I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.

Do not stand at my grave and cry;
I am not there. I did not die.

Mary Frye
.

Triều đình Việt Nam thế kỷ 19

Đây là một số hình ảnh lịch sử về triều đình và quan chức Việt Nam, chụp dưới thời Pháp thuộc, khoảng cuối thế kỷ 19. Anh Trần Đình Hoành và chị Trần Lê Túy-Phượng soạn thành PPS file, ghi chú do anh Hoành dịch từ các ghi chú Pháp ngữ trên các ảnh (chỗ nào còn đọc được), nhạc: Liên khúc các điệu lý Huế.

Click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Cần file dùng cho Power Point 97-2003, click ảnh dưới đây.

Đền nổi Itsukushima

 

Đền nổi Itsukushima
Đền nổi Itsukushima

Đền Itsukushima (tên tiếng Nhật: 厳島神社) là ngôi đền Thần Giáo, nằm trên đảo Itsukushima (Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi, tỉnh Hiroshima. Thực ra ở Nhật Bản có tới 500 ngôi đền mang tên Itsukushima, nhưng đền nói trên là ngôi đền chính. Năm 1996, đền này được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Trong đền có nhiều kiến trúc và công trình nghệ thuật được Nhật Bản xếp vào hạng quốc bảo, tài sản văn hóa quan trọng, tài sản vật thể được xếp hạng, v.v…

Đền Itsukushima được xây dựng để thờ phụng ba vị thần biển: thần Ichikishima, thần Tagori và thần Tagitsu, được tin là đang ngự bên trong ngôi chính điện của đền. Ngôi đền đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 (năm 593) và đã bị tàn phá nhiều lần. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền có từ năm 1168. Năm 1871, đền này được xếp vào hàng đền miếu cấp quốc gia. Năm 1911 lại được thăng hạng thành đền miếu hoàng gia.

Cổng đền khi thủy triều lên
Cổng đền khi thủy triều lên

Một trong những điểm hấp dẫn nhất của đền nổi Itsukushima là chiếc cổng tuyệt đệp O-torri, đứng sừng sững trên mặt biển, hướng thẳng tới đền thờ Itsukushima và cũng là biểu tượng của đảo Miyajima. Chiếc cổng O-torii hiện tại là chiếc được xây dựng năm 1875, lần xây dựng thứ tám tính từ thời Heian (794-1192). Cổng cao 16 mét trên mặt biển, bộ mái dài 24 mét, và những cây cột chính, làm từ những cây gỗ nguyên, có đường kính 1 mét. Cổng O-torii tự đứng vững bằng kết cấu khung của mình, không hề có bộ phận nào chôn dưới mặt đất. Khi thủy triều lên, cổng Torrii bập bền trên biển, khi thủy triều xuống, cổng được bị bùn bao phủ và mọi người có thể đi vào đền mà không cần tàu, thuyền.

Theo ý nghĩa nguyên thủy, torii là cái giàn cho gà đậu. Nó được đặt trước các đền chùa để ghi nhớ truyền thuyết Thần đạo về Thái Dương Thần nữ – Amaterasu. Thần Amaterasu tức giận em trai mình là thần Bão. Do đó, thần lánh vào Thiên Nham động (Amano Iwato), không thèm soi sáng mặt đất nữa, làm cho tám vạn thần linh cũng điêu đứng. Thần Tư Tưởng Omoikane bèn nghĩ ra một kế. Thần dựng trước cửa hang một giàn cho gà đậu và để một con gà trống vào đó, bên cạnh gắn một tấm gương tròn. Khi gà trống cất tiếng gáy, theo thói quen, Amaterasu thức dậy. Nhìn ra ngòai nàng thấy trong chiếc gương tròn hình bóng mình, song lại tưởng đó là một mỹ nhân xa lạ. Điều ấy khơi gợi tính tò mò của phái nữ nên thần bèn ra khỏi hang để xem ai là kẻ dám cả gan cạnh tranh sắc đẹp với mình. Ngay lập tức cả thế gian lại được chiếu sáng và cuộc sống trở lại rộn ràng. 

Cổng đền khi thủy triều xuống
Cổng đền khi thủy triều xuống

Đền nổi Itsukushima là một trong những ví dụ khác thường nhất về kiến trúc tôn giáo trên thế giới. Tòan bộ quần thể bao gồm ngôi đền chính, nhiều đền thờ nhỏ khác bố trí bao quanh, một sân khấu kịch Noh, một phòng tấu nhạc và nhiều cây cầu cùng hành lang nối liền các khu vực khác nhau trong đền. Tổng chiều dài các hành lang lên đến 300 mét. Xây dựng trên bãi đất ven biển và dập dềnh trên mặt biển khi triều lên. Công trình hoàn toàn không sử dụng một chiếc đinh kim lọai nào trong khi xây dựng và những kẻ hở giữa các tấm sàn được tính tóan khéo léo sao cho có thể giảm bớt áp lực của triều cường khi có bão lớn. Một vài tấm gỗ cổ được dùng để làm ván sàn có kích thước tới 1,5 mét rộng và trên 10 mét dài, và những tấm gỗ khổng lồ này đã được vận chuyển vượt hàng trăm dặm từ miền Bắc Nhật Bản để tới Miyajima. Một trong những cây cầu nổi tiếng dẫn tới đền thờ là cầu Soribashi – Cầu Đại diện Hòang gia. Được xây năm 1557, cầu dành riêng cho những đại thần quý tộc đại diện cho Thiên hòang tới viếng đền. Chỉ vào những dịp đó, các bậc thang mới được lắp vào. Ngoài ra, cầu và lối vào đền không bao giờ được sử dụng.

Loan Subaru