Danh mục lưu trữ: Văn Hóa

Nghe nhạc Bhutan, vương quốc hiền từ của hạnh phúc

Chào các bạn,
LocationBhutan
Bhutan, Miền Đất của Rồng Sấm Sét (Land of Thunder Dragon), là một quốc gia Phật giáo nhỏ bé ở đầu đông dãy Hy-mã-lạp-sơn, giữa Trung Quốc và Ấn Độ.

Bhutan là quốc gia duy nhất trên thế giới có chỉ số Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia (Gross National Happiness) là chỉ số kinh tế chính thức. Các quốc gia khác trên thế giới chỉ biết kinh ngạc và thán phục, nhưng không ai dám noi theo, có lẽ vì mọi người thừa biết rằng cách cạnh tranh kinh tế ngày nay, đưa đến những thống kê kinh tế hấp dẫn, làm cho người ta giàu có thêm vật chất nhưng lại giảm hạnh phúc rất nhiều.

Thế giới hầu như bế tắc trên đường tìm kiếm hạnh phúc, trong khi Bhutan can đảm mang “hạnh phúc” vào chính sách kinh tế chính trị quốc gia. Đây không phải là vấn đề dễ làm đối với lãnh đạo ngày nay.

Nhưng, phải chăng đó là chân lý? Tất cả sinh hoạt xã hội chính trị kinh tế của một quốc gia chỉ nhằm mục đính tạo hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng, lãnh đạo khắp nơi trên thế giới nói năng bất tận đủ điều, ngọai trừ đích điểm tối hậu–hạnh phúc–thì không ai dám nhắc tới!! Đó là chưa kể, nhiều chính phủ trên thế giới còn làm cho dân khổ sở hơn.

Phải chăng chân lý chính trị của thế giới ngày nay nằm trong một quốc gia nhỏ bé, nhưng rất thành thật với chân lý?

bhutan_tiger_nest_2

Trong khi dùng kỹ thuật tối tân về computer, viễn thông và Internet để phát triển quốc gia, Bhutan vẫn duy trì và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc, và bảo vệ mội trường, không cho phát triển kinh tế phá họai môi trường như tất cả mọi nơi khác trên thế giới.

Năm 2006, Newsweek thông báo Bhutan là quốc gia hạnh phúc số 1 ở Á Châu và thứ 6 trên thế giới, dựa theo một nghiên cứu của University of Leicester năm 2006 gọi là Bản Đồ Hạnh Phúc Thế Giới (World Map of Happiness).

Sau đây chúng ta hãy cùng xem một vài video nhạc của Bhutan để thấy quốc gia này hiền hòa đến mức nào.
.

1.  Gungsa Thoenpo, đội vũ hoàng gia


.

2. Vũ Bhutan (Zemling Migi Bhomo)


.

3. Nhạc mới (Lumaseriri)

Hùng Vĩ Dray Nur

song-1Dòng S’repôk, một trong những dòng sông lớn nhất của Tây Nguyên, với chiều dài hơn ba trăm cây số, tạo ra cho nơi đây những thác nước hùng vĩ như là Dray Sap, thác Krong K’mar, thác Gia Long, Dray Nur, thác Trinh Nữ. Những dòng thác này chảy từ hai nhánh nhỏ là sông Krông Nô (Sông Chồng) và Krông Ana (Sông Vợ), luôn là những điểm đến được đánh giá cao dành cho du khách.

Nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Nam, Dray Nur là thác nước hùng vĩ nhất ở Tây Nguyên. Sự kết hợp của 2 dòng Krong Ana và Krong Nô hòa quyện với nhau tạo nên dòng sông S’repok huyền thoại. Thác Dray Nur có chiều rộng hơn 250m và độ cao 30m, nối liền hai bờ tỉnh Daklak và Daknong. Trong khi thác Dray Sap được vẻ đẹp tự nhiên ưu đãi thì thác Dray Nur lại cuốn hút du khách bởi nét kỳ bí, hùng vĩ và hoang sơ của mình.
Thac-Dray-Nur-6
Đa phần các thác nước ở Tây Nguyên đều gắn liền với những câu chuyện tình buồn đầy ngang trái của các đôi trai tài gái sắc. Theo tiếng bản địa Êđê, Dray có nghĩa là thác nước còn Nur nghĩa là con dũi.
Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có một chàng hoàng tử tên là Nur, con trai của thần biển, thường hay rời bỏ chốn thuỷ cung của cha mình, lang thang trong rừng ngắm cảnh. Một ngày nọ, chàng gặp hai người con gái hết sức xinh đẹp. Đấy là hai cô con gái của vị tù trưởng trong vùng, đã bị giết trong cuộc chiến với bộ tộc khác. Giờ chẳng còn bà con thân thích, hai nàng đành phải sống nương náu trong rừng.

Mặc dù được hoàng tử đem lòng yêu mến, nhưng hai cô gái vẫn luôn lảng tránh, nghĩ là mình không xứng đáng với hoàng tử. Chàng liền dùng phép thuật biến ra một ngôi nhà với bao nhiêu của cải. Động lòng trước nghĩa cử của hoàng tử, hai cô gái ưng thuận lấy chàng.

Chẳng lâu sau, hoàng tử bỏ lại hai người vợ để về nhà thăm cha mình. Biết con trai mình đã kết hôn với những sinh vật trên cạn, vị vua liền cấm hoàng tử không được trở lại đất liền. Tuy nhiên, chàng trai vẫn quay trở về với hai người vợ yêu dấu của mình mà cha không hay biết gì.

Bỗng một ngày, vì lại nhớ cha, hoàng tử tìm mọi cách để về nhà nhưng hai người vợ chẳng muốn chàng đi và theo chàng đến bất cứ nơi đâu. Chẳng còn cách nào khác, chàng liền biến thành con dũi và lặn sâu xuống lòng thác nằm ngay chốn thủy cung của cha mình. Mặc cho hai người vợ ngóng chờ mỏi mòn bên dòng thác, nhưng chàng trai chẳng bao giờ trở về nữa. Và từ đấy dòng thác được đặt tên là Dray Nur để tưởng nhớ câu chuyện tình buồn này.

Dòng nước chảy xiết và những tảng đá khối dưới ngọn thác Dray Nur hùng vĩ tạo nên những vách hang mà du khách có thể ngâm mình dưới dòng nước mát lạnh. Tuy nhiên, hầu hết du khách đến thác Dray Nur thích quay phim chụp ảnh để lưu giữ lại vẻ cuốn hút của thác nước này hơn. draynur2

Ngày nay, càng ngày càng có nhiều du khách trong và ngoài nước tìm đến Tây Nguyên để chiêm ngưỡng vẻ kỳ vĩ của dòng Dray Nur. Chẳng phải quá lời khi nhiều du khách ví Dray Nur là Niagara của Việt Nam. Chính vì lẽ đấy mà không ít “dân phượt” đã và đang cố gắng hết sức mình để quảng bá cung đường lên Tây Nguyên, cả thác nước Dray Nur, trên cộng đồng mạng, đặc biệt là Facebook và Youtube. Tất cả chỉ để Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn, không chỉ với cánh đồng lúa bao la, người dân hiều khách, dải núi xanh cao vút mà còn những thác nước hùng vĩ nữa.

.

THE MAGNIFIENCE OF DRAY NUR

S’repok River, one of the biggest rivers in the Central Highlands at a length of more than 300 kilometers, creates many impressing waterfalls such as Dray Sap, Krong K’mar, Gia Long, Dray Nur, Virgin… These waterfalls, which flow from the confluence of Krong No (Husband River) and Krong Ana (Wife River) rivers, are highly recommended destinations for tourists.

Located about 25 km from the center of Buon Ma Thuot’s downtown in the South, Dray Nur is the most magnificent waterfall in the Central Highlands. It is a combination of 2 rivers named Krong Ana and Krong No, which mix each other creating the legendary S’repok river. Dray Nur waterfall has over 250 meters of length and 30 meters of height, linking two banks of Daklak and Daknong provinces.While Dray Sap is endowed with natural beauty, Dray Nur lures tourists with its mystery, impressiveness and wildness.
Thac-Dray-Nur-7

Most of the waterfalls in the central highlands are attached to sad tales of thwarted love between beautiful girls and talented boys. In the Ede language, Dray means waterfall and Nur means bamboo rat.

Legend has it that long ago a prince called Nur, son of the sea king, often left his father’s underwater palace to wander in the forests and enjoyed the view. One day he came across two beautiful girls. They were daughters of a chieftain in the region, who had been killed in a battle against another tribe. Now without relatives and care, the two girls had to search for food in the forest to get by.

Despite the prince’s sincere love for the girls, they tried to avoid him, considering themselves not worthy of him.He then used his spells to stock their house with properties. Admiring his good deeds, the girls agreed to marry him.

Soon afterwards, the prince left his two wives to come home in order to see his father. Being aware that his son had married terrestrial beings, the king forbade him from returning to land. Nevertheless, he managed to come back to his beloved wives without his father knowing.

Then one day, since the prince again missed his father, he tried to come back home but his two wives did not want him to leave; they followed him whenever he went. Without no choice else, the prince turned into a golden bamboo-rat and dived into the waterfall, where his father’s palace was situated. His wives were left waiting in despair by the falls but he would not ever come back. The waterfall was then named Dray Nur to immortalize the sorrowful tale.

The flows of the water and the systems of rocks under the spectacular Dray Nur create caves where tourists can soak themselves in the jets of cool water. However, most of the tourists when reaching to the Dray Nur like to take photos and make films to capture its fascinating beauty.

Nowadays, more and more tourists, domestic and abroad, are traveling up to the Central Highlands to gaze at the magnificence of Dray Nur. It’s not exaggerated for many of them to call it Vietnam’s Niagara. That’s also why not a few of Vietnamese “DIY adventurers” have been trying their best to promote the stretch of road up to the Central Highlands including Dray Nur falls on the networking communities, especially Facebook and Youtube. All is to make Vietnam an appealing destination, not only for immense paddy fields, hospitable people, lofty green mountain ranges but for impressive waterfalls as well.

Quan Jun

Đường thi: Vô Đề, của Lý Thượng Ẩn

landscape

Các bạn thân mến,

Trong một lần giúp anh Ái tìm tác giả của bài thơ “Vô Đề” mình đã vô tình đọc được bài thơ “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn, mặc dù bài thơ này không đúng với bài thơ mà anh Ái cần tìm nhưng mình vẫn check rất nhiều tài liệu về bài thơ, và hôm nay mình xin được phép gửi đến các bạn và các anh chị trong ĐCN phần dịch phân tích về bài thơ này nhé, chúc mọi người một ngày tươi sáng


chinesepainting-woman
Lý Thượng Ẩn là một nhà thơ vào thời cuối của nhà Đường, đương thời ông cùng Đỗ Mục ngang danh. Nhưng, nếu xét về mặt ảnh hưởng đến đời sau thì ông lại vượt trội hơn hẳn Đỗ Mục. Cống hiến lớn nhất của ông trong lịch sử thơ ca, là làm phong phú thêm nghệ thuật thơ trữ tình. Trong thơ của mình, ông thường dùng những từ ngữ thanh tao để cấu tạo nên hình tượng tốt đẹp, gửi gắm những tình cảm sâu đậm và những hàm ý ẩn giấu vào trong thơ, làm cho người đọc cảm nhận được những vẻ đẹp vừa uyển chuyển nhưng lại rất mông lung. Thất ngôn luật tuyệt được coi là loại tác phẩm thể hiện được phong cách đặc sắc này của ông, trong đó các tác phẩm thuộc thể loại “Vô Đề” (đa phần là thất ngôn cận thể) được coi là điển hình. Thể thơ này không phải nhất thời nhất địa mà đa phần viết về tình yêu, vì nội dung của bài hay vì một lý do nào đó không tiện nói ra hoặc khó khăn trong việc chọn chủ đề để đặt cho bài thơ nên tác giả thường gọi là “Vô Đề”. Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn một tác phẩm”Vô Đề”-“Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn nhé:

无题 Vô Đề Vô Đề -(Tương kiến thời nan biệt diệc nan)

相见时难别亦难, Tương kiến thời nan biệt diệc nan,
东风无力百花残。 Đông phong vô lực bách hoa tàn.
春蚕到死丝方尽, Xuân tám đáo tử ti phương tận,
蜡炬成灰泪始干。 Lạp cự thành khôi lệ thủy can.
晓镜但愁云鬓改, Hiểu kính đản sầu vân tấn cải,
夜吟应觉月光寒。 Dạ ngâm ứng giác nguyệt quang hàn.
蓬山此去无多路, Bồng sơn thử khứ vô đa lộ,
青鸟殷勤为探看。 Thanh điểu ân cần vi thám khán.

    (phiên âm-Kiều Tố Uyên)

missing
Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng lai tới đó không xa mấy,
Cậy với chim xanh dọ lối mà.

    (dịch thơ-Khương Hữu Dụng và Tương Như)

Bài thơ này, thông qua lời nói của một người con gái để viết lên tâm trạng khi yêu. Trong đau thương, thống khổ nhưng vẫn luôn thể hiện được tình yêu nóng bỏng, khát vọng, kiên nhẫn… danh giới tình cảm sâu đậm dai dẳng, và rất phong phú.

Hai câu đầu, viết về mối tình trắc trở không có hạnh phúc và tâm trạng trữ tình của người con gái: vì gặp phải những trở ngại lớn, đôi tình nhân đã không còn cơ hội gặp được nhau, nỗi thống khổ vì xa cách làm cho người con gái này khó có thể chịu đựng được. Chữ “别” tức “biệt” trong câu đầu không phải chỉ lời nói chia tay trong hiện tại, mà chỉ sự xa cách trong quá khứ. Hai chữ “ 难”, chữ thứ nhất chỉ cơ hội gặp nhau khó, chữ thứ hai chỉ nỗi thống khổ khó có thể chịu đựng được. Các bậc tiền bối trong thơ đã từng viết “别日何易会日难” tức “Biệt nhật hà dị hội nhật nan” hay “别易会难得” tức “Biệt dị hội nan đắc”…đều nhấn mạnh sự khó khăn trong việc gặp lại, và nỗi khổ khi phải biệt ly.

Nhưng Lý Thượng Ẩn đã tiến xa hơn một bước trong việc bộc bạch: vì “tương kiến thời nan” cho nên “biệt diệc nan”- khó có thể cắt đứt, thống khổ khó có thể chịu đựng. Nhà thơ trong cùng một câu đã sử dụng hai lần từ “nan” tức”khó”, sự xuất hiện của chữ “nan” thứ hai vì trùng lập nên tạo cho người đọc có cảm giác đột ngột, nhưng thông qua đó lại có thể thấy được đây là sự biệt ly không có ngày gặp lại. Trạng thái đau khổ triền miên này người đọc không thể cảm nhân được trong câu “biệt dị hội nan đắc” nhưng trong “tương kiến thời nan biệt diệc nan” thì lại rất rõ.

morning

Cách dùng cảnh vật để phản ánh cảnh ngộ và tình cảm của con người dưới ngòi bút của Lý Thượng Ẩn là rất thường gặp, ta có thể cảm nhận được điều đó ngay trong bài thơ này trong việc phân tích câu thứ hai: Người con gái chữ tình này đã bị tổn thương đến mức vậy, lại đối mặt với cảnh vật vào cuối mùa xuân, tất nhiên càng làm người con gái này đau lòng và khó quên. Vào tiết cuối xuân, gió đông thổi lực không mạnh, trăm hoa tàn lụi, và hương sắc của mùa xuân cũng dần mất theo, sức người trước cảnh vật đó cũng không có cách nào cứu vãn được, lại thêm cảnh ngộ bất hạnh của bản thân và vết thương trong tâm linh, người con gái này cũng trôi theo mùa xuân và lụi tàn giống những bông hoa ngoài kia. Câu “Đông phong vô lực bách hoa tàn”, vừa miêu tả cảnh thiên nhiên, lại vừa phản ánh tâm trạng của người con gái trữ tình này, người vật giao nhau, tâm linh và tự nhiên đã kết hợp với nhau một cách tinh vi.

Bốn câu tiếp theo viết về tình cảm uẩn khúc một cách rõ nét hơn. Chữ “丝” tức “ti” trong câu “Xuân tám đáo tử ti phương tận” có cách đọc giống với chữ “思” tức “tư” nên chữ “ti” ở đây ngụ ý chỉ tương tư. Ý của toàn câu là chỉ sự tưởng nhớ của người con gái đến đối phương, giống như con tằm chỉ khi nào nhả hết tơ đến khi chết mới chịu dừng.

“Lạp cự thành khôi lệ thủy can” là một cách tự ví von bản thân, vì không được hội tụ nên đau khổ, nỗi đau này kéo dài mãi không kết thúc giống như nước mắt của cây nến chỉ đến khi nào nến cháy hết thành tro mới chịu thôi. Tưởng nhớ trong vô tận, mọi thứ trước mắt đều là vô vọng, do đó, người con gái này đã để cho nỗi đau của mình trôi theo dòng đời. Mặc dù biết là vô vọng nhưng người con gái này sống chết vẫn tưởng nhớ đến đối phương, và nguyện dành quãng đời còn lại của mình để yêu người đó.

Do đó trong hai câu này vừa thể hiện nỗi đau và bi thương trong thất vọng, lại vừa thể hiện tình yêu nóng bỏng và lòng kiên nhẫn theo đuổi đến cùng.Theo đuổi ở đây là vô vọng, nhưng trong vô vọng vẫn quyết tâm theo đuổi, do đó theo đuổi ở đây cũng đã được Lý Thượng Ẩn nhuộm màu bi quan. Những tình cảm này hình như tuần hoàn trong vô tận, khó có thể đoán nó sẽ dừng lại ở đâu. Nhà thơ chỉ thông qua hai hình ảnh để so sánh đã diễn tả được trạng thái tâm lý phức tạp của người con gái, qua đó có thể thấy khả năng liên tưởng của nhà thơ phong phú đến mức nào.
moon-chinese
Trong câu năm: “云鬓改” tức “vân tấn cải”, chỉ người con gái bị nỗi đau khổ giày vò nên đêm đến xoay ngang xoay dọc vẫn không ngủ được, đến mức tóc mái cũng rụng, dung mạo tiều tụy. “晓镜”tức “hiểu kính” chỉ sáng sớm dậy soi gương phát hiện tóc bị rụng nên sầu khổ, mà ở đây Lý Thợng Ẩn lại nhấn mạnh là “đản sầu”. Nếu chú ý các bạn sẽ phát hiện Lý Thượng Ẩn đã miêu tả một cách rất sinh động tâm trạng uẩn khúc của người con gái này. Bản thân vì đau khổ mà mất ngủ tiều tụy, sáng dậy vì phát hiện dung mạo tiều tụy mà đau khổ. Đau khổ trong đêm là vì tình yêu mà mình theo đuổi không thực hiện được, đến sáng hôm sau vì tiều tụy mà sầu, vì tình yêu mà hy vọng giữ được nét thanh xuân của mình. Nói tóm lại người con gái này vì tình yêu mà tiều tụy, vì đau khổ mà phiền muộn.

Đến câu thứ sáu “夜吟”tức “dạ ngâm”, người con gái từ bản thân mình đã tưởng tượng ra đối phương cũng đang đau khổ giống mình, đêm đến cũng mất ngủ và thường ngâm thơ để tưởng nhớ đến mình.  Ở đây nhà thơ đã mượn hình ảnh lạnh lẽo của ánh trăng để phản ánh tâm trạng cô đơn, lạnh giá của người con trai. Và từ “应” tức “ứng” trong câu này là một điều ước đoán, lường trước đã được Lý Thượng Ẩn khéo léo đưa vào trong câu thơ để qua đó giúp người đọc hiểu rằng những tâm tư của đối phương đều là do người con gái tưởng tượng ra mà thôi.

Nhưng tại sao nhà thơ lại có ngụ ý như vậy, chẳng phải vì muốn thông qua sự chủ động trong tưởng tượng của người con gái để nói lên người con gái này đã thấu hiểu được hết những suy nghĩ, tâm tư của đối phương đó sao. Càng tưởng tượng cụ thể, nỗi nhớ càng sâu sắc, càng làm cháy lên khát vọng hội ngộ.
blue bird after rain
Vì biết hội ngộ là vô vọng nên người con gái đành phải thông qua sứ giả để thay mình đến thăm đối phương và đây cũng là nội dung của hai câu kết cục . Trong thơ thời Đường thường dùng tiên lữ để ví von với người bạn tình, Thanh Điểu là một nàng tiên, Bồng Sơn là một núi tiên trong thần thoại truyền thuyết, cho nên Lý Thượng Ẩn đã dùng Bồng Sơn tượng trưng cho nơi ở của người con trai, và dùng Thanh Điểu làm sứ giả thay cho người con gái. Lý Thượng Ẩn thông qua việc gửi gắm hy vọng vào sứ giả làm kết cục, chứ không thay đổi cảnh ngộ đau khổ “tương kiến thời nan” của người con gái, và đó là hy vọng trong tuyệt vọng, con đường phía trước vẫn là xa tít mù tắp. Bài thơ đã kết thúc tại đây, nhưng nỗi đau khổ và sự quyết tâm đeo đuổi tình yêu của người con gái đó thì vẫn tiếp tục.

Bài viết này phần phiên âm do mình dịch, còn phần thơ do Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch.

Cảm ơn anh Ái nhiều vì đã tìm giúp em  phần dịch thơ nhé.. À nếu các bạn có thể gửi lời dịch thơ thêm nữa cho bài thơ này thì rất hay.

Kiều Tố Uyên

Người hát rong của rừng núi Tây Nguyên–Y Moan

Chào các bạn,

Năm 1995 mình và bà xã lên thăm Buôn Ma Thuột và đuợc chị Linh Nga Niêk Dam, lúc đó là đang dạy âm nhạc và làm việc tại đài phát thanh Buôn Ma Thuột, đưa đi chơi, ca hát với một nhóm bạn của chị. Và chị Linh Nga giới thiệu cho mình và Phượng nhạc Êđê và giọng ca Ymoan.
MnongLonghouse
Phản ứng đầu tiên của mình với nhạc Êđê là sức mạnh và mức văn minh của nó. Dĩ nhiên là chị Linh Nga đã nói trước với mình, “Anh sẽ ngạc nhiên khi nghe nhạc Êđê. Như là nhạc rock.” Nghe xong một vài bản trong máy cassette của chị mình thấy quá hứng khởi. Mình nói với chị Linh Nga, “Nhạc này mà sang Mỹ trình diễn như nhạc rock tân thời, thì dân Mỹ phải mê.” Mình còn đề nghị với chị Linh Nga là viết lời tiếng Anh cho các ca sĩ Êđê hát, để xuất cảng văn hóa sang Mỹ. Nhạc Êđê mạnh và rất chỏi nhịp. Đó là đặc điểm của nhạc rock tân thời, khác với nhạc cổ điển vào nhịp rất đều đặn.

Chỉ qua âm nhạc là mình đã rất khâm phục các anh chị em Êđê. Âm nhạc như vậy thì sức sống rất mạnh. Mấy năm trước khi có tin UNESCO công nhận nhạc chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới mình rất vui. Nhạc chiêng của người Êđê rất sophisticated.

Giong ca của Ymoan là giọng ca của núi rừng hùng dũng hoang vu. Đó không phải là giọng ca cho phòng trà, cho dancing trong phòng. Đó là giọng ca với gió ngàn, mây trắng, đồi thấp núi cao, và mang núi đồi hoang dã vào quả tim con người. Nếu người ta vũ theo giọng ca Ymoan, thì nhất định đó phải là những vũ điệu của rừng núi, bên cạnh ánh lửa bập bùng, với nhịp vỗ của gồng chiêng.

Mình đang tính research để viết một bài giới thiệu về Ymoan thì thấy có bài trên VnExpress rất hay. Dùng bài đó giới thiêu thay vì viết một bài dở hơn. Có lẽ đa số các bạn trong nước đã biết rõ về Ymoan, nhưng các bạn nước ngoài có thể được thêm thông tin tốt từ bài báo này.

Sau đó mình mời các bạn xem 4 videos của Ymoan và một video phỏng vấn Ymoan và Nguyễn Cường, người nhạc sĩ viết nhạc Tây Nguyên.

Bài này dành riêng cho The Daklak Gang (chị Huệ et al). Và dành chung cho các bạn khắp thế giới chưa để ý văn hóa Êđê.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Y Moan mê đắm giữa núi rừng Tây Nguyên
.

Chỉ khi Y Moan hát như… phát rồ, người ta mới thấy được trong lời hát ấy cái lồng lộng của đất trời Tây Nguyên, cái mưa dầm dề, cái nắng thiêu đốt cùng vẻ tươi xanh hào phóng của cao nguyên.

Y Moan và nhạc sĩ Nguyễn Cường.
Y Moan và nhạc sĩ Nguyễn Cường trên cao nguyên M’drak 10 năm trước.

Trước Y Moan không có ai và sau Y Moan có lẽ khó tìm được một giọng hát như vậy. Nhưng Y Moan hát hay nhất là khi anh đi về các buôn làng.

Anh bảo chỉ ở làng, nhìn thấy đồng bào đứng chung quanh, lố nhố, bề bộn như thế hát mới “đã”, giọng mới tròn, to, vang hết mức. Dù đồng bào không có thói quen vỗ tay tán thưởng, khen ngợi mỗi khi Y Moan (hay bất cứ ca sĩ nào) hát xong, thế mà vẫn thấy ấm lòng.

Bà con chỉ nói: “Moan, hát đi”, thế là Y Moan hát. Mà khi Moan đã hát thì không biết đến khi nào ngừng; chỉ khi nào trưởng đoàn vì sợ “bể” chương trình, bảo “stop” Moan mới thôi. Vì thế người ta không còn lạ khi Y Moan hát một hơi 13 bài, gần như độc diễn (trong những kỳ đi diễn của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk), hát đến độ máu miệng trào ra, nhổ bãi máu rồi hát tiếp.

Có chứng kiến Y Moan ôm đàn một mình lững thững giữa thảo nguyên M’drak cỏ xanh trải thảm ngút mắt trên đèo Phượng Hoàng – từ Khánh Hòa lên Đăk Lăk – miệng hát vang mới biết đó là lúc anh đang xuất thần.

Ở đó, giữa núi đồi nghe “một mình qua sông, qua núi đồi” (Chim phí bay về cội nguồn – tác giả Y Phôn Ksor) mà vẫn cứ thấy nhớ núi đồi.
ymoan
Ở đó, nghe “ai yêu tự do thì lên núi nghe đàn” (Cây đàn Chapi – tác giả Trần Tiến) mới thấy đúng là một phát hiện! Giọng ca bị đóng đinh vào đại ngàn này đâu thể hát ở phòng trà, sân khấu giữa thị thành. Phải trả giọng hát ấy về với núi rừng, về với cao nguyên, với cái nắng, cái gió, cả cái nghèo…

15 năm trước cũng đã có lúc Y Moan định về “lập nghiệp” ca hát ở Sài Gòn. Về đôi ngày hát cho một số chương trình, các phòng trà nhưng rồi quá nhớ rừng, nhớ cái nắng cao nguyên lại nhảy xe về với Đăk Lăk.

Cho đến bây giờ, Y Moan vẫn cảm nhận mồn một nỗi nhớ cao nguyên tha thiết ấy khi lần đầu tiên trong đời rời quê nhà để được thấy đồng bằng, để thấy được sự bao la của biển, thấy được đất nước muôn màu, đa dạng…

Đó là chuyến xuống núi tham gia Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc ở Quy Nhơn năm 1979. Rồi có nhiều lần làm “sứ giả văn hóa cao nguyên” trong những chuyến xuất ngoại sang diễn ở châu Âu, châu Mỹ, Australia, Nhật… nhưng chỉ càng cho anh thấy mình không thuộc về thế giới phồn hoa đô hội.

Và Moan quyết định gắn đời mình ở cao nguyên, với Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk, cho dù mỗi đêm đi hát (và hát bao nhiêu bài đi nữa) tiền bồi dưỡng chỉ 70.000 đồng.

Chỉ hát ở cao nguyên, Y Moan mới được gần gũi với “gái trai quê tôi, da nâu mắt sáng, vóc dáng hiền hòa” (Ơi M’drak – tác giả Nguyễn Cường).

Bây giờ ở tuổi 52 với 35 năm theo nghề ca hát, Y Moan vẫn là một “ca sĩ tỉnh lẻ” dù cả nước biết đến tên anh. Nơi anh ở là một cái gara vài chục mét vuông trong khuôn viên của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ở thành phố Buôn Ma Thuột. Hằng ngày đoàn di chuyển đến buôn làng nào cũng có Y Moan theo.

Có thể nói Y Moan là “linh hồn” của đoàn từ mấy chục năm. Vắng anh sức hấp dẫn của đoàn mất đi nhiều. Moan đi hát và vẫn đi làm rẫy. Rẫy cà phê 3 ha cách Buôn Ma Thuột chừng 45 km, ở huyện Cư M’gar, là thế giới kết nối một Y Moan nông dân với một Y Moan nghệ sĩ, Y Moan phóng khoáng với Y Moan sâu sắc, Y Moan của núi rừng với Y Moan của phố thị, Y Moan của công chúng với Y Moan của gia đình, và nó nuôi dưỡng tâm hồn của anh. Cuộc sống của gia đình anh 5 người phụ thuộc rẫy cà phê đó.
ymoan2
52 năm trước, có một đứa bé được sinh ra trên rẫy rồi được gói lại gùi về nhà. Về chuyện ca hát, Y Moan nhớ lại lúc còn nhỏ, lần đầu tiên xin đi theo ông Ama Nô đi hát “cho vui”.

Ama Nô là một chiến sĩ cách mạng, cũng là nhạc sĩ, người J’Rai ở Phú Bổn nhưng hoạt động ở chiến trường Đăk Lăk, người phụ trách đầu tiên của Đoàn văn công B3 của tỉnh Đăk Lăk trước năm 1975 – tiền thân của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ngày nay.

Anh vẫn nhớ lời mẹ cản ngăn, vì ca hát là nghề xa lạ với buôn làng; nhớ đôi dép cao su đầu tiên mà thầy Ama Nô cắt từ lốp xe cho anh bước vào con đường nghệ thuật (đi dép để ra hát trước đám đông); nhớ màu áo xanh bộ đội văn công được mặc; nhớ đi hát mà vẫn phải mang theo súng AK (vì sợ Fulro phục kích vào những năm đầu giải phóng); nhớ cục lương khô được phát sau mỗi lần hát; nhớ cả lúc đang học nửa chừng ở Nhạc viện Hà Nội phải quay về chỉ vì đoàn không có người… hát, rồi không bao giờ quay lại.

Âm nhạc đã dắt thằng bé chân trần của gió núi mây ngàn đi mãi cho đến ngày hôm nay, quên mất lời hứa với mẹ “đi thử với Ama Nô một thời gian rồi về thôi”.
ymoan3
Nhờ cuộc đi “hát thử” kéo dài cả đời người đó, hình ảnh và giọng hát Y Moan giờ đây đã lưu lại đâu đó trong các ca sĩ cao nguyên như Y Zắc (Đăk Lăk), Siu Black (Kontum), Y Yang Tuyn (Gia Lai), Cil Trinh (Bonner Trinh – Lâm Đồng), Karazan Dik, Krazan Blin (Lâm Đồng), cả Kasim Hoàng Vũ và Y Garia (đang học Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật quân đội)…

Thật không quá lời khi nói rằng trong những tác phẩm viết về cao nguyên của nhạc sĩ Nguyễn Cường cũng có bóng dáng tiếng ca hoang dại của kẻ hát rong Y Moan, người không chỉ “truyền bá” âm nhạc Nguyễn Cường mà còn thổi vào đó cái hồn Tây Nguyên.

Trong căn nhà bề bộn nhạc cụ, sách, đĩa nhạc, huy chương, giấy khen, kể cả bằng chứng nhận nghệ sĩ ưu tú của Y Moan, có một đĩa nhạc được “sản xuất” rất không chuyên nghiệp, mang tựa Đứa con của núi rừng có in chân dung và tên Y Moan Ê Nuôl.

“Có phải album cá nhân đầu tiên của Y Moan?”. Anh chậm rãi trả lời: “Mình và thằng con trai Y Wol vừa mới làm xong (cha đàn hát, con hòa âm, phối khí). Chị Nguyễn Thị Minh Ngẫu, vợ của Y Moan, tên Êđê là Amí Wol, cho biết: “Phải làm gấp một cái để lưu lại vì căn bệnh lao phổi mãn tính đang đe dọa giọng hát anh ấy”.

Chị Minh Ngẫu nói bác sĩ Buôn Ma Thuột, TP HCM đều không cho đi hát nữa nhưng Y Moan cứ bước qua lời can ngăn, chỉ vì “Em ơi, không được hát anh chịu không nổi”.

Có một lá đơn Y Moan gửi đến Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk, bày tỏ rằng những ca khúc đầy “linh hồn” Tây Nguyên của các nhạc sĩ đã mất hay đang sống: Ama Nô, Ama Nui, Rơ Chăm Dơn, Y Sơn Nie, Kpa Ylang, Y Phôn Ksor, Y Kô, Linh Nga Nie Kdam…, những di sản âm nhạc hiện đại của người Tây Nguyên cần được ghi âm, và anh sẽ tình nguyện hát không cần “nhuận ca”. “Nếu không ai làm thì mình tình nguyện, chỉ cần đầu tư cho việc ghi âm, in sang vào đĩa CD hoặc VCD, DVD”.

Trong không gian lặng im như cánh rừng buổi chiều về, bất chợt Y Moan với lấy cây đàn dựng bên góc nhà, rồi những âm thanh quen thuộc vang lên: “Tôi như con chim lạc bay trên đồi cao/ Tôi như con thú lang thang trong rừng sâu/ Tôi như giọt mưa khao khát lời”.

Cái con chim phí của đất trời Tây Nguyên, cái giọng hát đang bị bệnh tật đe dọa ấy lại vang lên say sưa, mê đắm…

(Theo Tuổi Trẻ)

.

Ơi Madrak (Nguyễn Cường)

.

Ơi M’drak – Ymoan (Nguyễn Cường) (biểu diễn trên TV)


.

Ơi chim ktia – Ymoan (Ysơn Kniê)


.

Chim Pi bay về cội nguồn


.

Phỏng vấn Ymoan và Nguyễn Cường

Vũ Flamenco

Chào các bạn,

Nhạc Flamenco của Tây Ban Nha có một sắc thái rất đặc biệt, từ âm thanh đến phong cách trình diễn. Nói đến Flamenco là nói đến guitar, hát và vũ. Nó có vẻ như là một loại nhạc để người ta đàn, hát và vũ quanh khóm lửa, như là nhạc của những người Gypsy lang thang.
bruce_wood_flamenco
Nhạc Flamenco, về melodie thường đi từ cao xuống thấp và xuống từ từ từng nốt một, la sol fa mi…, có âm hưởng nhac Ả Rập. Trên thực tế, vũ Flamenco có một phần nào múa bụng của người Ả Rập. Cách đánh đàn guitar cũng thoải mái hơn nhạc cổ điển, hòa âm giản dị, dùng vận tốc, và nhịp điệu rõ ràng để vũ.

Ngoài cây guitar, người ta dùng tay hay chân để tạo nhịp, hầu như chẳng cần nhạc cụ nào khác. Đây đúng là nhạc cho những cách đồng hay những đường phố.

Dưới đây chúng ta có một số video vũ Flamenco.

_ Video đầu tiên do Ramon Ruiz chơi guitar và Anita la Maltesa vũ. Cả hai dạy Flamenco ở Luân Đôn.
_ Video 2, Maria Pages trình diễn Fire Dance. Đây là vũ Flamenco, nhưng trình diễn trong chương trình Riverdance, là vũ đoàn Ireland nỗi tiếng. Và Fire Dance là tên Riverdance đặt cho màn vũ này, chứ không phải tên của một vũ điệu.
— Video 3, Joaquín Cortés, nam vũ công nỗi tiếng nhất của Tây Ban Nha ngày nay.
— Video 4, Joanquín Cortés và nữ tài tử Jennifer Lopez.

Mời các bạn thưởng thức cuối tuần. 🙂

Flamenco song, dance and guitar. Guitar by Ramon Ruiz, dance by Anita la Maltesa. London based artists and teachers.

.

Maria Pages – Firedance (from Riverdance)

.

Joaquin Cortes — flamenco II

.

JENNIFER LOPEZ và JOAQUIN CORTES

Kinh Kịch

Kinh kịch (là một loại kịch có xuất sứ tại Bắc Kinh; Beijing Opera) có lịch sử gần 200 năm, hiện đang là loại kịch lưu hành rộng rãi nhất, và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong các loại kịch tại Trung Quốc. Trong quá trình hình thành Kinh kịch vừa chịu ảnh hưởng bởi các phong tục tập quán và loại tiếng địa phương Bắc Kinh đồng thời vừa thu hút rất nhiều tinh hoa của các loại kịch địa phương khác. Hiện Kinh kịch không chỉ được lưu hành tại Bắc Kinh, mà trên mọi vùng của Trung Quốc đều tồn tại những đoàn kịch biểu diễn loại Kinh kịch này. Sau đây tôi sẽ giới thiệu với các bạn đôi chút về môn nghệ thuật này nhé.
kinhkich1
Kinh kịch là môn nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa hát, đọc, làm, và đánh :

– Hát, là chỉ dựa vào một làn điệu nhất định nào đó để biểu diễn.
– Đọc, là phần tự bạch hoặc đối thoại trong Kinh kịch.
– Làm, chỉ thông qua động tác hoặc nét mặt để biểu diễn.
– Đánh, là dùng võ thuật hoặc điệu múa đã được biến hóa để biểu diễn.

Trong quá trình phát triển trường kì của mình, Kinh kịch đã hình thành một bộ bao gồm các động tác hư cấu để biểu diễn. Ví dụ như: Một mái chèo có thể tượng trưng cho một chiếc thuyền, hay một cái đuôi ngựa có thể tượng trưng cho một con ngựa…Diễn viên không cần bất kỳ một đạo cụ nào cũng có thể diễn đạt một cách hoàn hảo các động tác lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa…Các động tác này mặc dù có phần hơi khuyếch trương nhưng vẫn đem lại cho quần chúng cảm giác chân thực và tốt đẹp.
kinhkich2
Diễn viên Kinh kịch được phân thành 4 vai diễn là: Sinh, Đán, Tịnh, Xú (vai hề):

– Vai diễn Sinh: người đảm nhiệm vai diễn này thường là các nhân vật nam, lại phân thành lão sinh, tiểu sinh, và vũ sinh. Các diễn viên nổi tiếng trong vai diễn này có Mã Liên Lương, Chu Tín Phương, Diệp Thịnh Lan, Lý Thiếu Xuân, Cái Khiếu Thiên…

– Vai diễn Đán: người đảm nhiệm cho vai diễn này thường là các nhân vật nữ, lại phân thành Thanh Y (tức nữ tì), Hoa Đán, Vũ Đán, Lão Đán. Các diễn viên được coi là diễn xuất sắc trong vai diễn này vào thế kỷ 20 của những năm 20 gồm có tứ đại danh Đán là: Mai Lan Phương, Trình Nghiêm Thu, Thượng Tiểu Vân, Tuệ Sinh.

-Vai diễn Tịnh: vai diễn Tịnh thể hiện trong vở diễn là người đàn ông có tính cách hào phóng thẳng thắn, người đóng vai này phải vẽ mặt phác họa vì thế vai này cũng được gọi là “Hoa Liễm”, những diễn viên Hoa Liễm nổi tiếng gồm có: Cầu Thịnh Nhung, Viên Thế Hải…

-Vai diễn Xú: lđảm nhiệm vai diễn này thường là một nhân vật nam , đây là một vai hề, vừa hài hước, hóm hỉnh, linh hoạt lại vừa giảo hoạt, ranh mãnh, nham hiểm. Diễn viên nổi tiếng trong vai này gồm có: Tiêu Trường Hóa, Mã Phú Lộc.
kinhkich3
Cách hóa trang trong Kinh kịch cũng có những đặc điểm rất riêng. Cách hóa trang cho các vai diễn “Sinh”, “Đán” cần phải tô lông mày hoặc đeo lông mày giả, vẽ vòng mắt. Còn các vai diễn “Tịnh”, “Xú” thì cách hóa trang lại phải phụ thuộc vào tính cách của vai diễn trong vở kịch để phác họa, ví dụ nhân vật là người trung dũng thì vẽ mặt đỏ, còn nhân vật có tính cách gian trá thì phải vẽ mặt màu trắng.

Kinh kịch có rất nhiều kịch mục, hiện tại có khoảng 3800 vở. Trước mắt thường diễn ba loại chính là : kịch mang tính truyền thống, kịch lịch sử, và kịch hiện đại.

Kinh kịch được coi là tinh hoa trong các loại kịch của Trung Quốc, có ảnh hưởng khá lớn đến cả trong và ngoài nước. Hiện đã có rất nhiều lớp chuyên giảng dạy Kinh kịch cho người nước ngoài nữa rồi đấy các bạn ạ.

Và bây giờ thì mời các bạn thưởng thức đoạn kịch sau nhé:

Tôn Ngộ Không


.

Tam Quốc Chí

.

Bạch xà

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

Chào các bạn,

Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
dongloc
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.

Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.

Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.

Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.

Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.

Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.

Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.

Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

    Vương Trọng
Vương Trọng
Vương Trọng

Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.

Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này.

Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Đài tưởng niệm Đồng Lộc

Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.

Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào?

Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)

Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.

Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
ngabaDong Loc
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.

Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc.

10 Mộ
10 Mộ

Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:

Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…

Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.

Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ.

10 Cô
10 Cô

Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.

Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc.

Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm

Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.

Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.

Ô. Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng

.

Học sinh trường THCS Đồng Lộc
Học sinh trường THCS Đồng Lộc

A Request at Dong Loc Cemetery

That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.

Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!

Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.

Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…

Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)

Khmer Rock

PhnomPenhCambodia
Chào các bạn,

Khmer rock là một phối hợp hấp dẫn giữa âm thanh và nhạc cụ truyền thống của Khmer với âm thanh, nhịp điệu, và khí cụ tân thời. Theo Saraj Cuddon của BBC thì Khmer rock là phối hợp giữa nhạc rock Mỹ và nhạc cụ Khmer thời thập niên 1960’s khi quân đội Mỹ có mặt ở Kampuchia trong thời chiến tranh. Loại nhạc này phát triển được 10 năm, đến thời Khmer đỏ (1975-1979) thì nó bị tận diệt cùng với các nhạc sĩ và ca sĩ thời đó. Ngày nay có sống lại với đầy đủ sắc thái riêng.

Bên cạnh các ban nhạc rock ở Kampuchia, tại Los Angeles (California, Mỹ) có ban nhạc Dengue Fever mang Khmer Rock đến khán giả quốc tế.

Tháng 11 năm 2006, trong vòng đi Á châu của mình, mình có ghé qua Kampuchia (và Sài Gòn & Hà Nội). Thăm bảo tàng viện diệt chủng Pol Pot, thực sự là buồn. Các bạn à, cái tâm con người mong manh lắm, từ thiên thần ta thành ác quỉ chỉ một bước, và có thể là chỉ trong phút giây. Cho nên ta phải canh giữ tâm mình kỹ lưỡng, như người chăn trâu trong thập nhị ngưu đồ.

Xem các videos Khmer rock ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào của các anh em Khmer của chúng ta. Dưới đây, hai videos đầu là của Dengue Fever ở Los Angeles, hai video sau là của hai nhóm rock ở Kampuchia.

Mời các bạn thưởng thức.

Hoành

.

Dengue Fever — Seeing hands

.

Dengue Fever — Sleeping Walking Through The Mekong

.

Moatanak Pheap Chea Khmer – Rock Zone

.

Youvetioun khmer – Rock Group

Vũ đoàn trên 1500 người nỗi tiếng thế giới: Các tù nhân của trại tù CPDRC

Cho đến năm 2007, CPDRC ở Cebu, Phi Luật Tân, là nhà tù với những tù nhân nguy hiểm nhất nước Phi. Hơn hai phần ba tù nhân ở CPDRC có án giết người, cướp, hiếp dâm hay ma túy.

Nhờ lớp vũ 4 tiếng một ngày, ngày nay các tù nhân CPDRC thành đội vũ nhà tù nỗi tiếng nhất thế giới. Và các tù nhân trở thành vui vẻ hiền từ.

Mỗi thứ bảy cuối tháng, đội vũ này biểu diễn hai lần trước sân Tòa Thống Đốc Cebu cho mọi người xem, không tính tiền 🙂

Chương trình vũ này là sáng kiến của Quản Đốc nhà tù Byron F. Garcia, được bà chị là thống đốc bang Cebu cho chức quản đốc. Nhiệm vụ của quản đốc Garcia là làm sạch sẽ nhà tù, dù là ông chẳng có tí kinh nghiệm nào với trại tù hay tù nhân cả. Việc trước tiên ông làm là tách riêng các đại gia xếp xòng các bằng đảng trong tù, không cho ở chung với đại đa số tù nhân. Sau đó ông quan sát tù nhân và cảm thấy là họ thích nhảy, thế là có lớp nhảy cho tất cả hơn 1.500 tù nhân, 4 tiếng một ngày.

Ngày nay đoàn vũ này có đến mấy mươi triệu người trên thế giới xem trên Youtube.

Mong là các nhà tù Việt Nam cũng sẽ có những sáng kiến tương tự.

Sau đây mời các bạn thưởng thức các màn vũ của Các Tù Nhân CPDRC. Video cuối cùng là phim tài liệu nói về chương trình này. 🙂
.

Thriller (Michael Jackson)


.

Do the Hustle

.

Jump

.

Black Eyed Peas

.

Soulja Boys

.

Đây là phim tài liệu nói về đoàn vũ Tù Nhân CPDRC.


.

Các links sau đây là các màn trình diễn của tù nhân CPDRC, nhưng phải xem trực tiếp trên Youtube. Mời các bạn click vào link.

Jail House Rock

Paul Simon & Art Garfunkel- Bộ đôi Nghệ Sĩ Folk Rock Tiên Phong

Simon & Garfunkel là đôi song ca – nhạc sĩ người Mỹ lừng danh của ban nhạc Paul Simon và Art Garfunkel. Simon and Garfunkel, thành danh vào thập niên 60 như những người tiên phong trong việc khiến folk rock được vinh danh và trở thành loại hình âm nhạc được yêu mến qua những bản nhạc rock đậm đà chất dân ca của họ.
Simon and Garfunkel1

Paul Frederic Simon sinh 13 tháng 10, 1941 tại Newark, New Jersey. Art Garfunke sinh ngày 5 – 11- 194 tại Forest Hills, thành phố New York. Paul Simon & Art Garfunke đều lớn lên tại Kew Gardens, Queens, New York. Là bạn học thời trung học, ngay từ lớp 6, họ đã khám phá rằng họ có thể hát chung rất hay. cả hai bắt đầu đi hát từ năm 1955 cho các ban nhạc; đến năm 1957 họ đã thành các ngôi sao ca hát địa phương. Bản nhạc thành công đầu tiên do họ sáng tác là “Hey, Schoolgirl” và sau đó họ được mời thu âm cho Big Records. Tốt nghiệp trung học họ chia tay nhau.
Thời gian sau đó, Paul viết nhạc, trong khi Art vào đại học ngành Toán và trong thời kỳ học đại học có thu âm cho Octavia Records. Art Garfunkel có một bằng Thạc sĩ Toán học. Năm 1963, Paul and Art cùng thu âm cho CBS Records ở New York dưới tên Simon & Garfunkel. Những bản nhạc nổi tiếng của họ phần lớn do Simon viết bao gồm những ca khúc top hits như The Sound of Silence, The Boxer, Mrs. Robinson và Bridge Over Troubled Water. Bài hát “Mrs. Robinson’” nhạc chính trong bộ phim thành công vang dội The Graduate (1967) đã đem đến danh vọng cho họ như những ngôi sao quốc tế. Simon and Garfunkel SOUND

Bộ đôi nổi tiếng về nghệ thuật hòa âm và biểu diễn rất hợp ý với nhau. Chất giọng vocal thiên phú của Art trong những bài “Scarborough Fair/Canticle” and “For Emily, Wherever I May Find Her” hòa quyện với các giai điệu và lời ca đầy cảm xúc, tha thiết và mượt mà, cùng với nghệ thuật đối âm của Simon đã lôi cuốn bao nhiêu fan hâm mộ.

Tuy nhiên đến năm 1969, cùng với những chuyến lưu diễn liên miên, trở về mệt mỏi và căng thẳng, mối quan hệ của bộ đôi đã không còn đẹp như xưa vì những bất đồng nghệ thuật. Art bắt đầu say mê điện ảnh.
Năm 1970, khi đang ở đỉnh cao của sự nổi tiếng, nhóm nhạc tan rã. Art tiếp tục làm phim trong khi Paul theo đổi sự nghiệp âm nhạc sô lô hết sức kiên trì. Cả hai gặt hái thành công riêng ở những mức độ khác nhau. Simon bắt đầu một sự nghiệp sô lô thành công sau đó, đỉnh cao là album Graceland ra đời năm 1986 với những thử nghiệm về âm nhạc châu Phi. Nhưng rồi tình yêu nghệ thuật lại gắn kết họ lại. Họ đã tái kết hợp nhiều lần từ sau cuộc chia tay năm 1970 , đáng kể nhất là Cuộc Biểu Diễn Live ngoài trời ở công viên trung tâm của New York năm 1981 thu hút đến 750.000 khán giả.
Simon-and-Garfunkel

Hai người không biểu diễn lại cùng nhau cho tới năm 1993, khi họ kết hợp với nhau trong một loạt các chương trình hòa nhạc ở New York. Họ tái hợp tại Lễ trao giải Grammy năm 2003 – Cả hai song ca bài The Sound of Silence , đó là màn trình diễn trước công chúng đầu tiên của họ sau 10 năm. Năm 2003 họ lại có chương trình hòa nhạc lưu diễn Mỹ đầu tiên đến 28 thành phố sau hơn 20 năm lấy tên là Bạn Cũ (Old Friends) . Kết quả là họ ra được album 2004 live cùng tên Old Friends

Bộ đôi nghệ sĩ này đã đạt được nhiều giải Grammy, và được ghi tên vào Đại sảnh Danh Vọng Rock & Rock năm 1990, đại sảnh Danh Vọng của Long Island năm 2007 và nhiều giải thưởng lớn khác. Năm 2004, Rolling Stone xếp bộ đôi này hạng 40 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Những nhạc phẩm đầy chất thơ với ca từ trữ tình mà mộc mạc dân dã của Simon đã được dư luận và các nhà phê bình khen ngợi và dành được những thành công thương mại rất đáng kể trong bốn thập kỉ.
Simon and Garfunkel5
Cũng sẽ là một thiếu sót lớn mất đi rất nhiều sức truyền cảm và rung động và của những bản nhạc ấy nếu không có chất giọng thiên thần cao vút của Garfunkel. Do đó mà bộ đôi này được giới trẻ chấp nhận như những nghệ sĩ được mến mộ nhất , trong khi những người lớn tuổi hơn lại yêu thích sự sâu sắc và kinh lịch của họ trên sân khấu. Như thế sự nghiệp âm nhạc của bộ đôi nghệ sĩ này chắc chắn sống mãi với thời gian trong lòng những người yêu nhạc folk rock.

Sau đây mời các bạn nghe 7 bản nhạc nổi tiếng qua các thời kỳ của Simon & Garfunkel :

Are You Going To Scarborough Fair? ; The Sound of Silence ; Bridge Over Troubled Water; Old Friends; April Come She Will; El Condor Pasa (If I Could) và For Emily Whenever I May Find Her

Thân chúc các bạn có được nhiều niềm vui, ngoài niềm vui âm nhạc cho mỗi ngày trong đời bạn 🙂


I. Simon and Garfunkel – Are You Going To Scarborough Fair?

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine
Tell her to make me a cambric shirt
(On the side of a hill in the deep forest green)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Tracing a sparrow on snow-crested ground)
Without no seams nor needlework
(Blankets and bedclothes a child of the mountains)
Then she’ll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)
Tell her to find me an acre of land
(On the side of a hill, a sprinkling of leaves)
Parsely, sage, rosemary, & thyme


(Washed is the ground with so many tears)
Between the salt water and the sea strand
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she’ll be a true love of mine
Tell her to reap it in a sickle of leather
(War bellows, blazing in scarlet battalions)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And to gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they’ve long ago forgotten)
Then she’ll be a true love of mine
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.


2. The Sound of Silence (Live 2003)

Hello darkness, my old friend,
I’ve come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.

In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone,
‘Neath the halo of a street lamp,
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence.

And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more.
People talking without speaking,
People hearing without listening,
People writing songs that voices never share
And no one dared
Disturb the sound of silence.

“Fools” said I, “You do not know
Silence like a cancer grows.
Hear my words that I might teach you,
Take my arms that I might reach you.”
But my words like silent raindrops fell,
And echoed
In the wells of silence.

And the people bowed and prayed
To the neon god they made.
And the sign flashed out its warning,
In the words that it was forming.
And the sign said, the words of the prophets are written on the subway walls
And tenement halls.
And whisper’d in the sounds of silence.”

3. Bridge Over Troubled Water (Live 1969)

When you’re weary; feeling small,
When tears are in your eyes, I will dry them all;
I’m on your side oh when times get rough
And friends just can’t be found.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.

When you’re down and out;
when you’re on the street;
when evening falls so hard
I will comfort you.
I’ll take your part
oh when darkness comes.
And pain is all around.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down
Like a bridge over troubled water
I will lay me down

Sail on silvergirl;
sail on by.
Your time has come to shine.
All your dreams are on their way.
See how they shine.
Oh if you need a friend
I’m sailing right behind.
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind.

4. Old Friends

Old friends, old friends,
Sat on their parkbench like bookends
A newspaper blown through the grass
Falls on the round toes
of the high shoes of the old friends

Old friends, winter companions, the old men
Lost in their overcoats, waiting for the sunset
The sounds of the city sifting through trees
Settle like dust on the shoulders of the old friends

Can you imagine us years from today,
Sharing a parkbench quietly
How terribly strange to be seventy

Old friends, memory brushes the same years,
Silently sharing the same fears

5. April Come She Will

April come she will
When streams are ripe and swelled with rain;
May, she will stay,
Resting in my arms again.

June, she’ll change her tune,
In restless walks she’ll prowl the night;
July, she will fly
And give no warning to her flight.

August, die she must,
The autumn winds blow chilly and cold;
September I’ll remember
A love once new has now grown old.

6. El Condor Pasa (If I Could) (Live At Acer Arena, Sydney, 2009)

I’d rather be a sparrow than a snail
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather be a hammer than a nail
Yes I would, if I only could, I surely would

Away, I’d rather sail away
Like a swan that’s here and gone
A man gets tied up to the ground
He gives the world its saddest sound
Its saddest sound

I’d rather be a forest than a street
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather feel the earth beneath my feet
Yes I would, if I only could, I surely would


7. For Emily Whenever I May Find Her

What I dream I had:
Pressed in organdy;
Clothed in crinoline of smoky Burgundy;
Softer than the rain.
I wandered empty streets
Down past the shop displays.
I heard cathedral bells
Tripping down the alley ways,
As I walked on.

And when you ran to me
Your cheeks flushed with the night.
We walked on frosted fields of juniper and lamplight,
I held your hand.
And when I awoke and felt you warm and near,
I kissed your honey hair with my grateful tears.
Oh I love you, girl.
Oh, I love you.

Đường thi

Văn học thời Đường được coi là đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc. Đặc biệt thơ ca cổ điển trong giai đoạn này phát triển đến mức tột đỉnh, và được coi là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Trong lịch sử hơn 300 năm của nhà Đường, đã có hơn 48900 tác phẩm thơ ca được viết và lưu truyền đến tận ngày nay. Một lượng lớn các tác phẩm đó cũng đã làm hơn 2300 thi nhân được ghi danh trong sử sách. Ý tưởng được gửi gắm vào trong thơ của Đường thơ chủ yếu là kết hợp chủ nghĩa thực tiễn và chủ nghĩa lãng mạn, về hình thức có các dạng:

Thơ Lý Bạch trên quạt
Thơ Lý Bạch trên quạt

– Thất ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu bảy chữ).

– Thất ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối tạo thành),

– Ngũ ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn tứ tuyệt: bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu),

– Ngũ ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn bát cú: bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành).

Trong đó thất ngôn bát cú được coi là dạng thơ chuẩn, và các dạng còn lại được coi là thơ biến thể.

Các thi nhân nổi tiếng vào thời Đường chủ yếu là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lý Hạ, Đỗ Mục…. Do chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác nhau (Nho giáo, Đạo giáo, hay Phật giáo), do đó phong cách Làm thơ của các nhà thơ đời Đường cũng rất khác nhau. Thơ của Lý Bạch thì mang phong cách phóng túng, còn Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị thì lại theo khuynh hướng hiện thực kết hợp với trữ tình nhiều hơn.

Thơ Đường súc tích, đa dạng, phong phú, không chỉ nói lên được tâm tình, khát vọng của bản thân mà còn vẽ lên được những thực hiện đời sống lúc bấy giờ.

Lý Bạch
Lý Bạch

Lý Bạch

Theo sử sách ghi lại thì Lý Bạch là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng (thời nhà Hán), sinh năm 701 tại Lũng Tây trong một gia đình khá giả, ngay từ nhỏ ông đã cùng cha của mình đi ngao du khắp nơi, được chứng kiến cuộc sống vất vả của người dân nghèo, vì thế trong ông hình thành tư tưởng không thích trốn quan trường và đến năm 16 tuổi ông đã chọn cuộc sống ẩn trên núi Đái Thiên.

Được 2 năm ông lại xuống núi và bắt đầu cuộc hành trình viễn du của mình dòng giã suốt 3 năm trời, khi đến Vân Mông ông đã cưới cháu gái của Hứa tướng, và cũng từ đó tiếng tăm thơ ca của ông đã vang rộng khắp nơi.

Đến năm 745 ông được người bạn thơ tiến cử vào cung để làm thơ hầu vua, nhưng được một thời gian do cách sống say xỉn, phóng túng ham chơi của mình ông đã bị mọi người trong triều ghét bỏ và thường nói xấu sau lưng, thấy vậy ông đã tự nguyện rời cung và tiếp tục cuộc sống ngao du đây đó khắp nơi.

Khoảng chừng 10 năm, sau đó ông lại về núi Lư ở ẩn. Được một thời gian ông lại về phủ của Vương Lân sống, do Vương Lân làm phản nên Lý Bạch cũng bị liên lụy và bị băt theo, ông đã bị đi đày khắp các vùng Động Đình, Tam Giác…sau đó được tha và đến năm 762 do tuổi già, sức yếu ông đã qua đời tại Đang Đồ.

Lý Bạch được người đời đặt danh là “诗仙” tức “Thi Tiên”. Ông là một người phóng khoáng, sôi nổi, nhiệt tình, tài hoa nhưng lại có phần gàn dở. Thơ ca của ông khí phách hào hùng nhưng lại rất phóng khoáng, ông thích dùng những từ ngữ sôi nổi để ca tụng phong cảnh núi non hùng vĩ của tổ quốc. Hiện các tác phẩm thơ ca của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 990 bài, trong đó bài (Sắp mời rượu), (Hành lộ nan), (Tĩnh dạ tứ)…là những bài thơ tiêu biểu của ông và được mọi người truyền tụng.

Mời các bạn thưởng thức bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch:

    Tĩnh dạ tứ

    Đầu giường rọi ánh trăng soi,
    Làm ta cứ ngỡ như là màn sương.
    Ngẩng đầu trăng sáng như gương,
    Cúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùng.
    .

      (Bản dịch của Nguyễn Dương)

Đỗ Phủ
Đỗ Phủ

Đỗ Phủ

Cùng với Lý Bạch và Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ cũng là một trong những nhà thơ vĩ đại của Trung Quốc vào thời Đường. Ông được người đời mệnh danh là “诗圣” tức “Thư thánh”. Ông sinh năm 712 mất năm 770, xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng đã sa sút. Là một người ham học, có trí làm quan nên ông đã nhiều lần tới kinh đô để dự thi, nhưng đều không đỗ. Đến năm 755 Loạn An Lộc Sơn xảy ra khiến cho cuộc sống của ông phiêu bạt khắp nơi.

Ông đã tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc, nạn đói và những ngược đãi bất công của xã hội, do đó trong thơ của ông luôn thể hiện những đồng cảm về cuộc sống thống khổ của người dân và phản ánh những hiên thực bất công của xã hội lúc bấy giờ. Thơ của ông vào thời đó không được đánh giá cao lắm nhưng đến thế kỷ thứ 9 thì thơ của ông dần dần được chú ý và đến thế kỷ thứ 11 thì lên tới mức cực điểm. Hiện các tác phẩm của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 1400 bài, trong đó tiêu biểu là các bài (Binh xa hành), (Xuân vọng), (Tam biệt), (Tam lại)…

Mời các bạn thưởng thức bài Xuân vọng của Đỗ PHủ:

Đổ Phủ

    Xuân Vọng

    Nước tàn sông núi còn đây;
    Thanh xuân cây cỏ mọc đầy khắp nơi.
    Cảm thời hoa cũng lệ rơi;
    Chim kia cũng sợ hận người lìa tan.
    Lửa phong ba tháng lan tràn;
    Thư nhà đưa đến muôn vàng chắt chiu
    Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều,
    So le lởm chởm khó điều cài trâm.
    .

      (Bản dịch của Trần Trọng San)

Chúc các bạn một ngày mới vui vẻ nhé.

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Richard Clayderman- Nghệ sĩ Piano Thành Công Nhất Thế Giới

Tháng trước đã có một bạn trẻ đề nghị Nhạc Xanh giới thiệu Richard Clayderman. Hôm nay, để thay đổi không khí chúng ta sẽ nghe nhạc sĩ Richard Clayderman với ngón đàn piano được rất nhiều fan của ông khen là tài hoa.
richardclayderman1
Richard Clayderman tên khai sinh là Philippe Pagès, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1953 tại Paris, Pháp. Ông là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiến, đã phát hành rất nhiều album nhạc, trong đó có các nhạc phẩm của Beethoven, Liszt, Chopin và Mozart. Richard Clayderman cũng được biết đến bởi khả năng diễn xuất tuyệt vời những bản nhạc pop được nhiều người ưa chuộng như Yesterday, The Sound of Silence và Memory.

Từ khi còn rất bé, Clayderman đã theo học đàn piano với cha vốn là một giáo viên dạy đàn piano. Năm 12 tuổi, Clayderman được nhận vào trường Âm nhạc Paris, tại đây ông trở thành nổi tiếng vào những năm trưởng thành.Gặp nhiều khó khăn về tài chính, ít nhất cũng bị thúc bách từ bệnh tật của người cha và cản trở sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nghệ sĩ piano cổ điển.. Vì thế để kiếm sống , Clayderman vừa làm nhân viên ngân hàng vừa làm người đệm đàn trong các ban nhạc đương thời. Ông đệm đàn cho các ca sĩ nhạc Pop nổi tiếng của Pháp là Johnny Hallyday, Thierry Leluron, và Michael Sardou.

Năm 1976, ông được Olivier Toussaint, một nhà sản xuất đĩa ghi âm người Pháp và đối tác là Paul de Senneville đề nghi thu âm một bản ballad chơi với piano thật êm dịu, để tặng cho cô con gái sơ sinh tên là Adeleine của Senneville. Và khi chơi thử cùng 20 chàng nghệ sĩ piano khác, chàng trai trẻ Clayderman 23 tuổi được chọn vì “ trông rất đẹp trai, một nghệ sĩ có tài bấm phím thật nhẹ nhàng với kỹ thuật cao”, theo lời của Toussaint. Bản Ballad Pour Adeline bán được 22 triệu bản ở 38 nước. Ông đổi sang tên Richard Claydeman, họ của bà cố để tránh phát âm sai tên ông ở ngoài Pháp. clayderman3
Ông sống ở Normandy với vợ Christine, con trai Peter, và con gái Maud.

Mặc dù được đào tạo để trở thành nghệ sĩ piano cổ điển, song hầu hết các đĩa nhạc của ông tập trung vào âm nhạc phổ thông với những tình khúc đương thời.

Tuy Clayderman rất nổi tiếng ở các nước thế giới thứ ba, nhiều nhà phê bình cho rằng nhạc của ông là “nhạc thang máy”, bởi vì các tác phẩm của ông được chơi ở những nơi không gian rộng rãi, chuyển tiếp như thang máy, khu buôn bán… Ngoài ra những người yêu đàn piano đặc biệt là cổ điển cho rằng ông có kỹ thuật không cao, biểu diễn nhạc mang tính thương mại vì chơi các bản nhạc cổ điển ở dạng cách điệu

Clayderman đã ghi âm được hơn 1.200 giai điệu và đã tạo ra một phong cách lãng mạn mới qua việc kết hợp kỹ thuật biểu diễn riêng điêu luyện của ông giữa classic và nhạc Pop tiêu chuẩn. Ông đã dành phần lớn thời gian tổ chức hòa nhạc và làm hài lòng các fan như việc biểu diễn 200 sô trong 250 ngày. Đến nay ông đã đạt đến kỉ lục về doanh số bán được gần 90 triệu, và kỉ lục 267 đĩa Vàng và 70 đĩa Bạch kim. Ông rất thành công và nổi tiếng ở Châu Á. richardabba
Sách Guiiness về Kỹ Lục Thế Giới xem ông là Nghệ Sĩ piano Thành Công Nhất Thế Giới.

Nhạc Xanh mời các bạn nghe 6 bản nhạc piano gồm cả hòa tấu classic và pop trong số được ưa chuộng nhất của Clayderman sau đây:

1. Moonlight Sonata (Ludwig van Beethoven)


.

2. Jardin Secret (Paul De Senneville)


.

3. Balada para Adelina (1998) (Ballade pour Adeline, của Paul De Senneville)


.

4. Fur Elise (Ludwig van Beethoven)



.

5. Memory (Nhạc Andrew Lloyd Webber, lời T.S. Eliot, Trevor Nunn, nhạc kịch CATS)


.

6. ABBA – I Have A Dream


.

7. The Sound of Silence (Simon & Garfunkel)


.

8. ABBA – Fernando

http://www.youtube.com/watch?v=4V5oNA1Xg3U

Thân chúc các bạn một ngày mới tươi hồng bắt đầu một tuần làm việc hiệu quả

Bob Dylan- Người Hát Rong Huyền Thoại

Sẽ là một thiếu sót lớn trong chuyên mục âm nhạc đại chúng (pop ) của Nhạc Xanh nếu chưa giới thiệu cùng các bạn một nhân vật được xem là tượng đài, huyền thoại và biểu tượng văn hóa ảnh hưởng lớn đến nền âm nhạc đại chúng không chỉ của nước Mỹ trong 5 thập kỷ qua. Ấy là Bob Dylan.
ImageView

Bob Dylan có tên khai sinh là Robert Allen Zimmerman, sinh ngày 24 tháng 5, 1941 tại Minesota, Mỹ. Các phương tiện truyền thông báo chí, các kênh truyền hình, và đài phát thanh đã dành không biết bao nhiêu bài báo, chương trình về nhân vật được mệnh danh là chàng hát rong huyền thoại. Với phong cách đặc biệt, ông đã vượt xa các tác giả cùng thời và xứng đáng được tôn vinh là nghệ sỹ xuất sắc thứ 2 mọi thời đại, một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trong thế kỉ X X.

Ông là một ca sĩ, tác giả, nhà soạn nhạc, nhà thơ và gần đây nhất là một DJ. Rất nhiều thành quả lao động của Dylan được thừa nhận từ thập niên 1960 đã gây nhiều xôn xao trong dư luận Mỹ. Các bài hát của ông như “Blowin’ in the Wind” và “The Times They Are a-Changin” trở thành những bài ca chống chiến tranh và ủng hộ phong trào nhân quyền.
Album Studio gần đây nhất của ông “Modern Times”, phát hành ngày 28 tháng 8, 2006, đã dành vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng của Mỹ, giúp ông, ở tuổi 65, trở thành ca sĩ cao tuổi nhất còn sống dành vị trí cao nhất trong các bảng xếp hạng. Sau đó, album đã được tạp chí Rolling Stone bầu chọn là “Album của năm”.

Khi còn nhỏ, ông học chơi guitar và harmonica. Lên trung học, ông cùng bạn thành lập một ban nhạc rock & roll mang tên The Golden Chords. Tốt nghiệp đại học năm 1959, ông tiếp tục theo học nghệ thuật tại đại học Minnesota, Minneapolis. Tại đây, ông bắt đầu chơi nhạc folk ở các quán cà phê dưới tên Bob Dylan (lấy tên của nhà thơ Dylan Thomas ghép với biệt danh của ông là Bob). Ấn tượng với phong cách của Hank Williams và Woody Guthrie, Dylan tập nghe nhạc blues và kết hợp thể loại nhạc này vào trong các tác phẩm của mình.

Tháng 1/1961, Dylan đến New York và ngay lập tức tạo được ấn tượng với cộng đồng chơi nhạc folk ở Greenwich Village. Nhưng Dylan không từ bỏ việc chơi đàn ở các quán cà phê và sự mến mộ công chúng tại đây đã giúp đỡ ông rất nhiều trong những bước đi quan trọng sau này. Năm 1961, ông chơi trong một buổi hoà nhạc và được Robert Shelton (tờ New York Times) đánh giá rất cao. Cũng nhờ đánh giá này mà nhà sản xuất John Hammond (hãng đĩa Columbia Records) để ý và ký hợp đồng với ông. Tháng 3/1962, Bob Dylan cho ra mắt album đầu tay là tuyển tập những bản folk và blues chuẩn mực. Sau khoá học nhạc một năm, Dylan bắt đầu viết một lượng lớn các ca khúc (có cả những bài ca phản chiến nằm trong album thứ 2 – “The Free Wheelin’ Bob Dylan”) tiêu biểu là “Blowin’ the wind”, “A hard rain’ a – gonna fall”…Đến cuối năm 1965, Dylan đã tự khám phá cho mình một phong cách riêng và hoàn toàn mới lạ: đó là folk – rock.
bobdylan68
Thời gian từ 1964 – 1966 là thời gian thành công nhất của Dylan trong cả vai trò nhạc sĩ và ca sĩ. “Highway 61 Revisited”, album đậm chất rock đầu tiên, nằm trong bảng xếp hạng của Top Ten (1965).
Những lời trong các bài hát đầu tiên của Dylan là sự kết hợp sâu sắc ảnh hưởng của chính trị, bình luận xã hội, triết học và văn chương, thách thức dòng nhạc Pop đương thời và tạo sức hút rộng rãi văn hóa đối lập thời đó. Trong khi tiếp tục phát triển và cá nhân hóa các phong cách âm nhạc, ông đã thể hiện sự tâm huyết với nhiều dòng nhạc truyền thống của Mỹ từ folk và country/blues đến rock and roll và rockabilly, tới nhạc folk Anh, Scotland, Ireland, thậm chí là jazz, swing, Broadway, rock nặng và gospel.

Dylan thường biểu diễn với guitar, keyboard and harmonica. Được sự giúp đỡ của nhiều nhà soạn nhạc, ông đã thực hiện các tour diễn đều đặn từ cuối thập niên 1980, chính vì vậy mà sau đó họ gọi đó là “Never Ending Tour” (tour diễn không bao giờ kết thúc). Dylan đã biểu diễn cùng nhiều danh ca lớn như The Band, Tom Petty, Joan Baez, George Harrison, The Grateful Dead, Johnny Cash, Willie Nelson, Paul Simon, Eric Clapton, Patti Smith, Emmylou Harris, Bruce Springsteen, U2, The Rolling Stones, Joni Mitchell, Jack White, Merle Haggard, Neil Young, Van Morrison, Ringo Starr và Stevie Nicks. Dù những thành quả với tư cách là ca sĩ và nghệ sĩ thu âm là dấu ấn lớn trung tâm trong sự nghiệp Dylan, nhưng việc sáng tác ca khúc được ghi nhận là đóng góp lớn nhất của ông cho âm nhạc đương đại.
Album Modern Times.năm 1976 là album cuối mà Bob Dylan được xếp hạng nhất trong năm tuần. bob78
Gần đây năm 2006 lần đầu tiên sau 30 năm ca –nhạc sĩ huyền thoại này Bob có album bán chạy nhất ở Mỹ, nhờ đĩa Desire.
Ông đứng đầu bảng xếp hạng Top 200 album Billboard với “Modern Times”. Hãng đĩa Columbia đã bán hơn 192.000 bản đĩa này tại Mỹ trong tuần đầu tiên.

Together Through Life là album studio thứ 33 của Bob Dylan phát hành ngày 28-4-2009 Album này đã giúp huyền thoại âm nhạc này trở lại vị trí số 1 sau gần 40 năm, kể từ năm 1970 với album New Morning. Đây cũng là lần thứ bảy Bob Dylan leo lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng album tại Anh. Album đầu tiên mang về cho Bob Dylan vị trí số 1 tại bảng xếp hạng album ở Anh chính là Freewheelin’ Bob Dylan vào năm 1964. (theo Official Charts Company).

Gennaro Castaldo – phát ngôn viên của nhà bán lẻ khổng lồ ngành công nghiệp âm nhạc Anh – HMV đã ca ngợi về Bob Dylan: “Ông được xem là biểu tượng văn hóa của chúng ta, âm nhạc và ca từ của ông cho dù cách đây năm thập kỷ hay đến tận ngày hôm nay vẫn còn nguyên sức mạnh”

Những bản thu âm đã giúp ông dành giải Grammy, Quả Cầu Vàng và nhiều giải thưởng của viện Hàn Lâm. Ông cũng đã vài lần được đề cử giải Nobel văn học. Ông đã được ghi danh tại đại sảnh danh vọng về dòng nhạc Rock&Roll, đại sảnh danh vọng cho các nhà soạn nhạc tại Nashville, và đại sảnh danh vọng dành cho các nhà soạn nhạc. Dylan được tạp chí Time bầu là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.
bobdylan2.

Tháng 1 năm 1990, ông được trao huân chương nghệ thuật và văn học (Commandeur des Arts et des Lettres) bởi Bộ trưởng văn hóa Pháp Jack Lang. Năm 2000, ông được trao giải Polar Music bởi viện âm nhạc hoàng gia Thụy Điển. Năm 2004, Bob Dylan được xếp ở vị trí thứ 2 bên cạnh The Beatles trong danh sách 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone. Năm 2004, người nghệ sĩ lớn này được trường đại học tổng hợp St Andrews trao tặng bằng Tiến sĩ âm nhạc danh dự.
Và năm 2007, Dylan được trao giải Prince of Asturias- được xem như giải Nobel của Tây Ban Nha trong lĩnh vực nghệ thuật. Dylan được Hội đồng giám khảo đánh giá như “một huyền thoại sống của lịch sử âm nhạc đại chúng, là ngọn đèn soi đường của một thế hệ muốn thay đổi thế giới” và “một trong những gương mặt lớn của âm nhạc đã kết hợp một cách mẫu mực vẻ đẹp của thi ca, và đạo đức”. Tháng 4-2008, người nhạc sĩ phản chiến này đoạt được giải thưởng Pulitzer.

Dylan được tôn vinh như tượng đài văn hóa “đã tác động sâu sắc đến nền âm nhạc và văn hóa Hoa Kỳ do những sáng tác giàu sức sống mãnh liệt với ca từ là lời thơ khác thường.” Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của Việt Nam được cho là cùng chia sẻ tư tưởng phản chiến với Bob Dylan.

Nhạc Xanh mời các bạn thưỡng thức 5 bản nhạc sau đây của nhạc sĩ Bob Dylan : Blowing In The Wind, Forever Young, Knockin’ on Heaven’s Door, Tryin’ To Get To Heaven, Don’t Think Twice, It’s Alright, và bài Yesterday (nhạc và lời của The Beatles)

BLOWING IN THE WIND : một ca khúc phản chiến của Bob Dylan. Bài hát này đã vang lên ở Mỹ trong suốt những năm 1960 để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. ( cũng là bài hát ưa thích nhất của mình )

Phải bao nhiêu lằn tên mũi đạn trước khi vũ khí bị cấm đời đời?
Phải bao nhiêu tháng năm hiện hữu trước khi được làm người tự do?
Biết bao nhiêu lần ta ngoảnh mặt, giả vờ như là điếc là đui?


1. BLOWING IN THE WIND – BOB DYLAN (Madison Square Garden NY 1971)

How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
Yes, n how many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, n how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.

How many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, n how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, n how many deaths will it take till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.

How many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, n how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, n how many times can a man turn his head,
Pretending he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.

2. FOREVER YOUNG (live)

May God bless and keep you always,
May your wishes all come true,
May you always do for others
And let others do for you.
May you build a ladder to the stars
And climb on every rung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.

May you grow up to be righteous,
May you grow up to be true,
May you always know the truth
And see the lights surrounding you.
May you always be courageous,
Stand upright and be strong,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.

May your hands always be busy,
May your feet always be swift,
May you have a strong foundation
When the winds of changes shift.
May your heart always be joyful,
May your song always be sung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.

3. KNOCKIN’ ON HEAVEN’S DOOR

“Mama, take this badge off of me
I can’t use it anymore.
It’s gettin’ dark, too dark for me to see
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.

Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door

Mama, put my guns in the ground
I can’t shoot them anymore.
That long black cloud is comin’ down
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.

Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door”


4. TRYIN’ TO GET TO HEAVEN

The air is getting hotter
There’s a rumbling in the skies
I’ve been wading through the high muddy water
With the heat rising in my eyes
Every day your memory grows dimmer
It doesn’t haunt me like it did before
I’ve been walking through the middle of nowhere
Trying to get to heaven before they close the door
When I was in Missouri
They would not let me be
I had to leave there in a hurry
I only saw what they let me see
You broke a heart that loved you
Now you can seal up the book and not write anymore
I’ve been walking that lonesome valley
Trying to get to heaven before they close the door

People on the platforms
Waiting for the trains
I can hear their hearts a-beatin’
Like pendulums swinging on chains
When you think that you lost everything
You find out you can always lose a little more
I’m just going down the road feeling bad
Trying to get to heaven before they close the door
I’m going down the river
Down to New Orleans
They tell me everything is gonna be all right
But I don’t know what “all right” even means
I was riding in a buggy with Miss Mary-Jane
Miss Mary-Jane got a house in Baltimore
I been all around the world, boys
Now I’m trying to get to heaven before they close the door
Gonna sleep down in the parlor
And relive my dreams
I’ll close my eyes and I wonder
If everything is as hollow as it seems
Some trains don’t pull no gamblers
No midnight ramblers, like they did before
I been to Sugar Town, I shook the sugar down
Now I’m trying to get to heaven before they close the door

4. SOMETHING’S BURNING

Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?

You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?

I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?

Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?

Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?

You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?

I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?

Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?

We’ve reached the edge of the road, baby, where the pasture begins
Where charity is supposed to cover up a multitude of sins
But where do you live, baby, and where is the light?
Why are your eyes just staring off in the night?

I can feel it in the night when I think of you
I can feel it in the light and it’s got to be true
You can’t live by bread alone, you won’t be satisfied
You can’t roll away the stone if your hands are tied

Got to start someplace, baby, can you explain?
Please don’t fade away on me, baby, like the midnight train
Answer me, baby, a casual look will do
Just what in the world has come over you?

I can feel it in the wind and it’s upside down
I can feel it in the dust as I get off the bus on the outskirts of town
I’ve had the Mexico City blues since the last hairpin curve
I don’t wanna see you bleed, I know what you need but it ain’t what you deserve

Something is burning, baby, something’s in flames
There’s a man going ’round calling names
Ring down when you’re ready, baby, I’m waiting for you
I believe in the impossible, you know that I do


5. DON’T THINK TWICE, IT’S ALRIGHT –
Bob Dylan & Eric Clapton

It ain’t no use to sit and wonder why, babe
If’in you don’t know by now
An’ it ain’t no use to sit and wonder why, babe
It’ll never do some how.
When your rooster crows at the break of dawn
Look out your window and I’ll be gone
You’re the reason I’m trav’lin’ on
Don’t think twice, it’s all right

It ain’t no use in turnin’ on your light, babe
That light I never knowed
An’ it ain’t no use in turnin’ on your light, babe
I’m on the dark side of the road
but I wish there was somethin’ you would do or say
To try and make me change my mind and stay
We never did too much talkin’ anyway
So don’t think twice, it’s all right

It ain’t no use in callin’ out my name, gal
Like you never done before
It ain’t no use in callin’ out my name, gal
I can’t hear you any more
I’m a-thinkin’ and a-wond’rin’ walkin’ down the road
I once loved a woman, a child I’m told
I give her my heart but she wanted my soul
But don’t think twice, it’s all right

So long, Honey Babe
Where I’m bound, I can’t tell
But Goodbye’s too good a word, babe
So I’ll just say fare thee well
I ain’t sayin’ you treated me unkind
You could have done better but I don’t mind
You just kinda wasted my precious time
But don’t think twice, it’s all right

6. YESTERDAY – Bob Dylan with George Harrison – ( nhạc và lời của Paul McCartney)

Yesterday, all my troubles seemed so far away
Now it looks as though they’re here to stay
Oh, I believe in yesterday.

Suddenly, I’m not half the man I used to be,
There’s a shadow hanging over me.
Oh, yesterday came suddenly.

Why she had to go I don’t know she wouldn’t say.
I said something wrong, now I long for yesterday.

Yesterday, love was such an easy game to play.
Now I need a place to hide away.
Oh, I believe in yesterday.

Mm mm mm mm mm.

Thân ái chúc các bạn những ngày cuối tuần tươi vui và hạnh phúc. 🙂

Sườn Xám và các trang phục truyền thống Trung Quốc

Sườn Xám ( hay còn gọi Xường Xám) là trang phục truyền thống của các thiếu nữ người Mãn (thời nhà Thanh), và cũng được coi là một trong những trang phục truyền thống điển hình của Trung Quốc. Sườn xám lúc đó là kiểu cổ cao tròn ôm sát, ống tay hẹp, bốn mặt vạt áo đều xẻ, có khuy nối các vạt lại với nhau, kèm theo thắt đai lưng, chất liệu vải thường là các loại da thuộc.

Sườn Xám (Xường Xám)
Sườn Xám (Xường Xám)

Từ những năm đầu thế kỉ hai mươi, Sườn Xám có sự thay đổi khá nhiều về mặt kết cấu,ví dụ như: cổ dựng, chỉ có hai bên vạt áo xẻ, ôm sát thân, tay áo có thể liền hoặc rời thân. Và bắt đầu từ những năm hai mươi, Sườn Xám xuất hiện dần dần trên đường phố Thượng Hải rồi lan sang Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu… Sau đó do ảnh hưởng của nền văn hóa phương tây Sườn Xám đã có một vài đổi mới so với thời Mãn Thanh: Cổ áo có thể cao hoặc thấp, ống tay lúc hẹp lúc loe, vạt áo dài ngắn tùy sở thích mỗi người.
Trường Bào và Mã Quái
Trường Bào và Mã Quái

Loại váy áo liền thân này làm tôn thêm dáng của người thiếu nữ, phần trên ôm sát thân, hàng cúc được thiết kế vắt chéo sang môt bên rồi chạy dọc một bên sườn, hai tà xẻ cao đến ngang đùi tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, mặt trước của Sườn Xám thường được thêu các họa tiết bằng chỉ ngũ sắc. Trên phương diện tạo mẫu hay trang trí thủ pháp đều thể hiện được những nét truyền thống văn hóa sâu đậm của Trung Quốc nói riêng và của các nước phương đông nói chung. Ngoài ra, loại váy áo này còn làm nổi bật đức tính đoan trang, trang nhã, kín đáo của người thiếu nữ.
Đường trang (trang phục đời Đường)
Đường trang (trang phục đời Đường)

Trang phục truyền thống tiêu biểu của giới nam gồm có: Trường Bào, Mã Quái (một dạng áo khoác bên ngoài), hai loại trang phục này đều là trang phục của dân tộc Mãn Thanh, áo cổ tròn, ống tay cửa hẹp, Mã Quái thường là xẻ giữa, cài nút thắt, ống tay áo hình chữ U, còn Trường Bào thường là xẻ bên.

Cũng có loại trang phục được kết hợp giữa Trường Bào và Mã Quái, loại trang phục này chỉ có vạt áo dưới của Trường Bào còn phần trên là Mã Quái, hai phần được nối với nhau bằng một dải cúc được đính ở mặt trong của Trường Bào, mặc hai loại trang phục này không chỉ thể hiện được sự long trọng mà còn đem lại cảm giác tự nhiên, thoải mái cho người mặc.

Yếm trẻ em, thêu ngũ tú
Yếm trẻ em, thêu ngũ tú

Hội nghị APEC năm 2001, các nguyên thủ quốc gia đều mặc trang phục đời Đường, vì người phương tây thường gọi nơi ở của người Hoa là “Đường nhân phố”, cho nên loại trang phục người Đường mặc tất nhiên được coi là trang phục truyền thống tiêu biểu của người Hoa rồi. Và cũng từ đấy đã dấy lên phong trào coi “Đường trang” làm một trong những trang phục mốt, thịnh hành được giới trẻ yêu thích. “Đường trang” hiện nay là do Mã Quái thời đại Thanh cải cách thành, kết cấu của loại trang phục này gồm có 4 đặc điểm lớn:

– Là loại cổ đứng, phần cổ giữa trước được may mở và kéo dài xuống một chút đối với nữ trang.
– Thân áo và tay áo liền với nhau, không có đường chỉ vê nối.
– Hai vạt áo xẻ giữa, cũng có thể xẻ bên.
– Cúc áo hình vuông.

Yếm người lớn
Yếm người lớn

Ngoài ra, trang phục của từng vùng, từng dân tộc cũng không giống nhau, đều mang những bản sắc riêng của mình. Ví dụ như, Yếm là loại trang phục truyền thống sát thân của trẻ con Trung Quốc tại Quan Trung và Thiểm Bắc, hai vạt của Yếm phía trên được buộc với nhau bởi hai dây vải vòng qua cổ, phía dưới cũng được nối với nhau bởi hai dây buộc vòng qua thắt lưng. Mặt trước của Yếm thường được dùng chỉ ngũ sắc để thêu các hình đầu hổ và ngũ tú, thông qua đó muốn gửi gắm hy vọng cầu mong cho con cái mình được manh khỏe…
Trang phục nữ Huệ An
Trang phục nữ Huệ An

Các trang phục truyền thống của những dân tộc thiểu số cũng rất đặc biệt, ví dụ như trang phục của Nữ Huệ An tại Phúc Kiến (các bạn có thể xem chi tiết hơn trong bài Con gái Huệ An), hay của các dân tộc thiểu số Di, Bạch, Cáp Nê, Miêu (H’Mông), mông cổ…..

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc