All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Thiếu Kinh Nghiệm Làm Việc?

Chào các bạn,

Khó khăn nhất của sinh viên mới ra trường là đi tìm việc, vì nơi nào cũng tuyển người có kinh nghiệm, mà mới ra trường thì thường không có kinh nghiệm. Vậy thì làm thế nào để bạn có được kinh nghiệm làm việc trước khi ra trường.

Dĩ nhiên cách mà mọi người thấy được ngay là tìm một công việc bán thời gian để làm trong khi còn đi học. Loại công việc này quan trọng hơn là số lương ít ỏi bạn có từ nó, vì nó cho bạn kinh nghiệm và tăng giá trị CV của bạn. Nhưng nếu bạn không tìm được việc làm tin học nào thì sao?

Có nhiều cách để chúng ta có việc làm, và cách dễ dàng nhất luôn luôn là làm việc không công. Rất nhiều đại học tại nhiều quốc gia có các chương trình cho sinh viên thực tập tại các công ty (“internhip”). Tuỳ theo mỗi công ty, các chương trình này có thể có lương hoặc không lương, nhưng điều chính là các chương trình này cho sinh viên kinh nghiệm và giá trị CV. Nếu trường của bạn không có chương trình này, thì bạn vẫn có thể xin với người quen nào đó, để vào thực tập không công cho công ty của họ.

Tại nhiều đại học, các giáo sư cần phụ tá trong việc nghiên cứu. Nếu bạn xung phong xin làm phụ tá không công cho giáo sư, thường thường là các thầy cô sẽ rất hoan nghênh. Chỉ cần xung phong làm việc vài ba tiến đồng hồ một tuần là bạn đã có thêm được một công việc hấp dẫn để ghi vào CV.

Ngoài kinh nghiệm và giá trị CV, các công việc bán thời gian, dù là có lương hay không lương, đều cho bạn thêm một lợi ích lớn lao khác là mở rông mạng lưới quan hệ, Có thể công ty bạn thực tập sẽ mời bạn ở lại làm việc sau khi ra trường. Hoặc là bạn có thể có liên hệ tốt với các khách hàng cuả công ty nơi bạn thực tập, và các liên hệ tốt đó sẽ giúp bạn tìm việc sau này.

Nói chung là bạn phải tìm cách lao đầu vào thị trường và công việc càng sớm càng tốt, trong khi còn đi học. Trừ khi bạn rất cần tiền, nên chú tâm vào công việc mà không nên quá quan tâm vào việc lương bổng. Lương hay không lương, kinh nghiệm và CV đều có giá trị như nhau. Bạn có thể là “mới ra trường” nhưng vẫn “nhiều kinh nghiệm.” Đó chính là khả năng tìm việc của bạn say này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Chú thích: Bài này đã đăng trên Báo Lao Động khoảng 3 năm trước.

Không Đề

Chào các bạn,

Bài thơ này của Ngô Thế Oanh thực là sáng tạo trong cách viết, làm cho những tư tưởng và tình cảm thật quen thuộc bỗng thức dậy trong ta như một đợt triều mới, dâng nhẹ ngập lòng.

Bài này và bản dich tiếng Anh của mình đã đăng trong tạp chí văn học Illuminations năm 2001.

Xin giới thiệu với các bạn.

Hoành
.

.

Không Đề

Tôi vẫn thầm mong được gặp lại tháng năm
tinh khiết những đóa hoa màu trắng
mở nhè nhẹ trên lòng tôi yên tĩnh
mùa hạ ấy xa rồi mùa hạ ấy xa rồi

em đi bên tôi mơ hồ thoáng nét cười
vòm long não trong xanh màu ngọc bích
giá tôi có thể quên giá mà quên được

biết làm sao để đừng nhớ về em

và tôi đi chầm chậm dọc Hương Giang
trời trong suốt dòng sông trong suốt

Huế đẹp đến tưởng chừng không có thực
bao nhiêu người đã yêu đã hạnh phúc khổ đau

mùa hạ ấy xa rồi bây giờ em ở nơi đâu
thành phố rộng đường tôi không thuộc hết
hoa vẫn trắng những cánh màu tinh khiết

mùa hạ ấy xa mùa hạ ấy xa rồi…

Ngô Thế Oanh 5/1985
(Tình Bạn Tình Yêu Thơ
Nhà XBGD, Hà Nội 1987)

.

Untitled

I’ve been longing to see again the years and months
pure white flowers
gently opened on my quiet heart

that summer is far that summer is already far

you walked by me vaguely smiling fleetingly
the camphor foliage green the color of jade
if I could forget if it could be forgotten

what to do not to think of you

and I walk slowly by Huong River
the sky’s transparent the river’s transparent

Hue’s so beautiful as to seem unreal
how many have loved have rejoiced and have been pained

that summer is already far where are you now
the city’s so large I don’t know all the streets
the flowers still white the petals’ color of purity

that summer is far that summer is already far…

TĐH translated July 29, 1998 (March 5, 2000)

Câu hỏi cuối

Chào cả nhà,

NUH Singapore
National University Hospital (Singapore)

Truyện ngắn này đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật năm 1997, dưới bút danh Trần Đình.  Cuối bài, thấy đề ngày viết xong là 27.1.1997, như vậy là lúc đó mình đang bị bệnh tại Singapore, đã xuất viện và về nhà viết được. (Thực ra là bây giờ mình không nhớ đã viết lúc nào. Có lẽ lúc đó bệnh dữ quá nên trí nhớ không ghi lại tốt).

Tuổi Trẻ đăng bài này sau đó một thời gian ngắn, có lẽ tháng 2 năm 1997.

Gọi là truyện ngắn, nhưng tất cả đều là chuyện thật, ngoại trừ chữ “h” đã được đổi thành chữ “g”.

Chia sẻ tâm sự với cả nhà.

Hoành

.

Câu Hỏi Cuối

    Truyên ngắn Trần Đình

Lúc Minh Hải mới học lớp năm trường Thánh Tô Ma nhà thờ Ba Chuông trên Trương Minh K‎ý mà ngày nay gọi là Lê Văn Sỹ, Hoàng đã để ‎ý đến cô bé. Hai nhà chỉ cách nhau một con hẻm trong Cư Xá Kiến Thiết; hai bà mẹ thân nhau. Lần đầu tiên thấy cô bé, xinh và rất thông minh, cậu bé lớp chín Thánh Tô Ma đã thầm hứa là sẽ đợi vài năm, đến khi cô bé lớn hơn cậu sẽ cặp bồ.

truongSaintThomas
Trường Saint Thomas - ngày nay là Trường THPT Phú Nhuận

Mấy năm sau đó cậu bé Hoàng bận rộn với những cô bạn gái. Hai bà mẹ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau và thỉnh thoảng Hoàng vẫn có một tí tin về Minh Hải qua mẹ. Cô bé càng ngày càng đẹp và càng nổi tiếng thông minh. Dù học cùng trường nhưng Hoàng học buổi sáng, Minh Hải học buổi chiều, nên chẳng gặp nhau. Năm Hoàng lên lớp mười hai, cả đám con trai lớp Hoàng và hàng tá các lớp dưới xoay quanh Minh Hải. Cô bé bây giờ đã lên lớp tám, đổi sang buổi sáng, và trở thành người con gái đắt giá nhất trường. Nhìn đoàn con trai bủa vây Minh Hải, Hoàng tự nhủ thầm bây giờ thì mình cũng chỉ có thể là một con ruồi bám theo đĩa mật như đàn ruồi này thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Đành đứng xa nhìn cô bé cười rạng rỡ giữa đám con trai và tiêng tiếc sự khám phá thuở xưa.
ao-dai-trang-04-2
Khoảng hai năm sau nhà Minh Hải dời về Thủ Đức; Hoàng không còn nghe mấy về cô bé. Năm thứ ba luật khoa, nhân dịp theo Phê về nhà Phê ở Tân Uyên, Hoàng ghé qua Thủ Đức hỏi đường thăm Minh Hải. Nhà nàng ở trên đường vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức quanh co vài con hẻm. Hàng hiên trước nhà bày bán tạp hóa lặt vặt, nước ngọt, thuốc lá, xì dầu, bánh kẹo. Mấy đứa em nàng quấn qu‎ýt bên Hoàng. Nàng đang học lớp mười một ở Đức Minh, nhưng đã trở thành một nhà văn trẻ thường xuyên trên báo Sóng Thần. Bọn con trai ở Sài Gòn đã không theo nàng về Thủ Đức. Hoàng đến thăm Minh Hải hàng tuần. Mẹ Minh Hải có vẻ mến Hoàng. “Có gì thì cũng đợi học hành xong đã nghe con,” bà nói. Hoàng đã dạ dạ gật gầu và trong lòng đã rất vui. Thỉnh thoảng Hoàng lại gởi Minh Hải thêm một lá thơ giữa những ngày về thăm. Lá thơ đầu tiên chàng gởi, Minh Hải đã thuộc lòng và Hoàng đã rộn ràng ngạc nhiên khi nghe nàng đọc lại tờ thơ không sót một chữ.

Lâu lâu Hoàng lại rủ Minh Hải nghỉ học đi chơi. Lần đầu tiên vào Hầm Gió gần Ngã Bảy, Minh Hải đã tựa sát vai Hoàng và nhờ đó chàng đã có đủ can đảm để thám hiểm một nụ hôn. Cho đến lúc bấy giờ Hoàng vẫn chưa biết hôn thế nào cả; chỉ thấy người ta kề môi nhau trong xi nê, vậy thôi. Hoàng đã phân vân rất lâu trong quán cà phê mờ ảo, chỉ sợ chạm môi nhau xong không biết phải làm gì, lại rút về thì ngượng chết được. Cuối cùng đành đánh bạo “Đến đâu hay đến đó,” kéo sát Minh Hải vào lòng và đặt môi chàng lên môi Minh Hải. Rất may là Minh Hải đã hôn rất nhanh, rất sâu và rất nóng. Hoàng học được hôn nhau từ đấy và trong lòng thầm cám ơn thầy Minh Hải.
holdinghands
Những quán cà phê ngoài xa lộ Biên Hòa, vắng lặng riêng tư, nhìn ra cánh đồng trống vắng, trở thành quen thuộc. Những buổi hẹn hò đi xa hơn thế giới văn chương thuở trước của Henry Miller, Albert Camus, Calih Gibran, đến những vòng tay chặt, những nụ hôn sâu, những ve vuốt nồng nàn và những giấc mơ thầm kín. Minh Hải mơ ngày sau sẽ tham dự chính trường, sẽ thành dân biểu, sẽ đóng góp vào việc lãnh đạo quốc gia. Nàng mơ ngày đàn bà con gái thực sự ngang hàng với đàn ông và người phụ nữ không còn bị gọi là phái yếu. Hoàng đã lắng nghe những giấc mơ của nàng và đã tin là mình thực sự yêu nàng, yêu ồ ạt và nồng nhiệt. Đã có lần Hoàng rủ Minh Hải đứng hôn nhau khoảng nửa tiếng đồng hồ trước cổng trường Đức Minh giờ tan học, Minh Hải đã cười, “Nếu anh dám làm thì em dám làm,” và đến giờ chót thì chính Hoàng đã rét. Một lần khác chở nhau về Sài Gòn, Hoàng đã quay ra sau hỏi, “Em có bằng lòng vào khách sạn với anh không?” Minh Hải đã nói, “Anh đưa em vào đâu em cũng vào hết,” và Hoàng đã không dám vào vì tự xét là chưa đủ khả năng đảm nhận hậu quả. Dù vậy, những cái gật đầu không cân nhắc của Minh Hải vẫn làm Hoàng thấy cái gì đó thật ấm và thật đẹp—lòng tin nẩy mầm giữa tình yêu như nhụy vàng lung linh giữa những cánh hoa nhung trắng.
aodainonla
Nhưng một ngày nào đó, bỗng nhiên Hoàng không còn thiết tha gì đến Minh Hải nữa. Đám hoa quỳ rực lửa hôm qua bỗng nhiên gục héo. Không một lý do. Hoàng cũng chẳng biết tại sao. Chỉ biết là tất cả mọi rung cảm bỗng nhiên bị cắt, như chiếc máy hát bị cúp điện nửa chừng. Chàng ngưng thăm, ngưng viết thơ, ngưng liên lạc mà không một lời giải thích, không một câu xin lỗi. Những lá thơ của Minh Hải đã không được hồi âm. Đã một lần chàng viết thơ trả lời, nhưng thực sự là chỉ viết nhăng viết cuội mà chẳng có tí trả lời nào cho câu hỏi “Sao lâu quá anh không về thăm nhà mẹ?” Nhiều năm sau Hoàng vẫn thắc mắc về hiện tượng đó và vẫn chưa bao giờ tìm được câu trả lời chắc chắn. Khoảng 15 năm sau, khi Hoàng đã trưởng thành và đã khiêm tốn hơn xưa rất nhiều, chàng đã nghĩ có lẽ lúc đó chàng sợ. Minh Hải rất thông minh, rất mạnh mẽ, và rất nhiều mộng lớn. Một người con gái như vậy luôn luôn là cái gì đó đe dọa tự ái, tính kiêu căng và máu gia trưởng của đám đàn ông. Dù Hoàng thuở ấy nghĩ là mình rất tự tin, có lẽ chàng chưa đủ tự tin để chỉ yêu mà không thấy bị đe dọa, sợ hãi. Có lẽ là nỗi sợ hãi đã bùng lên trong tiềm thức như những vùng cỏ dại, vươn cao, vươn rộng, vươn dài, che tối cả vùng tâm thức, và chỉ trong một đêm bóp nghẹt được tất cả những xúc cảm yêu ái trước đây, đồng thời ép được ‎ý thức tạo nên khoảng cách phòng thủ. Đằng nào đi nữa thì hậu quả là Hoàng tự lánh xa hay chạy trốn Minh Hải.

Vài tháng sau đó, Minh Hải về Sài Gòn học mười hai ở Văn Học, cùng trường với Hà, em gái Hoàng. Hoàng hay đến trường đón em mỗi chiều và thỉnh thoảng lại gặp Minh Hải. Mỗi lần gặp nhau nói chuyện vài ba câu. Minh Hải luôn luôn hỏi tại sao anh không còn muốn gặp em nữa. Anh có bạn gái khác phải không? Không. Anh hết yêu em rồi phải không? Không. Thế thì tại sao? Anh không biết. Anh không đáng với em. Quên anh đi. Nói nhăng nói cuội. Chẳng đâu vào đâu cả. Rồi lại chào nhau đi. Lần cuối cùng gặp nhau, Minh Hải đã hỏi Hoàng một câu, và chính câu hỏi này đã theo đuổi châm chích Hoàng nhức nhối cả hai mươi năm sau.
goodbye
Đó là một buổi chiều nắng nhẹ. Hoàng đến Văn Học đón Hà như thường lệ. Nhìn sang bên kia đường, Minh Hải, áo dài trắng, nón lá, đang đứng đợi chuyến xe đò Sài Gòn – Thủ Đức. Hoàng mỉm cười, gật đầu chào, và vòng xe sang đường. Minh Hải đã im lặng nhìn chàng rất lâu, rồi nói chầm chậm từng chữ một, “Tại sao anh cứ cố tình đẩy em ra khỏi cuộc đời của anh vậy?” Hoàng nghe chới với. Câu hỏi chầm chậm rót vào tim nhói buốt như những hạt chì nóng lỏng nhỏ xì xèo trên những cơ tim đỏ hỏn. Trời chiều xám và buồn vô hạn. Một luồng điện chạy ồ ạt từ thắt lưng theo xương sống lên tận đỉnh đầu. Hoàng rùng mình lành lạnh. Chàng nghe như nước mắt đang ứa ra ngoài. Cắn môi thật chặt. Nhìn đăm đăm xuống vệ đường. Hàng rào phòng thủ sụp đổ. Hoàng định bảo Minh Hải lên xe chở nhau đi đâu đó một vòng, và như vậy nghĩa là đường xưa nối lại. Nhưng Hoàng còn ấp a ấp úng thì chiếc xe đò Sài Gòn Thủ Đức đã đỗ lại bên đường. Minh Hải chạy đuổi theo xe, bước lên. Hoàng lặng lẽ nhìn theo. “Thôi,” chàng chắt lưỡi. Đó là lần cuối Hoàng gặp Minh Hải. Hai mươi năm sau, hình ảnh người con gái, vạt áo dài trắng lồng lộng gió, hấp tấp lao vào đám bụi mờ của chiếc xe đò, vẫn rõ ràng trong tâm thức như mới hôm qua.

Chẳng mấy chốc sau đó thời cuộc đưa Hoàng qua tận Mỹ. Đời sống mới sầu thảm và nhiều gian khổ. Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ em, lo ăn, lo ở, lo học hành, lo phấn đấu với xã hội mới. Con cá nước ngọt bị bỏ biển đông. Ngụp lặn trong muối rát. Dần dần rồi cũng quen đi. Hoàng lập gia đình. Thời gian vượt rất nhanh khi người ta phải quần quật lo lắng mỗi ngày. Nhưng rất nhiều khi Hoàng nhớ Minh Hải, và mỗi lần như vậy câu hỏi cuối cùng của nàng văng vẳng châm chích buồng tim. Từng mũi kim xuyên nhức nhối.

WashingtonDC-The Mall
The Mall

Bao nhiêu năm Hoàng chẳng nghe gì về Minh Hải. Đầu thập niên 80 Hoàng về Hoa Thịnh Đốn làm việc. Văn phòng của chàng nằm trên đại lộ Pennsylvania. Sau lưng, phía bên kia đường Hiến Pháp là Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Quốc Gia và công viên cỏ non xanh mịn trải dài giữa Quốc Hội và Tòa Nhà Trắng mà dân địa phương gọi là The Mall, với một dọc mười mấy viện bảo tàng và một loạt văn phòng chính phủ cổ kính uy nghi. The Mall là trung tâm du lịch của thủ đô. Vào mùa hè du khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về Hoa Thịnh Đốn, đi lại ngang dọc tràn ngập The Mall. Vào những giờ nghỉ trưa, Hoàng hay đi một mình dọc The Mall, dưới những tàn cây rộng, cạnh những đàn bồ câu hiền lành trên thảm cỏ xanh, luôn luôn mang cảm giác lạc lõng, cảm giác buồn buồn của những người xa xứ, luôn luôn nhìn đăm đăm vào mặt những người phụ nữ có vẻ Á Đông, tìm Minh Hải. Trong lòng chàng vẫn mải ôm tia hy vọng lạ lùng là nếu Minh Hải đang ở đâu đó trên thế giới, biết đâu nàng lại chẳng đến Hoa Thịnh Đốn thăm viếng The Mall.
Vietnam-Memorial-Wall
Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh (Phục Vụ Tại) Việt Nam

Những ngày trời buông mây xám, không muốn về làm việc sớm, Hoàng lại thả bộ qua Tòa Nhà Trắng đến tận cuối The Mall, thăm đài tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam. Bức tường đá hoa cương chữ V dưới lòng đất, trang nghiêm, âm thầm, sầu thảm. Một mảng V đen lớn chồng thêm trên những bóng tối cuộc đời. Vòng trở lại sở, những bước chân chầm chậm, câu hỏi cuối cùng của Minh Hải luôn luôn châm chích, khiêu khích, bỡn cợt trên những dải nắng mưa. Cái cảm giác có tội hoài đeo đuổi. Hoàng chẳng biết tội gì. Nhưng bóng áo dài trắng lồng lộng buổi chiều xa xưa đó vẫn hoài quấn xiết đeo đuổi như những mảng mây mồ côi giữa nắng chiều bàng bạc theo bóng người ta trên mọi nẻo đường đời. Thỉnh thoảng Hoàng mua được một tờ báo từ trong nước gởi ra, chàng liếc nhanh qua tên các tác giả, hy vọng là tìm được nàng trong số những người viết lách. Đầu thập niên 80 Hoàng có dịp gặp anh tổng biên tập cũ của báo Sóng Thần ở Virnigia. Anh ấy bảo là có biết Minh Hải nhưng chẳng hề có tin tức gì về nàng từ dạo anh đi cải tạo nhiều năm về trước. Những buổi trưa của Hoàng trong gần hơn một thập niên vẫn là những bước âm thầm và những đôi mắt kiếm tìm dọc The Mall.
cà phê võng
Những năm đầu thập niên 90 Hoàng thỉnh thoảng về lại cố hương công tác, nhưng không có dịp hỏi thăm tin tức Minh Hải. Năm 1996 trở lại Sài Gòn, cùng cậu em chở nhau lên Thủ Đức. Cảnh vật đã đổi. Người ta xây cất thêm khá nhiều. Hoàng không còn nhận ra con hẻm cũ. Vào hàng chục con hẻm hỏi thăm, chẳng ai biết gì về Minh Hải.

Hai anh em trở ra xa lộ, nằm võng, uống cà phê. Những chiếc xe chạy qua, những tiếng máy ập gần mờ xa. Những đám mây trắng buông ngang những vòm bạch đàn tha thướt. Câu hỏi cuối cùng của Minh Hải vẫn châm chích trong lồng ngực và văng vẳng trên những tầng mây trắng. “Tại sao anh cứ cố tình đẩy em ra khỏi cuộc đời của anh vậy?”
sky
Một ngày nào đó, nếu gặp lại, Hoàng sẽ kể cho nàng nghe những tìm kiếm trong suốt hai mươi năm. Và chàng sẽ nói, chàng vẫn không có câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng buồn thảm ấy.

Trần Đình
Singapore, 17 tháng 1, 1997

Phụ chú:

* Cậu em ở cuối truyện là Hùng. Lan, em gái của Hùng, là thím của Đặng Nguyễn Đông Vy. Hùng là cậu em mình thương nhất trong tất cả cậu em ở Sài Gòn. Mình có hứa là sẽ cố gắng lo cho Hùng nhiều điều. Nhưng lần gặp nhau trong truyện là lần cuối. Khoảng năm 2000 hay 2001 gì đó, Hùng qua đời vì bệnh. Coi như lời hứa không làm được, lại cũng vì thời thế.

* Nhà Thờ Ba Chuông đã được sửa chữa với kiến trúc Á Đông đặc sắc, hoàn thành năm 2008. Xin xem bài dưới đây.

Danh Xưng Giáo Xứ

Thứ hai, 12 Tháng 1 2009 09:44

Danh Xưng Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông

“Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.

Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas.

nhathobachuong1
Toàn cảnh Tu Viện - Đài Đức Mẹ Apollo - Nhà Thờ

Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962.

Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08.

Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có kiến trúc khá độc đáo, với nhiều nét cong uyển chuyển mềm mại. Nhà thờ hình thánh giá với hành lang rộng và hàng hiên gợn sóng. Nhà thờ dài 50 mét, rộng 18 mét, hai tay thánh giá 25 mét, theo thiết kế của kiến trúc sư Võ Văn Tần. Mặt tiền hình quả chuông úp, với cuốn sách mở trên có chữ Veritas, nghĩa là chân lý, thánh giá và các nhành thiên tuế tử đạo.

nhathobachuong2

Nhưng ấn tượng nhất với mọi người là tháp chuông ba khía mầu đỏ sẫm, cao 14 mét, được xây tách biệt về phía cổng nhà thờ. Dáng tháp chuông thon thả, phía trên nở ra như một bông huệ, khoe cho mọi người thấy ba quả chuông. Phía trên cùng có quả địa cầu cách điệu, gồm những đường kinh tuyến và vĩ tuyến, đôi khi được thắp điện sáng ngời. Có lẽ chính vì thế mà nhà thờ được dân gian đặt cho một tên gọi mới là “Nhà thờ Ba Chuông”.

nhathobachuong3

Cho đến hôm nay đã gần nửa thế kỷ, “Nhà thờ Ba Chuông” trở thành một danh xưng phổ biến và quen thuộc với nhiều người. Có những cuốn Agenda còn giới thiệu với khách du lịch về nhà thờ “Three Bells” như một địa chỉ để tham quan.

Dần dà “Nhà thờ Ba Chuông” bỗng trở thành một tên riêng, dù nhiều nhà thờ khác cũng có đủ ba quả chuông. Ghép tên gọi của giáo xứ và danh xưng dân gian trên ta có Nhà thờ Đaminh – Ba Chuông.

nhathobachuong4
Noel 2008


Thủy Tiên, Thế Vinh, Richard Fuller – Một cõi đi về

Chào các bạn,

Thủy Tiên, tiếng ca thiết tha của nhạc Trịnh, với căn bệnh làm mất môi, khuôn mặt dị dạng, và tiếng nói ngọng nghịu, đã phải chui vào lu để tập nói.
thuytienthevinh
Thế Vinh chỉ còn một cánh tay nhưng vừa chơi guitar vừa chơi harmonica.

Richard Fuller người Mỹ hát nhạc Trịnh.

Nhìn bộ ba này trình diễn Một Cõi Đi Về của Trịnh Công Sơn, làm sao ta không đem lòng cảm phục?

Thật là những bậc kỳ tài! Thật là những tấm gương tích cực!

Mời các bạn thưởng thức Một Cõi Đi Về.

Sau video là 3 bài báo, về Thủy Tiên, Thế Vinh, và Richard Fuller.

Chúc các bạn một ngày vui.

Cám ơn anh Phan Quang đã giới thiệu.

Hoành
.

.

Ca sĩ khuyết tật Thủy Tiên: Vượt lên định mệnh
03.03.2008

Sau 8 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên đã trở nên ngọng líu ngọng lô. Ròng rã gần hai năm trời, cái lu đựng nước đã giúp Tiên luyện cách phát âm và tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường. Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên giấu mình vào cái lu và hát…
Tôi gặp Thủy Tiên tại cuộc Liên hoan tôn vinh những thanh niên khuyết tật thành đạt, chủ đề “Hoa cuộc sống”, do Trung ương Đoàn tổ chức. Thủy Tiên xuất hiện tại liên hoan không chỉ với tư cách một điển hình tuổi trẻ khuyết tật vượt lên hoàn cảnh, mà còn là một ca sĩ.

Lâu nay, giọng hát của cô đã khá quen thuộc đối với khán giả ở TP HCM qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ thiện, tại các phòng trà, hội quán và cả trên sóng phát thanh, truyền hình.

Người ta biết cô là một ca sĩ khuyết tật chuyên hát nhạc Trịnh và hát rất hay, nhưng ít người biết, để có được tiếng hát ấy, để có được niềm đam mê được đứng dưới ánh đèn sân khấu hằng đêm, Thủy Tiên đã trải qua một quãng đời đau đớn và tuyệt vọng đến cùng cực…

Là con gái út trong một gia đình có 7 anh em, lên 3 tuổi, cô bé Tô Thị Thanh Thủy Tiên đã mồ côi cha. Người mẹ của 7 đứa con phải còng lưng tất bật tối ngày với từng mớ rau, con cá tại cái chợ cóc nằm trong một góc phố nghèo ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM, mới có thể kiếm đủ vài ba ký gạo mỗi ngày để duy trì cuộc sống.

Lên 7 tuổi, Thủy Tiên đã biết giúp mẹ bán hàng mưu sinh. Dù cuộc sống bộn bề vất vả, khó khăn, song cô bé vẫn rất chăm học và học giỏi. Cánh diều tuổi thơ chưa kịp đón gió thì bi kịch cuộc đời đã đổ ập xuống mái đầu non nớt. Thủy Tiên bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo.

Ban đầu bờ môi cô bé xuất hiện những nốt đỏ tấy, ngứa ngáy rất khó chịu. Mọi người tưởng Thủy Tiên bị bệnh nấm, nhưng càng bôi thuốc thì những vết tấy càng lan rộng. Mẹ Thủy Tiên đưa cô bé đến một thầy lang ở khu Lái Thiêu chữa trị. Những nắm thuốc được bào chế từ thảo dược của thầy lang càng làm cho bệnh tật nặng thêm lên.

Năm lên 8 tuổi, căn bệnh của cô bé chuyển sang lở loét. Vành môi xinh xắn như bị một con chuột quái ác gặm nhấm nham nhở, buốt thấu xương. Thủy Tiên đau mà không khóc được, vì càng khóc lại càng đau. Mỗi lần bị cơn đau hành hạ, cô bé chỉ biết dùng một cái khăn ướt đắp lên miệng rồi quằn quại trên giường, lăn trên nền nhà rên la một cách bất lực trong cổ họng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ đến khi đau đớn không chịu được nữa, Thủy Tiên mới được đưa đến bệnh viện. Kết quả xét nghiệm đã làm rụng rời hết thảy mọi người trong gia đình. Cô bé bị mắc bệnh xỉ tổ mả, một chứng bệnh rất hiếm gặp trên thế giới.

Những vết lở loét xung quanh miệng cô bé là dấu hiệu cho thấy bệnh đã diễn biến rất nặng, chuyển sang giai đoạn hoại tử. Để cứu mạng sống của cô bé, không còn cách nào khác phải phẫu thuật cắt bỏ những phần môi đã nhiễm bệnh.

Bờ môi xinh xắn của Thủy Tiên mất dần, mỏng dần, nhưng khi vết khâu vừa lên da non thì vết lở loét lại xuất hiện, lại phải gồng mình chống lại những cơn đau đớn cùng cực để các bác sĩ đưa những đường dao kéo. “Bây giờ nghĩ lại, em vẫn còn rùng mình kinh hãi. Thậm chí chỉ vô tình nhìn thấy dao kéo hoặc tiếng kim loại va vào nhau, em cũng đã nổi hết gai ốc” – cô nói.

Bước vào tuổi thiếu nữ, khi vấn đề nhan sắc được ý thức một cách rõ rệt, Thủy Tiên chỉ biết gục đầu vào tấm khăn để giấu đi những giọt nước mắt mỗi khi phải đối diện với chiếc gương soi.

Nhưng bi kịch hơn cả là tiếng nói của cô đã trở nên ngọng líu ngọng lô, do bờ môi đã bị biến mất gần như hoàn toàn sau 8 lần phẫu thuật. Những cố gắng tái tạo lại vành môi của các bác sĩ cũng chỉ giúp gương mặt cô bé bớt phần dị dạng.

Đã có lúc Thủy Tiên nghĩ đến cái chết để giải thoát, nhưng khi nghĩ về mẹ, cô lại không đành lòng. “Những lúc tuyệt vọng em muốn có một căn phòng đủ rộng và kín đáo, chốt chặt cửa lại để la hét cho vơi nỗi đau đớn và tủi thân, nhưng nhà nghèo, lấy đâu ra một không gian như vậy. Vật dụng duy nhất để em có thể thu mình vào trong đó là cái lu đựng nước loại lớn của mẹ. Em đã ngồi vào đó, cốt để cho tiếng khóc của mình không ai nghe thấy…” – Thủy Tiên nhớ lại.

Những lần gục đầu trong cái lu đựng nước, Thủy Tiên nghe rõ mồn một tiếng khóc của mình vọng bên tai. Và một ý nghĩ lóe lên: Mình có thể luyện giọng nói nhờ cái lu này. Tự mình nói và tự mình kiểm nghiệm giọng nói trực tiếp.

Rất khó khăn và nan giải. Thủy Tiên dồn hết mọi khả năng có thể để phát âm từng từ một, từng âm tiết một. Có ngày tập mỏi cả miệng, đến khi ăn cơm không nhai được nữa.

Có lần cái lu ấy được mẹ đổ đầy nước. Thủy Tiên đành xả bớt đi một nửa để gục đầu vào đó luyện phát âm. Khổ cho người mẹ già, lượng nước trong lu bà phải rất vất vả mới kiếm được giữa mùa khô hạn, giọt nước quý như vàng. Bực mình, bà bắt Thủy Tiên nằm sấp xuống quất cho mấy roi vào mông. Khi hiểu rõ sự tình, con gái đang luyện giọng nói bằng cái lu nước, bà ôm chầm lấy con, nước mắt giàn giụa…

Trung bình mỗi ngày hai lần, mỗi lần hơn một giờ đồng hồ, Thủy Tiên luyện cách phát âm của một người không còn bờ môi trong cái lu ấy. Ròng rã gần hai năm trời, Thủy Tiên đã thành công. Tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường.

Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên cất tiếng hát. Cô giấu mình vào cái lu và hát. Hát cho quên đi nỗi đau, hát cho nước mắt chảy vào trong. Hát cũng là cách luyện khả năng phát âm.

Nhà có một chiếc đài cũ kỹ, Thủy Tiên sưu tầm các băng nhạc về bật lên nghe và hát theo. Nhạc Trịnh là thứ Thủy Tiên say mê nhất. Nghe nhạc Trịnh, cô như được sẻ chia nỗi đau, sự tiếp sức của tình yêu cuộc sống. Một năm, hai năm, rồi ba năm… Thủy Tiên thuộc và hát thành thạo hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn…

Sự mặc cảm về bản thân khiến Thủy Tiên sống thu mình. Rời trang sách tuổi học trò, trong lúc những người bạn cùng trang lứa, đứa thì vào đại học, đứa vào khu công nghiệp làm công nhân, Thủy Tiên chỉ biết “một cõi đi về” của mình từ nhà cho đến cái chợ cóc mà người mẹ đã còng lưng gánh nỗi ưu tư mấy chục năm rồi.

Thế giới tâm hồn của Thủy Tiên chỉ là cái lu đựng nước, đựng trong đó cả tấn bi kịch tuổi thơ và những lời ca như con chim còn nằm trong vỏ trứng…

Lệ Uyên và Thủy Tiên.

Một ngày nọ, sau khi hát với thế giới của mình, Thủy Tiên bắt gặp một người con gái trạc tuổi mình từ đâu tìm đến. Đó là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc dáng như người mẫu. Cô gái giới thiệu tên là Lệ Uyên và muốn được làm quen với Thủy Tiên.

Lệ Uyên có người quen ở gần nhà Thủy Tiên. Khi đến chơi nhà người quen, tình cờ Lệ Uyên nghe được câu chuyện về một người con gái tập hát trong lu nước. Một chút tò mò xen lẫn sự thương cảm, mến phục, Lệ Uyên tìm đến.

Uyên đang làm việc tại một công ty ở Khu chế xuất Tân Thuận, là người rất mê nhạc Trịnh và hát khá hay. Lệ Uyên là thành viên của Hội Những người hát nhạc Trịnh. Tối thứ bảy hàng tuần họ lại tụ tập về Hội quán Nhạc Trịnh tại Khu du lịch Bình Quới, hát cho nhau nghe. Thành viên của hội có cả những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Sau mấy lần đến thăm bạn, Lệ Uyên động viên Thủy Tiên hãy can đảm bước ra khỏi sự mặc cảm, hòa nhập với cuộc sống. Số phận nghiệt ngã với mình, nhưng mình không được nghiệt ngã với chính mình. Lệ Uyên đưa Thủy Tiên đến với Hội quán Nhạc Trịnh và động viên Thủy Tiên lên hát.

Lần đầu tiên đứng dưới ánh đèn sân khấu, Thủy Tiên như muốn không gian tối sầm lại, để mọi người đừng nhìn thấy mình, chỉ nghe mình hát mà thôi. Thủy Tiên hát, nước mắt chảy tràn tình khúc. Hát mà như đang kể chuyện đời mình.

Khi lời ca vừa dứt cũng là lúc cô bật khóc nức nở. Cả Hội quán lặng im. Thủy Tiên trở thành hội viên Hội Những người hát nhạc Trịnh bằng ấn tượng như thế.

Tại hội thi hát nhạc Trịnh tổ chức sau đó ít lâu, Thủy Tiên gây bất ngờ lớn khi vượt qua hàng trăm ca sĩ để giành giải nhất. Cô nổi danh từ đó. Những chương trình ca nhạc từ thiện hoặc chương trình dành cho người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,… các đạo diễn thường xuyên mời Thủy Tiên tham gia.

Sự góp mặt của cô trên sân khấu và truyền hình, không chỉ mang tiếng hát phục vụ khán giả, mà quan trọng hơn, đó là một bằng chứng sống động về một con người đã chiến thắng nỗi đau, bệnh tật để vươn lên bằng ý chí, nghị lực và trên hết là bằng sự sẻ chia của một tình bạn cao cả và cảm động.

Mỗi lần Thủy Tiên hát, Lệ Uyên đóng vai trò là người phối bè. Họ biểu diễn rất ăn ý trên sân khấu và thân thiết với nhau trong cuộc sống như ruột thịt. Lệ Uyên trở thành nguồn sức mạnh của Thủy Tiên, động viên, tiếp sức cho bạn.

Để giúp Thủy Tiên có cuộc sống ổn định, Lệ Uyên xin cho bạn vào làm việc tại Khu Chế xuất Tân Thuận với công việc kiểm hàng. Ban ngày làm việc, buổi tối họ đi hát ở Hội quán, phòng trà và tập luyện để tham gia các chương trình biểu diễn khi có lời mời.

Thủy Tiên chỉ hát nhạc Trịnh và biểu diễn rất thành công các ca khúc “Một cõi đi về”, “Đừng tuyệt vọng”, “Xin cho tôi tình yêu”, “Diễm xưa”…

Câu chuyện của Thủy Tiên đầy nước mắt, nhưng ngồi với chúng tôi, Thủy Tiên không khóc. Dường như những đớn đau, bi lụy đều đã đi qua, như bóng đêm hun hút phía sau lưng. Cô nói rằng, nếu không có Lệ Uyên, có thể giờ đây thế giới tâm hồn của cô vẫn chỉ là… cái lu đựng nước.

Còn Lệ Uyên thì không nói gì về mình. Trong ánh mắt và suy nghĩ của cô, Thủy Tiên là một người bạn tốt, đã vượt qua những nỗi đau và mặc cảm, tự ti để khẳng định mình.

Nếu như… Vâng! Nếu như không có căn bệnh quái ác ấy, thì Thủy Tiên đẹp lắm. Ánh mắt ấy, vóc dáng ấy, làn da ấy, gương mặt có cái lúm đồng tiền ấy… đủ để trở thành niềm mơ ước khát khao của biết bao chàng trai…

TP Hồ Chí Minh đầu tháng 1/2008

Phan Tùng Sơn

.

Nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh: 1 tay, chơi 2 nhạc cụ!

Thứ tư, 21 Tháng bảy 2004, 05:27 GMT+7 // <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Tags: Nguyễn Thế Vinh, Trịnh Công Sơn, Khu du lịch Văn Thánh, sự chú ý, nhạc cụ, nghệ sĩ, một tay, cùng lúc, khuyết tật, thời gian, anh, chơi, học, đàn

 

Nha Khoa Lan Anh
// <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Nguyễn Thế Vinh đang chơi cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica Ảnh: H.S.

Trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn” vừa rồi tại khu du lịch Văn Thánh, có một nghệ sĩ nghiệp dư nhưng lại tạo sự chú ý đặc biệt, đó là Nguyễn Thế Vinh.

Vóc người nhỏ thó, da ngăm đen và bị cụt mất một tay, thế mà anh lại độc diễn cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica với sự hòa điệu hết sức độc đáo, làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và thán phục…

Tuổi thơ bất hạnh

Quê của Nguyễn Thế Vinh vốn là một vùng đất nghèo ở Bắc Bình, Bình Thuận. Ba Vinh mất trong chiến tranh. Ba năm sau ngày ba mất, mẹ của Vinh cũng buồn khổ mà chết khi anh mới tròn 7 tuổi. Bốn anh em nheo nhóc mồ côi được ông bà ngoại đem về cưu mang.

Sau mỗi buổi học về, Vinh lại dắt đôi bò của hợp tác xã đi chăn để phụ giúp ông bà. Trong một buổi chiều xui rủi, Vinh bị ngã từ trên lưng bò xuống và gãy tay. Nếu như được đưa vào bệnh viện băng bó kịp thời thì chẳng có chuyện gì lớn, đằng này Vinh lại được đưa đến một thầy lang và không biết ông ta chữa trị như thế nào mà sau đó ít hôm cánh tay phải của Vinh bị hoại tử, phải cắt bỏ. Hai chữ “độc thủ” đeo bám đời Vinh từ đó.

Bôn ba tìm kế sinh nhai

Với hai nhạc phẩm Một cõi đi vềNgụ ngôn mùa đông, anh đã làm ngây ngất những ai có mặt trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn”. Đây cũng là chương trình lớn đầu tiên anh được tham gia (sau khi trở thành thành viên của hội quán Hội Ngộ chừng hai tháng nay) và ngay lập tức tạo được một tình cảm đặc biệt nơi công chúng yêu nhạc Trịnh.

 

Sau mỗi ca khúc của Vinh, mọi người lại vỗ tay không ngớt và dành cho anh những bó hoa tươi thắm nhất. Có ai đó còn thốt lên rằng: “Lại xuất hiện thêm một “quái kiệt” mới trong làng âm nhạc thành phố!”. Quái kiệt hay không còn phải chờ thời gian thẩm định thêm. Chỉ biết rằng trong giờ phút ấy, ai tinh mắt sẽ nhận thấy những giọt lệ đang lặng lẽ lăn ra từ khóe mắt Vinh.

Anh xúc động tột cùng vì lâu nay anh tập chơi đàn cốt để thỏa mãn đam mê âm nhạc, để gửi gắm tâm sự cuộc đời chứ đâu ngờ lại có thể đem niềm vui đến cho người khác.

Hè năm lên lớp 4, sau khi da thịt đã lành lặn, Vinh bắt đầu tập viết bằng tay trái. Sau một tuần miệt mài và quyết chí tập luyện, Vinh đã viết được tuy hơi chậm hơn trước đây và sẵn sàng cho năm học mới.Thời gian đầu Vinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải gò viết bằng tay trái, nhưng với ý chí vượt khó của một cậu bé đầy nghị lực, Vinh vẫn học rất chăm và luôn đạt kết quả cao trong học tập.

Dù còn một tay nhưng Vinh vẫn tiếp tục phụ chăn bò cho gia đình đến hết lớp 7… Thấm thoắt vậy mà cậu bé một tay ấy cũng học hết lớp 12.

Sau khi tốt nghiệp THPT, vì không muốn phụ thuộc gia đình nên Vinh quyết định vào TP.HCM tìm kế sinh nhai. Trong thời gian tá túc “ké” mấy anh sinh viên ở cơ sở D Trường ĐH Kinh tế (sau lưng nhà hát Hòa Bình), được mấy anh khuyến khích, động viên, Vinh quyết định học tiếp và mượn sách vở của các anh để ôn thi.

Năm 1989, Vinh trúng tuyển vào ĐH Kinh tế TP.HCM. Để có tiền ăn học, Vinh đã phải dành dụm số tiền học bổng ít ỏi hằng tháng và làm đủ thứ nghề từ vá xe đạp, dạy kèm cho đến giữ xe chung cư…

Tuy học quản trị kinh doanh nhưng Vinh lại rất mê ngành điện tử. Anh đã học lóm nghề này từ một người bạn và mua sách vở mày mò học thêm. Vậy mà không ngờ chính nghề điện tử này lại gắn bó với anh đến tận bây giờ (hiện anh đang là thợ sửa chữa điện thoại di động và có hẳn một cửa hàng riêng ở Gò Vấp).

Ba năm cho một ngón đàn

“Năm học lớp 6, mặc dù bị cụt một tay nhưng khi thấy người cậu chơi đàn guitar, mình rất mê. Hễ có dịp là mình lấy đàn ra tìm cách đánh thử. Khi thì kẹp phím vào cùi tay cụt để gảy, khi thì gảy thử bằng chân… nhưng tất cả đều thất bại” – Vinh nhớ lại.

Mãi đến ba năm sau Vinh mới nghĩ ra cách để có thể chơi đàn với tay trái duy nhất của mình: dùng ngón trỏ để gảy và các ngón còn lại bấm phím. Thời gian đầu anh chỉ tập bấm từng nốt một, tập một cách mày mò, kiên trì vì chơi đàn như thế rất khó và hầu như chưa thấy ai chơi như vậy bao giờ. Dần dà Vinh cũng đàn được một số bài hát và chừng đó cũng cảm thấy sướng lắm rồi.

Tuy nhiên đàn từng nốt như thế thì chưa thể gọi là đàn nên sau khi vào đại học, Vinh dành dụm tiền đi làm thêm – được 60.000 đồng – và mua một cây đàn guitar mà đến nay anh vẫn còn nhớ ngày mua là 14-6-1990.

Có đàn, Vinh bắt đầu tập bấm hợp âm, từng đêm tỉ mẩn mày mò khổ luyện tập từng hợp âm một. Mỗi hợp âm như thế Vinh phải tập cả tháng trời, khi đã nhuần nhuyễn mới tập tiếp hợp âm khác. Cứ thế anh âm thầm luyện ngón đàn trong ba năm và thành công ngoài mong đợi. Các ngón tay Vinh giờ đây dường như đã độc lập với nhau và anh có thể đàn một cách rất bài bản, chỉ với một bàn tay!

Song song với chơi guitar, Vinh còn chơi tốt harmonica từ khi học lớp 10. Sau này anh nảy ra ý định “sao mình không thử hòa âm harmonica với guitar nhỉ?”. Thế là anh lại lao vào cuộc chơi mới vừa đánh guitar vừa thổi harmonica.

Để hai tiếng đàn và kèn này hòa âm đồng bộ với nhau thì đây lại là một giai đoạn tập luyện kỳ công nữa của Vinh. Cuối cùng, với lòng kiên trì và quyết tâm, Nguyễn Thế Vinh đã chơi được cùng lúc hai nhạc cụ, với một sự kết hợp tuyệt vời mà nhiều người không hiểu tại sao anh có thể làm được.

HỒNG SƠN

.

Thứ Hai, 06/10/2008, 14:00

Khi Richard Fuller hát nhạc Trịnh

TP- Năm 1969, Richard làm việc cho một tổ chức tình nguyện quốc tế và có dịp đến VN, bắt đầu đồng cảm với những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Richard Fuller hát nhạc Trịnh tại phòng trà ATB

Từ đó ông thường xuyên có những chuyến đi – về giữa Mỹ và Việt Nam, năm 1993 trở lại VN trong thời bình Richard được gặp Trịnh Công Sơn, họ đã cùng nhau hát trong một số chương trình đặc biệt.

Và khi thăm lại quê hương của Trịnh Công Sơn vào năm 2001, Richard không còn được gặp ông nữa vì nhạc sĩ đã qua đời.

Bước lên sân khấu phòng trà ATB tối 3-4/9 vừa hát, Richard vừa giới thiệu nghệ sĩ khác một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh khiến khán giả bật cười: Xin giới thiệu một “kẻ thù” sẽ lên biểu diễn (ám chỉ các ca sĩ cạnh tranh với nhau trên sân khấu!), đó là Thế Vinh.

Tôi gặp Vinh và thích tài năng của anh, từ đó chúng tôi hát chung với nhau. Nghệ sĩ Thế Vinh đàn cho Richard hát Diễm xưa đong đầy cảm xúc. Không chỉ hát Dậy mà đi (Tôn Thất Lập), Người con gái Việt Nam da vàng (Trịnh Công Sơn), Không (Nguyễn Ánh 9)… mà Richard còn chiều lòng khán giả, hát ca khúc ngoại như Quantalamera, nghệ sĩ Thế Vinh hóm hỉnh: “Anh Phú Phong Trần nhớ tiếng Việt rất tốt, nhưng nghe anh hát tiếng Anh mà tôi cứ sợ anh quên.

Vừa rồi anh hát rất tốt chứng tỏ trình độ tiếng Anh đang khá lên rất nhiều!”. Khán giả cười ồ còn Richard thì vừa cười vừa lắc đầu: “Bó tay! Đấy, quý vị đã hiểu vì sao tôi gọi anh ấy là… kẻ thù!”.

Bà chủ phòng trà ATB Ánh Tuyết nhận xét về ca sĩ đặc biệt này: “Nghe Richard hát bằng tiếng Việt, cách rung động làn hơi rất chân thành và chứa chất nhiều day dứt mà dường như chính anh đã chứng kiến, đã thấu hiểu. Nhiều lần tiếp xúc với anh, tôi biết anh rất yêu VN.

Mấy tháng trước tôi cùng anh ra dự Festival Huế 2008, trước khi tới Huế, anh nằng nặc bảo tôi rằng anh phải ra Nha Trang thăm bà con. Tôi ngạc nhiên bởi anh làm gì có bà con ở Nha Trang mà thăm nom, anh cười: tôi có nhiều bà con ở Nha Trang chứ, đó là những người VN…”.

Yêu đời hơn, yêu người hơn, đó là điều đọng lại sau khi nghe một người nước ngoài yêu VN như Richard Fuller cất giọng hát.

Lâm Văn

Phát triển kinh tế và môi trường sinh thái Tây Nguyên

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là: “Ảnh hưởng của các công trình xây cất kinh tế vào môi trường sinh thái của Tây Nguyên – bạn có chấp nhận được không?”
BMT2
Và 5 câu trả lời là”

Tôi ủng hộ hết mình
Tôi ủng hộ một tí
Sao cũng được
Tôi phản đối một tí
Tôi chống hết mình

Các bạn vào trả lời đông đủ nhé.

Chúc mọi người một tuần vui.

Mến,

Hoành

Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!

Chào các bạn,

Bài văn dưới đây của Hạnh Nguyên thì chắc là không đi thi được, vì người đọc chẳng hiểu hết được nó, hoặc chẳng hiểu tí nào. Chính mình cũng chẳng hiểu được nhiều, chỉ suy đoán thôi.

Tuy nhiên mình thấy đoản văn toàn ẩn ngữ này có sức thu hút rất mạnh của một bức tranh siêu thực, mà người xem có thể thấy được cảm xúc mãnh liêt, kéo mình vào bức tranh, mặc dù không thế nói chính xác là bức tranh vẽ gì.

Mình post bài này lên như là một thí nghiệm, nhờ các bạn cho phản ứng trung thực thế nào. Thành thât nhé. Nếu đa số các bạn cho điểm âm thì cả hai chú cháu mình cùng sai. Nếu đa số các bạn cho điểm 10 thì hai chú cháu sẽ có dịp đi ăn kem.

Các bạn đọc và phản hồi nhé.

Cám on mọi người trước.

Hoành

.

“Tôi vô hình hay con người vô tình? Một câu chuyện giữa góc kẹt của thời gian. Thế thôi!”

Nó lao ra khỏi nhà với đôi mắt ướt sũng, chỉ kịp nghe thấy tiếng kêu đói thảm thương của lũ mèo con. “Xin lỗi… tau hok thể” – Đôi mắt nó chỉ kịp ánh lên điều cuối cùng trước khi rơi vào khoảng không gian như đang o bế trước mặt. Vô hồn.
abstract art 1
Bầu trời chùng xuống, những sắc cam rực rỡ cũng không làm vực dậy nổi đôi bờ mi nhắm nghiền của nó.. Nó chờ cho đến lúc đôi mắt xám kiệt sức, gục xuống, cắm mình vào màu đỏ ngập ngụa bóng hoàng hôn. Những chiếc lá lảo đảo, rơi xiên xiên như bị kiệt sức… rồi cắm xuống đất thở phào. Kết thúc một đời xanh. Đôi vai nó run lên bần bật giữa những cơn gió xoắn chiếu nhau, lạnh cóng. Gió lạnh hay lòng người nguội lạnh. Bất thần rồi chợt tan chảy theo cái nhìn xa xăm. Nó lặng lẽ cúi mình thấp xuống, thấp đến nổi nó muốn hoá thành những bông cầu gai, lăn mãi, lăn mãi xuống chân đê, tấp vào dòng nước lạnh giá hoặc may mắn hơn, nương nhờ đất mẹ… rồi con của chúng cũng lại lăn tiếp… lăn về với nước. Như loại ếch… không sao thoát nổi kiếp sống hai mang.

Ba- người nó luôn kính trọng, thần tượng, sẽ phải chấn dứt trong chiếc vòng số tám. Số tám xoay đều… đối xứng. Số tám ám ảnh trong những cơn mộng mị… Ngay cả trong những cơn mơ, bình yên cũng không về bên nó. Những giấc mơ mang tên Ba: Nó sợ hãi và ngồi đó, miệng muốn hét lên nhưng không được, tê dại. Trơ đôi mắt ngơ ngác của một con mèo con nhìn chiếc xe đen vút đi… vút đi… mang theo ba nó, mang theo cả hy vọng của nó.

Một trận gió vụt qua, rát bỏng như một cái tát. Cả rừng lá dưới chân nó lao xao, lồng lộn, tách khỏi mặt đất, búng mình suốt mặt hồ tạo thành những khoanh tròn cứ lan rộng… rộng mãi.

Mỗi chiếc lá là một mảnh vỡ, trải trên đất thành từng mảng, từng mảnh thứ màu đỏ cay nhức nhối và ràn rụa trong buổi chiều thu.

*      *      *

*

Lá rơi.

Thời gian trôi.

Con chim sẻ trú đông rách tiếng hót

“Tôi đã ở đây bao lâu rồi?”
“Rất lâu! À không, đủ lâu…”

Phải, tôi đã ở đây đủ lâu để chứng kiến một câu chuyện. Một câu chuyện trong hốc kẹt của không gian và thời gian.

Câu chuyện về những cây bút chì được gọt tỉa kĩ càng trong đêm khuya, rồi lại được xếp kĩ càng vào những ngăn kéo như che đậy một điều gì đó. Đôi mắt bất thần nhìn vào bức tường nhắng nhịt những vết cào xước trước mặt, tim nó nhói lên những cảm xúc kì quặc quen thuộc. Sao lại là quen thuộc? Bởi đêm nào cũng thế, vẫn là những cảm xúc đó… dào dạt và bất tận. Căn phòng vốn trống trải đột nhiên trở lên chật chội. Nỗi buồn ở khắp mọi nơi, thấm vào trong hơi thở và vào cả những thứ vô hình đang hiện hữu nơi đây, như tôi. Bàn tay nó chảy ra thứ màu quen thuộc, bàn tay siết mạnh vào lưỡi dao như đang bóp nghẹt tất cả. Đau buốt, nó giật mình ném con dao ra khỏi con tay nhầy nhụa máu. Nó lại lao vào phòng tắm, cố gắng rửa sạch đi cái màu tanh bẩn trước khi mẹ thấy. Nó vớt nước lên mặt cho đến khi không còn nhận ra đâu là nước mắt. Nó nhợt nhạt soi mình vào gương. Nó cười điên dại nén nước mắt, máu vẫn chưa chưa chịu ngưng, đỏ úa. Nó nhếch nhát từng bước về phía tủ, cố lôi lên những gói bông trắng muốt và băng bó, nó làm công việc này một cách vô thức. Quá quen!

“Một người đàn ông cũ kĩ dắt một con chó trắng đến đây, đến khoảng không gian này, khoảng không gian giữa những cây lá đỏ của một công viên. Một ông già với râu tóc bạc phơ, bạc theo màu da nhăn nhúm, một con người cổ kính mang theo một con chó đến vùng trống ngập ngụa sắc đỏ của lá và hoàng hôn rồi cột nó vào một gốc cây nào đó.

Lão đến.

Lão cột.

Cuối cùng, lão đi, bỏ lại sau lưng con chó và một vùng màu đỏ thẫm.”

erosion
Một giấc mơ kì lạ. Nó lẩm nhẩm điều gì đó nghe không rõ và lại mơ. Tôi ở đấy, trong giấc mơ. Nó bừng tỉnh. Nó đưa đôi mắt nhìn tôi hãi hùng nhưng cũng đầy mê hoặc. Nó chạm nhẹ, xuyên những ngón tay. Thảng thốt, nó nhìn tôi định thần hơn. Nó cười:

–         Tôi lại mơ thấy bạn?

–         Tớ là ma. Bạn có sợ ma không?

–         Chỉ có ma sợ người thôi. – Vô thức nó trả lời

“Chỉ có ma sợ người” – tôi thấy thích câu này… Đúng!  Tôi sợ… những con người vô hình… trong cuộc sống thực. Tôi sợ nó.

–         Và bạn ở đây theo dõi tôi. – Nó nói như thấy có ai nhún hộ vai mình.

–         Không… bạn theo dõi tớ.

–         Tôi không hiểu. Tại sao tôi lại theo dõi bạn, tôi không biết bạn? Tại sao tôi lại mơ thấy bạn, tại sao bạn lại cho tôi thấy con chó trắng. Bạn vô tình quá chăng? – Ánh mắt nó đột nhiên quắt lên màu giận giữ.

–         Tớ không vô tình… tớ chỉ vô hình thôi. Cậu không vô hình… nhưng cậu vô tình. Tớ là một phần tìm kiếm của cậu. Chúng ta theo dõi lẫn nhau. Vì chúng ta tìm kiếm nhau. Con chó là ai? lão là ai? Là giấc mơ. Tại sao bị cột? vì lão muốn nó tự thoát ra và xoay chuyển cuộc sống phụ thuộc. Lão đại diện cho ai? Cho số phận. Con chó là ai? Tớ nghĩ cậu biết.

Nó nhìn sững sờ vào tôi, những lời nói trong suốt tan vào thinh không nhưng lại vang vọng vào lòng nó. Con chó là nó. Và nó đang vô tình trong cuộc sống. Tôi lại vô hình! Thế là đủ. Ngóp nghét trong những giấc mộng thực và ảo của nó thế là đủ. Tôi cần phải đi. Những con người vô tình sắp tan biến.

Bản Promise vang lên trong căn phòng. Lời hứa với ba được thực hiện. Những ngón tay lướt nhẹ trên cây dương cầm phát ra thứ âm thanh trong suốt, vút lên, xé toạt những sầu bi, những oán hận trong căn nhà. Những lời nói giả dối mang đầy hương tiền bạc bị cuốn phăng ra khỏi óc, để lại hình ảnh ba nó ôm con hiền lành yên bình. Mẹ sững sỡ nhìn nó từ khung cửa sổ, giọt nước mắt khô khốc lăn trên khuôn mặt gầy mòn. Tóc nó xoã nhẹ tung bay trong bình minh

Một chiếc lá khẽ đu mình vọt vào khoảng không bất tận. Tiếng hót bị rách của con chim sâu vút lên. Trong trẻo lạ kì.

Phan Nguyên

Triết lý Việt – Phù Đổng Thiên Vương

    Đã đăng trên Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 25 tháng 11 năm 1985

I. Chính truyện

Đời Hùng Vương thứ ba, thiên hạ thái bình, dân vật đầy đủ. Ân vương (ở Trung Quốc) lấy sự thiếu lễ triều cống, giả đi tuần thú để xâm chiếm nước ta.

Hùng Vương nghe được mới triệu quần thần hỏi về kế hoạch đánh hay giữ. Có nhà phương sĩ dâng lời nói rằng:

– Không gì bằng cầu Long Quân để nhờ âm phù.

Hùng Vương nghe theo mới đắp đàn trai giới, đặt vàng bạc lụa là ở trên bàn, đốt hương cầu tế ba ngày thì cảm sấm mưa, thoắt thầy một ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ, ngồi ở ngã ba mà nói cười ca múa; người ta trông thấy, ngờ là người phi thường mới tâu với vua. Vua thân hành ra bái yết, rước vào trong đàn; ông già không ăn uống, không nói năng gì cả.
PDTV1
Hùng Vương bước đến nói rằng:

– Này binh nhà Ân sắp sang đánh, hơn thua ra sao, nếu có kiến thức gì xin bày cáo cho.

Ộng già giây lát mở thẻ ra bói, thưa với vua rằng:

– Sau ba năm giặc mới qua đánh.

Vua lại hỏi kế hoạch để đánh giặc, ông già đáp rằng:

– Nếu có giặc đến thì phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ tốt để cho nước có uy thế, rồi tìm khắp thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong cho tước ấp, hễ được người ấy thì dẹp được giặc ngay.

Nói đoạn, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân.

Vừa đúng ba năm, biên binh cáo cấp có quân Ân sang. Hùng Vương y theo lời nói của lão nhân, sai sứ đi khắp thiên hạ để tìm người dẹp giặc.

Sứ giả đến làng Phù Đổng, quận Vũ Ninh, trong làng có một ông nhà giàu đã hơn 60 tuổi mới sinh được một người con trai ba tuổi không biết nói, chỉ nằm ngữa không ngồi dậy được. Bà mẹ nghe sứ giả đến, nói bỡn với con rằng:

– Sinh được thằng này thì chỉ biết ăn uống chớ không biết đánh giặc để lĩnh thưởng của triều đình mà đền ơn bú mớm.

Đứa trẻ nghe mẹ, thình lình nói lên rằng:

– Mẹ hãy gọi sứ giả vào đây, con hỏi thử xem là việc gì.

Bà mẹ cả kinh, mừng rỡ báo với xóm làng:

– Con tôi đã biết nói.

Xóm giềng cũng lấy làm lạ mới rước sứ giả về nhà.

Sứ giả hỏi rằng:

– Mầy là đứa trẻ mới biết nói mà bảo kêu ta đến làm gì?

Đứa trẻ mới ngồi dậy bảo Sứ giả rằng:

– Lập tức về tâu với vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao mười tám thước, một gươm sắt dài bảy thước, một cái nón sắt, trẻ này cỡi ngựa, đội nón đi đánh giặc cho, giặc sẽ phải tan tành, nhà vua việc gì mà lo.

Sứ giả chạy về trình cáo với vua. Vua mừng bảo rằng:

– Thế thì ta không lo gì vậy.

Quần thần đều tâu:

– Một người đánh giặc làm sao phá nổi?

Vua nói:
PD1
– Đó là Long Quân giúp ta, lời lão nhân đã nói trước không phải là lời nói không, các ngươi không nên ngờ.
Rồi sai người tìm sắt cho được năm mươi cân luyện thành ngựa sắt, gươm sắt và nón sắt; Sứ giả đem tất cả đến; bà mẹ thấy thế cả kinh, sợ họa đến cho mình, lo sợ hỏi con.

Đứa trẻ cả cười nói rằng:

– Mẹ đem cơm thật nhiều cho con ăn, con đi đánh giặc, mẹ đừng lo sợ.

Rồi đứa trẻ lớn rất mau, áo cơm hàng ngày bà mẹ cung cấp không đủ, hàng xóm nấu thêm cơm, làm thịt trâu, rượu, bánh, trái, thế mà đứa trẻ vẫn không no bụng; vải lụa gấm vóc mặc chẳng kín hình, đều phải lấy thêm hoa cây hoa lau mà che nữa.

Đến khi quân nhà Ân kéo đến Trâu Sơn, đứa trẻ mới duỗi chân đứng dậy, mình cao hơn mười trượng, nghểnh mũi mà nhẩy, nhẩy mũi hơn mười tiếng rồi tuốt gươm nói lớn lên rằng:

– Ta là Thiên Tướng đây!

Bèn đội nón nhảy lên ngựa, ngựa phi như bay, múa gươm xông đến trước, quan quân theo sau đến sát lũy giặc, dàn trận dưới núi Trâu Sơn. Quân Ân cả vỡ, trở giáo chạy lùi, Ân Vương chết ở Trâu Sơn, còn dư đảng
thì la liệt sụp lạy và hô rằng:

– Thiên tướng, chúng tôi hết thảy xin đầu hàng.

Đứa trẻ đi đến núi Việt Sóc mới cởi áo mặc rồi cưỡi ngựa bay lên trời, chỉ lưu dấu chân trên đá ở dưới núi mà thôi.

Hùng Vương nhớ đến công lao, không biết lấy gì đền báo mới tôn làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở vườn nhà làng ấy, cho ruộng một trăm khỏanh để làm lễ hưởng tế xuân thu.

Đời nhà Ân hai mươi bảy vua, trải qua sáu trăm bốn mươi năm, không dám đem binh sang đánh nữa.

Man Di bốn phương nghe được như vậy cũng đều thần phục, về phụ với Vương. Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu tại Phù Đổng (nay ở huyện Tiên Du) bên chùa Kiến Phúc, tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu đều có tế lễ vậy.

Có bài thơ rằng:

Vệ Linh năm tháng đám mây nhàn.
Muôn tía nghìn hồng chói thế gian.
Ngựa sắt ở trời, danh ở sử.
Uy linh lừng lẫy khắp giang san.

II. Triết lý tiềm ẩn

Truyện Phù Đổng Thiên Vương hẳn nhiên là một huyền thoại. Vài người có thể gọi đó là huyền sử. Ở đây, huyền sử có thể được định nghĩa như là huyền thoại dựa trên vài sự kiện lịch sử có thật; tuy nhiên, chuyện thật đã được huyền thoại hóa quá nhiều. Vấn đề chúng ta đang giải quyết, không phải là tìm hiểu xem trong truyện Phù Đổng Thiên Vương có sự kiện lịch sử nào có thật hay không, nhưng nhìn toàn câu truyện như là một huyền thoại.

Huyền thoại, cũng như tất cả các loại tiểu thuyết khác, luôn luôn là phản ánh của ý thức và tiềm thức của tác giả. Khi huyền thoại đã trở thành truyện cổ tích hay huyền sử của một dân tộc, huyền thoại trở thành phản ánh tiềm thức của cả dân tộc đó.

Phần ý thức của huyền thoại, nếu có, thì đã chết mất sau nhiều ngàn năm, vì tác giả của huyền thoại đã biến mất và không ai biết được thực sự tác giả ý thức chuyện gì. Hơn nữa, một huyền thoại có thể kết hợp do rất nhiều tác giả qua rất nhiều ngàn năm, những ý thức hỗn hợp đó không ai có thể tìm thấy.

Tuy vậy, tiềm thức của huyền thoại trường tồn. Huyền thoại được dân tộc hóa, được cả một dân tộc chấp nhận, say mê, và lưu luyến, vì sức lôi cuốn, quyến rũ nào đó từ trong lòng huyền thoại đối với cả dân tộc. Sức quyến rũ đó hiện hữu vì nó phản ánh những ước muốn, những suy tư, nhiều khi chưa được ý thức hóa, hoặc không thể thực hiện được trên thực tế, vẫn còn chìm đắm trong tiềm thức và thể hiện thành những giấc mơ. Huyền thoại của một dân tộc chính là sự thể hiện tiềm thức của dân tộc đó qua những mơ mộng thần thoại.

Như vậy, giấc mơ Phù Đổng Thiên Vương diễn tả những ước muốn, những suy tư gì nhỉ?
pd2
Câu chuyện thật ngắn, nhưng đi từ thời bình đến thời chiến, từ triều đình đến một gia đình ở nông thôn. Câu chuyện bàng bạc những ‎ý niệm chính trị, chiến lược và giáo dục căn bản cho một quốc gia hùng cường. Tìm hiểu những suy tư căn bản này, tức là tìm hiểu những tư tưởng giáo dục, chính trị và chiến lược căn bản cho dân tộc Việt Nam, tức là tìm hiểu cái, trên l‎ý thuyết, ta gọi là lập trường dân tộc, và trên thực hành, ta gọi là hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế… phù hợp với dân tộc Việt Nam.

Trong phần sau đây, tác giả sẽ bàn về ba điểm chính của truyện Phù Đổng Thiên Vương. Thứ nhất, quan niệm giáo dục; thứ hai, quan niệm chính trị; và thứ ba, quan niệm chiến lược. (Trong truyện có sự xuất hiện của nhiều con số, nhất là số ba và những bội số của nó. Các đọc giả muốn tìm hiểu ý nghĩa triết lý của những con số, xin đọc quyển Kinh Hùng và các sách khác trong bộ Triết Lý An Vi của giáo sư Kim Định).

A. Giáo dục

Quan niệm giáo dục Việt Nam được diễn tả bằng hành động của người mẹ đối với cậu bé lên ba. Cậu bé chỉ biết ăn và nằm, không biết nói, có nghĩa là cậu bé có vẻ rất chậm lụt, u mê. Người mẹ hẳn nhiên là rất buồn bã: “Con mình sao không được như con người ta. Con người ta thông minh, ăn nói hoạt bát, chạy nhảy nhanh nhẹn, chứ đâu có ăn và nằm và câm như con mình.” Và khi đứa trẻ bắt đầu nói câu đầu tiên, là chỉ nói chuyện điên, kêu mẹ mời sứ giả của vua vào, và kêu sứ giả bảo vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nếu thực sự đứa bé nói chuyện điên, thì không biết cái đầu của bà mẹ còn nằm trên cổ được bao lâu.

Dầu vậy, những lời nói điên khùng của đứa con dốt nát đó không làm cho người mẹ bỏ qua lời nói của con. Người mẹ vẫn chấp nhận may rủi cho cái đầu của mình, và thử làm theo lời con. Hành động treo sinh mạng của mình trên sợi chỉ mành chỉ để cho đứa con dốt nát của mình thử ý kiến của nó, là hành động rất can đảm, quý vị ạ. Cũng nhờ bà mẹ có can đảm chấp nhận may rủi mà Việt Nam có thiên tướng Phù Đổng.

Việc giáo dục ngày nay cũng vậy, bố mẹ cần chú tâm đến ý muốn của con cái. Dù là đôi khi tư tưởng của con cái có vẻ rất là quái gở. Nếu con mình vẫn giữ vững lập trường của nó sau khi mình đã giải thích cặn kẻ, hãy để cho con thử ý kiến của nó, và hãy đứng sau lưng đỡ nó khi nó vấp ngã. Giáo dục như vậy là giáo dục Việt Nam. Lối giáo dục này nằm rành rành trong truyện Phù Đổng Thiên Vương mấy ngàn năm về trước. Nhiều người nói rằng con cái Việt Nam phải nghe lời bố mẹ răm rắp, con cái không có quyền có ý tưởng mới lạ quái gở; chỉ có cái đám Mỹ hóa mới để con cái nói đủ thứ chuyện. Nói như thế là sai, giáo dục Việt nam chính thống là giáo dục cởi mở như trong Phù Đổng Thiên Vương. Bố mẹ nên mừng rỡ khi con mình có những ý tưởng mới lạ. Nên giúp con phát triển tư tưởng mới lạ và cùng con cái tìm hiểu tư tưởng đó. Nếu mình không đồng ý với con, thì để cho nó thử ý của nó. Dĩ nhiên là cha mẹ phải chấp nhận may rủi; luôn luôn đứng sau lưng con đỡ nó khi nó vấp ngã. Nếu nó sai, nó sẽ học khôn; nếu nó đúng, đời nó có lợi.

Giáo dục theo lối cha mẹ nói gì con phải gật theo, không phải là lối giáo dục Việt Nam, mà là giáo dục nô lệ. Khi người Tàu cai trị Việt Nam, họ không muốn dân Việt Nam biết suy nghĩ, họ đốt sách vở của người Việt, và họ muốn dân Việt phải nghe theo họ răm rắp. Gọi dạ bảo vâng. Và lối giáo dục đó dần dần ăn sâu vào gia đình Việt nam; dĩ nhiên là có lợi cho người Tàu, vì lối giáo dục đó đào tạo một đám dân nô lệ chỉ biết dạ, vâng.

Vì vậy, các vị bố mẹ, hãy suy gẫm chuyện Phù Đổng Thiên Vương; hãy đến gần con cái; hãy chú ý đến các tư tưởng mới lạ, dầu là quái gỡ, của con cái; hãy vui mừng khi con cái biết suy nghĩ mới lạ; hãy chấp nhận may rủi; và hãy để con cái phát triển tư tưởng cá nhân của nó. Sợ hãi là nguồn gốc của nô lệ. Nếu bố mẹ sợ hãi tư tưởng mới lạ quái gỡ của con cái, mà nhất định theo lối giáo dục nô lệ, thì chính mình đã biến con mình thành những nô lệ mới trong xã hội mới, dù ở Hoa Kỳ hay bất cứ nơi đâu.

B. Chính trị

Phù hợp với phương cách giáo dục cởi mở phía trên, truyện Phù Đổng Thiên Vương diễn tả một hệ thống dân chủ cao độ. Nhà vua cai trị bằng ý kiến và sự khôn ngoan của dân chúng, và nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia.
pd3
* Hùng Vương, khi cần ý kiến về chính trị, thấy có ông già quái gỡ hát múa ngoài đường, là gọi vào xin ý kiến. Ông già vào cũng không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Ông già là biểu tượng của sự khôn ngoan của nhân dân. Thường thường người lớn tuổi suy tư cặn kẻ hơn người nhỏ tuổi; vì vậy ông già là biểu hiện cho sự khôn ngoan. Ông già ở ngoài đường, không quen biết gì với vua cả, chỉ là một người dân như mọi người dân khác thôi. Vì vậy, ông già là biểu hiện của dân chúng.

Ông già lại hát múa ngoài đường như là người điên, có nghĩa là nhân dân dầu có vẽ ngu dốt điên cuồng vẫn luôn luôn là kẻ thông thái nhất trong việc trị nước. Các nhà lãnh đạo, các nhà cách mạng, phải biết rằng mình không thể khôn ngoan hơn nhân dân được. Đừng cho rằng dân chúng dốt nát, trình độ thấp kém, không biết gì, để rồi lạm dụng quyền hành, biến thành kẻ độc tài bất tài.

Ông già vào cung vua vẫn không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Nhân dân là vậy, nhân dân luôn luôn thầm lặng, nhân dân không bao giờ tuyến bố ồn ào. Các nhà lãnh đạo phải đến gặp dân, phải hỏi ý dân, dân mới trả lời. Nhân dân không tuyên bố sự khôn ngoan của mình bừa bải. Đừng bao giờ đợi nhân dân tự động cho ý kiến.

* Nhân dân gồm mọi hạng người, không phải chỉ có những kẻ to lớn, quyền thế, hoặc có vẻ hiểu biết (biểu hiện bằng ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ), mà còn là những người có vẻ kém hiểu biết nhất, có vẻ bất tài vô dụng nhất (biểu hiện bằng đứa trẻ lên ba mà chỉ biết ăn và nằm). Cũng như ông già, đưa trẻ không nói, đến lúc sứ giả vừa đi ngang qua mới nói. Sự im lặng được nhấn mạnh hai lần trong câu truyện. Các nhà lãnh đạo phải đặc biệt chú ý đến điểm này, nhân dân không bao giờ nói, trừ khi được hỏi đến.

Nhân dân nói ra nhiều khi nghe rất điên khùng, như cậu bé đòi vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nhưng dầu điên khùng cách mấy đi nữa thì nhân dân luôn luôn đúng, luôn luôn biết mình muốn làm gì, làm được gì.

* Không những nhân dân luôn luôn có lý, mà nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia. Cậu bé một mình phá giặc. Quần thần sợ quá phải tâu vua: “Một người đánh giặc sao phá nổi.” Một người đây là hình ảnh của nhân dân trong một khối. Hình ảnh của những người dân quê mùa có vẻ bất tài vô dụng, nhưng khi phải chiến đấu, lại là sức lực duy nhất của quốc gia. Giáo sư Kim Định viết: “Thánh Dóng (Phù Đổng Thiên Vương) không chi khác hơn là bóng dáng con người đại ngã tâm linh có tầm vóc như vũ trụ được biểu lộ ra ngoài bằng tinh thần tự lực, tự cường của dân nước Văn Lang, ngày thường không ai để ý đến (nói bóng là trẻ ba năm chưa biết nói); nhưng khi phải đối phó với nguy cơ thì đức tự lực tự cường dâng lên tầm kích vũ trụ, nâng con người lên ngang hàng cùng trời, đất, đáng mặt dẫn đầu các anh hùng trong nhân thoại Việt…” Lối giải thích chính trị của tác giả và lối giải thích thuần túy triết l‎ý của giáo sư Kim Định, dầu ngôn từ khác nhau, vẫn là một tinh thần đại ngã của dân tộc Việt Nam.

* Lối cai trị bằng cách đi khắp nơi hỏi han ý kiến dân chúng và làm theo lời dân chúng, dù dân chúng nói năng có vẻ rất quái gỡ điên rồ là lối cai trị dân chủ. Ý dân là ‎ trời. Và lối cai trị dân chủ có sức mạnh vạn năng, Tiền nhân ta vẫn biết rằng nếu nghe lời dân thì dầu có giặc Ân hùng mạnh, Việt Nam vẫn thắng. Trong thực trạng chính trị, lối cai trị này thật là sáng suốt. Vì chiến tranh được chính nhân dân đổ xương đổ máu chiến đấu, các vị lãnh đạo đâu có phải là người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường; nếu kế hoạch không hợp ý dân, người dân làm sao hăng say chiến đấu. Hiệu lực dân chủ trong chiến tranh, nhiều ngàn năm về sau, còn thể hiện rõ ràng hơn trong Hội Nghị Diên Hồng của nhà Trần.

Sự quan trọng của nhân dân còn được nhấn mạnh trong truyện Phù Đổng Thiên Vương bằng cách thần thánh hóa nhân dân. Ông già là Long Quân và cậu bé là thiên tướng. Vua phải nghe lời người trời; tức là vua phải nghe theo lời nhân dân. Và cứ như Hùng Vương, nghe theo nhân dân răm răp ắt là đánh đâu thắng đó.

* Chuyện Phù Đổng Thiên Vương còn diễn tả hệ thống kinh tế tư sản, tự do và sự vắng bóng của ghen tị giai cấp trong văn hóa Việt Nam. Ông già bảo vua Hùng Vương tìm trong thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong “tước ấp”. Tước là chức vụ, ấp là một mảnh đất khá rộng. Cậu bé là con của một ông “nhà giàu”. Cậu bé đánh giặc xong không cần tước ấp mà lại đi thẳng lên trời. Điều này có nghĩa là nhân dân chiến đấu không phải vì tư lợi, nhưng nhân dân vẫn ưa chuộng hệ thống kinh tế tư sản. Dân Việt Nam không chống đối ông “nhà giàu”, ngược lại vẫn ưa chuộng ông nhà giàu có con là anh hùng cứu quốc. L‎ý thuyết đấu tranh giai cấp vô sản tư sản, vì vậy, xa lạ với truyền thống dân tộc Việt Nam trong Phù Đổng Thiên Vương.

Độc giả nên nhớ rằng huyền thoại là một giấc mơ. Nếu đấu tranh giai cấp ảnh hưởng nặng nề trong tiềm thức dân Việt Nam, truyện Phù Đổng Thiên Vương không thể có anh hùng nhà giàu được. Dù tác giả câu truyện có viết “nhà giàu”, thì mấy ngàn năm sau sẽ biến thành “nhà nghèo”, nếu thực sự dân Việt Nam có ý niệm đấu tranh giai cấp tiềm ẩn. Sự xa lạ của đấu tranh giai cấp trong văn hóa Việt Nam còn thể hiện rất nhiều trong những huyền thoại khác, như Chử Đồng Tử và Tiên Dung.

* Hệ thống dân chủ trong truyện Phù Đổng Thiên Vương còn được diễn tả rõ ràng hơn, bằng biện pháp đi tìm nhân tài. Khi cần nhân tài, nhà vua tìm cả trong nước, dầu đứa bé con lên ba cũng được sử dụng. Hệ thống chính trị như vậy không có giai cấp. Ai cũng có thể làm quan được nếu có tài. Lối tổ chức chính trị như vậy khác với hệ thống tổ chức nhằm giữ quyền hành độc đoán trong tay một thiểu số cầm quyền, như chế độ phong kiến của tây phương. Hơn nữa, trong hệ thống dân chủ Phù Đổng, người tài luôn luôn có dịp thi thố tài năng của mình, không bị đè nén vì giai cấp hay vì l‎ý do nào khác.
pd4
Tác giả cần nhấn mạnh ở đây, dân chủ thực sự thể hiện trong hành động của nhà cầm quyền. Tư tưởng dân chủ có thể thực hiện được nếu vua, như vua Hùng Vương chú trọng đến nhân dân.

C. Chiến lược

Trong hệ thống giáo dục và chính trị Phù Đổng, những quy ước chiến lược được thiết lập rõ ràng. Chiến lược là biện pháp phối hợp các hoạt động và hệ thống chính trị, kinh tế, giáo dục để phục vụ mục tiêu tối hậu của quốc gia. Mục tiêu tối hậu của quốc gia, thể hiện trong truyện Phù Đổng Thiên Vương, là bảo tồn sức mạnh quốc gia trước đe dọa xâm lăng.

* Quy ước chiến tranh Phù Đổng khởi đầu bằng hệ thống cởi mở và hệ thống chính trị dân chủ, lấy dân làm sức mạnh như đã nói trên. Hệ thống quân sự được tổ chức trên hai khái niệm liên hệ chặt chẻ với nhau.

Thứ nhất, tổ chức quân sự là tổ chức cởi mở, cho mọi nhân tài cùng tham dự. Tổ chức quân sự này dùng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, làm nền tảng cho sự đoàn kết của quân đội. Hiện tượng đứa bé gốc gác nông dân được nắm quyền chinh phạt nhà Ân diễn tả tinh thần cởi mở của quân đội. Tinh thần yêu nước diễn tả bằng hiện tượng cậu bé đi thẳng lên trời thay vì ở lại nhận tước ấp.

Lối tổ chức quân đội này là tổ chức quân đội ngày nay áp dụng. Dưới chế độ phong kiến tây phương, mỗi lãnh chúa có quân đội riêng. Quân đội lãnh chúa lấy tư lợi và sự trung thành với lãnh chúa làm căn bản. Quân lính không có ý thức quốc gia mà chỉ có ý thức lãnh chúa. Vì vậy, trong một quốc gia có nhiều lãnh chúa, quân đội của các lãnh chúa không thống nhất và thiếu nền tảng đoàn kết cho quốc gia.

Tại những quốc gia cổ Hy Lạp, khi quân đội là một giai cấp biệt lập với các giai cấp khác, chiến lược không liên hệ gì tới nhân dân, vì quân đội xa cách với nhân dân. Kể cả trong các quốc gia phong kiến, vấn đề chiến lược rất ít lệ thuộc vào nhân dân, vì nhân dân không có quyền lợi gì trong chiến tranh cả. Nhân dân không có tài sản, nếu có chiến tranh là nhân dân chỉ có chiến đấu và chết để phục vụ tài sản của lãnh chúa.

* Nhận định trên đưa đến khái niệm tổ chức quân đội thứ hai của Phù Đổng. Nhân dân phải là nhân dân hữu sản, biểu hiện bằng ông nhà giàu. Khi có chiến tranh, nhân dân không những chiến đấu vì lòng yêu nước mà vì còn bảo vệ tư sản của mình. Lòng yêu nước có sẵn trong nhân dân nhưng nó vẫn trừu tượng. Lòng yêu nước cần được bổ sung bằng quyền tư hữu để nhân dân thấy quyền lợi trước mắt. Ảnh hưởng của tư hữu trên lòng hăng say chiến đấu của quân đội được biểu hiện bằng cậu bé thiên tướng con ông nhà giàu, và sự ban thưởng tước ấp do ông già khuyên vua.

Tóm lại, hệ thống giáo dục cởi mở, chính trị dân chủ, và kinh tế tư sản của Phù Đổng đưa đến tổ chức quân đội lấy dân, quyền tư hữu của dân, và lòng yêu nước làm căn bản. Tổ chức quân đội đó có sức mạnh trong thời chiến, biểu hiện bằng chiến thắng quân Ân. Trong thời bình hệ thống chính trị cũng làm nhân dân vui vẻ, như lúc bắt đầu vào truyện Phù Đổng Thiên Vương.

* Khi tổ chức quân đội đã phù hợp với hệ thống giáo dục, chính trị và kinh tế của quốc gia rồi, vấn đề nền tảng cho sức mạnh quân đội đã được giải quyết xong. Truyện Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra vài lý thuyết chiến lược khác.

Thứ nhất, binh sĩ phải được lo lắng nuôi dưỡng tử tế; quốc gia không thể để binh sĩ thiếu thốn. Hiện tượng cậu bé ăn uống hoài, cả làng xóm phải lo ăn lo mặc, diễn tả sự quan trọng‎ của vấn đề nuôi dưỡng binh sĩ.

Câu chuyện còn diễn tả hậu quả kinh tế của việc nuôi dưỡng một đoàn quân. Cậu bé nhỏ xíu mà cả làng phải lo. Như vậy, những vị lãnh đạo quốc gia phải lo nuôi dưỡng binh sĩ tử tế, quân đội mới có sức mạnh. Nhưng coi chừng, chiến tranh trường kỳ sẽ làm cho nền kinh tế suy sụp, vì một người lính hao tốn bằng năm bằng mười người thường.

Thứ hai, Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra quy ước chiến lược “tấn công phòng thù” và vận tốc để chủ động chiến trường. Trong truyện, quân đội nhà Ân đến núi Trâu Sơn, quân đội phòng thủ của Hùng Vương thay vì án binh bất động chờ tấn công, thì lại ra tay tấn công nhà Ân ở Trâu Sơn. Phòng thủ một lãnh thổ bằng cách tấn công quân đội xâm lăng, thay vì chỉ chờ bị tấn công, là chiến pháp nhằm chủ động chiến trường đã được nhấn mạnh nhiều, từ Tôn Tử đến Clausewitz.

Chủ động chiến trường không những chỉ nhờ tấn công mà còn nhờ vận tốc. Trong truyện nói đến ngựa sắt chạy như bay. Đây cũng là vấn đề Tôn Tử và Clausewitz nhấn mạnh rất nhiều. Một quân đội thiếu vận tốc, bị động, chỉ chờ tấn công là quân đội chết. Vận tốc cao làm cho quân đội có thể lùi khi địch tiến, tiến khi địch lùi, và tấn công khi địch sơ hở.

Các khái niệm chiến lược chú trọng về tấn công và vận tốc khác với quan niệm chiến lược cổ điển của tây phương lệ thuộc vào bị động phòng thủ trong những thành quách khổng lồ. Mấy ngàn năm trước tiền nhân của ta đã thấy những khái niệm chiến lược mà tây phương mới bắt đầu sử dụng gần đây. Napoleon là chiến lược gia tây phương đầu tiên sử dụng tấn công và vận tốc trong lịch sử Âu Châu cận đại.

III. Kết luận

Truyện Phù Đổng Thiên Vương, một huyền thoại, một giấc mơ của dân tộc Việt Nam, cũng như những giấc mơ khác của dân tộc Việt, mang trọn tâm tư của dân tộc Việt, mang trọn kiến thức của dân tộc Việt. Những kiến thức trong những huyền thoại nhiều ngàn năm về trước lại là những kiến thức giáo dục, chính trị, kinh tế, chiến lược thực tiễn trong thế giới hiện đại. Những kiến thức đó rất gần với chân lý vì đã trường tồn mấy ngàn năm. Đám con cháu hậu tiến, không thấy được những tinh hoa cao vời đó, mà còn cho rằng văn hóa Việt Nam cổ hủ, là đã có mắt không tròng vậy.

Trần Đình Hoành

Bài liên hệ: Triết lý Việt – Quả Dưa Hấu

Bảo kiếm được rèn thế nào?

Chào các bạn,

Ngày xưa, trước khi súng đạn ra đời, đao kiếm là vũ khí chính cho chiến sĩ và hiệp sĩ. Một thanh kiếm quý chém sắt như chém bùn là một bảo vật vô giá, thường được xem là thần kiếm, thường nằm trong tay đệ nhất cao thủ võ lâm, và khi kiếm lạc khỏi tay chủ thì thường sinh ra sóng gió trên chốn giang hồ, tạo nên những cuộc thảm sát, tranh giành kiếm.
samurai_sword
Người xưa rèn bảo kiếm thế nào?

Rèn kiếm là một nghệ thuật cao độ. Vị thầy rèn kiếm thực ra là các hóa học gia về kim loại, nghiên cứu cách thức chế tạo các loại thép tổng hợp từ những kim loại thuần, và rèn luyện, đập, cán, mài, dũa nó thành một thanh kiếm với những đặc tính tốt nhất cho một kiếm phái. Kiếm Nhật của samurai thì to, nặng, cứng và hơi cong. Ngược lại, Thái cực kiếm của phái Võ Đang thì thẳng, dài, nhỏ, và nhẹ nhàng lay động như một thanh thép mỏng. Dù vậy, đặc tính chung của các thần kiếm phải là chém sắt như chém bùn, có thể chém gãy binh khí tầm thường của địch.

Ngày nay, với phát triển của khoa học, có lẽ chúng ta có thể làm thần kiếm dễ dàng bằng kim loại tốt, nấu loãng, đổ vào khuôn, rổi mài, và trang trí cho đẹp, trước khi mang ra chợ bán, phải không các bạn?
loren1

Không dễ như vậy đâu. Không dễ gì làm một thanh kiếm thật nhẹ và có thể lay động như một thanh sắt mỏng, lại có sức chịu đựng và công phá kinh khủng. Không biết làm thì thanh kiếm của ta sẽ gãy hay méo khi va chạm mạnh vào một thanh kiếm khác cùng loại hay tốt hơn.

Công thức làm kiếm rất công phu. Trước hết, là phải đúng kim loại. Đây là bí mật nhà nghề.

Kim loại được nấu loãng và đổ vào khuôn, nguội lại thành thanh thép. Thanh thép này sẽ được nung nóng đỏ cho mềm ra, và được đập bằng búa cho mỏng xuống, rồi gấp lại thành hai, và đập cho mỏng xuống.

Xong rồi lại được nung cháy đỏ, đập mỏng ra, gấp lại làm đôi, đập mỏng.

Rổi lại được nung đỏ, đập mỏng, gấp làm đôi…

Cứ như thế khoảng 30 lần. Lúc này thanh kiếm không phải chỉ là một khối thép mà là 2-lũy-thừa-30 lớp thép mỏng vô cùng. Nếu bạn có một quyển sách dày chừng ấy trang thì không cây súng nào thời nay có thể bắn thủng quyển sách đó. Thanh kiếm như vậy chắc và dẻo dai đến thế nào, bạn biết không?
loren2

Và khi làm xong, kiếm cũng không thể cho nguội ngay bằng nước lạnh, mà phải để nguội dần dần, từ nhiệt độ cực cao của thép đang cháy đỏ đến nhiệt độ cực lạnh, lạnh hơn nước đá nhiều lần càng tốt. Thế thì kiếm sẽ rất dẻo dai và không dòn.

Cuối cùng là phần dũa, mài, đánh bóng, gắn chuôi, gắn vỏ…

Cho đến lúc kiếm được trao cho chủ, có thể bằng một lễ trao kiếm rất nghiêm trang và cung kính.

Thần kiếm hạ sơn!

Thần kiếm như phượng múa rồng bay trong tay uy vũ kiếm khách!
the_last_samurai_7
Mỗi chúng ta…

Mỗi chúng ta sinh ra để được Thương đế dùng trong tay của ngài, vào việc của ngài, như một thần kiếm.

Vậy thì, bạn có sẵn sàng để chịu nung cháy đỏ, gập đôi, và đập mỏng, 30 lần không? Rơi chầm chậm, từ đỉnh hỏa diệm sơn đến tận đáy băng sơn không? Mài dũa hàng ngày trước và sau chiến trận không?

Tự vấn…

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giã từ tổ quốc – Enrico Macias

Chào các bạn,

Enrico Macias được biết đến với giọng ca nhẹ nhàng, nhức nhối, hòa quyện cùng tiếng đàn flamenco điêu luyện réo rắt ngọt ngào. Và người Việt không ai mà không biết đến bản tango L’amour c’est pour rien của Enrico Macias.
enrico-macias
Enrico Macias sinh vào một gia đình Do Thái ở Constantine, Algeria, lúc đó là thuộc địa của Pháp. Bố là nhạc sĩ vĩ cầm trong một dàn hòa tấu. Enrico chơi guitar từ nhỏ và năm 15 tuổi bắt đầu chơi trong dàn hòa tấu, và sau đó làm nhạc trưởng.

Năm 1961 kháng chiến dành độc lập bùng nổ ở Algerie, Enrico cùng vợ là con gái sang Pháp tị nạn. Sang Pháp, Enrico tiếp tục cuộc đời âm nhạc. Bản Adieu Mon Pays (Giã Từ Tổ Quốc), mà Enrico làm trên chuyến tàu rời quê hương sang Pháp tị nạn, nổi tiếng ngay lập tức ở Pháp năm 1962, và sau đó trở thành huyền thoại quốc tế.

Những năm sau đó Enrico Macias trình diễn tour ở các nước Trung Đông và Cận Á–Lebanon, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Và tiếp tục có những big hít ở Paris, như Tu m’a pris dans tes bras, L’amour c’est pour rien… Năm 1968 Enrico trình diễn lần đầu ở Mỹ, tại Carnegie Hall, bán sạch vé (ngày 17 tháng 2 năm 1968).
enrico-macias.1
Năm 1968, Enrico có đĩa vàng cho Meslissa, và năm 1980 được Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Waldheim trao tặng danh hiệu Ca Sĩ của Hòa Bình (Singer of Peace).

Bản “Giã Từ Tổ Quốc” đã là bản nhạc cho hàng triệu người Việt xa quê hương nhỏ lệ trong thập niên 70s và 80s.

Hôm nay chia sẻ với các bạn, đặc biệt là các bạn xa nhà, xa quê hương, xa tổ quốc.

Sau đây là lời nguyên thủy tiếng Pháp, mình đã dịch sang Anh và Việt. Sau đó là video nhạc Adieu Mon Pays.

Bồi dưỡng thêm, video L’amour c’est pour rien của Enrico Macias, cùng link đến audio trình diễn tiếng Việt của Tú Quyên.

Chúc các bạn một ngày tangoish. 🙂

.

Adieu mon pays

J’ai quitté mon pays, j’ai quitté ma maison
Ma vie, ma triste vie se traîne sans raison
J’ai quitté mon soleil, j’ai quitté ma mer bleue
Leurs souvenirs se reveillent, bien après mon adieu
Soleil, soleil de mon pays perdu
Des villes blanches que j’aimais, des filles que j’ai jadis connu
J’ai quitté une amie, je vois encore ses yeux
Ses yeus mouillés de pluie, de la pluie de l’adieu
Je revois son sourire, y près de mon visage
Il faisait resplendir les soirs de mon village
Mais du bord du bateau, qui m’éloignait du quai
Une chaîne dans l’eau a claqué comme un fou
J’ai longtemps regardé ses yeux bleus qui fouillent
La mer les a noyé dans le flot du regret

.

Goodbye My Country

I left my country, I left my home
My life, my sad life crawls along without reason
I left my sun, I left my blue sea
Their memories replay long after my goodbye
The sun, the sun of my lost country
The white cities I loved, The girls I knew
I left a friend, I still see her eyes
Her wet eyes of rain, the rain of goodbye
I see again her smile, there near my face
It brightened the evenings of my village
But on board the ship that took me out of the harbor
A chain in the water clanging like a madman
I looked for a long time at the searching blue eyes
The sea drowned all in a flow of regret
.

Giã từ tổ quốc

Tôi rời xa tổ quốc, tôi rời xa quê hương
Đời tôi, đời tôi buồn lê lết không ý nghĩa
Tôi rời xa mặt trời, rời xa biển xanh
Ký ức vẫn sống mãi sau buổi biệt ly
Mặt trời, ôi mặt trời đã mất
Những thành phố trắng tôi yêu, những người con gái tôi biết
Tôi rời xa bạn tôi, tôi vẫn còn thấy mắt nàng
Ánh mắt của màn mưa, mưa từ ly
Tôi thấy lại nụ cười, sát bên mặt tôi
Nụ cười rạng rỡ những buổi chiều làng
Nhưng đứng trên boong tàu đưa tôi rời cảng
Sợi xích dưới nước lịch kịch như thằng điên
Tôi đã nhìn rất lâu đôi mắt xanh kiếm tìm
Biển đã nhận chìm tất cả trong một dòng nuối tiếc
.

Adieu mon pays

.

Mình có bài thơ The Glass of Coconut – Ly nước dừa có lẽ cũng thích hợp với tinh thần bài Adieu mon pays này, nên gời link đây để các bạn đọc.

.

L’amour c’est pour rien

.

Tình cho không biếu không – Tú Quyên – xin click vào đây

Ngoại hình có quan trọng cho thành công?

Chào các bạn,

Đây là câu hỏi một bạn vừa email hỏi mình. Vì tính cách thường xuyên của câu hỏi này, mình viết một bài để chia sẻ chung với mọi người, thay vì trả lời riêng.
beautyandthebeast
Vẻ nhìn đẹp đẽ hấp hẫn có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?

Muốn tìm câu trả lời, có lẽ ta phải nhìn lại bản chất của câu hỏi.

Trong nhà trường ta thấy các môn toán lý hóa, văn, Anh văn được xem trong. Vậy thì…

Toán có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?
Anh văn có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?

Hay là hỏi ngược lại:

Dốt toán có thành công được không?
Dốt Anh văn có thành công được không?
Không có ngoại hình có thành công được không?

Hỏi một lúc như vậy, tự khắc ta có câu trả lời. (Chú thích: Đây là kỹ năng gọi là kỹ năng phân tích – analytical skill. Tức là kỹ năng đặt câu hỏi. Không cần câu trả lời. Hỏi một hồi là câu trả lời tự nhiên hiện ra).
Woman at beach throwing her arms back behind her.
* Tức là, ngoại hình tốt, cũng như giỏi toán, giỏi ngoại ngữ, giỏi Anh văn, chạy nhanh như chớp… bất kỳ cái gì trời cho cũng là vốn liếng của mình, cũng là cái có thể giúp mình tạo nên sự nghiệp, nếu… mình biết dùng nó để tạo nên sự nghiệp.

Ngược lại, bất kỳ vốn liếng gì cũng sẽ bị mình làm tiêu tán, nếu mình không biết xây sự nghiệp và tiêu đến lúc phá sản.

* Vốn liếng thì tốt, nhưng chẳng có cái gì trên đời quan trọng đến nỗi không có nó thì mình không thành công cả.

Thông minh về l‎ý luận sẽ giúp ta thành công, dốt luận lý ta vẫn thành công như thường. Giỏi Anh văn sẽ giúp ta thành công, dốt Anh văn ta vẫn thành công như thường. Đẹp thì dễ mở cửa, không đẹp thì cũng mở cửa được như thường.

Bí quyết nằm ở đây: Tất cả cái gì ta đang có, từ cơ thể đến đầu óc đến tinh thần đến cảm xúc, đến gia cảnh, đến môi trường chung quanh, đều là vốn liếng của ta.

Nếu ta biết vận dụng tất cả để thành công, thì ta thành công. Ngoại hình cũng chỉ là một yếu tố trong trăm nghìn yếu tố vốn liếng của ta. Nhắc lại, chỉ là một trong trăm nghìn thứ ta có. Không hơn không kém.

* Sự thu hút của một người là do toàn diện con người ấy, toàn cơ thể, toàn đầu óc, toàn tinh thần… Đạt Lai Lat Ma đi đâu thì cũng có người mê. Mỗi lần nói chuyện cả chục ngàn người bỏ ra cả ngàn đôla để nghe. Nhưng ngoại hình của ông thì chắc không ai cho thi làm người mẫu.

* Hơn nữa, trong kỹ nghệ làm đẹp cho phụ nữ có câu: “Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp.” Đúng như vậy, cứ ra người đường mang một bà ăn mày nào đó, đưa vào viện thẩm mỹ, ba tiếng đồng hồ sau bà ăn mày này ra đường sẽ như minh tinh màn bạc và sẽ có khối cậu choai choai chạy xe theo rề rề.

smile
Nam nữ gì cũng vậy. Nếu muốn nhìn sáng sủa, lịch sự, hấp dẫn, chỉ cần để ‎ý đến tóc tai và cách ăn mặc một tí. Muốn ngoại hình của mình nhìn được thì phải để ‎ý đến ngoại hình một tí. Mới ngủ dậy, để nguyên cái đầu như vậy đi học hay đi làm, rồi cứ thắc mắc tại sao mình chẳng bao giờ có người yêu!

* Theo kinh nghiệm của mình, điều thu hút mạnh nhất của đàn ông cũng như đàn bà là nụ cười—không có gì có thể so sánh được–vòng 1, vòng 2, vòng 3, chiều cao, bắp tay bắp chân, gì cũng không thể địch được. Người hay cười, tự nhiên kéo người khác lại với mình. Sắc đẹp chỉ làm cho người thích ngắm mình, nhưng cái kéo người đến sát vào mình là cái “duyên”, mà nụ cười ít nhất là 50% của duyên, nếu không hơn vậy.

Sắc đẹp có năng lực kéo người lạ đến để làm quen với mình. Nhưng khi đã quen rồi thì sắc đẹp không còn việc làm nữa; lúc đó là cái duyên, cái hấp lực của cả con người mình, đa phần là từ tâm đi ra, sẽ kéo người sát vào mình và ở lại với mình.

Chúc các bạn một ngày vui!

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Triết lý Việt — Quả Dưa Hấu

Chào các bạn,

Mình viết bài này 23 năm về trước, nhân dịp Tết năm Bính Dần 1986, cho các báo hải ngoại. Nay post lại đây chia sẻ với các bạn.

Các bạn làm ơn đọc rồi cho biết TĐH bây giờ viết khác TĐH hồi đó thế nào nhé.

Cám ơn các bạn.

Hoành
___________

Triết lý Việt — Quả Dưa Hấu

duahau
I. Chính truyện (*)

Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được bẩy tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan chính, nhớ biết nhiều việc.

Vương đặt tên là Yển, tên chữ là An Tiêm, và cho một người thiếp, sinh được một trai, Vương yêu dùng để sai bảo, dần dần Yển thành thành phú quý, ai cũng uy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:

– Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.

Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:

– Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó còn cái vật tiền thân của nó nữa hay không?

Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn từ phía không có dấu chân người đi đến, chỉ để cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc ầm lên, bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý‎ gì sống được.

Tiêm nói:

– Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lạ gì?

Ở chưa được bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy có một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên một mõm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.

An Tiêm mừng rỡ nói:

– Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để ta nuôi đó.

Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm tho ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn, rồi cứ mỗi năm tỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt là Tây Qua.

Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương; dân gian suy tôn An Tiêm làm “Tây qua phụ mẫu”.

Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:

maiantiem8
– Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.

Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là khởi tự An Tiêm vậy.

II. Triết lý‎ tiềm ẩn

Huyền thoại dưa hấu có thể hiểu trên cả hai mặt, ý thức và tiềm thức. Tác giả không chú trọng nhiều vào phân phân tích ý thức bằng phân tích tiềm thức. Ý thức của huyền thoại là ‎ý thức của tác giả huyền thoại, đa số là lớp sĩ phu, học cao hiểu rộng. Tiềm thức huyền thoại là những suy tư ước muốn của đám dân gian quê mùa biểu lộ qua những say mê về hình ảnh của huyền thoại. (Xem bài “Phù Đổng: Triết Lý Chính Trị Dân tộc, Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 15 tháng 11 năm 1985). Đi tìm tiềm thức của huyền thoại tức là đi tìm tâm lý cội rễ của nhân dân Việt Nam, tức là đi tìm con người Việt Nam thực sự. Dĩ nhiên, phần ý‎ thức huyền thoại nhiều khi giúp cho người phân tích nhiều mấu chốt để phăng ra tiềm thức. Đôi khi tiềm thức và ý thức là một cũng không biết chừng.

Trong phần sau đây, tác giả bàn về hai điểm chính. Thứ nhất, nhũng nhận xét sơ lược. Những nhận xét sơ lược này phần lớn chỉ là phân tích ‎ý thức, và không là điểm chính của bài này. Tuy nhiên, tác giả cũng nhắc qua, gọi là gợi ý. Trong phần hai, tác giả bàn về triết lý thầm lặng. Phần triết lý thầm lặng nhắm vào phân tích tâm lý, tìm hiểu tiềm thức đám bàng dân Việt Nam.

    1. Nhận xét sơ lược

Những nhận xét sơ lược sau đây nhằm vào ý‎ thức của tác giả huyền thoại, dầu vẫn có vài phân tích tiềm thức lẫn vào. Nhiều dấu vết ‎ý thức còn rõ ràng như hai với hai là bốn; vài điểm khác mù mờ hơn. Vì phần này chỉ nhằm mục đích gợi ý, tác giả sẽ không bàn sâu về mỗi chi tiết.

* Trước hết, câu chuyện rõ ràng nói đến truyền thuyết nhân quả của nhà Phật du nhập vào Việt Nam. Những gì con người trải qua kiếp này chỉ là hậu quả của việc làm kiếp trước. Thuyết nhân quả khi mới qua Việt Nam bị dân Việt Nam nghi ngờ, chống đối, như Hùng Vương đày An Tiêm ra hoang đảo. Sau đó, thuyết nhân quả dần dần chứng minh được sức mạnh của nó, biểu hiện bằng mức thành công của An Tiêm ngoài hải đảo. Dần dần được dân Việt Nam ưa chuộng, biểu hiện bằng việc vua rước An Tiêm về.

Vài chi tiết khác nói rõ về nguồn gốc của thuyết nhân quả. Chim hạc trắng từ phương tây mang hạt dưa đến chỗ An Tiêm. An Tiêm là người theo thuyết nhân quả, mà hạc trắng lại đến từ hướng tây, nghĩa là thuyết nhân quả (theo An Tiêm tới cùng) đến từ hướng tây Việt Nam. Ta biết, thuyết nhân quả phát sinh từ Phật giáo ở Ấn Độ, mà Ấn Độ ở phía tây Việt Nam.
HacTrang
An Tiêm lại là người ngoại quốc. Phải chăng An Tiêm là biểu hiện của sứ giả nền văn minh Ấn Độ? Trái dưa hấu lại gọi là trái Tây Qua. Rõ ràng là tác giả nhấn mạnh hướng tây, hướng Ấn Độ.

* Nhưng tại sao lại là hạc trắng? Trên phương diện luận lý, chim đưa hạt đến hoang đảo là dễ hiểu nhất. Chẳng lẽ cá lại mang hạt từ biển lên, hay ngựa chạy trên mặt biển mang hạt vào? Trên phương diện phân tâm, chim là vật tổ của dân Việt Nam. Nói mang máng, chim là tên họ của dân Việt. Ta thấy chim đầy dẫy trong văn hóa Việt Nam, từ hải âu (Âu Cơ) đến vịt trời (Vụ Tiên), đến ngỗng (Hồng Bàng). Nói rõ hơn,chim là họ mẹ. Người Việt ta ảnh hưởng mẹ rất nặng nề (Sẽ bàn đến trong một dịp khác). Hạc trắng vì màu trắng là màu tinh khiết, thanh cao. Chim hạc dịu dàng, khiêm kính, có thể bay đến cõi trời. Chim hạc lại ẻo lả, yếu đuối, gần giống như con cò, như mẹ Việt Nam.

“Con cò lặn lội bờ ao
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Trong truyện lại nói đến An Tiêm được dân gian suy tôn làm “Tây Qua phụ mẫu”. An Tiêm là đàn ông thì “phụ” (“bố”) được rồi, tại sao lại “phụ mẫu” (“bố mẹ”)? Cũng như tại sao Phùng Hưng được dân gọi là “Bố Cái Đại Vương”? Ta thấy ảnh hưởng của người mẹ mạnh mẽ đến nỗi mẹ luôn luôn đi kèm với bố, dầu trên thực tế người đàn ông chỉ nên gọi là “bố” mà thôi. Hơn nữa bố mẹ luôn luôn đi đôi còn tỏ được tinh thần bình đẳng nam nữ trong văn hóa Việt Nam cổ điển. Tiếc rằng, nhiều ngàn năm sau con cháu Việt Nam chạy theo Tàu, rồi chạy theo Tây, đâm ra khinh nữ trọng nam.

* An Tiêm người ngoại quốc mà lại được Hùng Vương sủng ái. Thế là tinh thần hài hòa đa dung của người Việt đã đến độ thượng thừa. Tinh thần đa dung hài hòa này làm cho người Việt sẵn sàng du nhập những cái hay từ văn hóa nước ngoài, từ Phật giáo ở Ấn Độ, đến Lão giáo, Khổng giáo ở Trung Quốc, đến các triết lý gần đây từ Âu Mỹ. Tinh thần đa dung này mạnh đến nỗi, nếu để ý, ta phải ngạc nhiên. An Tiêm là gốc ngoại quốc, mà ngày nay dân ta luôn luôn coi An Tiêm là người Việt và quả dưa hấu đã thành một biểu tượng rất quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Rõ ràng là dân ta chẳng bao giờ nề hà văn hóa nước ngoài cả.

Vì vậy, dầu ta hãnh diện về nền văn hóa Việt Nam, cũng cần để ý đến tính đa dung hài hòa của dân ta, để đừng cố chấp, cho rằng văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ, v.v… chỉ là văn hóa ngoại lai. Văn hóa Việt Nam là văn hóa tổng hợp. Nếu ta cứ khư khư cố chấp, ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung, không những ta không bao giờ tiến bộ, mà còn đi ngược lại bản tính đa dung hài hòa Việt Nam.
hài hòa
* Trong truyện An Tiêm còn nói, “Trời đã sinh thì trời dưỡng, có lo gì?” Triết lý thiên định này khác với thuyết nhân quả. Hơn nữa, thuyết thiên định còn có vẻ ngược với thuyết nhân quả.

Theo thuyết nhân quả, mọi sự đều do người. Kiếp này làm phúc, khiếp sau hưởng nhàn.

Thuyết thiên định, tương tự như quan niệm số mệnh của Nho giáo, cho rằng mọi sự đều do trời định. Ở xứ ta “học tài thi phận” hay là “số giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Đời sống cực khổ, vô hy vọng của dân ta làm thuyết thiên định trở nên hấp dẫn.

Ta thấy ở đây hai thuyết có vẽ nghịch nhau (chưa hẳn là nghịch nhau hoàn toàn) đều nằm chung trong câu chuyện một cách hòa bình. Đó là tinh thần Việt Nam hài hòa. (Các độc giả muốn đọc thêm về thuyết thiên định trong văn hóa Việt Nam, xin đọc Truyền Thống Dân Tộc, của Lê Văn Siêu, tr. 51-63 Sống Mới (19??).

* Ngoài những điểm kể trên, tác giả mạn phép được nhắc lại ý kiến của giáo sư Kim Định: “Đây là muốn cụ thể vào một việc cho rõ đạo tự cường tự lực. Tuy đã nhiệm mầu Phật nhưng cũng còn cậy vào công cũ, nên vẫn giữ được vẻ tự cường tự lực của nhân thoại”. (Kinh Hùng Khải Triết, tr. 194). Thế nghĩa là An Tiêm là biểu hiện của dân Việt Nam tự lực tự cường, dầu có lâm vào đường cùng vẫn có thể tự lực cánh sinh để trở thành hùng mạnh. Hơn nữa, công lao tự lực của thời trước vẫn luôn sinh hoa trái cho kẻ thời sau.

Ta thấy ở đây ý chí tự lực, thuyết thiên định, và thuyết nhân quả phối hợp với nhau một cách kỳ dị, và trở thành cái ta gọi là văn hóa Việt Nam. Sản phẩm cuối cùng thật là phức tạp khó hiểu. Nhưng, có tổng hợp nào ở đời lại quá giản dị đâu?
humbleness

    2. Triết lý thầm lặng

* Điểm hấp dẫn hơn hết và là trọng tâm của câu truyện là quả dưa hấu. Ta thấy những nhận xét trên đây đều chẳng liên hệ gì đến quả dưa. Nếu vậy thì quả dưa chẳng là tiểu tiết lắm sao?

Nhưng tại sao lại là dưa hấu mà không là những quả khác? Ta thấy rõ ràng là dưa hấu giữ một vai trò quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Ngày lễ quan trọng nhất trong năm, Tết Nguyên Đán, là phải có dưa hấu.

Nhưng xét trên thực tế, ta chẳng thấy lý do nào để dưa hấu trở thành quan trọng. Tháng Tết vẫn là tháng lạnh, dưa hấu chẳng có gì hấp dẫn như giữa mùa hè. Nếu Tết nằm giữa mùa hè, và vì quá nóng, dưa hấu trở thành quan trọng, lâu năm trở thành biểu tượng văn hóa, thì dễ hiểu hơn.

Về kinh tế, dưa hấu chỉ làm cho người ta hết khát, chứ không làm cho người ta no thế cơm. Mà Việt Nam lại không là sa mạc, nước quý như vàng. Nghĩa là dưa hấu chẳng quan trọng gì cho kinh tế hàng ngày cả. Hơn nữa, dưa hấu không giữ được lâu, nghĩa là bán buôn khó khăn, không có lời. Bán trễ một tí là chỉ có nước mang đi đổ. Vì vậy, người ta không thể xuất cảng dưa hấu ra ngoài, nhất là vào thời chưa có máy móc xe cộ. Do đó, dưa hấu không quan trọng cho đời sống kinh tế nhân dân.

Về mùi vị thì dưa hấu khá ngon. Nhưng so với các loại trái cây khác thì chẳng thể nào dưa hấu đứng được hàng đầu. Việt Nam thiếu gì trái cây thơm ngon, đẹp đẻ, mùi vị hấp dẫn. Dưa hấu cũng chỉ là một trong những số trái ngon mà thôi. Thế thì l‎ý do gì làm dưa hấu trở thành quan trọng?

Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ và Nguyễn Lang trong Văn Lang Dị Sử, có nói đến hạt dưa đen nhánh như răng các cô thiếu nữ. (A, các cô thiếu nữ ngày nay, đừng vội cười. Ngày xửa ngày xưa, răng càng đen càng đẹp đấy nhé). Nhưng hạt dưa đẹp như răng của mấy cô cũng không thể nâng quả dưa lên hàng quan trọng. Cùng lắm cũng chỉ như hạt lựu so với răng các cô thời nay.

Nhìn kỹ lại dưa hấu ta thấy gì khác với các loại trái cây khác?

Trước hết là vỏ dưa xanh. Non cũng xanh, chín cũng xanh, lạt cũng xanh, ngọt cũng xanh. Đa số các trái cây khác khi chín đổi màu vàng hay đỏ, nhìn là biết ngay. Dưa hấu chín vẫn âm thầm lặng lẽ, khó mà biết được. Đây là điểm âm thầm thứ nhất.

Một vài trái cây khác khi chín vẫn mang màu xanh, như trái mít chẳng hạn. Nhưng những trái xanh khác khi chín lại bốc mùi thơm hấp dẫn. Dưa hấu chín vẫn âm thầm, chẳng khoe khoang hương vị. Đây là điểm âm thầm thứ hai.

Tóm lại, dưa hấu luôn luôn âm thầm, không lộ cái hay cái đẹp của mình ra ngoài bằng màu sắc hay mùi vị. Nhưng nếu người ta bổ ra thì bên trong thế nào? A! Màu đỏ. Màu của con tim, của tình yêu, của nhiệt huyết, của cả tấm lòng trung can tiết nghĩa. Mấy trái cây Việt Nam có bên trong đẹp hồng như dưa hấu? Không những chỉ có màu sắc, mà còn ngọt ngào mát mẻ. Nghĩa là đẹp cả hình thức lẫn nội dung.

Như vậy, dưa hấu là biểu tượng của con người tâm huyết trung nghĩa vẹn toàn. Nhưng con người đó âm thầm khiêm tốn, không hề tỏ lộ tấm lòng ra ngoài bao giờ. Khi người khác bổ ra, tìm hiểu lòng mình, họ mới thổ lộ chân tình.
dua-hau
Xanh vỏ, đỏ lòng.

Chính vì biểu tượng trung nghĩa âm thầm đó, mà dân Việt Nam say mê ưa chuộng quả dưa hấu, và dưa hấu được dùng đến trong mỗi đầu năm. Dân Việt Nam ưa chuộng thầm lặng và khiêm tốn trong lòng.

* Một điểm khác trong chính truyện làm sáng tỏ thêm một tí triết lý thầm lặng.

Trong truyện nói đến đời Hùng Vương mà không nói là đời thứ mấy. Nguyễn Lang trong quyển Văn Lang Dị Sử cho là đời Hùng Vương thứ 3 (tr. 130, in lần ba, Lá Bối, 1982). Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ cho là đời Hùng Vương thứ 17 (tr.11).

Trên phương diện triết lý, đời 17 có lý hơn đời thứ 3. Theo Dịch học (mà người Việt ta nếu không là một trong những tác giả, thì cũng sử dụng rất nhiều), số 3 là con số thái dương, con số của thời huy hoàng cực thịnh. Số 17 là tổng số của 10 và 7. Số 10 là số thái cực, trung dung, vô thưởng vô phạt. Số 7 là số dương suy, thời đi xuống. Đời 17 là đời kế đời Hùng Vương cuối cùng. Đời vua 18 bị Thục Phán xâm chiếm.

Mà Hùng Vương trong truyện này có vẻ là vua của thời đi xuống. Vua nuôi An Tiêm, thương như con, nhưng khi nghe An Tiêm nói tin vào tiền thân, có vẻ như phụ ơn vua, là vua đùng đùng nổi giận đày ra hoang đảo. Người làm việc phúc đức sao lại bắt người ta mang ơn của mình hoài, nếu người ta tỏ vẻ như là vô ơn thì mang ra phạt? Thế là kẻ phúc đức hay kẻ háo danh? Thế là kẻ khiêm tốn hay “cái tôi lớn như quả núi”?

Hùng Vương trong truyện có thể là biểu hiện của sức đối kháng của dân Việt với văn hóa Phật giáo thời đó. Nhưng cũng có thể là biểu hiện của “cái tôi” quá lớn. Cũng may mà Hùng Vương vẫn còn thấy được An Tiêm có lý vào lúc cuối truyện.

“Cái tôi” to lớn của Hùng Vương đặt kế tính khiêm nhường âm thần của quả hưa hấu, làm nổi bật vai trò quan trọng của quả dưa. Âm thầm khiêm tốn và trung nghĩa trong lòng là vốn liếng của cái làm cho An Tiêm giàu có, và chinh phục được “cái tôi” to lớn của Hùng Vương.
khiêm tốn phục vụ
Như vậy, dân Việt ta vì yêu chuộng thầm lặng khiêm tốn mà thành ra yêu chuộng dưa hấu, và đưa dưa hấu lên hàng đầu trong văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên, không phải là mỗi người Việt đều “thấy” mối liên hệ giữa dưa hấu và tính khiêm tốn, vì “thấy” là ý thức, mà ta đang phân tích tiềm thức dân tộc. Nhưng làm sao ta biết là ta phân tích đúng hay sai? Thưa, ta đem so sánh lời phân tích của ta với các câu truyện khác rõ ràng hơn về tính thầm lặng mà dân Việt Nam ưa chuộng, như Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông. Tính thầm lặng là một trong những đặc tính tâm l‎ý của dân Việt, mà ta phải để ý trong những lúc thực hành.

III. Kết luận

Thầm lặng là một cái gì thật giản dị, thật dễ hiểu. Nhưng khi áp dụng, thầm lặng đòi hỏi ta phải kiên nhẫn và tự kỷ cao độ. Kiên nhẫn để bỏ sức ra làm việc chậm chạp và mệt nhọc bằng năm bằng mười lần hô hào bắc loa to lớn. Kiên nhẫn để khỏi nóng nảy áy náy là con đường mình đi sao quá chậm. Tự kỷ để mình có thể chống lại hào quang của những tràng pháo tay, những lời xưng tụng. Ôi! Hào quang sao đẹp đẽ thế mà có sức hủy diệt nhân tài!

    Chú thích: (*) Phần chính truyện trích nguyên văn từ phần Chính Kinh của quyển Kinh Hùng Khải Triết do giáo sư Kim Định viết.

    Theo giáo sư Kim Định, “Kinh Hùng là 15 truyện đầu trong quyển Lĩnh nam Trích Quái theo bản VHv 1473 là bản Phạm Quỳnh đã theo và Lê Hữu Mục đã dịch… Ở đây chúng tôi chỉ dùng bản dịch của họ Lê sau khi đã sửa vài ba chỗ sai (chắc vì vô tình) hoặc quá xa bản chính, nhưng nói chung đã đủ cho phương diện triết lý”. Xem K.H.K.T. tr. 151 (Thanh Niên Quốc Gia xuất bản, 198?).

    Bản chính truyện này gần giống hoàn toàn với bản chính truyện Nguyễn Trọng Thuật đã dùng trong Quả Dưa Đỏ, tr. 6-7 (Sống Mới, 1955).

Trần Đình Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Vấn đề số 1 của giáo dục Việt nam là gì?

Chào các bạn,
education
Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là:

Điều gì là vấn đề Số 1 của giáo dục Việt Nam?

Và các câu trả lời là:

1. Chính sách bất cập
2. Quản lý thiếu năng lực
3. Đạo đức và lý tưởng
4. Lương bổng

5. Nếu không thích các câu này, các bạn có thể viết câu trả lời của mình

Các bạn, nhất là các giáo chức và phụ huynh, xin trả lời đông đủ nhé.

Mến,

Hoành

Cộng hưởng stress

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói trước đây, một âm thanh gặp một âm thanh khác cùng tần số sẽ có hậu quả cộng hưởng, làm tăng cường độ rất mạnh, tạo ta một loại âm thanh nổi mạnh mẽ hơn rất nhiều. Do đó, tư duy tích cực cũng có hiệu quả cộng hưởng tích cực khi gặp người cùng tần số.

Và stress cũng vậy. Hôm nay ta nói đến cộng hưởng stress.

Tạo sao các tu sĩ không tu ở nhà mà phải vào nhà thờ hay chùa? Và nhà tu thì hay xây trên núi, chứ chẳng mấy khi bên hông chợ?
Stress-can-ruin-your-love
Vì ở chốn phồn hoa đô hội ồn ào thì khó tu?
Nhưng cái gì “ồn ào” làm khó tu?
Nhạc rock của hàng xóm mở tối đa chăng?
Chắc là vậy.

Nhưng nhạc chỉ là chuyện nhỏ, không đáng nói. Cái “ồn ào” đáng nói là stress gây ra, do chung đụng với người khác, dù đó là người trong gia đình, người yêu, người hàng xóm, hay mấy anh chàng phất phơ ngoài đường.

Nhiều người ở độc thân quen, không muốn lập gia đình, vì sợ stress do đời sống gia đình mang tới.

Hmm… Nếu mình ở một mình thì không stress, nếu có người ở chung thì có stress, vậy thì stress phải do người kia mang đến cho mình?

Lý luận cách này hóa ta trắng và người thì đen.

Nhưng thật ra, stress do ở chung, do chung đụng, mang lại.

Trong tình trạng ở chung của 2 người chẳng hạn, ví dụ ta và người phối ngẫu, thì ta có 3 nguồn stress: Chính mình, người phối ngẫu, và hậu quả cộng hưởng.

• Nguồn từ chính mình: Ví du: mình stress vì sợ mất việc, hay vì lo thi rớt, hay bực mình vì người phối ngẫu đến đón mình quá trễ.
stress
• Nguồn từ người phối ngẫu: Cũng tương tự như các loại stress của mình. Ví dụ: Mua cái áo hơi chật mà tiệm không cho đổi lại áo khác, hay lo thiếu tiền trả tiền nhà, hay bực mình vì mình bày biện nhà cửa bất trật tự.

• Cộng hưởng: Trong tất cả các thí dụ kể trên, khi một người stress thì có khả năng rất cao là người phối ngẫu stress theo. Bởi vì thân nhau, gần nhau, yêu nhau mà! Nếu em stress xanh mặt mà anh cứ nằm phè hút ba số 5 cười cười với mấy con thằn lằn trên trần thì yêu nhau nỗi gì?

Ví dụ:
Ta stress vì ta sợ mất việc, người phối ngẫu của ta đương nhiên cũng stress theo, rồi ta thấy nàng stress theo ta lại càng tăng stress (đây là hậu quả cộng hưởng).

Nàng stress vì lo thi rớt, ta thấy nàng lo ta lo theo, và vì nàng thấy ta lo theo nàng lại càng run.

Khi nàng bực mình vì ta đến sở đón nàng trễ hơn thường lệ, nàng lườm nguýt gì đó làm ta nóng máu nói một câu móc họng, vì và thế nàng tăng cáu… và chuyện này có thể tiếp tục tăng tốc rất nhanh… Bye bye to love!

Vì vậy, nếu 2 người sống chung, mỗi người có 3 chuyện stress, thì hậu quả là mỗi người không chỉ bị 6 chuyện stress, mà với sức cộng hưởng, sức công phá có thể bằng 18, nếu không là 180, chuyện stress.

Thế thì đi tu cho được việc !!

Hoặc là, phải biết cách giảm stress khi sống chung:

1. Thứ nhất, ta phải biết rằng bất kỳ‎ stress nào mình có cũng làm cho người kia bị stress theo, rồi lại sẽ bị cộng hưởng. Cho nên đừng stress. Thiếu tiền trả tiền nhà thi đi mượn tiền, mượn không được thì xin khất nơ… Làm điều gì phải làm, nhưng được hay không, đừng stress. Đời có những điều mình không kiếm soát được, và tương lai có nhiều bí mật mình không biết, stress vô ích.

Đừng nổi nóng hay bực mình. Take it easy. Chàng ta bừa bãi thì nói chàng dọn, chàng không dọn thì ta dọn, một lúc nào đó chàng sẽ học được chuyện dọn dẹp.

Nàng đến trễ một tí thì take it easy, cười thay vì quạu.

Bản tính xí xóa, không quạu cọ, cười cười, take it easy của mình, dự phần 99% trong việc giải stress và chống stress.
combatstress
2. Nhớ rằng mình có thể bị lây stress từ người kia, cho nên hãy bảo lòng “đừng lây stress”. Ví dụ: Thấy nàng lo ngay ngáy là sợ thi rớt, thì mình cười cười nói, “Lo làm chi, em giỏi mà. Hơn nữa, rớt thì mai mốt thi lại thôi. No big deal.” Và trong lòng mình cũng phải tự bảo, “Nàng có stress thì ta cũng sẽ không stress theo. Ta vẫn chỉ cười cười với ta, và với nàng.”

Nếu mình chỉ làm được việc số hai này thôi, thì mình chống được lượng stress rất lớn: Stress lây từ người kia, và lượng stress cộng hưởng vĩ đại.

Nếu làm luôn được việc số một–chặn stress riêng của mình,–thì mình đã giảm stress đến ít nhất là 80% trong nhà. Còn 20% do người kia tạo ra mà thôi. Và 20% này có khả năng bị biến mất, vì nếu ta thong thả, vui vẻ, không stress, có khả năng cao là năng lượng tích cực cộng hưởng trong nhà sẽ mạnh đến mức đánh tiêu luôn 20% stress còn lại.

Sống chung cũng có thể vui và sướng hơn đi tu, nếu ta biết cách diệt stress.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thực hành từ tâm

compassion

    Yêu láng giềng như yêu chính mình

      Jesus of Nazareth

    Tâm từ khi được khéo tu,
    Làm cho trói buộc bị mau yếu dần.
    Không còn dấu vết tham sân,
    Niết bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

      Kinh Từ Tâm

Chào các bạn,

Từ tâm, từ bi, lòng từ, bác ái, nhân ái… tất cả đều nói đến yêu người. Chúng ta đều thấy, mọi vị thầy lớn của thế giới, dù dùng ngôn ngữ nào, loại l‎ý luận nào, ở vùng địa lý nào, vào thời khoảng nào… đều đặt trọng tâm thuyết giảng của mình vào một điểm—yêu người.

Và đương nhiên khỏi cần thầy nào dạy, chúng ta cũng biết là thế giới này sẽ thành thiên đàng nếu mọi người yêu nhau. Tình yêu là cái nền của vũ trụ, trên đó mọi sự, mọi thứ, và mọi người, đứng vững, cùng với nhau. Thiếu tình yêu, tất cả đều rời rã và tan biến.

Trong bài này chúng ta sẽ lượt qua nền tảng l‎ý thuyết căn bản của “yêu người” của ba trường phái—Thiên chúa giáo, Phật giáo, và chủ nghĩa lợi ích (không tôn giáo). Sau đó chúng ta sẽ nói đến cách thực hành “lòng từ” của Đại Sư Phật Âm, là một phương cách rất khoa học, mọi trường phái để có thể dùng được.

I. Căn Bản của Yêu Người

1. Yêu người trong Thiên chúa giáo:

Mother Mary
Chúa Giêsu nói: “Yêu Chúa, Thượng đế của bạn, với cả trái tim, cả linh hồn, cả khối óc của bạn. Đây là điều răn đầu và quan trọng nhất. Và điều răn thứ hai như thế này: Yêu láng giềng của bạn như yêu chính bạn.” Matthews 22:37-38.

Câu nói đó được gọi là Luật Vàng (The Golden Rule). Người Thiên chúa giáo yêu người vì Chúa bảo thế. Đây là luật từ trời. Thực ra luật này đã có tối thiểu là từ thời Moses, trước Chúa Giêsu khoảng 1500 năm. Leviticus 19:18. Giêsu chỉ lập lại một cách rất ngắn gọn mà thôi.

Và Luật Vàng có hai vế: Vế đầu là yêu chúa. Vế sau mới là yêu người. Yêu người vì yêu chúa, và vì chúa bảo “yêu người.”

Ở đây, lòng tin vào chúa rất quan trọng. Nếu không tin chúa (vế đầu), thì chẳng lý do gì phải nghe lệnh chúa “yêu người” (ở vế sau).

Và Luật Vàng dạy yêu người—chứ không nói thêm là người tốt hay xấu, có học hay không có học, du côn hay tử tế, thiện hay ác, thân hay sơ, bạn hay thù… “Yêu người” ở đây là yêu tất cả mọi người, kể cả người xấu, người tội lỗi, người ức hiếp, kẻ thù ta… Cho nên, tình yêu trong Thiên chúa giáo gọi là “Tình yêu vô điều kiện” (unconditional love).

2. Yêu người trong Phật giáo
kwanyin
Nền tảng triết lý‎ sâu thẳm nhất của “yêu người” trong tư tưởng Phật giáo là câu này: “ Tất cả pháp là không .” Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Vô Tận Tạng .

Tất cả mọi thứ, mọi người, mọi vật (tức là “tất cả pháp”) đều là Một, và cái Một đó không thể diễn tã được bằng từ nào cho đúng, nên gọi là “không”. “Không” đây không có nghĩa là “không có”.

Vì tất cả đều là một, như tất cả ngọn sóng đều là một đại dương, nên người và ta là một. Người là ta và ta là người. Yêu nhau là chuyện đương nhiên. Yêu người cũng là yêu mình thôi.

Ở một mức suy tư thấp hơn, có tính cách thực hành, Kinh Từ Tâm nói ta yêu người vì:

Tâm từ khi được khéo tu,
Làm cho trói buộc bị mau yếu dần.
Không còn dấu vết tham sân,
Niết bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

Tức là yêu người làm tim ta có thể thoát mọi rằng buộc tối tăm–như tham lam, sân hận, si mê–và có được con tim tĩnh lặng để đến được Niết Bàn—Nirvana, Hoàn Toàn Tĩnh Lặng.

Kinh Từ Tâm cũng nói rất rõ là yêu người là yêu tất cả chúng sinh, không phân biệt gần xa tốt xấu, như là Tình yêu vô điều kiện trong Thiên chúa giáo.

Thế Tôn thuyết giảng những lời,
Liên quan tu tập nên người từ tâm,
Là người rất đỗi ân cần,
Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa.
Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,
Người từ tâm trọn quên mình mà thương.

    Kinh Từ Tâm

3. Yêu người trong chủ nghĩa lợi ích (utilitarianism)
compassion2
Những người không tin vào truyền thống tâm linh nào, thì suy nghĩ theo chủ nghĩa lợi ích để xây dựng căn bản cho “yêu người”. Hệ thống đạo đức của chủ nghĩa lợi ích đặt trên căn bản rằng: “Mục đích của đạo đức là tạo nên một thế giới tốt hơn.”

Và “đạo đức là để tạo ra hậu quả tốt, chứ không cần biết đến ‎ý định tốt.” Điều này rất khác với các truyền thống tâm linh, trong đó tâm ý (intention) của ta có một vai trò rất lớn (dù là không có tính cách quyết định) trong việc xét đoán một hành động là thiện hay ác, tốt hay xấu.

Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của người theo chủ nghĩa lợi ích là “Ta nên làm bất kỳ điều gì có lợi nhất cho con người, tức làm cho thế giới sung sướng hơn, hạnh phúc hơn, lý tưởng hơn, bình đẳng hơn, v.v….”

Với kim chỉ nam như thế này, yêu người đương nhiên là có giá trị khi nó làm cho mọi người cùng vui vẻ hòa đồng cho thế giới tốt đẹp hơn. Nhưng khi phải giết người để thế giới tốt đẹp hơn thì cũng nên làm, và gạt bỏ tình yêu cá nhân sang một bên.

Như vậy ta thấy, trong các truyền thống tâm linh, tình yêu con người vô điều kiện–của mỗi cá nhân đến mỗi cá nhân khác trong xã hội–là chỉ đạo cho đời sống cá nhân và xã hội. Tình yêu và cảm xúc tình yêu là kim chỉ nam cho mọi sinh hoạt cá nhân và xã hội.

Nhưng trong chủ nghĩa lợi ích thì yêu người chỉ là một trong những con số trong con toán. Nếu yêu người mà được việc cho thế giới thì yêu, nếu người làm phiền thế giới thì đánh người. Đây cũng là căn bản suy tư cho nhiều cuộc cách mạng xã hội đẩm máu ta đã thấy trong thế kỷ 20 (và vẫn còn xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, dù là dưới hình thức chiến tranh tôn giáo “lệch lạc” ngày nay).

Điều này không có nghĩa là các truyền thống tâm linh không sống chung được với chủ nghĩa lợi ích. Trong đa số vấn đề ở đời, chủ nghĩa lợi ích và các truyền thống tâm linh sẽ có cùng đáp số. Tuy nhiên thỉnh thoảng sẽ có những vấn đề mà kết quả sẽ khác nhau lớn, tùy theo ta chú trọng đến tình yêu hay lợi ích. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này trong đời sống cá nhân, và cũng thấy lịch sử cận đại thế giới đã xảy ra những chuyện gì.

II. Thực Hành Yêu Người
compassion3
Khi yêu ai, tự khắc ta biết phải làm gì. Vì vậy, các trường phái tâm linh chú trọng vào dạy ta có con tim yêu ái, hơn là chú tâm vào dạy qui tắc hành động. Nói chung thì mọi chúng ta đều biết yêu người như thế nào: Nói năng vui vẻ, mỉm cười, đừng trộm của người, đừng ức hiếp người, nghĩ tốt về người và không nên nghĩ xấu về người, thấy cái xấu của người thì biết nhưng không dùng nó để ghét, tha thứ, kẻ thù khi ngã ngựa thì cũng cứu giúp, v.v… Khi yêu tự khắc ta biết phải hành động thế nào.

Tuy nhiên vài trăm năm trước, Đại sư Phật Âm (Bhadantacariya Buddhaghosa), viết quyển cẩm nang quan trọng nhất trong Phật giáo Nguyên Thủy, Visuddhimagga, mà Tỳ kheo Nanamoli đã dịch từ tiếng Pali sang Anh ngữ là The Path of Purification (Con Đường Thanh Tịnh), có chỉ rõ phương cách luyện tập từ tâm, mọi người đều có thể dùng, dù mình nằm trong trường phái nào. Tóm gọn như sau:

Chúng ta thực tập lòng từ (yêu người) từng bước một, bằng cách chia mọi người thành 4 nhóm: Chính ta, người ta rất yêu mến, người ta không thương không ghét, người ta ghét hay thù.

Và thực hành qua 3 (hoặc 4) bước chính như sau:

1. Trước hết ta “khởi lòng từ”: bằng cách hướng lòng từ về chính mình—tôi mong hạnh phúc và không đau khổ; tôi mong không có thù hận, không đau đớn, không lo lắng, và sống hạnh phúc.

2. Sau đó ta “hướng lòng từ”: bằng cách nhớ lại những gì làm ta tăng thêm thương mến (như các món quà hay lời nói dịu dàng), những gì làm ta tăng kính trọng (như đạo đức hay trí tuệ), mà ta đã thấy trong một người nào đó, ví dụ như một vị thầy giáo của ta. Rồi ta hướng lòng từ của ta về người đó: “Tôi mong thầy được hạnh phúc và không đau khổ.” Cứ định tâm như vậy cho đến khi ta cảm thấy đầy ắp lòng từ trong tâm ta.

3. Sau đó ta từ từ “phá bỏ rào cản” giữa các nhóm người. Từ vị thầy giáo, ta hướng lòng từ về một người bạn rất thân, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.

Xong rồi ta lại hướng lòng từ về một người không thương không ghét, cứ như là bạn thân của mình, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.

Xong rồi ta lại hướng lòng từ về một người ta thù, cứ như người ta không thương không ghét, cho đến khi thấy đầy ắp lòng từ.
compassion4
4. Tuy nhiên, khi đến “kẻ thù” có thể ta gặp khó khăn, vì đôi khi lòng ta có quá nhiều sân hận làm ta không thể có lòng từ với người này được. Đại sư Phật Âm dạy ta phải biết cách Dập Tắt Sân Hận để lòng từ có thể nẩy nở, theo phương pháp sau:

• Khi bị sân hận cản trở, thì hãy nhớ lời Phật dạy:

“Tỳ kheo, nếu có kẻ cướp dùng cái cưa cưa tay cưa chân ngươi, ai mà mang thù hận trong lòng vì điều đó, người đó không mang giáo pháp của ta.”

“Lấy sân hận trả sân hận thì còn tệ hơn là nổi sân hận trước. Đừng dùng sân hận trả sân hận. Hãy thắng cuộc chiến khó thắng.”

Đức Phật nói có 7 điều làm cho kẻ thù của ta rất thỏa mãn và lợi lộc. Kẻ thù ta muốn ta (1) xấu xí, (2) đau khổ, (3) thiếu may mắn, (4) nghèo khổ, (5) không danh tiếng, (6) không bạn bè, (7) không đến được cõi trời hạnh phúc sau khi chết. Khi mà ta sân hận thì kẻ thù của ta sẽ được cả 7 điều ước này.

• Nếu vẫn còn thấy sân hận, thì hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp trong tác phong của người mình đang giận. Người này có thể có vài tác phong đáng ghét, nhưng cũng có vài tác phong cao đẹp. Hãy nghĩ đến những tác phong cao đẹp của họ.

• Nếu vẫn còn thấy giận, thì hãy nhớ (1) nếu kẻ thù bạn đã dùng quyền năng của hắn để làm cho bạn giận, tại sao bây giờ bạn lại cố hành cái đầu của mình, trong khi hắn không còn quyền năng đó nữa. (2) Người ta làm bậy, cho nên bạn giận, tại sao vậy? Chẳng lẽ bạn cũng muốn bắt chước làm bậy hay sao? (3) Có người làm bậy để chọc giận bạn, chẳng lẽ bạn muốn nổi giận đúng ý họ muốn hay sao? (4) Bạn nổi giận thì không chắc là bạn có làm cho kẻ thù đau đớn được không, nhưng chắc chắn là bạn bị đau đớn vì cơn giận đó. (5) Kẻ thù của bạn bị cơn giận làm mù quáng, chẳng lẽ bạn cũng muốn mù theo hay sao? (6) Nếu vì bạn giận dữ mà kẻ thù bạn làm bạn đau đớn, thì hãy bỏ cơn giận đi. Tại sao bạn phải đau khổ không lý do? (8) Những cơn phẫn nộ thường chỉ kéo dài trong giây phút, những ngông cuồng gây ra những hành động tai ác đã qua hết rồi, vậy thì bạn giận cái gì đây? (9) Khi ta muốn gây khổ đau cho một người vắng mặt, thì ta làm ai đau? Bạn đang có mặt và bạn làm chính bạn đau, tại sao bạn nổi giận với người vắng mặt đó?
compassion5
• Nếu buồn giận vẫn chưa hết, thì hãy nhớ rằng mỗi người là sở hữu chủ của hành động của mình. Việc gì tôi phải nổi giận với anh ta? Anh ta làm bậy thì anh ta sẽ nặng nghiệp tội. Tại sao tôi phải nổi giận, để rồi tôi phải mang nghiệp tội?

• Nhưng sau đó nếu vẫn còn buồn giận thì hãy nghĩ đến những lợi lộc mà lòng từ mang lại. Khi ta thành tâm thực tập lòng từ như là nền tảng của đời sống, ta sẽ được nhiều lợi lộc: (1) Thoải mái khi ngủ, (2) thoải mái khi thức, (3) không có ác mộng, (4) được mọi người thương mến, (5) được loài vật thương mến, (6) thánh thần phò hộ, (7) tập trung tư tưởng dễ dàng, (9) mặt nhìn lúc nào cũng thanh tịnh, (10) khi chết không hoảng loạn.

• Nhưng nếu làm vậy mà vẫn còn hờn giận, thì hãy nghĩ đến những thành tố làm nên một con người. Anh ta cũng chỉ là Không, cũng sẽ vào hư vô. Tôi giận cái gì đây? Tôi giận ai đây?

• Nhưng nếu đến lúc này mà vẫn không hết giận, thì hãy dùng quà tặng, hoặc là ta tặng quà cho người ta đang giận, hoặc là nhận quà tặng của người ấy.

• Khi cơn giận đã bắt đầu nguôi, ta phải hướng lòng từ về người này, cứ như là chính ta, là người thân của ta, người ta không thương không ghét, người ta có thù hận. Và ta phải lập đi lập lại thực tập lòng từ, phá bỏ rào cản, cho đến lúc trong tâm ta bốn nhóm người đều bình đẳng như nhau: ta, người thân của ta, người không thương không ghét, người có thù hận.

Và, các bạn, dĩ nhiên là môn thực hành nào cũng đòi hỏi nhiều năm tháng để thuần thục. Điều quan trọng là, cũng như học đàn, học vẽ hay học võ, luyện tập thường xuyên hàng ngày là cách duy nhất để giỏi. Và nếu thỉnh thoảng có đánh đàn sai nốt thì cũng nhớ rằng bao nhiêu nghìn học trò khác, bao nhiêu nghìn vị thầy thượng đẳng của thế giới, cũng lâu lâu bị sai nốt như bạn vậy. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Yêu mình, Yêu người, Yêu người, tin người, Người và Tôi

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com