Danh mục lưu trữ: Kỹ năng giao tiếp

Nói chuyện thế nào ?

Chào các bạn,

Kể từ hôm nay chúng ta sẽ khai triển sâu từ từ, làm thế nào xây dựng vòng ảnh hưởng của ta lớn rộng và chắc chắn. Từ nhỏ tới lớn chắc chẳng mấy khi ta được học lớp về nói chuyện. Lúc bắt đầu bập bẹ một hai chữ… ba… ma… là bắt đầu nói chuyện với mẹ. Rồi từ đó về sau là nói chuyện tự nhiên với mọi người, từ bố mẹ anh em đến thầy cô bạn bè. Thỉnh thoảng có học được một tí vể ăn nói cho lễ độ tế nhị, nhưng đó chỉ là một vài cách thưa hỏi, chứ chẳng có lớp nào dạy ta nói chuyện cả.
conversation1
Nhưng đó mới chính là vấn đề. Đi thì ai cũng biết đi, chẳng có lớp dạy đi. Nhưng sự thật là con nhà võ phải học đi rất kỹ, và vì vậy đi như con nhà võ thì rất chắc chắn, khó bị ngã. Ăn thì chẳng có lớp dạy ăn, nhưng ăn như thiền sư “ăn chính niệm” thì tốt cho sức khỏe hơn 10 lần. Ngày xưa đi sinh con thì đi, nhưng học thì không có lớp. Ngày nay cả bố lẫn mẹ đều học lớp “sinh con” để công việc “đi biển” của phụ nữ trôi chảy hơn và có được người bạn đường chia sẻ.

Vậy thì, ta cũng cần phải học nói chuyện. Nhưng, tại sao lại phải học? Nếu không học thì có hại gì? Từ nhỏ tới lớn tôi nói chuyện một ngày 24 tiếng (nói quên ăn quên ngủ :-)) có sao đâu?

Nếu ta không học nói, thì cách nói chuyện chỉ là biểu hiên tự nhiên của cá tính (do bẩm sinh và thói quen nhờ giáo dục gia đình), và như vậy là hên xui may rủi. Có người thì nói chuyện ai cũng thương, có người thì ai cũng ghét, đa số chúng ta thì thường khi nói chuyện xong mới thấy là có những điều mình đã không nên nói, hoặc là những cách nói mình đã không nên dùng… Nói chung là vì ta không thuần thục kỹ năng nói chuyện, cho nên chất lượng nói chuyện tùy thuộc nhiều vào hên xui may rủi, tùy theo hôm đó ra ngõ có gặp… trai… hay không.

Vậy thì ta cần nghiên cứu học hỏi để có thể kiểm soát và thuần thục kỹ năng nói chuyện hơn. Và vì nói chuyện là kỹ năng ăn nói chính—truớc cả nói trước đám đông, trước cả phỏng vấn tìm việc, trước cả giảng bài—cho nên nói chuyện là kỹ năng mẹ đẻ của tất cả các kỹ năng nói khác. Học cách nói chuyện là học căn bản nói cho tất cả các kỹ năng nói khác.

Nói đến nói chuyện, chúng ta dễ bị đi lạc vào cả một rừng qui luật, như là phải khiêm tốn, phải nhỏ nhẹ, phải thành thật, phải thấu hiểu, v.v… Rất dễ bị hỗn độn trong đầu và bị lạc vòng vòng. Cho nên, chúng ta sẽ dùng một cách khác, giản dị hơn và hiệu quả hơn. Chúng ta sẽ chú trọng vào vài điểm chính, từ đó mọi điều tốt khác sẽ tự động nảy sinh.

I. Mục đích của nói chuyện: Xưa nay chẳng mấy người trong chúng ta nghĩ đến mục đích của nói chuyện. Gặp bạn là nói, cả tiếng đồng hồ, hết giờ thì bye-bye ra vể. Vậy thôi.

Nhưng nếu nghĩ lại kỹ một tí thì nói chuyện là chia sẻ. Chia sẻ gì thì chưa cần biết. Nhưng chắc chắn là nói là để chia sẻ–thông tin, ‎sở thích, tình cảm, kiến thức…

Mà muốn chia sẻ thì mình phải hiểu người kia. Càng hiểu sâu hiểu kỹ, càng chia sẻ tốt. Ví dụ hai màn đối thoại sau đây:

— “Buồn quá ghé nhà bồ chơi.”
“Buồn gì vậy?”

— “Buồn quá ghé nhà bồ chơi.”
“Ừ qua đi. Để mình chạy ra tiệm tạp hóa đầu ngõ mua vài trái xoài nhâm nhi.”

Dù rằng chẳng ai biết chuyện gì đã xảy ra, ai cũng có thể thấy được người bạn trong ví dụ thứ hai có vẻ nhậy cảm và hiểu bạn mình hơn người trong ví dụ 1 rất nhiều.
conversation2
II. Vì vậy, quy luật nói chuyện thứ 2, là phải lắng nghe, vì chỉ có lắng nghe mới hiểu biết để chia sẻ.

Đây là qui luật thực hành đầu tiên. (Quy luật số một bên trên là mục tiêu trong tư tưởng). Và qui luật lắng nghe này trái ngược lại với đa số chúng ta. Chúng ta thường thường dùng nói chuyện để trình bày ý kiến của mình (“Thằng cha đó xí trai dã man tàn bạo”), hay sở thích (“Tôi thích nhạc rock hơn nhạc cổ điển), hay kiến thức (Decartes là cha đẻ của tam đọan luận). Nhưng đó chỉ là một chiều, và là chiều thứ hai. Chiều đầu là chiều lắng nghe, vì nếu không lắng nghe thì ta cũng nói không hiệu quả. Phải lắng nghe trước khi nói.

Cho nên phải mang “lắng nghe” về vị trí đầu trong “nói chuyện.”

Nhưng, lắng nghe bằng cách nào?

    1. Tâm niệm: “Tôi muốn thực sự hiểu được bạn tôi đang nghĩ gì, đang cảm xúc gì. Và tôi chỉ có thể hiểu được, nếu tôi lắng nghe và quan sát.”

    2. Tĩnh lặng: Ồn ào thì không lắng nghe được.

      Tĩnh lặng tức là không nói nhiều, nhất là nói ra ‎ ý kiến của mình khi không cần nói. Ví dụ:

      “Biết ông Hảo dạy toán không?”
      “Cái ông hắc quẩy kiêu căng đó ai mà không biết.”

      Câu trả lời này có thể đã cắt ngang vĩnh viễn một cuộc nói chuyện quan trọng và sâu sắc như sau:

      “Biết ông Hảo dạy toán không?”
      “Biết.”
      “Mày biết tao làm sao không?”
      “Không. Nói đi. Tao nghe.”
      “Tao có bầu với ổng…”

      Tĩnh lặng là không suy nghĩ lung tung trong đầu trong khi nghe. Chỉ nên chú tâm vào việc nghe mà thôi. Ví dụ:

      “Hôm nay trời thấy buồn quá.”
      (Nghĩ thầm: “Anh chàng này chắc lại đang thất tình cô nào đây”)

      Đừng nên suy nghĩ và phán đoán trong khi nghe như thế. Chỉ nghe vởi một qủa tim tĩnh tặng, không phán đoán, không thành kiến.
      conversation3
      Tĩnh lặng là không xung phong “cố vấn” khi chưa được hỏi. Ví dụ:

      “Bỏ thì thương, vương thì tội. Chẳng biết làm sao bây giờ.”

      Đây không phải là câu xin ‎‎y’ kiến cố vấn (như các ông thường hiểu lầm), mà chỉ là một lời tâm sự. Cách trả lời hay nhất là một chữ “Ừ.”

    3. Lắng nghe là nghe từng chữ cho kỹ.

    4. Lắng nghe là nghe cả “âm hưởng” của mỗi chữ.

    — Vân tốc nhanh hay chậm?
    — Mỗi từ nghe như pháo nổ, hay như là chinh phụ ngâm khúc?
    — Đang nói bình thường, tự nhiên chậm lại, hay đổi giọng … tức là có nhiều uẩn khúc bên trong.

    5. Lắng nghe là nghe cả “âm thanh của tĩnh lặng” (the sound of silence)

    Một quảng lặng yên có thể nói đến một tâm tư trĩu nặng rõ ràng hơn là nghìn câu nói. Thông thường, chúng ta sợ yên lặng, cho nên hay phá những quảng lặng như vậy bằng cách nói năng lung tung. Đừng làm thế. Hãy lặng yên và nghe lời nói của yên lặng.

    6. Lắng nghe là nghe cả “ngôn ngữ thân thể.” Dáng đi, cách ngồi, cách đứng… có thể nói lên rất nhiều cảm xúc trong lòng.

    7. Lắng nghe là nhẹ nhàng khuyến khích người kia nói tiếp, bằng gật đầu đồng y’, hay “ừ” “vâng” “dạ”, hay lập lại các tĩnh từ người kia mới nói “Ừ, buồn thật”, “Ừ, khó thật.”

    8. Lắng nghe là lắng nghe. Lắng nghe không có nghĩa là bạn phải cho y’ kiến, cho cố vấn, cho phán đóan, hay làm gì đó. Khi người kia cần y’ kiến, họ sẽ hỏi y’ kiến bạn, lúc đó hãy nói. Bằng không thì bạn chỉ cần lắng nghe, vậy là đủ cho cuộc nói chuyện rồi.

III. Chia sẻ thường có nghĩa là chia sẻ đồng ‎ý. Cho nên khi nói chuyện nên nói về các điểm đồng y’. Các điểm bất đồng , nếu không có lý do quan trọng thực sự phải bàn đến, thì chẳng việc gì phải lôi nó ta. Có nhiều người chỉ thích lôi những điểm bất đồng ra nói. Sao vậy?

IV. Chia sẻ không phải là một hành động tri thức, mà là một hành động tình cảm. Ngay cả khi người ta chia sẻ tri thức, ví dụ “Mình post bài giải toán này đề chia sẻ với các bạn,” dù tóan là tri thức, thì chia sẻ tri thức toán là hành động tình cảm để chia sẻ với những người mình yêu qu‎y’. Cũng như chia sẻ một quả cam–dù quả cam là thực phẩm thì việc chia sẻ quả cam cũng là hành động tình cảm.

Vì vậy, hãy đặt con tim vào việc chia sẻ khi nói chuyện. Dùng con tim để sống chí tâm, chí thành, chí tình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Vòng ảnh hưởng của bạn rộng đến đâu?

Chào các bạn,

Trong tiếng Anh có từ circle of influence. Từ này có nhiều nghĩa rất khác nhau. Trong bài này chúng ta hiểu nghĩa “vòng ảnh hưởng” của bạn là tất cả những người mà bạn có thể có ảnh hưởng, nghĩa là lời nói của bạn có thể được họ nghe kỹ một tí, lời nói của bạn có được ảnh hưởng trên những người đó không ít thì nhiều.
circleofinfluence
Không cần nói dài dòng thì có lẽ chúng ta cũng có thể thấy ngay là người nào có vòng ảnh hưởng càng lớn thì càng dễ thành công trên đời. Nếu lời nói của mình có được nhiều người nghe thì gọi người hùn vốn cũng dễ, bán hàng cũng dễ, tìm partner khởi động một dự án cũng dễ… Nói chung là bàn chuyện gì cũng dễ hơn là người có vòng ảnh hưởng bé xíu.

Nhưng làm thế nào để có một vòng ảnh hưởng lớn?

Câu trả lời rất giản dị, phải không các bạn? Chỉ cần hai điều: Bạn chỉ cần làm cho nhiều người biết đến bạn, và những người đó trân trọng lời nói của bạn.

1. Làm cho nhiều người biết đến mình.

Ngồi ôm sách một mình cả ngày thì ít người biết đến. Nhất định là phải giao lưu với thế giới bên ngoài thôi. Chúng ta cần chung đụng với nhiều người để quen biết thêm nhiều người. Chẳng còn cách nào khác:

• Đi làm (bán thời gian nếu còn bận học). Tiếp viên nhà hàng là việc l‎ý tưởng nhất để sinh viên các lớp thấp khởi đầu. Công việc này gặp cả trăm người một ngày, và thường là thực khách chỉ cần nhìn phong cách một (sinh viên) tiếp viên làm việc là có thể biết được mình có muốn cô ấy làm kỹ sư cho mình khi cô ra trường không.

• Xung phong làm việc không lương cho các quí vị có thẩm quyền (như tìm tài liệu giúp một giáo sư đang viết về một đề tài)—vừa để học thêm kinh nghiệm vừa được các vị giới thiệu đường đi nước bước sau này.

• Xung phong trong các công tác thiện nguyện, thanh niên, sinh viên, học sinh v.v…

• Xung phong trong các công việc trong các tổ chức có sẵn: Nhà thờ, nhà chùa, trường học, v.v…

• Chơi thể thao và các hoat động văn hóa nghệ thuật (vũ, yoga, etc…)

• Thảo luận trong các diễn đàn.

• Post bài trong các diễn đàn, Internet site, hay các loại báo chí khác.

sue-circles-of-influence-one
2. Làm cho mọi người trân trọng lời nói của mình

Phần này là phần chính, phải không các bạn? Nếu mình quen 1000 ngưởi mà 1001 người không tin mình thì cũng vô ích. Thà là chỉ quen 5 người nhưng cả 5 người đều trân trọng lời nói của mình.

Nhưng làm thế nào để mọi người trân trọng lời nói của mình?

Câu trả lời cũng giản dị: Mọi người trân trọng lời nói của ta nếu lời nói của ta đáng tin cậy.

Nhưng làm thế nào để lời nói ta đáng tin cậy?

Thưa:

Điều thứ nhất, và là điều quan trọng nhất–Thành thật. Thành thật là kim cương trong thế giới thương mãi và chính trị. Không có gì có thể so sánh được với thành thật.

Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết. Xanh thì nói là xanh, đỏ thì nói là đỏ.
Chúng ta đã nói đến chuyện này trong bài Làm thế nào để thành thật ?

Điều thứ hai là nói năng rất chính xác và rõ ràng, dùng từ cẩn thận. Và điều này thường có nghĩa là nói chi tiết một tí: Ví dụ: “Em cũng không rành vụ này lắm, nhưng đã Google vào đến năm bảy websites vể thực phẩm và sức khỏe, và các sites này đều nói là Atisô làm sạch gan.” (Thay vì chỉ nói “Atisô tốt gan”). Hay “Em nghe loáng thoáng là cà phê có hại cho sức khỏe, nhưng em không rành mấy. Để mai mốt em research xem sao.” (Thay vì chỉ nói “Cà phê có hại cho sức khỏe”).

Nếu cần thì nói chậm lại, để tìm từ nói cho chính xác.

Nếu lỡ nói sai thì xin lỗi và chỉnh lại. Ví dụ: Hôm qua em nói với chị là Việt Nam đã có thuốc ngừa H1N1, hôm nay đọc lại thì thấy không đúng, đó là ở Anh quốc chứ không phải Việt Nam. Em nhớ nhầm.

Giữ lời hứa. Nếu hẹn ngày mai 8 giờ đến thì 8 giờ (tốt hơn làm 8 giờ kém 5) có mặt, dù là đang có động đất. Có trường hợp khẩn cấp thì gọi điện cáo lỗi, nhưng trường hợp khẩn cấp không có hơn một lần một năm. Cáo lỗi thường quá sẽ đồng nghĩa với không thành thật, không giữ lời hứa.

Lời hứa là lời hứa, nó chẳng lệ thuộc đến loại công việc hay tiền bạc. Ví dụ: Bạn hứa với một tổ chức từ thiện là sẽ xung phong làm việc không công 2 giờ một tuần, thì làm đúng 2 giờ một tuần, với phẩm chất như được trả lương 1000 đô một giờ. Đừng coi thường lời hứa của mình.

Đừng hứa hơn mình có thể giữ. Ví dụ: Em ủng hộ dự án của chị hết mình. Em hứa là sẽ cố gắng hết mình để thuyết phục sếp em. Nhưng em chưa nói chuyện với anh ấy nên không chắc anh ấy sẽ nghĩ thế nào. Không bảo đảm cho chị được. Nhưng chắc chắn là em sẽ cố gắng hết mình.
circleofinfluence1
Thông tin thường xuyên và chính xác. Ví dụ: Em đang trên đường đến nhà chị đây, nhưng ở Hai Bà Trưng và Trần Hưng Đạo đang bị kẹt xe dữ quá, em không nhúc nhích được, chắc phải trễ khỏang 20 phút. Em sẽ gọi lại chị khi đường thông.

Điều cuối cùng, nhưng quan trọng số hai. Nghe cho kỹ, và hỏi lại cho kỹ. Không nghe cẩn thận và không hỏi lại để chắc chắn ta hiểu ‎y’ người nói, thường làm cho ta gây nên nhiều hiểu lầm. Ví dụ: Bạn mình nói “Ngày mai nếu trời không mưa em đến nhà chị”. Ngày mai trời mưa nhưng mình đợi cả ngày, không thấy gì, gọi đến thoại đến trách bạn, “Sao nói đến không đến, tớ ngồi đợi cả ngày?”

Người nghe không kỹ, và không hỏi lại cho kỹ, thường có tác phong gần giống như người hay nói dối, dù là họ không nói dối.

Tóm lại, các chi tiết thì nói ra hơi nhiều, nhưng chủ đích thì rất giản dị: Làm cho lời nói của mình đáng tin cậy đối với người nghe.

Trong thế giới thương mãi, kinh tế và chính trị, không có gì đáng giá bằng lời nói đáng tin cậy–lời nói đáng tin cậy quí và hiếm hơn kim cương trong các thế giới đó, vì vậy nó rất được trân trọng.

Nếu có được nhiều người quen biết và ai cũng tin lời nói của bạn, tin bạn ngay cả khi người ta không đồng ‎ý với bạn, thì làm sao bạn có thể không thành công được?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Kể với mình nhiều hơn đi — Về nghệ thuật nghe tinh diệu

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài viết dài lắm, bốn trang in A4 về nghệ thuật nghe của chị Brenda Ueland, tác giả của cuốn sách nổi tiếng – “If You Want to Write: A Book about Art, Independence and Spirit” về viết và sáng tạo.

Cuốn sách mà nhà văn Mỹ Carl Sandburg gọi là “the best book ever written on how to write.”

Viết, sáng tạo, theo cách chị Brenda gọi là “Try to discover your true, honest, untheoretical self”.

Viết thoải mái, viết thư giãn, viết thả lỏng, viết vui vẻ. Không có gì phải nghiêm trọng. Viết, đơn giản là thấy có gì hay, có gì đẹp, có gì có ích thì viết để chia sẻ với các anh chị em thôi.

Viết không có ai đọc cũng được, không có ai khen cũng được, không có ai trả tiền cũng được, đơn giản là vì ưa thích. Có khi, 20 năm sau người ta thấy ở tác phẩm, lạc thị hiếu tạm thời của 20 năm trước, những giá trị sống mãi với thời gian sau đó.

Sau khi đọc hết mấy chương của cuốn sách, mình rất thích nên lên mạng tìm kiếm thêm thông tin về chị Brenda. Khi đọc trang wikipedia về chị, mình tim thấy bài viết về nghệ thuật nghe rất hay này.

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

.

Kể với mình nhiều hơn đi
Về nghệ thuật nghe tinh diệu

    Brenda Ueland

ListeningToTheBird

Tôi muốn viết về điều vĩ đại và mạnh mẽ của lắng nghe thực sự. Và chúng ta lãng quên chuyện đó như thế nào. Và chúng ta không nghe thấy con cái chúng ta, hay những người ta yêu thương như thế nào. Và điều ít nói đến nhất – điều cũng thật là quan trọng – lắng nghe những người ta không yêu thích. Nhưng chúng ta nên lắng nghe. Bởi lắng nghe là một điều kỳ lạ và đầy hấp lực, một lực sáng tạo. Nghĩ thế nào, nhưng những người bạn thực sự lắng nghe chúng ta là những người chúng ta đến gần, và chúng ta muốn ngồi trong bán kính của họ, như thể như vậy là tốt cho ta, như những tia cực tím.

Đây là lý do: khi chúng ta được lắng nghe, sự lắng nghe sáng tạo ra chúng ta, khiến ta hé mở và trải rộng ra. Những ý tưởng bắt đầu lớn lên trong lòng chúng ta và đi đến sự sống. Bạn biết thế nào mà khi một người cười với câu đùa của bạn, bạn trở nên hài hước và hài hước thêm, và nếu anh ý không cười, mọi chút đùa vui bé tí trong bạn yếu đi và chết. À, đấy là nguyên lý của vấn đề. Mọi người hạnh phúc và tự do khi được lắng nghe. Và nếu bạn là một người lắng nghe, đó là bí mật để có một thời gian hạnh phúc trong xã hội (bởi mọi người quanh bạn trở nên sống động và thú vị), làm người khác yên ổn, làm người khác tốt đẹp.

Ai là những người bạn đến để xin lời khuyên? Không phải đến những người cứng rắn, thực tế, người có thể nói với bạn chính xác điều cần làm, mà đến những người lắng nghe; đó là, những người tử tế nhất, ít chỉ trích nhất, ít ông chủ nhất mà bạn biết. Đó bởi vì khi rót vấn đề của bạn ra cho họ, tự chính bạn sẽ biết làm gì với vấn đề đó.

Khi chúng ta lắng nghe người khác, có một dòng điện xoay chiều, và dòng điện này sạc điện chúng ta, và chúng ta không bao giờ cảm thấy mệt vì nhau. Chúng ta luôn luôn được tái tạo. Bây giờ, có những người xuất chúng, nhưng không thể lắng nghe được nhiều. Họ không có đường dây chạy vào trên cỗ máy của họ. Họ rất vui thú, nhưng cũng làm kiệt sức. Tôi nghĩ đến những người giảng bài, những người trình diễn thật xuất sắc, bằng cách không cho chúng ta một cơ hội để nói, không để cho chúng ta diễn tả ý nghĩ và lớn lên. Chính dòng suối sáng tạo nhỏ bé trong chúng ta bắt đầu lớn lên và cân nhắc những ý tưởng mới, với những nụ cười và trí tuệ bất ngờ.
art-conversation
Dòng suối sáng tạo nhỏ bé này ở trong mỗi chúng ta. Đó là linh hồn, hay trí thông minh, hay trí tưởng tượng – dù bạn gọi nó với tên nào. Nếu bạn rất mệt mỏi, căng thẳng, không có thời gian một mình, làm nhiều việc vặt quá, nói với quá nhiều người, uống quá nhiều rượu, dòng suối nhỏ bé này bị vẩn đục và bị che phủ bởi rác rưởi. Kết quả là bạn dừng lại không sống từ trong tâm, tức là dòng suối sáng tạo, và bạn sống trên vùng chu vi, từ những thứ bên ngoài. Đó là, bạn tiếp tục chỉ dựa thuần túy trên lực của ý trí mà không có trí tưởng tượng.

Khi người khác lắng nghe chúng ta, với sự chú ý yên lặng và cuốn hút, dòng suối nhỏ bé đó mới bắt đầu làm việc lại, tăng tốc lên theo một cách bất ngờ.

Tôi khám phá ra điều này khoảng ba năm về trước, và thực sự nó tạo ra một thay đổi mang tính cách mạng trong cuộc sống của tôi. Trước đó, khi tôi đi đến một bữa tiệc, tôi nghĩ một cách bồn chồn, “Bây giờ cố gắng thật nhiều. Sống động lên. Nói những điều thật sáng. Nói. Không nghỉ.” Và khi mệt rồi, tôi phải uống thật nhiều café để giữ phong độ.

Bây giờ trước khi đi đến một bữa tiệc, tôi đơn giản bảo với chính mình là lắng nghe với sự yêu mến tới bất kỳ ai nói chuyện với tôi, đứng trong đôi giầy của họ khi họ nói, cố biết về họ mà không để trí óc tôi áp đặt trí óc họ, hay tranh luận, hay đổi chủ đề. Không, thái độ của tôi là “Kể với mình nhiểu hơn đi. Người này đang cho tôi thấy tâm hồn của anh ấy. Cuộc nói chuyện có một chút khô khan, và nhàm và trệu trạo bây giờ, nhưng hiện thời anh ấy bắt đầu nghĩ, không chỉ tự động nói. Anh ấy sẽ trình bày con người thật của chính anh ấy. Rồi anh ấy sẽ sống động một cách tuyệt vời”.

Đôi khi, tôi không thể lắng nghe cũng như những người khác. Nhưng khi tôi có năng lực lắng nghe này, người ta quây lấy tôi và đầu họ hướng về phía tôi như thế bị kéo không thể cưỡng lại nổi. Không phải bởi mọi người tự cao và họ muốn khoe khoang mà họ bị kéo về phía tôi. Đó bởi vì bằng cách lắng nghe, tôi đã kích hoạt dòng suối sáng tạo của họ. Tôi làm họ hạnh phúc.
listening
Bây giờ, tại sao lắng nghe làm họ hạnh phúc? Tôi có một khái niệm huyền bí về chuyện này. Tôi nghĩ chỉ bằng cách biểu cảm ra ngoài tất cả những gì ở trong mà những dòng suối trong trẻo hơn và trong trẻo hơn chảy đến. Cũng như vậy với viết lách. Bạn được dạy ở nhà trường là viết xuống giấy những điều tươi sáng. Sai. Đổ xuống giấy những thứ tẻ nhạt nữa – bạn sau đó có thể xé chúng đi – bởi chỉ khi đó những điều tươi sáng mới tới. Nếu bạn giữ lại những điều tẻ nhạt, bạn cũng chắc chắn giữ lại những điều trong trẻo, đẹp đẽ và chân thật và sống động. Cũng như vậy với những người không được lắng nghe theo cách đúng – với sự yêu mến và một chút hứng khởi vui vẻ. Dòng suối sáng tạo của họ đã bị đóng kín. Chỉ những câu nói hời hợt đi ra ngoài – nhưng cái khách sáo hay tuôn trào hay thuần túy bồn chồn. Chẳng ai đã kêu chúng ra ngoài, bằng lắng nghe tuyệt vời, những cái chân thật và sống động.

Tôi nghĩ phụ nữ có năng lực lắng nghe tốt hơn nam giới. Đấy không phải là lỗi của nam giới. Họ thua về lắng nghe bởi thói quen lâu dài của họ trong nỗ lực kinh doanh, xác định bản thân. Và những người đàn ông càng mạnh mẽ, càng ít hơn khả năng lắng nghe khi họ lớn tuổi. Và đó là tại sao phụ nữ nói chung vui vẻ hơn nam giới, thư thái hơn và hứng khởi hơn.

Bây giờ, khả năng không lắng nghe được của những người đàn ông có năng lực là nguyên nhân của những điều buồn rầu nhất trên thế giới – sự cô đơn của những người cha, của những người đàn ông trầm lặng buồn, người di chuyển quanh những đứa con đã trưởng thành như những bóng ma xa xôi. Khi cha tôi hơn 70 tuổi, ông là một người đàn ông rực lửa, hài hước và đáng ngưỡng mộ, một học giả, một người đàn ông đầy uy lực. Nhưng ông nằm sâu thẳm trong nỗi cô đơn của tuổi giả và của một thế hệ khác. Ông ấy rất thích tôi. Nhưng ông ấy không thê nghe thấy tôi – không từ nào tôi nói ra, thật đấy. Tôi chỉ là một khán giả. Tôi có thể quanh hồ với ông vào một buổi chiều đẹp và ông có thể nói với tôi về Đác uyn và Huxley và những phê phán cấp cao về Kinh Thánh.

“Vâng, con thấy rồi, con thấy rồi” tôi liên tục nói vậy và cố giữ cho trí óc níu chặt vào điều đó, nhưng tôi bồn chồn và chán. Có một cảm giác không thể làm gì khác được bởi vì ông không thể nghe thấy cái tôi có để nói về chủ đề nói chuyện. Khi tôi nói tôi thấy chính tôi la to, như một người nói với một người nước ngoài, và trong một trạng thái kiểu tuyệt vọng rằng ông không thể nghe thấy tôi. Sau chuyến đi dạo, tôi cảm thấy rằng tôi đã rũ xong trách nhiệm và tôi háo hức muốn để ông ổn định và ngồi tựa trên chiếc ghế kiểu Morris của ông, để tôi có thể đi ra ngoài và có một thời gian sống động hơn với những người khác. Và ông thở dài và nhìn theo tôi lơ đãng với sự cô đơn không hiểu rõ được.
listening1
Gần đây, một người đàn ông tôi không gặp tới 20 năm nay viết thư cho tôi: “Chú có một gia đình với những đứa con trưởng thành cả. Cũng như cha cháu đã có. Những đứa con chẳng bao giờ gặp ông ấy. Không phải trong những ngày ông còn sống. Không phải trong những ngày ông là người đàn ông sâu sắc và đáng ngưỡng mộ và chúng ta đều biết. Đó là cuộc đời của đàn ông. Lần sau cháu gặp chú, cháu sẽ biết mọi chuyện. Đơn giản là đến với cha cháu lần nữa, cố với tới, trở lại với thế giới của những người ông yêu.”

Vậy khi tôi gặp lại người đàn ông này, điều gì đã xảy ra với ông sau 20 năm? Ông là một người đàn ông mạnh mẽ một cách không bình thường và đã kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng ông đã mất khả năng lắng nghe. Ông nói nhanh và kể những câu chuyện tuyệt vời và thật tuyệt làm sao khi được nghe chúng. Nhưng khi tôi nói – vì không thể ngồi yên được, “Cháu truyền tay cho chú cái đó chứ?… Cái tẩu của chú đâu?” Đó chỉ là một thói quen. Ông đọc nhiều sách không kể xiết và hào hứng đón nhận những ý tưởng mới, nhưng ông đơn giản không thể lắng nghe ai.

Vậy đây là điều tôi làm. Tôi đã kiên nhẫn hơn – tôi không kháng cự bài nói chuyện một chiều của ông như tôi làm với bố tôi. Tôi lắng nghe và lắng nghe ông, không khi nào ấn ngược lại ông, ngay cả trong ý nghĩ, với sự xác nhận của tôi, tôi nói với chính mình “Ông ấy đã ở dưới áp lực đẩy lái hàng năm ròng. Gia đình ông đã chống lại cách nói của ông. Nhưng bây giờ, bằng cách lắng nghe. Mình sẽ kéo tất cả ra khỏi ông. Ông phải nói tự do liên tục và liên tục. Khi ông đã được thực sự lắng nghe đủ đầy, ông sẽ trở nên thanh tĩnh hơn. Ông sẽ bắt đầu muốn nghe thấy tôi.”

Và ông đã, sau vài ngày. Ông bắt đầu đặt câu hỏi cho tôi. Và chỉ ngay sau đó tôi nói nhẹ nhàng, ‘Chú thấy đấy, đã trở nên khó để chú lắng nghe”.

Ông ngừng lại chết cứng và trừng mắt nhìn tôi. Và bởi vì tôi đã lắng nghe với sự thông cảm hoàn toàn, bị thu hút hoàn toàn, không chỉ trích, không có chút dấu vết nào của sự chán hay thiếu kiên nhẫn, mà ông bây giờ tin tưởng và tin cậy tôi, mặc dù ông không biết điều này.

“Nói đi”, ông nói. “Kể với chú về điều đó. Nói với chú về điều đó”.

À, chúng tôi đi dạo tới dạo lui qua bãi cỏ và tôi nói với ông ý kiển của tôi về chuyện này.

“Chú yêu các con chú, nhưng có lẽ chú không để chúng vào lòng. Trừ khi chú lắng nghe, mọi người bị khô héo đi trong sự hiện diện của chú; họ trở nên một phần ba của chính họ. Trừ khi chú lắng nghe, chú không thể biết ai cả. Ồ chú sẽ biết về những dữ kiện và những gì trên báo và tất cả lịch sử, có lẽ, nhưng chú sẽ không biết một con người nào cả. Chú biết đấy, cháu đã đi đến chỗ nghĩ rằng lắng nghe là tình yêu, đó là điều lắng nghe thực sự là.”
artoflistening
À, tôi không nghĩ tôi đã viết bài viết này nếu những ý kiến của tôi không có một tác động khủng khiếp với người đàn ông này. Bởi ông nói những ý kiển của tôi đã thay đổi toàn bộ cuộc đời của ông. Ông viết cho tôi rằng đám con của ông ngay lập tức đến gần với ông hơn; ông kinh ngạc thấy chúng ra sao, độc đáo làm sao, độc lập và can đảm làm sao. Vợ của ông có vẻ thực sự quan tâm tới ông trở lại, và họ thực sự nói với nhau về đủ loại chuyện và làm nhau cười ồ.

Cũng như bi kịch của cha mẹ và con cái là không lắng nghe, cũng bi kịch đó với vợ và chồng. Nếu họ không đồng ý họ la hét ngày càng to hơn – nếu không ở bên ngoài, ít nhất ở trong lòng – níu chặt một cách dữ tợn và câm điếc vào ý kiến của chính họ, thay vì lắng nghe và trở nên lắng yên hơn và lắng yên hơn và chịu hiểu hơn. Nhưng kết quả nghiêm trọng nhất của không lắng nghe là điều tồi tệ nhất thế giới, buồn chán tẻ nhạt; bởi đó thực sự là cái chết của tình yêu. Nó ngăn cách con người xa nhau hơn bất kỳ điều gì khác. Tôi nghĩ đó là lý do những cặp lấy nhau cãi lộn. Cãi lộn cắt xuyên qua chuyện không giao tiếp và buồn chán. Bởi vì khi những cảm xúc bị tổn thương, họ bắt đầu thực sự lắng nghe. Cuối cùng, cuộc nói chuyện của họ là trao đổi qua lại thực sự. Nhưng tất nhiên, họ đang gây thương tích cho hôn nhân của họ mãi mãi.

Ngoài chuyện lắng nghe phê phán, có một loại lắng nghe nữa cũng chẳng tốt, lắng nghe thụ động, chỉ trích. Đôi khi những ông chồng có thể là loại người nghe này, một kiểu người nghe trộm keo kiệt, người mà trong đầu (hay nói ra ngoài) liên tục nói khi bạn nói “bùm chíu chát bùm”.

Bây giờ, lắng nghe như thế nào? Nó khó hơn bạn tưởng. Tôi không tin gì vào lắng nghe phê phán, bởi điều đó đặt một người vào chiếc áo khoác bệnh điên của sự do dự. Anh ấy bắt đầu chọn lựa từ ngữ nghiêm trọng hay chải chuốt. Dòng suối nhỏ của anh không thể tuôn trào. Những người lắng nghe phê phán làm khô héo bạn. Nhưng những người lắng nghe sáng tạo là những người muốn chính bạn mạo hiểm bất cần, ngay cả ở tình trạng xấu nhất của bạn, ngay cả chửi rủa phí báng, tâm trạng tồi tệ. Họ cười và chỉ vui vẻ với bất kỳ biểu lộ nào của chính bạn, xấu hay tốt. Bởi những người lắng nghe thực sự biết rằng nếu bạn ở tâm trạng xấu, điều đó không có nghĩa là bạn sẽ luôn như vậy. Họ không yêu bạn chỉ khi bạn dễ chịu; họ yêu tất cả của bạn.

Để học lắng nghe, đây là một số gợi ý: cố học sự thanh tĩnh, sống trong thực tại một phần thời gian mọi ngày. Đôi khi nói với chính mình, “Bây giờ, cái gì đang xẩy ra? Người bạn này đang nói. Tôi yên lặng. Có một khoảng thời gian bất tận. Tôi nghe thấy, từng câu chữ.” Và rồi bất chợt bạn bắt đầu nghe thấy không chỉ những gì người ta nói, mà những gì họ đang cố nói, và bạn cảm giác được sự thật toàn bộ về họ. Và bạn cảm giác được sự hiện hữu, không phải một mẩu, không phải đối tượng này và kia, mà như một tổng thể.

Và quan sát sự khẳng định chính mình. Và rũ bỏ nó đi. Cố đừng uống quá nhiều ly rượu cocktail đẻ bỏ đi cái năng lượng bồn chồn mà cứ cảm giác như náng lượng và trí khôn nhưng có lẽ chẳng là cái nào.Và nhớ rằng không đủ chỉ là ý chỉ muốn lắng nghe người khác. Người ta phải thực sự lắng nghe. Chỉ khi đó, phép lạ mới bắt đầu.

Đôi khi người ta không thể lắng nghe bởi vì họ nghĩ nếu họ không nói, họ chẳng là gì về mặt xã hội. Có những phụ nữ với kiểu luyện khiêu vũ ballroom cổ điển mà luôn đòi hỏi rằng phải có sự hào hứng không nghỉ và cuộc nói quay tròn. Nhưng đây thực sự là sự căng thẳng với mọi người.

Không. Chúng ta tất cả nên biết điều này: rằng lắng nghe, không phải nói, là vai trò đầy năng khiếu và vĩ đại,và vai trò đầy tưởng tượng. Và người lắng nghe thực sự đáng tin hơn nhiều, cuốn hút nhiều hơn người nói, và anh ấy hiệu quả hơn, và học được nhiều hơn và làm người khác vui tốt đẹp hơn. Và do đó thử lắng nghe. Lắng nghe vợ bạn, chồng bạn, cha bạn, mẹ bạn, con cái bạn, bạn bè bạn, nghe những người yêu quý bạn và những người không như vậy, nghe những người làm bạn chán, nghe kẻ thù của bạn. Lắng nghe sẽ tạo ra sự kỳ diệu nhỏ. Và có lẽ một sự kỳ diệu vĩ đại.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Ngôn ngữ thân thể–Mới gặp nhau

Phụ nữ học bắt tay
Phụ nữ học bắt tay

Chào các bạn,

Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào thân ngữ, thỉnh thoảng một bài. Bài đầu tiên chúng ta đã nhắc đến thân ngữ là Ngôn ngữ của cơ thể , sau đó là một ít trong bài Phỏng vấn tuyển việc. Chúng ta sẽ bắt đầu dùng từ “thân ngữ” song song với “ngôn ngữ thân thể”, vì “ngôn ngữ thân thể” là một cụm từ quen thuộc, nhưng quá rườm rà. Hy vọng mọi người sẽ dần dần quen với từ “thân ngữ” ngắn gọn hơn. Trong bài này, chúng ta nói đến thân ngữ sữ dụng trong buổi gặp mặt đầu tiên.

Hôm nay, bạn đóng vai chị Xuân, giám đốc tiếp thị của công ty quảng cáo Rền Vang đến gặp ông Cường, giám đốc điều hành công ty đồ trang trí nội thất Nhà Đẹp , tại văn phòng của ông. Cuộc họp đã được lên lịch cho 9 giờ sáng ngày hôm nay. Nhiệm vụ của bạn là tìm hiểu nhu cầu quảng cáo của Nhà Đẹp và trình bày một số đề nghị quảng cáo. Bạn và ông Cường chưa gặp nhau bao giờ.

• Nếu văn phòng thường mở cửa 8 giờ sáng, thì 9 giờ sáng là giờ làm việc mạnh nhất. Lúc này bụng còn no nhờ ăn sáng, và cũng đã có được 1 tiếng đồng hồ để “nóng máy” rồi, nên làm việc rất tốt. Giờ sau khi ăn trưa cũng tốt, nhưng giờ hẹn trước giờ nghỉ trưa, hoặc trễ vào buổi chiều khi mọi người đã mệt, thì không nên.

• Bạn nên đến trước 5 phút, và nói với cô thư ký của ông Cường là bạn có hẹn 9 giờ, bạn chỉ đến sớm một tí để tránh kẹt xe mà thôi. Mục đích là để cô thư ký và ông Cường không cảm thấy bị bạn hối thúc, trong khi thầm cảm ơn bạn đã rất quan tâm vào cuộc họp. Nhớ là nên lễ độ với cô thư ký. Trong việc nhận xét người, các giám đốc luôn luôn coi trọng ý kiến của thư ký vì “Hmm… bà ấy xem ra rất lễ độ với mình, nhưng thực ra xem thường những người không quyền hành.”

Nếu cô thư ký mời trà, thì nên cám ơn là không khát, để cô ấy khỏi phải pha trà cho bạn (Thư ký không mấy say mê làm việc vặt cho người lạ). Trong khi ngồi chờ, đừng cắm cúi đọc sách, nhưng quan sát khung cảnh trong phòng, bởi vì các quan sát này có thể cho bạn ánh sáng sáng tạo, hơn nữa nó cũng làm cho bạn sống động và thân thiện hơn. Gặp bất cứ người nào đi ngang qua cũng gật đầu khẻ và mỉm cười, vì bạn không biết ai sẽ dự phần trong quyết định ký hợp đồng. Hơn nữa, biết đâu một trong những người đi qua là ông Cường.

• Khi ông Cường ra, theo lễ nghĩa đông phương, thì bạn nên nhường người chủ nhà (và nhất là người lớn tuổi hơn) chìa tay ra trước, rồi bạn mới chìa tay ra để bắt. Tuy nhiên nếu người ấy có vẻ như không bắt tay, thì bạn nên chủ động đưa tay ra bắt, vì bạn phải chứng tỏ là bạn có bản lĩnh làm quân sư, và vì bắt tay thường có hiệu lực kéo người ta lại gần nhau hơn. Nếu là ông Cường là người tây phương (Mr. Smith), thì bạn nên chủ động đưa tay ra trước.

Bắt tay

Chỉ bắt một tay lúc này, nhất là giữa hai người Việt, và nhất là khi bạn là phụ nữ. Tí nữa ta sẽ nói khi nào có thể bắt hai tay, nhưng lúc này là lúc phải một tay. Tay bắt chặt, miệng mỉm cười, mắt nhìn vào mặt hay tốt nhất là vào mắt ông Cường, hơi gật đầu và khom lưng (chỉ một chút xíu) thì tốt. Khi gật đầu và khom lưng (một tí) thì mắt liếc xuống theo đầu, vì gật đầu khom lưng nhưng mắt cứ nhìn vào mắt đối phương là mắt của con nhà võ, không tin đối thủ, không rời mắt đối thủ một giây. Đợi ông Cường buông lỏng tay trước khi bạn buông, để tỏ lòng thân thiện. Đừng buông tay trước.

• Vào phòng, ta là khách thì cái gì cũng để chủ nhân đi trước; điều này đúng ở mọi nơi trên thế giới. Đừng ngồi sớm. Đợi khi người chủ bước đến ghế ngồi của ông ta, và vì là chủ, ông ta sẽ mời bạn ngồi trước, lúc đó mới nên ngồi. Và nếu ông ta mời trà, lúc đó nên, “Cám ơn anh. Cho em xin.” Mời trà mà từ chối là rất thất lễ, dù là người ta hoàn toàn không nghĩ thế thì trong tiềm thức người ta cũng có thể cảm thấy bị “chối bỏ.” Hầu như trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới, khi người chủ mời các nghi lễ thân thiện, như trà nước, người khách không nên từ chối. Trong một số nền văn hóa, từ chối là một xúc phạm rất lớn. Lúc này, ông Cường có thể sẽ gọi cô thư ký của ông pha trà cho bạn, nhưng thực ra cô ấy pha trà cho ông chủ cô ấy, chứ không phải cho bạn, cho nên cô ấy sẽ rất vui vẻ pha trà.

• Tất cả các lối xưng hô ta không dùng hàng ngày mà chỉ dùng trên các công văn đọc rất chán, như tôi, ông, giám đốc, thưa ông, v.v… là ngôn ngữ không thể dùng trong giao tiếp hàng ngày. Văn hóa Việt Nam là văn hóa xưng hô gia đình — anh, chị, em, cô, chú, dì, cháu, mình, v.v… Tùy tình thế mà lựa chữ. Tuy nhiên, nếu gặp người lớn tuổi hơn nhưng không chắc là phải gọi là gì, thì cứ mạo hiểm “chị” hoặc “anh” là chắc ăn nhất, vì thà là lầm từ chú cô xuống anh chị, hơn là lầm anh chị thành cô chú. Gọi bằng chức vị, như là “Chào ông giám đốc”, theo ý mình, là người rất kém ngoại giao, không nên cho làm tiếp thị.

Ngay cả khi gặp người ngoại quốc mới lần đầu, mình cũng chỉ nên chào bằng tên họ, như là “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” chứ không nên dùng chức vị. Nếu bạn nói tiếng Anh, thì nên có “How do you do?” trong câu chào như trên. Đây là cách chào trịnh trọng và quí phái, không phải là câu hỏi, nên không có câu trả lời. Ví dụ: Ông Smith và cô Brown gặp nhau. Ông Smith chào, “Good morning, Miss Brown. How do you do?” Cô Brown chào lại, “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” Ngay cả khi người ta không nói “How do you do?” mình cũng có thể nói được.

Và khi một người ngoại quốc chào mình bằng tên họ, “Good morning, Ms. Trần,” mình nên cho phép họ gọi mình bằng first name cho thân mật, “Good morning, Mr. Smith. My first name is Xuân. Please call me Xuân, just plain Xuân.” Ngay khi người ta gọi mình bằng first name, nhưng lại có Mr. hay Miss trước, thì mình cũng có thể dùng câu trên để cho phép họ gọi mình chỉ là “Xuân” thân mật. Nhưng đừng tự động gọi họ bằng first name, cho đến khi họ cho phép mình rõ ràng. Và cũng đừng nên hỏi “May I call you by your first name?”

• Trong các cuộc họp đông người với quan chức Việt Nam có một lễ nghi đặc biệt, là mới gặp nhau bắt tay xong, hoặc ngồi xuống xong, là mọi người trao đổi danh thiếp. Điều này có lẽ sinh ra từ tiện nghi—phải làm thế thì mọi người mới biết ai là ai. Tuy nhiên, trong những cuộc họp ít người không nên làm thế. Dùng thời gian quý hóa “ban đầu” để nói chuyện “hâm nóng” một tí như là “Cám ơn anh. Em biết anh rất bận. Anh dành thời giờ cho em như thế này thật là quí hóa.”

Bắt tay

• Ngồi thì nên ngồi thoải mái, vắt chân thường rất tốt, nhưng không bao giờ nên tựa ra sau như là “tôi muốn tránh xa ông”, mà nên chồm người về phía trước theo kiểu “tôi muốn gần ông, tôi muốn chăm chú nghe ông nói.”

• Dù là loại họp nào thì mình cũng phải quan tâm đến điều người ta cần–nhu cầu gì, khó khăn gì, giới hạn gì–rồi sau đó mới tìm cách giải quyết được. Điều thân chủ cần trước tiên luôn luôn là một quân sư biết lắng nghe và hỏi. Chưa nghe kỹ và hỏi kỹ, mà đã cho câu trả lời và giới thiệu sản phẩm, thì đó là bán hàng rong, chứ không phải là việc của quân sư. Tất cả mọi thân chủ chỉ thích một loại quân sư—loại nghe kỹ và hỏi kỹ.

• Nếu thân chủ nói một câu có vẻ thử thách, “Sao em thấy trẻ quá vậy? Em ra trường lâu chưa?” thì trước hết là phải để ý rằng người bị thử thách hay rung đùi, hoặc nhịp bàn tay, hoặc vân vê các ngón tay, hoặc mỉm cười lạnh lùng, hoặc liếc mắt xuống đất. Phải tránh các điều này. Tập nghe các câu thử thách một cách tích cực, với ý nghĩa, “Anh muốn biết thêm một tí về em. Em nói đi.” Và mỉm cười trả lời rất vui, “Cám ơn anh. Em đi đâu cũng được khen trẻ. Em rất thích. Thực ra em ra trường cũng … năm rồi, và em đã làm một số dự án lớn cho FPT, Canon, Sony. Mấy dự án nầy đều có trong website của công ty em. Và em cũng không làm một mình anh ạ. Lại có cả một đội làm việc với em trong mọi dự án.”

• Khi nói chuyện thì để ý đến thân ngữ của thân chủ. Nếu ông ta không chú ý nhìn mình, mà lại liếc ngang liếc dọc, nhất là nhìn đồng hồ, thì hãy ngưng mọi chuyện và hỏi, “Hình như anh đang đợi gì đó ạ? Em có làm phiền anh không?” Câu này có rất nhiều ý. Thứ nhất, em xin lỗi nếu em đã phiền anh. Thứ hai, em rất ý tứ. Thứ ba, khi em nói thì anh phải lắng nghe, nếu không thì em không nói nữa. Thứ tư, nếu lúc này anh không nghe em được, thì em muốn biết để em xin cái hẹn khác, hoặc nói chuyện với với phụ tá của anh vậy. Dù là ý nào đi nữa, thì đó là một xi-nhan rất đứng đắn và chuyên nghiệp.

• Trước khi đứng dậy ra về, nhớ trao đổi danh thiếp. Nếu thân chủ đứng dậy bước ra, hãy chờ ông ta đến bước cửa trước, mình theo sau. Và đến cửa, thì người chủ thường đứng đó, mời mình bước ra cửa trước, lúc đó hãy bước ra. Các cử chỉ này chứng tỏ là, “Tôi thích ở lại đây càng lâu càng vui.”

• Cái bắt tay cuối cùng có thể như là cái bắt tay ban đầu. Nhưng bây giờ đã thân mật hơn được một tí, ta có thể dùng cách bắt hai tay rất hay của người Việt Nam—bắt một tay như bình thường, chắc chắn, và dùng bàn tay kia đặt lên trên chổ hai bàn tay đang bắt, rất ấm áp. Cách này nếu dùng với người tây phương thì cực hay. Dùng với người Việt cũng rất tốt, và dùng được cho cả người lớn hơn và nhỏ hơn.

Không nên, tay này bắt và tay kia nắm cổ tay người nọ. Cách bắt tay đó chỉ có thể dùng với bạn thân, hoặc là người dưới mình. Nếu thân chủ bắt tay kiểu đó, có nghĩa là ông ta xem mình như người dưới ông ta. Đó chưa hẳn là điều xấu, vì nó có thể là “em sẽ làm việc cho tôi” hay “tôi xem em như em của tôi.” Cứ theo hướng đó mà suy nghĩ.

• Nếu gặp người Thái Lan, thay vì bắt tay, nên chắp tay cúi đầu theo lối nhà Phật thì tốt hơn.

Nếu gặp phụ nữ Trung Đông, mà mình là đàn ông, thì nên hỏi trước: “May I shake your hand?” bởi vì Hồi giáo cấm phụ nữ bắt tay đàn ông. Và khi chào người Trung Đông, kể cả người không phải Hồi giáo, ta nên nói, “Assalamu Alaikum” (phát âm như tiếng Việt) (Bình an ở cùng anh), và người kia sẽ trả lời, “Wa alaikum assalam” (Và ở cùng anh).

• Dù là làm gì đi nữa, thì cũng nên nhớ câu “thần chú” đã nói trong bài Ngôn ngữ của thân thể: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Trước khi vào gặp thân chủ, ta phải tập trung tư tưởng để nghĩ rằng, “Đây là người muốn mình cố vấn giúp đở, nhiệm vụ của mình là xem ông ta như là chủ của mình, phải hiểu được tất cả những khó khăn của ông ấy để giúp ông ấy.” Tức là, xem như mình là phụ tá tay phải của thân chủ; đừng nghĩ mình là người bán hàng. Chính tư tưởng này sẽ điều khiển mọi lời nói và cử chỉ của mình, kể cả ngôn ngữ thân thể.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Những giọt nước hôm nay

Chào các bạn,

Chúng ta thường mong muốn làm được điều gì đó to tát để đóng góp cho đời, để làm cho cuộc đời của chính mình có ý nghĩa hơn, và để làm cho thế giới này được tốt đẹp hơn. Và ta hy vọng rằng một ngày nào đó ta sẽ có đủ kiến thức và năng lực để làm được điều đó. Nhưng, ta lại thường không biết rằng “ngày nào đó” là ngày hôm nay, “kiến thức và năng lực sẽ có” là kiến thức và năng lực đã có ngày hôm nay, và “điều gì to tát đó” là những điều rất nhỏ ta đang làm hôm nay.

Bạn có biết điều gì phân biệt nghệ sĩ bậc thầy và người mới tập sự không? Thưa, chi tiết. Ai trong chúng ta cũng có thể hát một bản nhạc đúng nốt, nghe trong các tiệc sinh nhật ở nhà cũng rất hay. Sự khác biệt giữa ta và các ca sĩ hàng đầu không phải là những dòng nhạc, hay ngay cả nốt nhạc, mà là một ít luyến láy chỗ này, một tí nhấn mạnh chỗ kia, một tí dài hơn chỗ nọ. Tất cả những cái “một tí” đó làm cho ca sĩ hàng đầu là ca sĩ hàng đầu. Viết văn cũng thế, ai lại viết không được? Nhưng chỗ này thêm một dấu phẩy, chỗ kia bớt một dấu chấm, chỗ nọ bớt đi chỉ một từ, làm cho lời của nhà văn khác với bài luận của học trò. Võ sinh mới đai xanh vẫn có thể đi một bài quyền thuần thục mà người ngoài thấy không khác võ sư, nhưng nhẹ chỗ này một tí, mạnh chỗ kia một tí, chậm chỗ nọ một tí, nhanh chỗ kia một tí, sẽ cho các võ gia biết ai là sư phụ, ai là đệ tử. Trong tất cả mọi nghệ thuật, mọi nghề nghiệp, mọi kỹ năng, sự khác biệt giữa thầy và trò luôn luôn nằm trong các điều nhỏ bé, ngoài ra thì không còn khác biệt nào khác.

Cho nên nếu ta đợi đủ năng lực để làm được điều to tát, điều to tát đó không bao giờ tới, vì thực ra không có điều to tát, mà chỉ có những điều nhỏ cộng lại mà thôi. Đại dương không tự nó mà có được, đại dương chỉ là các giọt nước tụ lại mà thành. Thế thì, cái to tát của đời ta, đại dương của đời ta, từ đâu mà đến, đến tự lúc nào? Dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết câu trả lời, “Đại dương của ta đến từ những giọt nước, của hôm nay.”

Giọt nước
Giọt nước

Vậy, những giọt nước hôm nay là gì? Và ta đang làm gì để tích tụ chúng?

Ngay ở đầu bài, ta nói ta muốn làm đời sống mình có ý nghĩa hơn và thế giới tốt đẹp hơn? Thế giới là một từ rất trừu tượng. Rất khó để ta ở Thanh Hóa và làm cho thế giới ở Nam Phi tốt đẹp hơn. Cho nên tất cả những từ trừu tượng ta nói đến hàng ngày, ta phải biết cụ thể hóa chúng. Hãy đổi “thế giới” thành “thế giới của tôi.” Thế giới của tôi là chính tôi và những ngưởi tôi thân quen và giao tiếp hằng ngày. Ta đang làm gì hằng ngày để làm thế giới của ta tốt đẹp hơn? Dễ quá, cứ mang những bông hoa nhỏ cắm cùng khắp thế giới của ta hằng ngày, thì thế giới của ta sẽ tốt đẹp hằng ngày, phải không? Rất giản dị!

Nhưng những bông hoa nhỏ đó là gì? Ồ, hãy để óc sáng tạo của bạn tự tìm câu trả lời. Sáng tạo không có giới hạn, sáng tạo là cánh hải âu có thể lao sâu vào lòng biển hay vươn qua các tầng trời. Nhưng chưa cần đến sáng tạo, chỉ cần ở mức tù mù là ai cũng đã biết câu trả lời: Những đóa hoa nhỏ là những nụ cười với ông chủ quán phở quen, những cái gật đầu chào em bé hàng xóm, những hỏi han đầu ngày với vợ con trong nhà, những câu cám ơn với cô tính tiền trong tiệm tạp hóa, những lá thư cám ơn chỉ hai ba chữ trong một diễn đàn trên mạng, một truyện vui kể cho các bạn, một bức ảnh dễ thương gửi đến bạn bè.

Đây thực sự là những chuyện rất tự nhiên, rất nhỏ, đến nỗi nhiều người trong chúng ta quên bẵng đi, hoặc nếu có nhớ thì cũng cho đó là chuyện không đáng kể. À, nếu cho rằng chúng không đáng kể và ta không cần phải chú tâm vào đó, tức là ta chưa có được cái nhìn sắc bén của nghệ sĩ bậc thầy. Mẹ Tê-rê-sa nói, “Hãy trung thành với những điều nhỏ bé, vì đó là nơi chứa đựng sức mạnh của bạn.”

Bây giờ mình trình bày một vài ví dụ để chúng ta thấy nhỏ và lớn. Nếu sáng nào bạn cũng làm một việc rất nhỏ là gọi điện thoại đến nàng và “Chúc em một ngày tốt đẹp” rồi cúp máy, vậy thì đó là chuyện nhỏ hay chuyện lớn? Nếu bạn còn chưa biết câu trả lời, thì hỏi nàng đi. Nếu ngày nào trên đường đi bộ đến trường, đi ngang quán cà phê, bạn cũng mở của, ló đầu vào, vẫy tay chào ông bạn là chủ quán, rổi đi tiếp, thì đó là chuyện nhỏ hay lớn đối với ông ta vậy?

À, để mình kể cho các bạn nghe một chuyện rất nhỏ nhé. Hơn một năm trước đây, lúc mẹ mình còn ốm nặng (trước khi qua đời). Ngày nọ mình đưa mẹ vào bệnh viện, và một lần đi thang máy, trong đó chỉ có mình và một người đàn bà khoảng hơn 40. Chị này đang đọc tờ giấy gì đó và khóc. Rõ ràng là chị ta cũng không nhớ hoặc không biết là mình đang đứng bên cạnh. Mình nghĩ, “Chắc là tờ giấy đó liên hệ đến ung thư hay AIDS của chị hay ai đó trong nhà,” và mình nghĩ tiếp, “Thật là chị này đang đau khổ vô cùng, mình phải làm cái gì đó để an ủi chị ấy.” Mình đợi đến khi thang máy ngưng và mở cửa, mình đặt bàn tay mình rất nhẹ trên cánh tay của chị ấy và nói: “Dù là chuyện gì đó, chị cũng sẽ OK. Thượng đế ở cùng chị.” (Whatever that is, you will be OK. God is with you). Đây chỉ là một câu nói rất hàng ngày ở Mỹ, chỉ có chạm tay người lạ là không nên—nhưng lại rất cần thiết để an ủi–vì vậy mình phải đợi cửa mở mới làm. Chị ấy nhìn mình, và chỉ trong vòng 2 giây đồng hồ, khuôn mặt chị ấy biến đổi từ cực kỳ đau khổ sang một nụ cười (còn đẫm nước mắt) tràn đầy bình an hạnh phúc. Mình chưa bao giờ thấy được một khuôn mặt biến đổi nhanh đến như thế, kể cả trong xi-nê. Thật là lạ lùng! Khoảng nửa tiếng sau, mình lại gặp chị trong hành lang bệnh viện, chị mỉm cười gật đầu chào mình và gương mặt lúc này rất hân hoan. Câu chuyện này dạy cho mình một điều rất rõ: Dù một cử chỉ rất nhỏ, rất dễ làm, đôi khi cũng có thể xóa tan một cơn giông khủng khiếp trong lòng ai đó, chỉ trong một tích tắc.

Chỉ là hoa cỏ thôi
Chỉ là hoa cỏ thôi

Vì vậy, nếu bạn chỉ suy nghĩ một tí về những gì bạn có thể dùng như những bông hoa nhỏ để mang cắm đầy thế giới của bạn hằng ngày, bạn có thể làm cho thế giới đó tốt đẹp hơn hằng ngày. Và chẳng mấy chốc những người trong thế giới của bạn đều sẽ công nhận rằng bạn là người “trang trí nội thất” cho thế giới riêng của họ hằng ngày, vì bạn là một phần của thế giới riêng của họ. Nếu trong thế giới của bạn có 100 người, thì bạn đã là “chuyên viên trang trí nội thất” cho 101 thế giới riêng. Trong thời đại @, nếu bạn “nói chuyện” thường xuyên với 2 nghìn người trong các diễn đàn, bạn đang làm đẹp cho 2K1 thế giới riêng. Nếu một thế giới riêng có khoảng 100 người, hay 2K người, bạn cứ nhân lên để tìm số người. Hiệu ứng cấp số nhân rất kinh khủng.

Những hành động rất nhỏ làm thường xuyên hàng ngày, với một tấm lòng khiêm tốn, giản dị và ưu ái, có những ảnh hưởng rất lớn trong thế giới này. “Một tiếng khẩy móng tay có thể mang âm ba rung động đến vô lượng thế giới.” Câu này của Phật gia rất sâu sắc. Hãy xem mỗi thế giới là một trái tim con người. Ảnh hưởng dây chuyền của một nụ cười nhỏ trong ngày, có thể lan từ tim này sang tim kia, biết đâu có thể kéo dài đến vô lượng thời gian và vô lượng con tim. Các bạn cứ để tâm câu đó, rồi chiêm nghiệm nó trong cuộc sống, bạn sẽ thấy mức độ sâu thẳm của nó.

Đừng nghĩ đến đại dương. Ta không thể làm ra biển. Đại dương tự đến tự đi. Không ai điều khiển được đại dương. Nhưng bạn có thể làm ra những giọt nước hàng ngày để tạo đại dương. Họa sĩ Van Gogh nói, “Những điều vĩ đại tạo ra bởi những điều nhỏ bé gom lại.” Napoleon Hill, tác giả quyển “Think and grow rich” (Suy nghĩ và làm giàu), cha đẻ của truyền thống văn hóa “thành công cá nhân” ngày nay, nói, “Nếu bạn không làm được những việc vĩ đại, thì làm những việc nhỏ bé một cách vĩ đại.” Tức là sao? Tức là gật đầu mỉm cười chào người hàng xóm và tin rằng, một cách huyền diệu nào đó, nụ cười nhỏ bé của mình vẫn có một năng lượng âm thầm rung động đến vô lượng thế giới, vô lượng con tim. Cuối cùng, mình xin tặng các bạn ba chữ rất thịnh hành trên thế giới ngày nay, từ kinh tế học, đến triết lý, đến tôn giáo, đến tất cả mọi trường phái tâm linh lớn nhỏ: “Small is beautiful—nhỏ thì đẹp.”

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Phỏng vấn tuyển việc

Chào các bạn,

Phỏng vấn tuyển việc, job interview trong tiếng Anh, là cuộc gặp giữa đại diện công ty và người đang tìm việc. (Nhiều người dịch là phỏng vấn tuyển nhân viên, nhưng cách dịch đó quá một chiều). Đến bước này là thư tìm việc của bạn đã qua khỏi vòng loại đầu tiên, nói theo kiểu Mỹ, là một danh sách dài gồm nhiều đơn tìm việc gởi vào công ty đã được shortlisted (thu ngắn lại) và bạn đang nằm trong shortlist (danh sách ngắn). Thông thường phỏng vấn là giai đoạn cuối cùng. Tuy nhiên cho những chức vị quan trọng, có thể có đến 2 hay 3 vòng phỏng vấn, mỗi vòng là một cuộc thu ngắn (shortlisting). Trong bài này chúng ta sẽ nói đến các phương cách chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn.

1. Đến lúc này thì có lẽ bạn đã khảo sát một tí về công ty trong giai đoạn gởi thư tìm việc. Việc đầu tiên cho việc phỏng vấn là nghiên cứu một thêm một tí về công ty. Chỉ cần Google một tí trên Internet là có khối thông tin. Nhớ một ít chi tiết, để khi phỏng vấn không lớ ngớ như Bác Ngố lên thành.

2. Khảo sát thêm về người sẽ phỏng vấn mình. Thông thường là cả hai người–giám đốc nhân viên và giám đốc của phòng mình sẽ làm việc (ví dụ, giám đốc IT). Nhưng đôi khi chỉ có một trong hai người này. Tuy vậy, cứ chuẩn bị cho cả 2 người cho chắc ăn. Việc “chuẩn bị” này nên lồng vào việc “tạo dây liên hệ” với công ty theo tiến trình sau đây:

• Gọi vào công ty, nói chuyện với người đã báo tin cho bạn về cuộc phỏng vấn (thường là giám đốc nhân viên, hay trợ lý của bà ta). Đại khái nói ý này: “Em tên là XYZ. Em mới nhân được thơ báo tin phỏng vấn của cô. Em rất vui. Em gọi vào để cám ơn. Và để xác nhận với cô là em sẽ có mặt đúng 2 giờ chiều ngày … như thơ cô báo.”

Cú điện thoại này của bạn thực ra là một cuộc phỏng vấn rồi đó; nhưng cuộc này bạn nắm phần chủ động 100%. (Các bạn nên ghi nhớ các “tư tưởng chiến lược” trong ví dụ này nhé. Vì đây là phương cách giao tiếp thương mãi chung, không phải chỉ cho phỏng vấn tìm việc).

Xin chú ý, trong thí dụ này mình dùng cách xưng hô cô và em, cách xưng hô thân mật và lễ độ của người Việt. Nếu bạn xưng hô “bà” và “tôi”, nhất định là không có việc. Nếu xưng hô bà và em, cơ hội tăng một tí, xưng hô cô và em lại tăng thêm một tí nữa.

Nhưng giả sử nói chuyện với cô thư ký của bà ta thì sao? Nếu cô ấy nhỏ hơn mình vài tuổi thôi, chớ có kêu cô ấy bằng em, nếu cô này hay tự ái vặt, tìm cách rĩ tai bà chủ, thì hỏng cả việc của mình. Cứ kêu là chị, cách xưng hô trong đại học và giới trí thức. Xưng là mình hay là gì đó. “Tôi” là từ lạnh lùng nhất trong ngôn ngữ Việt. Lễ độ và dễ thương với mấy cô thư ký. Các cô ấy phải là đồng minh của mình thì việc mới thành.

Hỏi cô: “Cô có thể cho em biết cô hay là ai sẽ phỏng vấn em để em chuẩn bị tinh thần.” Câu hỏi này nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất, để mình biết cách chuẩn bị. Thứ hai, để cô biết là mình rất quan tâm đến cuộc phỏng vấn, như vậy là mình rất quan tâm đến công việc. Thứ ba, để nói một cách rất tế nhị là “Cô ơi, em hơi run. Cô giúp em.” Nói như vậy, nhưng thực ra không nói vậy, cho nên không tỏ ra vẻ yếu ớt. Ngược lại, nó tỏ ra vẻ mình rất quan tâm đến công việc. Lưu ý, trong câu hỏi này mình nói “cô hay là ai”; đừng bỏ cô ra ngoài câu nói.

Hỏi thêm: “Cô ơi. Trong cuộc phỏng vấn em nên xưng hô với cô và với ông giám đốc IT như thế nào ?” Câu này vừa để cho mình biết cách xưng hô hay nhất, vừa để cô thành đồng minh giúp mình.

Nếu nói chuyện với cô thư ký, thì cũng hỏi như vậy, và nhớ là phải rất dịu dàng lễ độ với các cô thư ký, vì các cô ấy thường nhiều tự ái hơn là bà chủ.

Đừng nên nói quá lâu và quá nhiều trong cuộc điện đàm này.

Phỏng vấn
Phỏng vấn

• Sau đó, gởi vào một lá thơ để “cám ơn cô đã báo tin phỏng vấn”, và cám ơn việc “cô đã nói chuyện với em trong điện thoại hôm nay,” và “như em đã nói, em sẽ có mặt hôm ấy.”

Gởi thêm một email với nội dung tương tự. Trong email nhớ nhắc là mình cũng có gởi một lá thơ thường. Muc đích của email là vận tốc. Mục đích của thơ thường là để nó có dịp nằm chình ình trên bàn cô. Mục đích của cả hai là “tạo liên hệ” với công ty.

Tức là đến lúc này mình đã có bốn liên hệ với công ty: Thơ xin việc, cú điện thoại, email, và thơ thường. Ba liên hệ sau cùng là giữa mình và người sẽ phỏng vấn mình.

Đừng text vào điện thoại di động (nếu bạn biết số). Texting là dành riêng cho việc riêng thôi.

• Google để tìm thêm thông tin về những người sẽ phỏng vấn mình.

3. Đến ngày phỏng vấn:

• Ăn uống cái gì đó cho tỉnh táo trước khi đi. Cách ăn mặc thì có lẽ các bạn đã rành hết rồi.

• Đến trước khoảng 10 hay 15 phút để làm quen với không khí, và may ra thì có dịp nói chuyện một tí với cô thư ký.

• Mang theo một tập tài liệu, gồm vài resume của bạn (phòng khi cô làm lạc trong đống hồ sơ của cô rồi, và vài tài liệu về công ty). Điều quan trọng là trên tay có cầm cái gì thì cũng làm cho mình thoải mái hơn là thấy hai cái tay quá thừa thải.

• Chuẩn bị tinh thần: Đừng nghĩ rằng đây là một cuộc khảo thí. Cứ xem đây là môt cuộc nói chuyện với vài người bạn mới. Nếu không được việc làm, ít ra mình cũng biết thêm được hai người quan trọng. Biết đâu mai mốt lại gặp nhau trong một trường hợp khác. Dù không được việc, ít ra cũng có hai người có cảm tình với mình rất nhiều.

Cũng cần nhớ rằng, đây vừa là cơ hội để công ty biết thêm về mình, vừa là cơ hội để mình biết thêm về công ty. Chuẩn bị một số câu hỏi để hỏi về công ty. Đây là đường hai chiều, công ty chọn mình và mình chọn công ty, chứ không nhất thiết là đường một chiều của người “xin” việc. Và người phỏng vấn mình cũng cố làm cho mình thích họ, chứ không phải chỉ có mình cố gắng một chiều.

Một đối diện ba
Một đối diện ba

4. Lúc vào phỏng vấn:

• Nếu cô đưa tay ra bắt, thì bắt tay một cách chắc chắn, tự tin.

• Đợi mời ngồi rồi hãy ngồi. Tốt hơn là không nên ngồi trước.

• Nếu cô mời trà hay cà phê, thì cứ xin một ly. Đây là nghĩa là “Vâng, em cám ơn ly trà của cô.” Từ chối lời mời thường là việc không tốt. Nhưng nếu cô quên mời, thì đừng nên tự hỏi.

• Chủ động nói trước bằng một vài nhận xét tốt, như “Cửa sổ này của cô nhìn ra ngoài đẹp quá, em rất thích”, hay “Em thích bức tranh này quá”, hay “Cô thích nhạc cổ điển sao?” (nếu cô đang mở nhạc cổ điển), hay “Đấy là ảnh của con gái cô sao?”

• Lực chọn cách ngồi thoải mái nhất cho mình. Ngồi thẳng lưng, tréo chân, hay tay để trên đùi (gần đầu gối) là cách ngồi trung tính và thoải mái nhất. Ngồi hay chân sát vào nhau cũng được. Tuy nhiên thế ngồi này, nếu không thẳng lưng thì nhìn rất khúm núm. Hơn nữa, nếu ghế hơi cao thì rất phiền. Khi ngồi, hoặc thẳng lưng hoặc hơi hướng đến phía trước. Đừng dựa hẳn vào lưng ghế.

• Lúc cô nói, thì thỉnh thoảng gật đầu. Đến lúc quan trọng thì chồm người đến phía trước một tí, nhìn thẳng mặt cô, để lắng nghe.

• Lúc trả lời câu hỏi thì tuyệt đối không nói câu nào tiêu cực như là không thích việc đang làm, không thích công ty đang làm, v.v… Đổi thành, “Công ty này của cô lớn hơn và có nhiều cơ hội cho em tiến hơn” hay “Em đang làm hãng xe hơi, nhưng em từ lâu lại rất thích IT. Em nghĩ là tương lai thế giới nằm trong IT, nên em muốn vào công ty IT của cô.” (Chúng ta sẽ bàn thêm về các câu nói trong phỏng vấn trong một dịp khác).

• Nếu có dịp thì hỏi thêm về công ty, và dùng các dịp này để cho cô biết mình rành về công ty. Ví dụ: “Em đọc báo thấy công ty quý vừa rồi lời 2 triệu đô la, như vậy đợt tuyển này có phải là công ty bành trướng thêm không ạ?” hay “Thưa cô, nếu em được vào làm ở đây, và nếu em làm khá, thì trong 5 năm em có thể có những đường tiến nào trong công ty ?” Đây là câu để cô biết là ta chính chuyện đường dài với công ty.

• Tuyệt đối không nên hỏi chuyện tiền. Nếu cô hỏi: “Em muốn lương bao nhiêu?” Câu trả lời hay nhất là: “Em nghĩ là nếu cô tuyển em vào đương nhiên là cô biết em xứng đáng được bao nhiêu, em sẽ tin vào ý cô.” Vài quyển sách ở Mỹ nói chuyện trả giá ở đây, nhưng theo ý mình, đó là rất tồi và không hiệu quả.

• Nhưng nên hỏi về các quyền lợi khác như bảo hiểm.

• Không nên hỏi về vacation.

• Nếu cô hỏi đúng điều gì mình không biết thì cứ trả lời không biết một cách thành thật và tự tin. Ví dụ: “Thưa cô em chưa có dịp phải sử dụng C language, nhưng nếu cần học em có thể học rất nhanh. Em không lo về việc ấy. Em có rất nhiều kinh nghiệm về các ngôn ngữ lập trình khác rồi.” Chú ý: Câu này chấm dứt bằng một đoạn rất tích cực. Đừng có trả lời “Dạ em không biết” rồi ngưng tại đó luôn, nói thêm một cái gì rất tích cực.

5. Phỏng vấn về viết ngay một email và một thơ thường, cám ơn. Sau đó, cứ vài ba bữa là gọi vào cô hỏi tin tức. Cho đến khi biết kết quả. Nếu không được việc, cũng nên gởi một cái thơ cám ơn, và nhắn “Hôm nào cô cần thêm người thì nhớ đến em.” Biết đâu 3 hôm nữa cô lại cần thêm ngưởi. Tất cả các lá thơ và các cú điện thoài này đền nhằm xây thêm liên hệ giữa mình và công ty (cô).

Trên đây là tóm tắt vài ý chính giúp các bạn khi vào phỏng vấn. Các vấn đề này nếu viết kỹ và dài dòng thì thành một quyển sách. Chúng ta sẽ cứ nói từ từ ở đây, trên blog này. Bốn điều quan trọng cần ghi nhớ trong bài này là: Thứ nhất, tích cực trong tư duy và cách nói chuyện. Thứ hai, chuẩn bị. Thứ ba, luôn luôn chủ động. Thứ tư, xây dựng quan hệ—nếu không được công việc, cũng được quan hệ. Thực ra, nếu bạn suy nghĩ kỹ thì công việc là chuyện tức thì, quan hệ là chuyện lâu dài. Nếu được cả hai thì càng tốt, nhưng nếu không được cái tức thì, ít ra mình cũng xây dựng được cái lâu dài.

Chúc các bạn nhiều may mắn.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Luật Hấp Dẫn

Chào các bạn,

Từ ngàn xưa con người đã khám phá ra “trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa,” “nồi nào vung nấy,” “lòng tin bằng hạt cải dời được núi non,” và những câu “thần chú” ngắn gọn lập đi lập lại với lòng thành sẽ làm cho sự việc xảy ra theo ý mình muốn. Ngày nay cả thể giới phương tây đang nói đến các điều này, nhưng với một từ mới hơn—Luật Hấp Dẫn (law of attraction).

Một cách vắn tắt, luật hấp dẫn nói rằng bất cứ tư tưởng gì ta có cũng đều hấp dẫn các năng lực tương tự trong vũ trụ để tạo nên sự việc theo tư tưởng đó. Ví dụ: “Tôi sẽ có tiền,” nếu cứ nghĩ và tin như thế tự dưng ta sẽ có tiền. “Tôi sẽ đẹp,” cứ nghĩ như thế thì ta sẽ thành đẹp ra.

• Dĩ nhiên nói đến “lòng tin” hay “thần chú,” thì vấn đề có một nền tảng rất khoa học. Nếu ta cứ tin là ta có tiền thì ra sẽ rất hăng hái lao vào các việc làm tiền. Càng làm, càng nhiều kinh nghiệm, càng giỏi, càng thành lớn. Đây chỉ là chuyện hiển nhiên. Hoặc, chàng nào tin là mình đẹp trai thì thường hay để ý đến cách ăn mặc hơn và tự tin hơn với các cô. Mà các cô thì thích đàn ông ăn mặc tử tế và tự tin. Rốt cuộc số lượng các cô bạn chàng có là chứng minh hùng hồn nhất là chàng đẹp trai. Lòng tin làm cho mình có tự tin và tập trung tư tưởng, do đó đưa đến thành công. Vấn đề rất giản dị.

• Tuy nhiên luật hấp dẫn còn có khía cạnh “siêu nhiên” của nó. Đó là, sức mạnh của tư tưởng hấp dẫn các năng lực trong vũ trụ để thực hiện ý muốn của tư tưởng. Tương tự như nhà Phật nói, một tiếng khẩy móng tay có thể mang âm ba rung động đến vô lượng thế giới. Như vậy nghĩa là sao? Năng lực gì trong vũ trụ lại cộng hưởng với năng lực của tư tưởng của ta đến mức đó?

Chúng ta sẽ không đi vào lãnh vực tâm lý ngoại cảm mà ta không đủ sức chứng minh, tức là “vô lượng thế giới.” Thay vì vậy, ta sẽ chỉ khảo sát luật hấp dẫn trong thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta, để thấy được tính cách khoa học của nó, và để sử dụng nó một cách hiệu quả. Thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta là chính mình, gia đình, bạn bè, những người làm cùng sở, những người mình giao tiếp hằng ngày, những người mình không giao tiếp nhưng họ có tiếp xúc với tư tưởng của mình—như những người đọc điều gì mình viết trên Internet.

Hâp dẫn nhau cực độ
Hấp dẫn nhau cực độ

• Danh từ đầu tiên ta phải giải thích là “tư tưởng.” Từ “tư tưởng” (idea) trong luật hấp dẫn có thể làm cho rất nhiều người hiểu lầm rằng đó là một hoạt động của ý thức, như “suy nghĩ” hay “suy tư.” Nhưng trong luật hấp dẫn, “tư tưởng” có nghĩa là một hoạt động của tâm thức—gồm ý thức, tiềm thức và cả các cảm giác như vui buồn yêu ghét. Nói chung, tư tưởng là tất cả những gì xảy ra trong tâm ta. Mà nói đến tâm, là chúng ta đều biết tiềm thức lớn lao và mạnh mẽ hơn ý thức ngàn lần, cho nên khi hiểu từ “tư tưởng” trong luật hấp dẫn như là một hành động suy nghĩ của ý thức mà thôi, là ta đã làm mất sức mạnh của luật hấp dẫn đi cả trăm, cả nghìn lần. Ví dụ: Nếu miệng ta lẩm bẩm “tôi sẽ có tiền” (tức là ý thức), nhưng trong thâm tâm ta không tin là điều này sẽ thành sự thực (tức là tiềm thức). Mà tiềm thức thì mạnh hơn ý thức cả nghìn lần, cho nên đương nhiên là ta sẽ sống theo hướng “tôi sẽ không có tiền,” và vì vậy mất tự tin trong việc kiếm tiền. Thế thì luật hấp dẫn vẫn đúng, nhưng “thần chú” của ta thì sai.

• Vì tiềm thức rất khó cho ta “thấy,” ta cần phải tìm cách “thấy” tiềm thức qua những cái khác—lòng tin, và cảm giác. Lòng tin điều khiển một phần rất lớn sự “suy nghĩ” của tiềm thức, và cảm giác thường là hậu quả của tiềm thức, cho nên ta quản lý tiềm thức bằng quản lý lòng tin và cảm giác—lòng tin phải thật mạnh mẽ, cho đến nỗi ta luôn luôn cảm thấy rất là hăng hái, chắc ăn. Khi ta nói “tôi sẽ có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một cảm giác hăng hái, chắc ăn, thì lúc đó “tư tưởng” của ta mới tạm gọi là chân thật và mạnh mẽ. Vì vậy, thay vì nói “ý thức” và “tiềm thức,” rất mơ hồ và khó hiểu, chúng ta chỉ cần quan tâm đến 3 điều: (1) sự suy nghĩ, (2) lòng tin, và (3) cảm giác. Suy nghĩ đến điều gì, như “tôi sẽ xuống cân,” thì suy nghĩ với một lòng tin vững chải và một cảm giác hăng hái. Lúc đó tư tưởng mới thực sự có sức mạnh chuyển hóa đời sống ta và thế giới của ta.

• Nói đến đây có lẽ chúng ta đã mường tượng được luật hấp dẫn hoạt động như thế nào: Nếu ta cứ nói “tôi có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một thái độ hăng hái, thì tiềm thức “tôi sẽ có tiền” sẽ bắt đầy chỉ huy tác phong và cách sống của ta. Tự nhiên là ta sẽ bắt đầu hăng say nghiên cứu việc kiếm tiền, nói chuyện kiếm tiền với bạn bè, siêng năng đi tìm việc làm, hễ việc gì có thể kiếm ra tiền ta đều hăng hái làm. Những người như vậy, đi xin việc ở đâu, các ông chủ đều mê. Người nào muốn làm thương mại gì cũng muốn tìm partner như vậy. Không giàu sao được?

• Như vậy ta thấy tư tưởng của ta đã chuyển hóa được đời ta, và ít nhất là đời sống của những người làm việc chung. Và nếu có bạn bè thân nhân nào đó, nghe ta nói và tin vào cách sống của ta, họ làm theo và thành công, đó cũng là do tư tưởng của ta đã phần nào chuyển hóa cuộc đời họ. Và nếu một tờ báo nào đó nhờ ta viết một bài về kinh nghiệm của mình, những độc giả nào nhờ đó mà chuyển hóa đời sống của họ, một phần cũng là do tư tưởng của ta. Đó chính là tư tưởng của ta có năng lực chuyển hóa thế giới của ta. Và nếu uy tín của bạn càng cao trong xã hội, thì thế giới của bạn càng lớn, ảnh hưởng chuyển hóa của bạn trên hành tinh này càng nhiều. Rất thực tiễn và khoa học.

• Luật hấp dẫn là luật tự nhiên, như là trọng lực, rất trung tính. Luật hấp dẫn đúng với tất cả mọi người, không cần biết nam nữ, lớn bé, giàu nghèo, và quan trọng nhất là, không cần biết tốt xấu. Người lương thiện tin chắc chắn là mình sẽ giàu, sẽ giàu nhờ làm ăn lương thiện. Người có máu ăn cướp, tin một cách sắt đá là mình sẽ giàu, thì sẽ giàu nhờ ăn cướp. Vì vậy, chúng ta thấy trong xã hội, bất kỳ ai, tốt hay xấu, cũng có thể “thành công.”

Vẫn hấp dẫn nhau được
Vẫn hấp dẫn nhau được

Thế thì có gì khác biệt giữa người xấu và người tốt ở đây? Thưa, có luật nhân quả (law of causation). Chữ này nghe như xuất thân từ Phật giáo, nhưng thực ra cả thế giới đã dùng nó cả triệu năm nay, vì đánh người thì sẽ có hậu quả là bị người đánh lại, ai cũng phải thấy. Nếu làm ăn lương thiện thì có nhiều bạn và không có kẻ thù, cho nên có xác suất rất cao là thành công sẽ ở với mình rất lâu. May ra thì có thể hưởng được tuổi già hạnh phúc. Nếu đi ăn cướp, thì có nhiều kẻ thù quá, lại được các bác công an chiếu cố đặc biệt, nên xác suất hưởng được “thành công” lâu ngày chắc là chỉ hơn zero một nấc nhỏ, và xác suất được đứng dựa cột thì suýt soát 100%. Sự khác biệt giữa tốt và xấu là ở chỗ đó—một bên thì nhiều bạn nên sống lâu, một bên thì nhiều thù nên chết yểu.

• Luật hấp dẫn là luật của tư tưởng, mà ngôn ngữ là một phần rất lớn của tư tưởng, cho nên ngôn ngữ rất quan trọng trong luật hấp dẫn. Chúng ta đã nói qua điều này trong bài “Sức mạnh của tư tưởng.” Trong ngôn ngữ của con người, thể phủ định có ảnh hưởng rất yếu trong tâm thức. Ví dụ: “Tôi không yêu ai” thì nhạt như nước ốc. Nó chẳng có nghĩa lý gì hết, nó chỉ có nghĩa là tôi không yêu ai, và không chắc là tôi có ghét ai không. Nghe chán phèo. Hay “tôi không chống anh,” chẳng nghĩa lý gì cả, vậy anh có ủng hộ tôi không?

Vì vậy khi ta nói một câu phủ định “tôi không muốn béo,” tiềm thức của ta không “thấm” cái yếu ớt của chữ “không” phủ định, mà lại thấm cái mạnh mẽ của chữ “béo” xác định. Cho nên tiềm thức cứ hướng ta sống theo hướng “béo.” Vì vậy, các chuyên gia về tư duy tích cực (cũng như các luật sư chuyên về tranh tụng trước tòa) luôn luôn dạy người ta nói và viết ở thể xác định: “Tôi muốn gầy” (không phải là “tôi không muốn béo”), hay “tôi muốn giàu” (không phải là “tôi không muốn nghèo”).

• Một số các chuyên gia còn có cách trình bày thế này: Luật hấp dẫn không biết văn phạm , chỉ biết các từ mà thôi. Nếu câu bạn nói mà có chữ “yêu,” không cần biết đó là phủ định hay xác định, thì luật hấp dẫn cứ dẫn ta đi theo hướng “yêu.” Các bạn có nghe các phụ nữ lớn tuổi kể chuyện đời của họ không: “Hồi đó tui ghét ổng gần chết, thấy mặt là wẹo đường khác. Nhất định là không thèm thương. Rốt cuộc cũng lấy ổng.” Tóm lại “tôi yêu anh Tín” hay “tôi không yêu anh Tín,” đối với luật hấp dẫn thì như nhau, và cả hai chỉ có nghĩa là “yêu” và “anh Tín.” Tương tự như vậy, “tôi không thích béo” và “tôi thich béo” đều chỉ có nghĩa là “tôi” và “béo.” Vì vậy, ta luôn luôn phải suy nghĩ (và nói chuyện cũng như viết lách) theo thể xác định. Và dĩ nhiên là chỉ nên dùng các từ tích cực. (Từ tích cực là từ nói đến cái ta muốn, ta thích. Nếu bạn thích gầy, thì “gầy” là từ tích cực và “béo” là từ tiêu cực. Ngược lại nếu bạn thích béo, thì “gầy” lại là tử tiêu cực và “béo” là từ tích cực).

Đỉnh cao hấp dẫn
Đỉnh cao hấp dẫn

• Dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết ảnh hưởng của luật lập đi lập lại (law of repetition). Các giáo chức đều rất giỏi luật này. Dạy một điều nhưng cứ lập đi lập lại hằng trăm lần, bằng hằng trăm cách khác nhau (biết rồi, khổ lắm, nói mãi!), như vậy thì học trò mới nhập tâm được. Cho nên, theo luật hấp dẫn, nếu bạn muốn điều gì thì soạn một câu thần chú ngắn, như “tôi sẽ có tiền,” rồi cứ thầm lập đi lại câu đó trong đầu, thì luật hấp dẫn sẽ có tác dụng mạnh mẽ. (Nhắc thầm thôi, lảm nhảm ngoài miệng chắc là sẽ bị người nhà cho nhập viện :-)).

• Và một quy luật ngôn ngữ khác nữa là hiện tại thì luôn luôn luôn mạnh hơn tương lai. Hãy so sánh “anh yêu em” và “anh sẽ yêu em” xem câu nào mạnh hơn. Nhưng điều ta ước muốn đương nhiên là thuộc về tương lai, ví dụ “tôi muốn có tiền.” Thế thì ta giải quyết cái yếu của tương lai thế nào? Thưa, có 2 phương cách. Thứ nhất, nếu việc gì có thể biến nó thành hiện tại, thì phải suy nghĩ theo cách hiện tại. Ví dụ: Thay vì “tôi sẽ có tự tin” thì ta phải nói “Tôi có tự tin,” vì chẳng lý do gì ta không thể nói “tôi có tự tin ngay bây giờ” mà phải đợi đến sang năm.

Thứ hai, đôi khi ta cảm thấy nhất định không thể nói thì hiện tại một cách đầy tin tưởng được, ví dụ, nếu trong túi không có một đồng xu, thì nói “tôi sẽ có tiền” dễ tin hơn là “tôi có tiền.” Trong trường hợp đó cứ nói “tôi sẽ …” nhưng phải buộc tương lai vào hiện tại, ngay trong lúc này, ngay ở đây. Tức là, hiện thời tôi đang ngồi đây nói chuyện với bạn của tôi, tôi biết là tôi muốn có tiển và “tôi sẽ có tiền,” nhưng cái “sẽ” đó có thật được hay không cũng là do tôi sống trong hiện tại có thật hay không—tương lai chỉ là một chuỗi những ngày của hiện tại. Hiện tại tôi đang nói chuyện với bạn tôi, tôi sẽ nói chuyện rất thực, tôi sẽ lắng nghe rất kỹ, sẽ mở rộng đầu óc và con tim để nghe, tôi sẽ chia sẻ thật tình, tôi sẽ dùng mỗi giây đồng hồ một cách tận tình. Sống ngay phút này, ngay tại đây, một cách tận tình, dù là mình đang làm bất kỳ việc gì, thì đó là cách để nối hiện tại có thật vào một tương lai sẽ đến thật.

• Cuối cùng, có bạn hỏi luật hấp dẫn này từ đâu tới? Dĩ nhiên là nghe qua ta cũng thấy luật hấp dẫn là qui luật tâm lý tự nhiên. Con người hấp dẫn nhau vì sức mạnh bên trong của mình. Và các chuyên gia về tâm lý và truyền thông (communication) đã nói đến nhiều thập kỹ (nếu không nói là hàng nghìn năm nay). (Chỉ có phần tâm lý ngoại cảm–năng lượng của tâm thức làm chuyển động năng lượng của vũ trụ–thì mình xin được phép miễn bàn, vì chưa nắm chắc). Gần đây một vài cuốn sách bán chạy đã đẩy danh từ “luật hấp dẫn” thành rất phổ thông. Theo mình nghĩ, luật hấp dẫn được diễn giảng ngày nay chính là “tư duy tích cực” phát xuất từ các giảng sư thiên chúa giáo khi xưa—lòng tin bằng hạt cải dời được núi non–trình bày lại một cách khoa học hơn bằng các khái niệm Phật giáo đang rất thịnh hành trong giới trí thức Âu Mỹ ngày nay.

Chúc các bạn một ngày vui!

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Đầu ngày

Chào các bạn,

Ta hay nói câu “ấn tượng đầu tiên.” Lần đầu tiên gặp nhau mà có ấn tượng xấu về nhau là hỏng rồi. Đầu năm bị mắng là “dông” cả năm. Chơi bi-da mà đánh trật một hai cơ đầu là “quê cơ” cả buổi. Sáng ra ngõ gặp ga… a… a… something… là xui cả ngày. Tóm lại, một cảm giác nào đó ta có lúc ban đầu thường có tính cách quyết định cho những tình trạng sau đó.

Điều này cũng dễ hiểu. Hệ thần kinh của ta không làm việc kiểu vi tính—tắt chương trình này, mở chương tình khác được ngay, cùng lắm là reboot máy. Về tâm lý, khi đã bắt đầu hướng nào là thần kinh của ta cứ đi theo hướng đó rất lâu, giận ai thì cũng phải nửa buổi hay một ngày mới hết. (Có người giận cả đời :-(). Nếu đã bức xúc thì bức xúc cả buổi. Cho nên khi bắt đầu việc gì, ta phải bắt đầu với tinh thần và cảm giác mà ta muốn trong suốt tiến trình sau đó.

Trong các đàm phán về thương mại, người ta đó gọi là “set the tone” (tạm dịch là “xây dựng bầu không khí”). Nếu ta muốn tinh thần buổi họp đó nói lên được (1) sự quí mến, (2) thân thiện, (3) nhưng cũng nghiêm chỉnh, thì (1) ta có thể đặt cà phê, trà, bánh ngọt, ly tách sẵn trên bàn họp, hay sát bàn họp, và đèn đuốc mở sẵn, để tỏ sự quí mến với đối tác. Đừng đợi khách vào rồi mới gọi người đi pha cà phê. (2) Áo quần chỉnh tề và đề nghị nhẹ nhàng chỗ ngồi cho từng người quanh bàn, để chỉ tính nghiêm trọng. (3) Nói chuyện về thể thao, thời tiết, và hỏi thăm gia đình nhau vài câu (nếu biết một tí về gia đình, con cái), để tỏ lòng thân thiện.

Sáng sớm trong phố nhỏ
Sáng sớm trong phố nhỏ

Không nên nói một chữ, một câu nào, có tính cách tiêu cực, kể cả khi người đối tác nói tiêu cực (như “tôi không ưa ông Bush”) và ta chỉ hùa theo, vì không khí tiêu cực sẽ đến và ngồi ì đó cả ngày. Nếu muốn đồng ý theo, thì ta nên lái sang ngôn ngữ tích cực, như “tôi hy vọng là ông ấy sẽ học thêm được vài kinh nghiệm.” Ta nên nhớ rằng, cách nói phủ định luôn luôn có tính tiêu cực, ví dụ “Tôi không thích trời mưa” hay “Tôi không thích phụ nữ mặc quần như đàn ông.” Tuy nhiên, cách nói xác định vẫn có thể tiêu cực nếu dùng từ tiêu cực. Ví dụ, “ông bán quán đó là một phế nhân.”

Quan trọng hơn cả các cuộc họp trong ngày là lúc ta bắt đầu một ngày mới. Thái độ của ta lúc đầu ngày sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và công việc cả ngày. Nếu sáng ra mà không vui hay bực mình chuyện gì đó, có thể ta là sẽ đến sở với khuôn mặt méo mó, nói chuyện thì làm người khác bực mình, vì vậy có thể làm hỏng việc, và các quyết định trong công việc cũng có thể xấu đi vì đầu óc không được sáng suốt lắm. Lúc khởi đầu rất quan trọng. Một chương trình TV chỉ có khoảng một hay hai phút đầu để hấp dẫn ta, nếu không hài lòng là ta sẽ đổi đài ngay. Vì vậy, ta cần phải quan tâm đến buổi đầu ngày, lúc mới ngũ dậy—đó là “ấn tượng đầu tiên” sẽ quyết định rất lớn đến phẩm chất toàn ngày.

Vì vậy, bước ra khỏi giường là:

1. Vận động thân thể một tí để đánh tan uể oải và làm cho mình khỏe khoắn tích cực hơn. Có một liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và tâm trí mà nhiều chuyên gia về giáo dục đôi khi quên mất. Người bệnh thì hay cau có càu nhàu, người khỏe thì cười nói vui vẻ. Quy luật cực kỳ căn bản này ta không thể bỏ quên.

2. Nói năng vui vẻ mới mọi người trong nhà. Đây là những câu nói đầu tiên sẽ “set the air” cho mình và cho mọi người cả ngày. Câu hỏi dễ hỏi nhất là “Hôm qua trời mưa/nóng ngũ ngon không? Muốn cà phê, trà hay cái gì, anh làm cho?”

3. Để nhạc sống động một tí.

4. Đừng nên nghe tin tức trên TV, radio hay đọc báo, vì đa số báo chí ngày nay đều đăng nhiều tin xấu hơn tin vui (vì nhu cầu cần tin giật gân để làm thương mãi). Không nên bắt đầu một ngày bằng các tin làm mình chán ngán cuộc đời. (Nghe tin giữa ngày cũng được rồi).

5. Ăn hoặc uống cái gì đó mà mình thích.

Đầu ngày
Đầu ngày

6. Đừng dựng lịch quá chặt chẻ đến nỗi ta phải chạy và stress. Nếu đường từ nhà đến sở tốn trung bình 30 phút, thì nên dành cho nó 40 phút trong lịch, khi kẹt xe ta sẽ không bị stress. Stress không những phá hỏng cả ngày, mà stress sẽ giết bạn sớm.

Dựng lịch thong thả là cách tốt nhất để giảm stress, đồng thời tăng hiệu năng. Nên dựng lịch thong thả cho mọi hoạt động trong ngày. Ta thường theo thói cạnh tranh dữ dội ngày nay là làm lịch rất chặt chẻ, tưởng như thế là hiệu năng cao. Thực ra, như vậy thì hiệu năng lại thấp, vì hiệu năng của mỗi phút rất thấp, do stress. Làm một tiếng đồng hồ mà hiệu năng bằng người khác làm hai tiếng thì vẫn tốt hơn. Ví dụ: Nếu bán hàng, bạn cứ thong thả từ tốn nói chuyện trời trăng mây gió với người khách (nếu người ấy thích), thì chắc chắn là bạn sẽ bán nhanh hơn một cô cứ cố gắng đưa khách hàng qua món này đến món kia vù vù. Work smarter, not harder.

7. Ra đường, nhìn khung cảnh chung quanh, nắng ấm (hay mưa đẹp), hàng quán, xe cộ và đoàn người qua lại như khung cửi, những hàng cây cao, và tận hưởng cái đẹp và sức sống của thành phố cho một ngày mới.

8. Gặp người quen thì vẫy tay, hay tốt hơn nữa là hỏi một câu. Đừng căng quá đến nỗi chẳng thấy được ai ngoài đường.

9. Dành 15 giây, chỉ 15 giây thôi cũng đủ rồi, cám ơn trời đất đã cho ta một đêm ngũ bình yên, một cơ thể khỏe mạnh, một đầu óc sáng suốt, và một ngày mới để sống. Những người tích cực luôn luôn là những người biết thọ ơn. Có một liên hệ rất chặt chẻ giữa lòng biết ơn và tính tích cực, mà nhiều chuyên gia chưa thấy. Và dù là điều 9 này nằm cuối danh sách, bạn nên làm nó ngay đầu ngày, vào mục số 1.

Cứ như vậy, ta bắt đầu một ngày, bình thản, thong thả, tích cực, không phải để “làm việc,” không phải để “chạy”, không phải để “đi cày,” không phải để “ráng cho qua ngày,” cũng không phải để “xây dựng cuộc đời” hay vá trời lấp biển, mà chỉ đơn giản là để sống–sống một ngày cho trọn một ngày, ở đây, lúc này.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khắc phục những suy nghĩ tiêu cực

Tác giả: Huỳnh Huệ

“Cách khắc phục những suy nghĩ tiêu cực và những cảm xúc có hại là phát triển những cảm xúc tích cực mạnh mẽ hơn” – Đạt Lai Lạt Ma.

Đối với nhiều người, cuộc sống có thể tốt hơn nếu họ nhận ra những ý nghĩ tiêu cực, những cảm xúc có hại và thay vào đó bằng những suy nghĩ lạc quan, những cảm xúc tích cực.

Suy nghĩ theo hướng tiêu cực, dưới nhiều hình thức, cách này hay cách khác len lỏi vào suy nghĩ và cách nói năng của ta mà ta không biết. Bí quyết thành công, theo thiển ý của tôi, là phát hiện ra chúng và tiêu diệt chúng như loài sâu độc hại. Hãy thay thế chúng bằng những suy nghĩ và cảm xúc tích cực, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn lao trong mọi điều bạn làm.

Tôi là một người lạc quan, đã từng nếm trải nhiều đắng cay, mất mát, và bất hạnh. Tuy nhiên, trước những thăng trầm của cuộc đời, tôi không hề mất đi niềm tin rằng cuộc sống này của tôi và của bạn vẫn đẹp. Tôi thực sự tin rằng một lúc nào đó, vận may sẽ mỉm cười với chúng ta. Thành thực mà nói, về bản thân và cuộc đời mình, tôi vẫn thấy mình hạnh phúc, chí ít là hạnh phúc hơn nhiều người khác chịu nhiều bất hạnh và đau khổ hơn tôi.

Chúng ta thử xem 10 cách thông thường nhất của suy nghĩ tiêu cực – và giải pháp – tôi đã làm như thế và cả cuộc đời tôi đã thay đổi.

1. Tôi sẽ hạnh phúc một khi tôi có….. (hay khi tôi kiếm được X)

Vấn đề: Nếu bạn nghĩ rằng bạn không thể hạnh phúc cho đến khi nào bạn đạt đến một mốc nào đó, một chỉ số về tài sản nào đó, hay một kiểu nhà, hiệu xe hơi, hay cấu hình máy tính và điện thoại di động, quần áo hàng hiệu nào đó, thì bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc. Mục tiêu khó nắm bắt ấy luôn ngoài tầm với. Một khi ta đạt được những mục tiêu ấy rồi, ta có thỏa mãn không? Hay ta lại ham muốn nhiều hơn?

Giải pháp: Biết hạnh phúc với những gì ta có, với nơi ta đang ở, vị trí hiện tại, và cái ta đang là – ngay chính phút giây này. Hạnh phúc không phải là một trạng thái nào đó mà ta muốn cuối cùng đạt đến – hạnh phúc có thể tìm thấy ngay bây giờ. Biết chắt chiu hạnh phúc, đếm những may mắn của đời mình, và thấy mặt tích cực trong mỗi tình huống. Nghe có vẻ giản đơn, nhưng cách này hiệu quả.

2. Ước gì tôi bằng (một nhân vật nổi tiếng, một người bạn hay láng giềng)

Vấn đề: Chúng ta sẽ chẳng bao giờ xinh đẹp, tài ba, giàu sang, quyến rũ bằng mọi người khác. Nếu bạn tài giỏi, luôn có một ai khác giỏi hơn. Vì thế, nếu ta so sánh mình với người khác, ta sẽ thấy mình thua kém, luôn thất bại, và cảm thấy mình bất hạnh. Thế thì không thể hạnh phúc.

Giải pháp: Ngừng so sánh bản thân với người khác, và thay vào đó nhìn vào chính mình: Những điểm mạnh, những thành công, những kết quả đạt được của mình là gì, dù cho chúng còn khiêm tốn. Bạn yêu mến những gì ở chính mình? Học cách yêu bản thân, mình của hiện tại, chứ không phải cái mà mình muốn trở thành. Trong mỗi chúng ta, luôn có cái tốt, tình yêu, và tính nhân bản tuyệt vời.

3. Thấy người khác thành công sinh lòng ghen tị

Vấn đề: Trước hết đừng cho rằng chỉ có số ít người có thể thành công. Sự thực là thành công có thể đến với nhiều người – bằng nhiều cách khác nhau.

Giải pháp: Biết ngưỡng mộ thành công của người khác, học hỏi từ đó, và vui mừng với thành tựu của họ, bằng cách đồng cảm với họ và hiểu được họ đã phải làm như thế nào để trở thành họ như bây giờ. Và sau đó quay đi, nhìn lại chính mình – để thấy rằng bạn cũng có thể thành công, trong bất cứ việc gì bạn đã chọn để làm. Thậm chí bạn đã thành công rồi đấy. Chớ nhìn lên những người ở trên cao hơn bạn trong thang bậc xã hội, mà hãy nhìn xuống những người bên dưới; có hàng triệu người thua kém, cơ khổ hơn bạn – những người không thể đọc được bài báo này hay sở hữu một cái máy tính. Xét theo nghĩa ấy, bạn đã là một người rất thành công rồi.

4. Tôi là một kẻ thất bại cay đắng- Tôi chẳng thể làm gì ra hồn

Vấn đề: Mỗi người đều là một người thất bại nếu bạn nhìn vấn đề theo những cách nào đó. Mọi người đều đã có những thất bại, nhiều lần, mặt này hay mặt khác. Bản thân tôi chắc chắn không ít lần thất bại, nhiều đến nỗi tôi không thể đếm được.- và hiện tại, hàng ngày tôi vẫn còn thất bại. Tuy nhiên, nhìn nhận những thất bại như những thất bại chỉ khiến bạn cảm thấy mình tệ hơn. Với cách nghĩ như thế, ta sẽ tự tạo ra một hình ảnh rất tối tăm, đầy tiêu cực về bản thân, và sẽ không bao giờ xóa được hình ảnh không đẹp ấy…

Giải pháp: Nhìn nhận những thành công của mình và quên đi các thất bại. Nhìn lại đời mình, trong tháng qua, năm qua, hay 5 năm qua. Và cố gắng nhớ lại các thành công của bạn. Nếu bạn gặp khó khăn khi nhớ lại, hãy bắt đầu ghi chép tài liệu cho các thành công- ghi chép nhật ký, trong một cuốn sổ hay trên mạng. Ghi chép các thành công hàng ngày, hay hàng tuần. Khi bạn nhìn lại những thành quả ấy, sau một năm, bạn sẽ kinh ngạc. Cảm giác này thực dễ chịu.

5. Ta sẽ đánh bại người này và người nọ, và dẫu như thế nào, ta vẫn giỏi hơn hắn. Và bất luận thế nào, ta cũng không giúp hắn, kẻo hắn có thể đánh bại ta.

Vấn đề: Sự ganh đua – cạnh tranh luôn đinh ninh rằng có một lượng vàng phải tranh giành, và ta phải chiếm được nó trước. Tính cách này biến ta thành kẻ tham lam, nói xấu, gây tổn thương cho người và cho mình. Vì những tính ganh đua và tâm so bì, chúng ta cố gắng bằng mọi cách tranh đua quyết liệt với người khác để thành công.

Giải pháp: Học cách xem thành công như một cái gì đó có thể chia sẻ, và biết rằng nếu giúp đỡ tương trợ nhau, mỗi chúng ta có cơ hội tốt hơn để thành công. Hai người cùng hợp tác thực hiện một mục tiêu thường tốt hơn hai đối thủ tranh đua để giành giật thành công. Có nhiều hơn chỉ một thành công để không sợ phải phân phát. Hãy học cách suy nghĩ thành công chẳng của riêng ai.

6. Nguyền rủa! Tại sao những điều xấu, chuyện chẳng may này lại xảy ra với mình

Vấn đề: Chuyện rủi xảy ra với mọi người. Nếu ta mãi chăm chăm vào đó, ta sẽ mệt mỏi và chán nản.

Giải pháp: Xem những chuyện không hay như một phần tất yếu, thăng trầm của cuộc đời vô thường này. Đau khổ là một phần trong kiếp người, nhưng đau khổ rồi sẽ qua. Hết mưa lại nắng, sau cơn giông bão sẽ lại rạng rỡ ánh dương. Chớ để nỗi đau một mùa hủy diệt toàn bộ niềm vui của một đời còn lại. Chớ nhìn cuộc đời toàn màu xám đen, hãy nhìn thấy trời vẫn xanh trên đầu ta. Hãy học cách chấp nhận rủi may và học được gì từ đó và tự nhủ lẽ ra sự việc còn tệ hơn. Điều không may thực sự là cơ hội cho ta học để mạnh mẽ hơn và trưởng thành hơn.

7. Con/ Cô/ Anh chẳng thể làm được gì cho đàng hoàng! Tại sao con/ cô/ anh không giống như ………?

Vấn đề: Đây là lời bạn có thể nói với con cái, cấp dưới, hay chồng/vợ của mình. Vấn đề là ở đâu? Trước hết so sánh hai người luôn là một sai lầm. Người ta khác nhau, khác trong cách hành động, về những điểm mạnh và điểm yếu, về nhân cách. Nếu tất cả chúng ta đều giống nhau, ta là người máy. Hai là, nói những lời không đẹp như thế với người khác chẳng giải quyết vấn đề, hay cải thiện được gì. Điều này có thể làm bạn thấy khá hơn, nhưng thực ra, nó làm xấu đi mối quan hệ của bạn, và sẽ thực sự khiến bạn thấy khó chịu và chắc chắn khiến người kia thấy tiêu cực và sẽ tiếp tục với thái độ tiêu cực. Như thế mọi người đều thương tổn và mất mát.

Giải pháp: Lấy sai lầm hay chuyện không đúng của người ta làm cơ hội dạy dỗ người ấy. Chỉ cho họ nên làm thế nào. Sau đó, khen ngợi họ về thái dộ tích cực, và khuyến khích thành công. Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, hãy yêu thương họ dù họ là ai, và đón nhận những khác biệt của họ.

8. Công việc của anh/ cô… là trò trẻ., chẳng ra sao. Anh/ cô rất ngu, và tôi tin rằng anh/ cô chẳng ra trò trống gì.

Vấn đề: Tôi thực sự đã nhận được lời nhận xét như thế, và cũng đã nhiều lúc không kiềm chế được bắn ra những lời không đẹp thế. Nghe có vẻ tuyệt vì tôi đã phần nào hả giận? Nhưng ta chớ xem xét nó từ góc độ của người nhận lời phê bình ấy, mà từ góc độ của người bắn ra lời nhận xét này. Nói như thế có giúp cho bạn điều gì không? Tôi cho rằng bạn có thể thấy hả dạ vì đã trút giận nếu thấy đã bị người khác làm phí thời gian., Bao nhiêu thời gian của bạn bị lãng phí? Một vài phút chăng? Do lỗi của ai? Sự thực là nói những lời nặng nề, không đẹp chỉ đặt cách tư duy của bạn trong trạng thái tiêu cực bi quan. Hiển nhiên nó không tốt chút nào để kết bạn.

Giải pháp: Trước hết, học cách đưa ra các giải pháp tích cực có tính xây dựng. Thay vì phê phán công việc của ai đó là trò trẻ … , hãy đưa ra đề nghị cải thiện để giúp nó khá hơn. Nếu phải bỏ thời gian nhận xét, hãy dùng thời gian ấy xứng đáng. Hai là biềt cách giao tiếp với người khác theo hướng tích cực- điều này khiến người ta dễ chịu và bạn cũng thấy tốt hơn. Như thế rất tốt và dễ kết bạn.

9. Trả miếng _ trả thù

Vấn đề: Nếu ai đó làm nhục hay làm bạn tức giận, bạn đáp trả lại như thế chỉ tự chuốc lấy phiến toái lên bản thân. Người này có lẽ có một ngày không may, hay một năm xui và trút lên đầu bạn vì một lý đo nào đó. Nếu bạn phản ứng tương tự, bạn cũng làm cho ngày của mình xấu đi. Vấn đề của người ta trở thành của chính bạn. Không những thế, cái vòng quay của sự lăng mạ có thể càng tệ hơn cho đến khi nó gây ra những hậu quả về bạo hành và tiêu cực đáng tiếc- cho cả hai bên

Giải pháp: Hãy để cho những lời lăng mạ, xúc phạm trôi tuột như bạn đã có lớp phủ chống dính. Chớ để vấn đề của người thành của mình. Thực thế, hãy cố gắng hiểu vấn đề hơn – tại sao ai đó lại hay nói những lời khó nghe vậy? Họ có đang gặp phải vấn đề gì chăng? Có chút cảm thông với người- không chỉ giúp bạn hiểu được những phê phán ấy không nhằm vào bạn, mà có thể làm cho bạn cảm nhận và có thái độ tích cực hơn đối với họ- và khiến bạn cảm thấy dễ chịu với chính mình trong suốt quá trinh.

10. Tôi nghĩ tôi không có thể làm được – tôi không có đủ kinh nghiệm. Để khi khác vậy

Vấn đề: Nếu bạn nghĩ rằng mình không thể làm gì thì bạn chẳng bao giờ thành công, nhất là cho những chuyện lớn. Kinh nghiệm chẳng liên quan gì- sự tập trung và niềm hăng say, động cơ mới đáng kể. Nếu bạn luôn đợi dịp khác, bạn sẽ chẳng có khi nào thực hiện được gì. Suy nghĩ tiêu cực như thế ngăn cản ta không hoàn thành được bất cứ điều gì.

Giải pháp: Thay đổi cách nghĩ: rõ ràng bạn có thể làm được. Bạn không cần nhiều kinh nghiệm, hay đợi đến khi có đủ kinh nghiệm mới khởi sự. Tìm những cách để đạt đến thành công. Nếu thất bại, bạn vẫn có bài học quí giá, hãy cố lần nữa. Thay vì gác lại mục tiêu, hãy bắt tay ngay. Và tập trung vào chỉ một mục tiêu một lúc, đặt hết tâm lực vào đó, và tìm nhựng trợ giúp từ những người khác. Bạn có thể lấp biển dời non với cách suy nghĩ tích cực như thế.

Mười giải pháp suy nghĩ theo hướng tích cực như trên thực không xa vời, hay khó khăn, mà rất hiệu quả để giúp chúng ta tu tập, rèn luyện nhân cách, và sống vui, sống đẹp hơn.

Huỳnh Huệ


Tư duy tích cực là gì ?

Chào các bạn,

Tư duy tích cực là gì? Tư duy tích cực khác với một vài loại tư duy khác như thế nào? Tại sao ta lại cần tư duy tích cực?

“Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ, và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ một lúc nào đó. Thực ra, từ “tư duy” ở đây rông rãi hơn, và có nghĩa là một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy.” Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực.”

“Tích cực” có nghĩa là … không tiêu cực 🙂 , là

(1) khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề ta luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp, cái tốt;

(2) nếu thấy cái xấu ta có khả năng biến cái xấu thành cái tốt; và

(3) luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.

Ví dụ: (1) Bạn A. của mình thật năng động và có lòng tốt với mọi người, (2) chỉ hơi keo kiệt một tí, nhưng như vậy thì, nếu bạn làm thủ quỹ cho nhóm mình, chắc chắn là quỹ chẳng bao giờ thiếu hụt, và (3) cứ làm từ thiện hoài thì chắc chắn là bạn sẽ từ từ biết cách “phung phí” tiền cho người nghèo khổ.

Đặc điểm của tư duy tích cực là

(1) tập trung cái nhìn và tư tưởng vào cái tốt, nếu thấy cái xấu cũng phải tìm cho ra cái tốt trong cái xấu để tập trung tư tưởng vào đó, và

(2) dùng cái tốt như là động lực thúc đẩy mình sống và làm việc, đi đến mục đích cuối cùng là làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Cuộc đời đây là cuộc đời của chính mình, và là cuộc đời của thế giới mình sống. Tức là, cái tốt vừa là động lực thúc đẩy mình sống, vừa là mục tiêu tối hậu của cuộc sống.

Thông thường người ta thường phân chia thế giới thành hai nhóm người—tích cực và tiêu cực. Nhưng đó chỉ là cách nói tắt cho thuận tiện; thực ra ai cũng vừa tích cực vừa tiêu cực, chỉ là khuynh hướng nào mạnh hơn mà thôi. Hơn nữa, thông thường ta hay có thói quen tích cực hay tiêu cực tùy theo… trời mưa nắng và tùy theo đối tượng suy tưởng là người yêu hay… ông hàng xóm khó chịu.

Ta thực tập tư duy tích cực để ta luôn luôn tích cực–những ngày nắng đẹp cũng như những ngày ngập lụt, khi dạo phố với người yêu cũng như khi bị đụng xe–đối với tất cả mọi người–bạn thân hay địch thủ, thánh nhân hay đồ tể.

Bay!
Bay!

Và ta cần “thực tập” vì tâm tính không dễ gì thay đổi được. Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả “trông thấy”.

Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?

Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.

Và thực ra thì chẳng ai bắt ta phải tích cực hay tiêu cực cả, sống cách nào là sở thích cá nhân và tự do lựa chọn của mỗi người. Nếu ta muốn làm thư sinh trói gà không chặt, tối ngày thương mây khóc gió, như các nho sĩ trong Số Đỏ, thì cũng được. Nhưng nếu ta muốn mạnh mẽ từ thể chất đến tinh thần, sống như hải âu cưỡi gió trên những lọn sóng đại dương, thì ta phải tư duy tích cực. Chỉ là vấn đề lựa chọn.

Một trong những câu hỏi ta hay gặp khi nói đến tư duy tích cực là: “Đôi khi ta cũng cần phải phê phán chứ. Critial thinking cũng cần vậy.” Critical thinking, tạm dịch là tư duy phê phán, là một phương thức suy nghĩ rất được chú trọng ngày nay. Thực ra critical vừa có nghĩa là phê phán, vừa có nghĩa là nghiêm trọng. Đây là cách suy nghĩ đặt trọng tâm vào nghi vấn—đánh dấu hỏi tất cả các tiền đề, các kết luận, các dữ kiện, các phương pháp làm việc, trong một vấn đề, cho đến khi ta thỏa mãn với độ chính xác của tất cả các điều này và đi đến một kết luận chính xác. Và nếu nói đến nghi vấn và phê phán tức là nói đến việc phải mang cái xấu (và cái tốt) ra mổ xẻ. Mà nói đến cái xấu là có người nghĩ rằng như vậy có vẻ không tích cực.

Chúng ta sẽ nói đến critical thinking chi tiết hơn trong một dịp khác. Tại đây chúng ta chỉ cần nhắc rằng, critical thinking (tư duy phê phán) và positive thinking (tư duy tích cực) đều cần thiết và có thể đi đôi với nhau. Positive thinking là một thái độ sống, hơn là một phương thức suy nghĩ. Critical thinking là một phương thức suy nghĩ. Ta có thể dùng critical thinking với một thái độ tích cực, hoặc với một thái độ tiêu cực.

Ví dụ, đối diện với các vấn đề giáo dục, ta có thể dùng critical thinking để mang ra một số các vấn đề như chương trình học chưa khoa học và thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn từ chương, lương giáo viên còn thấp, học cụ còn thiếu thốn, v.v… Nếu là người tiêu cực thì ta sẽ ngồi đó nhăn nhó phàn nàn: “Nhà nước ta tồi, dân ta tồi. Chấm hết.” Nhưng nếu là người tích cực thì ta sẽ nhìn vào các yếu tố tích cực như văn hóa Việt kính trọng thầy cô, kinh tế quốc gia phát triển khá trong thập niên qua, một số các công ty viễn thông (Internet) là công ty nhà nước, liên hệ quốc tế tốt, người Việt ở nước ngoài đông, để tính đến một kế hoạch vận dụng tất cả sức mạnh nầy vào việc cải cách giáo dục.

Critical thinking là một phương pháp phân tích để tìm hiểu một vấn đề thật kỹ. Positivie thinking là một thái độ tích cực ta có trong khi làm công việc phân tích tìm hiểu đó. Cả hai đi đôi với nhau rất tốt.

Tư duy tích cực là chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình. Thế giới của mình là cơ thể và đầu óc của mình, gia đình mình, bạn bè mình, những công việc mình làm, những người mình giao tiếp hằng ngày. Mình chủ động tích cực để biến thế giới đó và những người trong thế giới đó trở thành vui vẻ hơn và tích cực hơn một tí. Thay vì cứ sống theo lối phản ứng—gặp người vui thì vui, gặp người cau có thì cau có—tức là làm cho thế giới của mình chao đảo từng phút từng giờ, thì mình chủ động giữ thế giới của mình an vui tích cực luôn luôn. Điều này, trên phương diện triết lý, có thể gọi là duy tâm, tức là dùng tâm thức của mình để quản lí mình và môi trường sống của mình đó, các bạn a.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Muốn được khen

Chào các bạn,

Hôm qua ta bàn về việc khen người khác, hôm nay ta bàn về việc được người khác khen. Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng cả hai điều này chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhưng thật ra thì không hẳn thế. Thông thường, ta không khen người nhưng lại cứ muốn người khen ta; đó chỉ là đường một chiều. 😦 Hoặc là ta khen người để được người khen ta lại; đó là đường hai chiều thuộc khu phố thương mãi. Con đường mà ta muốn đi là, ta khen bạn vì thực sự trong lòng thích khen bạn và muốn bạn vui, không khen vì mong cầu được khen lại. Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.

Không chịu khen người nhưng cứ mong được người khen, thì “không tưởng” quá rồi. Không thể xảy ra được. Nếu bạn cả đời không khen ai, mở miệng thì chê hết người này đến người khác, bỗng nhiên có một cậu đến, tối ngày khen tặng tâng bốc bạn, thì có lẽ là bạn nên thầm hỏi tại sao.

Đằng khác, khen người để mong được người khen lại, hay để mong được cái gì đó từ người, thì đó là buôn bán. Đây là tính toán “có qua có lại.” Cũng công bình thôi. Nếu bạn khen thành thật, thì cũng được, nhưng e rằng hơi thiếu chiều sâu. Điểm yếu của chính sách thương mại này là, bạn sẽ không có được nội lực xuất phát từ tâm. Bạn có thể làm thương mãi được, nhưng không thể có bạn thân cách này. Vì tình thân chỉ có thể xảy ra giữa những quả tim rung động thật với nhau. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là bạn có thể có “triệu người quen, chẳng mấy người thân.” Đó là một thế giới rất băng giá! Và trong trường kỳ, cơ hội thành công lớn cũng thấp, vì thông thường là ở cấp rất cao trong thế giới thương mãi cũng như thế giới chính trị, người ta thường tìm bạn bè thân để làm việc với nhau.

Bạn tôi
Bạn tôi

Khen người thật lòng nhưng không mong cầu được người khen lại. Đây có vẽ như là lối sống của thánh nhân, nhưng bạn đừng vội phàn nàn (“Trời ơi, ông ơi, tui đâu có muốn làm thánh. Tui còn đủ hỉ nộ ái ố bi lạc dục và còn muốn dancing và enjoy đời mà. Ông đừng biểu tui đi tu, tội nghiệp tui lắm”). Biết rồi, khỗ lắm, nói mãi! Trong liên hệ con người, “bất chiến tự nhiên thành” gần như là qui luật bất di bất dịch. Hôm qua chúng ta có nói, người bán hàng không có chiều sâu cứ dùng mọi thủ thuật hời hợt để bán cho được hàng thì có lẽ là không bán được. Nhưng nếu cứ tận tâm phục vụ khách hàng nhiệt tình, như một người bạn tốt, mà không cần biết là người ấy sẽ mua hay không, thì mọi người sẽ đến mua hàng nhiều hơn. “Không đánh mà tự nhiên thắng” là vậy. Ai trong chúng ta cũng biết lý lẽ này.

Liên hệ con người thường như thế. Nếu ta hành động chỉ vì người, và không vì chính ta, thì mọi người tự nhiên muốn đến với ta. Mình gọi đây là qui luật “Cánh đồng trống.” Lòng ta là một cánh đồng, nếu cánh đồng không có một hòn đá “tôi” to như quả núi đè mất, thì chim chóc sẽ về tràn ngập cánh đồng xanh. Khen người chỉ vì ta quí người và muốn người vui, mà không mong cầu gì cho ta (ngoài việc ta vui vì đã làm người vui), thì tự nhiên là sẽ có nhiều bạn bè thân thiết, và cơ hội thành công lớn trong đời cứ như vậy mà tăng theo. Đó là tại sao mà mình nói bên trên: “Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.”

Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Vì chúng ta đã quen suy nghĩ về “tôi, tôi, và tôi” nhiều quá, nhất là trong thế giới làm ăn, cho nên ta cần có kỷ luật một tí để tập thói quen chú tâm đến cái hay cái đẹp và cái an vui của người khác trong liên hệ hằng ngày. Qui luật “cánh đồng trống” đúng ngay cả trong thương mãi. Thương mãi cũng chỉ là liên hệ con người như bao nhiêu loại liên hệ khác. Nếu ta cho rằng liên hệ thương mãi đòi hỏi ta phải ích kỷ và chụp giật, thì rõ ràng là ta chưa nắm vững được bản chất của thương mãi cũng như bản chất con người. Một điều khó khăn khác là, qui luật “cánh đồng xanh” đòi một tí kiên nhẫn. Phần thưởng sẽ đến từ từ–chậm nhưng chắc. Vì đây không phải là qui luật “tiền trao cháo múc”, cho nên bạn cần kiên nhẫn một tí. Nhưng không sao, vì khi áp dụng qui luật này, bạn đâu có mong cầu gì cho mình, phải không? Mà đã không mong cầu là thừa kiên nhẫn.

Điều cuối cùng ta cần nắm vững là, nếu ta cứ muốn được người khen thì ta sẽ rất chơi vơi và nhiều stress. Chơi vơi vì cứ phải cố làm cái gì đó để hằng trăm hằng nghìn người quanh ta thích thú khen ngợi. Mà mỗi người một ý. Chạy theo ý muốn của một nghìn người, đương nhiên là phải nhảy choi choi như con lật đật chơi vơi trên mặt nước. Và như vậy thì nhất định là sẽ rất nhiều stress. Mà stress thường phá vỡ mọi thứ, từ sức khỏe, đến công việc.

Nắm vững các qui luật liên hệ con người. Cứ từ tốn làm việc, và kiên nhẫn một tí. Kết quả sẽ đến nhanh hơn bạn nghĩ. Có lẽ bạn đã nghe, hoặc qua tiểu thuyết hoặc qua chuyện có thật, rất nhiều người than trước khi nhắm mắt: “Cả đời tôi không có được một người thân.” Bạn có bao giờ thắc mắc về câu đó không? Sống mấy mươi năm trong một thế giới mấy tỉ người mà lại không có được một người thân. Sao vậy? Đó không phải là một bi kịch sao?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khen

Chào các bạn,

Đối với người Việt chúng ta thì có lẽ những ngôn từ được sử dụng tần tiện nhất, tần tiện đến mức keo kiệt, là những lời khen. Rõ là “Lời nói không mất tiền mua, tự do mà nói miễn đừng có khen.”

Đến sở làm thấy cô bạn mặc chiếc áo đẹp, mới mở miệng “Trời, hôm nay Vân đẹp quá” là mấy quí vị cùng phòng đã bắt đầu nheo nheo mắt… “Hmm… coi bộ bắt đầu thả câu.” Về nhà mới khen thằng con trai chưa hết một câu, bà chủ đã “Anh cứ làm hư con. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Cứ như vậy con cái nó lên ngồi trên đầu.” (Quí vị ơi, quý vị có ghét thì xin cho một hộp sô-cô-la, nhất là loại made in Switzerland. Mình hứa là sẽ không leo lên đầu quí vị). Ở trường thì dễ được ăn bạt tai hơn là được một lời khen. Đi làm, mình làm việc giỏi đến mức văn phòng của mình mọi việc trôi chảy, chẳng có xì-căng-đan gì bao giờ, thì chẳng ai thèm để ý. Hơi có ai đó phàn nàn bậy bạ, thì cả nước nhào vô dũa.

Nếu mỗi ngày, tổng số từ ta nói trong ngày chia ra đúng 50% khen và 50% chê, thì đó đã là quản lí và giáo dục “nửa mùa.” Nếu chê 75% và khen 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng stress. Nếu khen 75% và chê 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng mạch nha. Trong văn hóa “thương cho roi cho vọt” của ta, tăng lời khen lên đến mức nửa mùa là đã khó khăn lắm rồi, nói chi là mạch nha. Bạn có muốn ông hàng xóm mang cái roi mây bóng lưỡng đến đét thẳng tay mấy cái vào mông bạn, rồi mở miệng cười huyềnh huệch, khoe chiếc răng vàng lấp lóe, “Tôi yêu chị lắm chị ơi ,” không? Thế thì tại sao bạn lại tin rằng bạn có thể đem thủ thuật đó áp dụng cho con cái, thân nhân, bạn bè?

Khuyến khích em
Khuyến khích em

Mà mình cũng không hiểu truyền thống “thương cho roi cho vọt” này đến từ đâu. Một lần, đã lâu lắm rồi, trong một buổi cà-phê đàm trong một quán nhậu—đây là sự thực, vào quán nhậu nhưng gọi cà-phê—một người bạn của mình lý giải: “Tôi nghĩ có lẽ đó là từ văn hóa Phật giáo. Làm như vậy để tập cho trẻ con biết dẹp cái tôi của mình xuống.” Mình trả lời ngay là mình không thấy Phật giáo có “mùi” đó, chứ đừng nói là có “rễ”. Phật học rất coi trọng nhân cách của mỗi cá nhân và dạy người ta rằng “mỗi người chúng ta, kể cả những người xem ra tệ hại nhất, đều có Phật tánh trong lòng, đều là Phật-đang-thành, và nhất định là một ngày nào đó—kiếp này hoặc một kiếp sau nào đó–sẽ đắc đạo thành Phật.” Lý thuyết vô ngã của nhà Phật dạy chúng ta đừng chấp vào cái ngã của mình, đừng kiêu căng hợm hĩnh, chứ không nói là phải coi thường, chà đạp và đánh đập nó. Hơn nữa, giáo dục nhà Phật là tự giáo dục, tự giải thoát, chứ không phải do người khác cầm cây đập.

Theo mình nghĩ, chắc chắn là khi mấy chú ba bên Trung quốc sang đô hộ tiền nhân ta mấy ngàn năm về trước, nếu các chú thông minh một tí (và dĩ nhiên là các chú rất thông minh), chắc chắn là các chú phải tay thì quất roi vào dân bản xứ, miệng thì “Ngộ ái lị a. Ngộ ái lị a.” Đến thời các anh Phú-lang-sa thì nhất thiết phải là tay thì bạt tai miệng thì “je t’aime.” Nhất định phải là như vậy, vì bản chất chính trị của đô hộ và nô lệ hóa phải là như thế. Và nếu ngày nay ta vẫn còn yêu quí phương pháp vừa bạt tai vừa “I love you” này thì đó phải là hội chứng Stockholm.

Có lẽ là không cần nói nhiều thì chúng ta ai cũng biết tầm quan trọng của tính tự trọng trong việc phát triển năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo của con người. “Tự trọng” là tự tôn trọng mình. Tức là mình phải thấy mình có cái gì đó đáng tôn trọng. Mà làm sao thấy được cái gì đáng tôn trọng trong mình khi mình cứ bị phê phán, roi vọt, hằng ngày? Cách thông thường nhất để chúng ta thấy được cái hay của mình là nhờ người khác vạch ra: “Trời, mắt chị đẹp quá”, “chiếc áo này hợp với chị quá”, “chị thông minh quá cở”, “chị giỏi ngoại giao quá.” Dù là người lớn hay là trẻ em, rất khó để phát triển tánh tự trọng khi tối ngày chỉ được nghe đến cái yếu của mình mà chẳng thấy ai nói mình có điểm nào hay cả.

Khuyến khích
Khuyến khích

Dĩ nhiên là lời ta khen làm cho người được khen tích cực và yêu đời hơn. Nhưng đối với những người thực tập tư duy tích cực, lời khen lại còn quan trọng nhiều hơn nữa, vì lời khen tặng người khác ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy của chính ta. Thứ nhất, lời ta khen người khác sẽ cho chính ta biết rằng ta tự tin. Bởi vì chỉ có người tự tin mới khen người khác, người không tự tin thì ghen ghét và thường bới móc cái yếu của người khác. Thứ hai, chỉ có người đủ tích cực trong tư duy mới thấy được nhiều cái hay cái đẹp của người khác để mà khen. Nếu không đủ tư duy tích cực thì không thể thấy cái gì hay đẹp cả. Thứ ba, khen người khác tức là nâng người ta lên, mà nâng người khác lên đương nhiên có nghĩa là giảm ta xuống. Nghĩa là, chỉ có người khiêm tốn trong lòng mới hay khen người khác. Thiếu khiêm tốn thì rất khó mà khen. Thứ tư, càng yêu nhiều người chung quanh, ta càng thấy nhiều điểu hay đẹp của họ và càng muốn tán dương họ bằng lời. Các cặp tình nhân đều như thế. Đó là bản tính con người. Vì vậy nếu ta ít khen, hãy tự hỏi: “Thực sự là mình có yêu ai chung quanh mình không đây?” Vì vậy , trước khi lời khen tác động như là một phương cách giáo dục và quản lí đối với người khác, ngay lúc còn ở dạng tư tưởng trong đầu ta, trước khi nói ra, lời khen dành cho người khác đã là phương thuốc thần diệu cho chính ta và là thước đo cho chính ta. Khen người nhưng thực ra là để luyện tập tâm mình.

Ở trên, chúng ta có nói đến giáo dục và quản lí mạch nha với 75% khen và 25% chê, nhưng đó chỉ là mức thấp. Đến mức quản lí tuyệt đỉnh thì chỉ còn 100% khen, và chẳng còn tí nào chê hết. Ví dụ: Người cộng sự của mình hơi yếu về quản lí thời gian, mình có thể nói: “Em rất hay, rất analytical, giỏi communication, giải quyết mọi vấn đề rất nhanh chóng và chính xác. Nếu em quản lí thời gian hay hơn một tí, làm cho việc sử dụng thời gian có hiệu quả hơn, thì năng xuất của em sẽ còn tăng thêm được rất nhiều.” Ta vẫn có thể khen trong khi giúp người cộng sự thấy được khuyết điểm của họ.

Trong tư duy tích cực, chê là tiêu cực, không cần dùng đến, không nên dùng đến. Hơn nữa, đây là một điểm quan trọng khác mà người tư duy tích cực cần lưu ý: Chê thường là phản ánh tính tiêu cực của người nói. Nếu ta chê, mà không biết dùng lời khen để vạch ra khuyết điểm, thì, một là, khả năng sử dụng lời nói của ta còn yếu, hai là, ta còn rất tiêu cực trong tư duy. (Tuy nhiên quản lí là một nghệ thuật. Trong trường hợp nào đó, với một người nào đó, có thể là chê thẳng mặt, thì người đó mới “nhập tâm” lúc đó. Nhưng đây là ngoại lệ, mà đã là ngoại lệ thì có nghĩa là chỉ nên có một năm một lần).

Để kết thúc, chúng ta có thể làm một trắc nghiệm về chiều sâu của vấn đề một tí. Nếu bạn đã từng cầu nguyện với Chúa, với Phật, với trời đất, với bất kỳ ai đó, bạn cầu nguyện đại khái như thế này, “Ngài là đấng toàn năng, biết tất cả mọi điều, đầy lòng yêu thương đối với chúng con. Xin ngài cho chúng con được bình an, qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu này nhanh chóng,” hay là như thế này, “Thôi đi ông ơi. Ông làm ăn kiểu gì mà thế giới cứ tùm lum đủ mọi chuyện lộn xộn hằng ngày. Dzậy mà còn ngồi chễm chệ trên đó”?

Các đấng tối cao không cần được khen mà ta vẫn cứ khen. Ta khen các ngài là vì các ngài cần nghe, hay vì ta cần tỏ lòng tôn kính?

Ta khen mọi người vì mọi người cần nghe, hay ta cần tỏ lòng quan tâm và quí mến họ?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

TB: Oops! Quên nhắc các bạn đàn ông: Hôm nay đã khen “your house” câu nào chưa?
.
Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use