All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Đường bùn

Tanzan và Ekido đi chung với nhau trên con đường bùn lầy. Mưa đang rơi nặng hạt.

Đến một khúc quanh, họ gặp một cô gái xinh xắn mặc Kimono và mang đai lưng, không vượt qua ngã tư được.

“Đi, cô em,” Tanzan nói ngay. Bế cô gái trên đôi tay, thiền sư mang cô qua vũng bùn.

Ekido chẳng hề nói một lời nào nữa, cho đến tối khi họ sắp đến chùa tạm nghỉ. Ekido không còn nhịn được. “Người tu hành chúng ta không kề cận phụ nữ,” Ekido nói với Tanzan, “nhất là các cô gái trẻ và đẹp. Nguy hiểm. Sao thầy làm vậy?”

“Thầy bỏ cô ấy xuống đằng đó rồi,” Tanzan nói. “Con còn bế cô ấy sao?”
.

Bình:

• Tanzan là vị giáo sư triết tại Đại Học Hoàng Gia (Nhật), mà ta vừa biết đến trong truyện Một Vị Phật.

• Tâm tỉnh thức, tâm Phật, là tâm không vướng mắc, tâm vô chấp.
Không vướng mắc với lề luật “nam nữ thọ thọ bất thân.”
Không vướng mắc với hình ảnh người đẹp và ái dục trong lòng.
Việc phải làm thì làm. Nên giúp cô ấy qua đường là giúp. Lề luật không quan trọng bằng giúp người.
Làm xong là quên, chẳng còn vướng gì trong tâm—không vướng bận về người đẹp, không vướng bận về chuyện phá luật, không vướng bận về chuyện người đó có nhớ ơn mình không…
Không gì cả. Tâm “Không.”

• Đằng khác, tâm chưa giác ngộ, như Ekido, dễ bị hoảng loạn và vướng bận đủ điều—lề luật, hình ảnh người đẹp, sợ hãi nguy hiểm, nghi ngờ thầy của mình…

• Sống là hành động giúp người khi người cần giúp. Tâm không vướng mắc thì hành động dễ. Tâm vướng mắc thì trói tư tưởng và trói cả tay chân, chẳng làm gì được, chẳng giúp ai được.

• Đầu đề của bài này là “Đường bùn.” Con đường có gì là quan trọng mà phải lấy nó làm đầu đề?

Chúng ta là những khách lữ hành trên con đường bùn của cõi ta bà. Nếu chúng ta tự mình lấm bùn, để bế những người khác qua đường cho khỏi lấm bùn, mà không nệ hà vướng bận gì cả, thì đó là Tâm Bồ Tát.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Muddy Road

Tanzan and Ekido were once travelling together down a muddy road. A heavy rain was still falling.

Coming around a bend, they met a lovely girl in a silk kimono and sash, unable to cross the intersection.

“Come on, girl,” said Tanzan at once. Lifting her in his arms, he carried her over the mud.

Ekido did not speak again until that night when they reached a lodging temple. Then he no longer could restrain himself. “We monks don’t do near females,” he told Tanzan, “especially not young and lovely ones. It is dangerous. Why did you do that?”

“I left the girl there,” said Tanzan. “Are you still carrying her?”

#14

Làm việc nhóm: Bách chiến bách thắng

Chào các bạn,

Có lẽ đến giờ này các bạn đã nghe nhiều lần, không cách này thì cách khác, rằng người Việt chúng ta rất yếu về làm việc nhóm (teamwork). Hồi nhỏ mình học nhu đạo tại trường Nhu Đạo Quang Trung, khu Đa Kao, Sài Gòn, do thượng tọa Thích Tâm Giác sáng lập. Thượng tọa đã học nhu đạo từ bên Nhật về. Có một lần thượng tọa nói với các võ sinh: “Một người Việt thì thông minh hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Theo mình nhận xét, câu nói này đúng khi so sánh chúng ta với nhiều dân tộc khác trên thế giới.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về làm việc nhóm vậy.

1. Thái độ tư duy

Điều nền tảng nhất trong làm việc nhóm là tư duy của mỗi người về nhóm. Tư duy đúng, ta làm việc tốt; tư duy sai, ta làm việc tồi.

“Nhóm” không phải chỉ là vài người tụ lại. Đặt bốn người đứng sát nhau, họ không thể thành nhóm, cho đến khi họ quyết định là “chúng ta là một nhóm.” Ngay khi phút giây quyết định đó được làm, một người thứ năm ra đời, đó là “nhóm.”

Nhóm là một thực thể, một con người biệt lập, và mỗi thành viên chỉ là một bộ phận—một cánh tay, một cái chân—của nhóm.

Và tay với chân thì không cãi nhau, không tranh công nhau, không ghen tị nhau, không tranh dành chức vị nhau… Ngược lại tay chân luôn luôn gần gũi và làm việc nhịp nhàng với nhau. Đây chính là thái độ tư duy về làm việc nhóm.

Nghĩa là, khi nghĩ đến nhóm, “cái tôi”, “cái cá nhân” của mỗi chúng ta phải biến mất. Ta không nói chuyện với nhau như những cái tôi biệt lập, mà chỉ như là những cơ phận của nhóm. Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Và cũng chính điều này quyết định ta có được một nhóm tốt hay không.

Đây là vấn đề lập trình cái đầu của mình—đến cửa nhóm là “cái tôi” bị tắt và “bộ phận nhóm” được mở. Nếu chúng ta không được lập trình tốt trong đầu như thế, ta có vấn đề lớn.

Chúng ta hãy quan sát một đội bóng trên sân bóng: Mỗi vận động viên không nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến đội, mục đích chiến thắng của đội, chiến lược của đội, và làm thế nào để phối hợp với các vận động viên khác để đưa đến chiến thắng. “Cái tôi” không có chỗ đứng trên sân cỏ.

Tóm lại, khả năng triệt tiêu “cái tôi” khi làm việc nhóm là khả năng nền tảng nhất để một người có thể có được thái độ tư duy đúng về làm việc nhóm và có thể làm việc nhóm giỏi.

II. Phối hợp và trật tự nhóm

Sau khi có được tư duy đúng về làm việc nhóm, chúng ta có thể nói đến một số kỹ năng căn bản đề nhóm có thể hoạt động tốt. Ở đây chúng ta nói đến “phối hợp và trật tự” vì hai ý‎ niệm này không thể tách rời nhau.

Hãy quan sát một nghệ sĩ piano, tay trái đi dòng bass và một hai dòng nhạc thấp, tay phải đi một hai dòng nhạc cao, chân thì đạp pedal. Tay, chân, tai, và mắt phải phối hợp rất nhịp nhàng. Để phối hợp được thế ta phải có một trật tự làm việc—tay nào làm gì trước, tay nào làm gì sau… không thể tự động muốn làm gì thì làm.

Để phối hợp và trật tự tốt, chúng ta cần tuân thủ các quy tắc sau:

1. Lãnh đạo nhóm: Mỗi người phải có một cái đầu, và chỉ một cái đầu. Mỗi nhóm phải có một người lãnh đạo, và chỉ một người lãnh đạo. Người lãnh đạo có thể trở thành lãnh đạo bằng nhiều cách: Các thành viên bầu lên, được cấp trên bổ nhiệm, hay tự động làm lãnh đạo (thường thấy trong các tổ chức thiện nguyện khi một người khởi xướng và các người khác ủng hộ giúp một tay). Dù là thành lãnh đạo qua cách nào, người lãnh đạo phải:

Có trách nhiệm và quyền hành để làm các quyết định cho nhóm: Tức là, không được “bán cái”. Nếu người lãnh đạo gọi các thành viên biểu quyết về một vấn đề để làm quyết định theo số đông, thì đó vẫn là quyết định của người lãnh đạo và anh ta phải chịu trách nhiệm về quyết định đó, và không thể nói “Ê, đây là quyết định của mọi người, sao lại phàn nàn với tôi?”

Chịu trách nhiệm về hậu quả của các quyết định cho nhóm.

2. Quyền hạn và trách nhiệm đóng góp ‎ý kiến sáng tạo của mọi nhóm viên: Mỗi nhóm viên có nhiệm vụ đóng góp ý kiến sáng tạo vào nhóm, dù có được hỏi hay không. Trách nhiệm đóng góp là trách nhiệm tự nhiên, không cần phải đợi hỏi. Cho nên nếu một nhóm viên thấy vấn đế gì đó cần giải quyết, hoặc một phương thức làm việc có thể tốt hơn… thì phải cho các nhóm viên khác, nhất là lãnh đạo nhóm, biết.

Nhưng, đóng góp ‎ý kiến là quyền và nhiệm vụ của nhóm viên, còn quyết định là quyền và nhiệm vụ của trưởng nhóm. Mình cứ làm việc đóng góp của mình, và để trưởng nhóm làm nhiệm vụ quyết định của anh ta. Nếu anh ta quyết định không sử dụng ‎ý kiến của mình thì đừng tự ái vặt và chê bai anh ta là người dốt—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

3. Tuân thủ hết lòng mục tiêu và quyết định của nhóm. Khi trưởng nhóm đã quyết định, dù đó là quyết định ngược với ý‎ kiến của mình, thì vẫn hăng hái vui vẻ thi hành các quyết định đó như là quyết định của chính mình vậy—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

Nếu bạn khuyến cáo là nhà sẽ cháy, nhưng trưởng nhóm không nghe lời bạn, thì đừng về nhà cầu nguyện hàng đêm để điều mình tiên đoán thành sự thật. 🙂 Và cũng cứ chuẩn bị sẵn tinh thần, nếu nhà có cháy thật thì bạn sẽ tiếp cứu. Đừng hành động lổ mãng theo kiểu “Tui đã nói trước rồi, không nghe tui, bây giờ cháy nhà tui ngồi xem cho sướng mắt”—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

4. Thông tin tốt: Tiếng Anh có từ “communication” rất hay. Communicate là nói chuyện, trao đổi, thư từ, họp hành…. nói chung là tất cả mọi cách để mọi người đều có nhiều thông tin, đều am hiểu mọi vấn đề, và đều hiểu nhau.

Căn bản của thông tin là hai chiều: Nói cho mọi người nghe, và nghe mọi người nói.

Về thực hành thì điều này có nghĩa là, người trong nhóm nên nói chuyện thường xuyên với nhau, qua họp hành, email chung gởi đến mọi người, uống cà phê, tán gẫu ngoài hành lang… Thông tin đa chiều càng nhiều, nhóm càng làm việc giỏi…

Đừng làm việc gì gây ra “ngạc nhiên”, tức là làm xong rồi, trưởng nhóm hay các người khác trong nhóm phải hỏi, “Ủa, sao anh làm vậy?”

Đừng bắt nhóm đứng trước việc đã rồi, tức là cứ lẳng lặng quyết định làm một mình, làm trước báo cáo sau. Chúng ta không ở trên chiến trường sống chết trong giây phút để phải quyết định tức thì. Nếu có thời gian thì bàn qua với mọi người, nhất là lãnh đạo nhóm, một tí.—Không có ngạc nhiên.

5. Làm việc nhóm luôn luôn chậm hơn làm một mình: Vì ta không thể quyết định một mình và cần bàn lại với mọi người. Con voi thì nhất định phải chậm hơn con khỉ. Nhưng voi thì mạnh hơn. Kiên nhẫn một tí cho sức mạnh.

6. Trung thành: Nếu cả nhóm bị phàn nàn và chống đối, đừng nói: “Tui đã nói trước rồi. Mấy người đó, không ai thèm nghe.”

Kẻ sĩ đứng cùng chiến hữu trong chiến thắng lẫn trong thất bại.

Bây giờ, suy lại câu nói lúc đầu, “Một người Việt thì hay hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Câu này chỉ đúng trong thời bình. Trong thời chiến tranh, người Việt rất giỏi teamwork, đánh đâu thắng đó.

Tại sao?

Tại vì trong chiến tranh ta cận kề cái chết, chỉ phải lo sống hoặc chết, và quốc gia thắng hay thua, “cái tôi” chẳng hiện diện một tí nào trong suy tư của ta cả.

Cho nên nói rằng người Việt chúng ta làm việc nhóm tồi, thì chỉ đúng một nửa. Hãy mang khả năng làm việc nhóm bách chiến bách thắng trong chiến tranh của ta vào thời bình—dẹp cái tôi, chỉ vì sự nghiệp của nhóm, của thành phố, của quốc gia, của dân tộc…

Dân Việt ta có khả năng bách chiến bách thắng—thời chiến cũng như thời bình. Ta đừng bao giờ quên điều đó.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Maurice André với tiếng trumpet cổ điển vinh quang

Tiếng trumpet là tiếng kèn vinh quang. Tiếng kèn thúc trận.

Maurice André (sinh 21.5.1933) là một nghệ sĩ kèn trumpet của Pháp, trong lãnh vực nhạc cổ điển. Maurice sinh ở Alès, trên rặng Cévennes miền nam nước Pháp, trong một gia đình làm nghề thợ mỏ. Bố của Maurice là một nhạc sĩ nghiệp dư.

Maurice học nhạc từ một người bạn của bố, người này khuyên là Maurice nên được cho vào trường nhạc. Để có thể học nhạc miễn phí, Maurice gia nhập một đoàn quân nhạc. Chỉ sáu tháng sau khi vào trường nhạc, Maurice thắng giải nhất.

Tai trường nhạc, có một vị thầy bực mình, đánh đòn chàng và bảo chàng chỉ nên trở lại sau khi đã chơi khá. Vài tuần sau, chàng chơi cả 14 bài tập ở cuối quyển sách nhạc của Arban, không sai một nốt.

Maurice thắng Geneva International Competition năm 1955 và Internationalen Wettbewerb ở Munich năm 1963.

Chàng nổi tiếng thế giới trong thập niên 1960 và 1970 với một loạt đĩa thu nhạc Baroque với kèn trumpet piccolo—loại nhỏ nhất trong các trumpet. Ngoài nhạc Baroque, Maurice còn dùng trumpet cho các bản nhạc viết cho các loại nhạc cụ khác như oboe, sáo, giọng người, và các loại đàn dây.

Các bản nhạc của Maurice thổi một luồng sinh khí mới vào nhạc Baroque và các nhạc cổ điển khác, và làm nhiều người say mê kèn triumpet, cũng như tạo hứng khởi cho rất nhiều nhạc sĩ trumpet trẻ trên thế giới, như Wynton Masalis.

Maurrice đã ghi âm khỏang hơn 300 bản nhạc lớn nhỏ.

Sau đây mời các bạn nghe một số bài trình tấu của Maurice André:

1. Gloria in Excelsis Deo của Handel (trong tập the Messiah)
2. Ave Maria của Schubert
3. Ave Maria của Bach/Gounod
4. Brandenburg Concerto Nº 2, gam F trưởng, của Bach.
5. Trumpet Tune của Henry Purcell.
6. Carnival of Venice của Arban.

.

Maurice André – Händel: Gloria in Excelsis Deo

.

Maurice Andre – Ave Maria (Schubert)

.

Maurice André – Ave Maria của Bach/Gounod

.

Maurice André – J. S. Bach – Brandenburg Concerto Nº 2 em Fá M (3º Andamento) Budapester Frülingsfestival (1989)

.

Maurice André – Trumpet Tune, Henry Purcell

.

Maurice André – Carnaval of Venice (Arban)

Sao xuân đã về giữa mùa đông

Sáng nay mặt trời thức dậy
Rất trong và rất sáng
Cánh đồng tuyết
Lấp loáng như gương

Những cánh tay mặt trời
Mềm ấm
Ôm anh rất chặt
Những vòng lụa nắng
Quấn quanh

Cà phê đen sóng sánh
Đôi mắt sóc
Long lanh
Trên cành nặng tuyết
Nghiêng nhìn cánh đồng

Hay nhìn những đồi thông?

Hoa tuyết
Chơi vơi
Giữa lưng trời
Tan trên những vạt nắng xiên
Từ những vòm mây trắng

Như là nắng xuân
Xuân nắng

Ồ!
Sao xuân đã về
Giữa mùa đông?

TĐH
12:10 pm Monday Dec. 28, 2009
Lake of the Woods, VA

Bài thơ cuối cùng của Hoshin

Thiền sư Hoshin sống ở Trung quốc nhiều năm. Sau đó thiền sư trở về vùng tây bắc Nhật, dạy học trò. Khi thiền sư đã rất già, ông kể một câu chuyện ông đã nghe ở Trung quốc. Câu chuyện thế này:

Vào ngày 25 tháng 12 năm nọ, Tokufu, rất già, nói với đệ tử: “Thầy không sống tới sang năm, vậy các con nên tử tế với thầy năm nay.”

Các đệ tử nghĩ là thiền sư nói đùa, nhưng vì thiền sư là vị thầy tốt bụng nên các đệ tử luân phiên chăm sóc cho thầy mỗi ngày như ngày lễ.

Đến ngày cuối năm, Tokufu nói: “Các con đã tốt với thầy. Thầy sẽ rời các con chiều mai, khi tuyết đã ngừng.”

Các đệ tử cười, và cho rằng thầy đã già nên nói năng lẩm cẩm, bởi vì đêm rất trong và chẳng có tí tuyết nào. Nhưng vào nửa đêm, tuyết bắt đầu rơi, và sáng hôm sau các đệ tử chẳng thấy thầy đâu cả. Họ vào phòng thiền. Thầy đã qua đời ở đó.

Hoshin kể chuyện này và nói với các đệ tử: “Thiền sư không cần phải đoán trước việc ra đi, nhưng thiền sư nào thực sự muốn tiên đoán, ông ta có thể làm được.”

“Thầy làm được không?” ai đó hỏi.

“Được,” thầy sẽ cho các con thấy thầy làm được gì 7 ngày sau.

Chẳng đệ tử nào tin thiền sư, và đa số quên đã luôn cuộc trò chuyện khi thiền sư họp họ lại lần sau đó.

“Bảy ngày trước,” thiền sư nói, “Thầy nói là thầy sẽ rời các con. Theo lệ thường là nên viết một bài thơ từ biệt, nhưng thầy không phải là thi sĩ cũng không giỏi thư pháp. Một trò nào có có thể ghi lại những lời cuối cùng của thầy.”

Các đệ tử cho là thiền sư nói đùa, nhưng một người cũng bắt đầu viết.

“Sẵn sàng chưa?” thiền sư hỏi.

“Dạ, thầy,” người viết trả lời.

Rồi Hoshin đọc:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?

Bài thơ thiếu một câu như lệ thường thơ bốn câu, vì vậy người học trò hỏi: “Thầy, mình còn thiếu một câu.”

Hoshin, với tiếng rống của một sư tử chiến thắng, hét “Kaa!” và từ trần.

Bình:

• Như đã nói trong bài Thông báo về chuyến đi cuối đời của thiền sư Tanzan, tự quyết định về cái chết của mình là một điểm đặc biệt của Phật gia, đánh dấu tự do của con người.

Nhưng trong các truyền thống tâm linh khác thì đây là điều cấm kỵ.

• Tuy nhiên, trong bài có nói cả Tokufu và Hoshin đều rất già, có nghĩa là hai vị đã sống và cống hiến nhiều cho đời. Lại dùng chữ, “tiên đoán” việc chết, có nghĩa là họ không cố tình đi khi chưa đến lúc. Chỉ là, họ biết được khi sinh lực của mình sẽ hết mà thôi.

Nói rõ ra, đây không phải là “tự tử.”

• Phần chính của bài này là bài thơ từ biệt của Hoshin. Các bài thơ từ biệt này là lời dạy cuối cùng của thầy chuyển đến các trò, cho nên nó là tinh túy của thầy.

Và bài thơ này, không thiếu một câu như trong bài có nói. Nó đủ bốn câu. Trong bài, tác giả chỉ dùng kỹ thuật viết, để ta để ý đên câu cuối cùng, mà tác giả cho là rất quan trọng. Đây là bài thơ bốn câu đầy đủ:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?
Kaa!

Hai câu đầu rất rõ là “từ Không tôi đến, trở lại Không tôi đi”–từ Chân Lý Tuyệt Đối tôi đến, trở lại Chân Lý Tuyệt Đối tôi đi.

Nếu nói theo vật lý thì “Từ cát bụi tôi đến, về lại với cát bụi tôi đi.”

Nếu nói theo các tôn giáo thần quyền thì “Từ Thượng đế tôi đến, về lại với Thượng đế tôi đi.”

Câu thứ ba là câu hỏi: Cuộc đời ngay đây, ở giữa đến và đi, là gì?

Câu thứ tư trả lời: Chỉ là một tiếng “Kaa” ngắn ngủi, vang lên và biến mất. Một cái chấm nhỏ xíu trong dòng thời gian vô lượng vô biên, chẳng nghĩa lý gì hết, ngoại trừ là một bằng chứng ngắn ngủi của sự hiện diện của một năng lượng trong một sátna của vũ trụ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Poem of Hoshin

The Zen master Hoshin lived in China many years. Then he returned to the northeastern part of Japan, where he taught his disciples. When he was getting very old, he told them a story he had heard in China. This is the story:

One year on the twenty-fifth of December, Tokufu, who was very old, said to his disciples: “I am not going to be alive next year so you fellows should treat me well this year.”

The pupils thought he was joking, but since he was a great-hearted teacher each of them in turn treated him to a feast on succeeding days of the departing year.

On the eve of the new year, Tokufu concluded: “You have been good to me. I shall leave you tomorrow afternoon when the snow has stopped.”

The disciples laughed, thinking he was aging and talking nonsense since the night was clear and without snow. But at midnight snow began to fall, and the next day they did not find their teacher about. They went to the meditation hall. There he had passed on.

Hoshin, who related this story, told his disciples: “It is not necessary for a Zen master to predict his passing, but if he really wishes to do so, he can.”

“Can you?” someone asked.

“Yes,” answered Hoshin. “I will show you what I can do seven days from now.”

None of the disciples believed him, and most of them had even forgotten the conversation when Hoshin next called them together.

“Seven days ago,” he remarked, “I said I was going to leave you. It is customary to write a farewell poem, but I am neither poet nor calligrapher. Let one of you inscribe my last words.”

His followers thought he was joking, but one of them started to write.

“Are you ready?” Hoshin asked.

“Yes, sir,” replied the writer.

Then Hoshin dictated:

I came from brilliancy.
And return to brilliancy.
What is this?

The poem was one line short of the customary four, so the disciple said: “Master, we are one line short.”

Hoshin, with the roar of a conquoring lion, shouted “Kaa!” and was gone.

#10

Dạy kiểu hà tiện

Một bác sĩ trẻ ở Tokyo tên Kusuda gặp một người bạn học chung ở đại học đang học thiền. Chàng bác sĩ trẻ hỏi thiền là gì.

“Tôi không thể nói với anh nó là gì,” người bạn trả lời, “nhưng tôi chắc một điều là, nếu anh hiểu thiền, anh sẽ không sợ chết.”

“Được,” Kusuda nói. “Thôi sẽ thử. Làm sao tôi tìm được một vị thầy?”

“Đến gặp thiền sư Nan-in,” người bạn nói.

Kusuda đến thăm Nan-in. Anh ta mang theo một con dao 2 tấc rưỡi để thử xem thiền sư có sợ chết không.

Khi Nan-in thấy Kusuda ông nói to: “Chào, bạn quý. Khỏe không? Lâu quá không gặp.”

Kusuda lấy làm lạ, mới trả lời: “Chúng ta chưa gặp nhau bao giờ!”

“Phải rồi,” Nan-in trả lời. “Tôi nhầm anh với một người bác sĩ khác đang học thiền ở đây.”

Với phút đầu tiên như vậy, Kusuda mất cơ hội thử thiền sư, vì vậy bất đắc dĩ anh mới hỏi thiền sư cho học thiền.

Nan-in nói: “Thiền không phải là việc khó. Nếu anh là bác sĩ, hãy chữa bệnh với lòng nhân ái.”

Kusuda thăm Nan-in ba lần. Mỗi lần Nan-in đều bảo một điều duy nhất. “Bác sĩ không nên tốn thời giờ ở đây. Đi về và chăm sóc bệnh nhân.”

Kusuda vẫn không rõ là tại sao các lời dạy như thế có thể làm người ta hết sợ chết. Vì vậy trong lần thăm thứ tư, anh phàn nàn: “Bạn tôi nói khi người ta học thiền người ta hết sợ chết. Mỗi lần tôi đến đây thầy chỉ bảo tôi lo cho bệnh nhân của tôi. Chuyện đó tôi biết rồi. Nếu thiền của thầy chỉ có vậy, tôi sẽ không đến đây học thầy nữa.”

Nan-in mỉm cười và vỗ vai chàng bác sĩ. “Tôi đã quá khắt khe với anh. Để tôi chỉ cho anh một công án.” Thiền sư nói cho Kusuda nghe công án Không của Thiền sư Joshu, là công án đầu tiên để làm sáng tỏ trí óc trong sách Vô Môn Quan.

Kusuda suy nghĩ về công án Không trong hai năm. Cuối cùng chàng cảm thấy tâm mình đã vững chải. Nhưng thiền sư bình phẩm: “Anh vẫn chưa vào bên trong.”

Kusuda tiếp tục tập trung tư tưởng thêm một năm rưỡi nữa. Tâm của chàng trở nên lặng. Các vấn đề tan biến. “Không” trở thành chân lý. Anh chăm sóc cho bệnh nhân rất tử tế và, dù là không biết chuyện đó, anh đã thoát khỏi lo âu về sống hay chết.

Và khi anh đến thăm Nan-in, vị thầy chỉ mỉm cười.

Bình:

• Chỉ nhờ hỏi thăm vui vẻ lần gặp nhau đầu tiên mà thiền sư Nan-in vô tình làm tiêu đi ý‎ định thử dữ dằn của Kusuda.

• Tinh yếu của thiền là “Hãy chăm sóc cho bệnh nhân tử tế.” Tức là: (1) Hãy làm những việc hàng ngày (2) với từ tâm (3) đối với người khác.

Vì là tinh yếu cho nên lần nào Nan-in cũng lập đi lập lại bao nhiêu đó.

• Nhưng Kusuda phàn nàn (vì chưa đủ trí tuệ và trực nghiệm để hiểu), cho nên Nan-in mới nói “thầy quá khắt khe”, cho trò xuống cấp thấp hơn một tí, học công án vậy.

• Công án Joshu’s Mu là “Cái không của Triệu Châu.” Joshu là tên tiếng Nhật của thiền sư Trung quốc Triệu Châu. Công án này còn được gọi là “Con chó của Triệu Châu” và như thế này:

Một vị sư hỏi Triệu Châu.
“Con chó có Phật tánh không?”
Triệu Châu trả lời: “Không”

Mu trong tiếng Nhật là Vô trong tiếng Trung, và Không trong tiếng Việt. Mu còn có âm như tiếng sủa của chó.

Nói theo “có” với “không”, thì mọi sinh linh đang ở trong 6 nẻo luân hồi—trời, người, Atula, súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ–đều có thể thành Phật, tức là đều có Phật tánh. Chó là súc sinh, đương nhiên là có Phật tánh.

Nhưng Phật tánh là gì? Là “Không”. Đây không phải là “không có” mà là “Không” của Bát Nhã Tâm Kinh: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, thấy rõ [mọi thứ] là Không, ngài liền vượt qua mọi khổ nạn.”

“Không” đây là “Tuyệt Đối”, là căn tánh thật của cả vũ trụ tương đối quanh ta và trong ta.

• Suy tư về “Không”, dù là đi đường vòng, cũng sẽ đưa ta đến đích—yêu thương mọi người và không còn sợ hãi.

• Tóm lại: Đi đường trí óc suy nghĩ phức tạp khoa bảng là đi đường vòng, đường thấp. Đường trực tiếp, đường cao là “Sống bằng từ tâm với mọi người, hàng ngày.” Đó là tinh yếu của Thiền.

Thiền là sống, không phải là lý thuyết.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Stingy in Teaching

A young physician in Tokyo named Kusuda met a college friend who had been studying Zen. The young doctor asked him what Zen was.

“I cannot tell you what it is,” the friend replied, “but one thing is certain. If you understand Zen, you will not be afraid to die.”

“That’s fine,” said Kusuda. “I will try it. Where can I find a teacher?”

“Go to the master Nan-in,” the friend told him.

So Kusuda went to call on Nan-in. He carried a dagger nine and a half inches long to determine whether or not the teacher was afraid to die.

When Nan-in saw Kusuda he exclaimed: “Hello, friend. How are you? We haven’t seen each other for a long time!”

This perplexed Kusuda, who replied: “We have never met before.”

“That’s right,” answered Nan-in. “I mistook you for another physician who is receiving instruction here.”

With such a beginning, Kusuda lost his chance to test the master, so reluctantly he asked if he might receive Zen instruction.

Nan-in said: “Zen is not a difficult task. If you are a physician, treat you patients with kindness. That is Zen.”

Kusuda visited Nan-in three times. Each time Nan-in told him the same thing. “A physician should not waste time around here. Go home and take care of you patients.”

It was not yet clear to Kusuda how such teaching could remove the fear of death. So on his fourth visit he complained: “My friend told me when one learns Zen one loses the fear of death. Each time I come here all you tell me is to take care of my patients. I know that much. If that is your so-called Zen, I am not going to visit you any more.”

Nan-in smiled and patted the doctor. “I have been too strict with you. Let me give you a koan.” He presented Kusuda with Joshu’s Mu to work over, which is the first mind enlightening problem in the book called The Gateless Gate.

Kusuda pondered this problem of Mu (No-Thing) for two years. At length he thought he had reached certainty of mind. But his teacher commented: “You are not in yet.”

Kusuda continued in concentration for another year and a half. His mind became placid. Problems dissolved. No-Thing became the truth. He served his patients well and, without even knowing it, he was free from concern over life and death.

Then when he visited Nan-in, his old teacher just smiled.

#17

George Friedrich Handel – Hallelujah và Water Music

Chào các bạn.

Trong không khí lễ hội tưng bừng, mời các bạn nghe vài đoản khúc vui tươi hùng mạnh của George Frideric Handel.

George Friedrich Händel (23 February 1685 – 14 April 1759) là một nhạc sĩ người Anh gốc Đức, với giáo dục âm nhạc ờ Ý. Sau khi học xong ở Ý ông qua Anh lập nghiệp và trở thành công dân Anh. Ông là nhạc trưởng của ban nhạc thường trình diễn cho hoàng gia Anh.

Handel làm nhiều đoạn nhạc ngắn và một số tập nhạc opera dài rất nổi tiếng, như Messiah và Water Music. Nhạc của Handel được các nhạc sĩ nổi tiếng khác như Beethoven, Mozart, Bach, Haydn ưa chuộng.

Sau đây mời các bạn nghe dàn nhạc trình tấu 3 bản:

Hallelujah: do ca đoàn the Ambrosian singers, với nhạc trưởng Charles Mackerras

Hoàng Hậu sheba đến (The arrival of Queen Sheba), trong tập Water Music,

Water Music, Allegro Maestoso, trong tập 2

.

Handel – Hallelujah – Perfomed by the Ambrosian singers. Directed by Charles Mackerras

.

Handel – Water Music – The Arrival of the Queen of Sheba

.

Handel’s Allegro Maestoso (Water Music Suite 2)

Shoun và mẹ

Shoun là một vị thầy về thiền Tào Động. Khi còn là học trò, bố của Shoun qua đời, Shoun phải chăm sóc mẹ.

Mỗi khi vào phòng thiền, Shoun luôn luôn mang mẹ đi theo. Vì có mẹ đi theo, mỗi khi Shoun viếng một tu viện, ông không thể sống chung với các vị sư khác. Vì vậy Shoun xây một nhà nhỏ để lo cho mẹ. Shoun chép lại kinh sách, và thi ca nhà Phật, và nhờ đó nhận được ít tiền mua thực phẩm.

Khi Shoun mua cá cho mẹ, người ta chế giễu ông, vì người tu hành không được ăn cá. Nhưng Shoun không màng. Tuy nhiên, mẹ của Shoun thì buồn, thấy con mình bị cười chê. Cuối cùng bà nói với Shoun: “Mẹ nghĩ là mẹ sẽ thành ni cô. Mẹ cũng có thể ăn chay được.” Bà thành ni cô, và mẹ con nghiên cứu chung với nhau.

Shoun yêu nhạc và là nhạc sĩ giỏi về đàn hạc, Mẹ shoun cũng chơi đàn hạc. Những đêm trăng tròn hai mẹ con chơi đàn với nhau.

Có một đêm một cô gái trẻ đi ngang nhà và nghe nhạc. Cảm xúc quá, cô bèn mời Shoun đến nhà cô đêm hôm sau và đánh đàn. Shoun đồng ‎ý. Vài ngày sau Shoun gặp lại cô ấy ngoài phố và cám ơn lòng hiếu khách của cô. Mọi người cười chê, vì Shoun đã đến nhà một cô gái làng chơi.

Ngày nọ Shoun đi thuyết giảng ở một chùa xa. Vài tháng sau ông trở về nhà và biết mẹ vừa chết. Các bạn không biết tìm ông ở đâu, nên tang lễ đã bắt đầu.

Shoun bước lên, dùng gậy gõ vào quan tài. “Mẹ, con đã về đây,” ông nói.

“Mẹ mừng con đã về,” ông trả lời thế cho mẹ.

“Vâng, con cũng mừng,” Shoun trả lời. Rồi ông nói mới mọi người quanh ông: “Lễ tang đã xong. Các bạn có thể hỏa táng.”

Khi Shoun đã rất già, ông biết ngày cuối đã gần kề. Một buổi sáng, ông gọi các đệ tử lại quanh ông, nói cho họ biết ông sẽ ra đi vào lúc trưa. Thắp nhang trước ảnh mẹ và thầy cũ, ông viết một bài thơ:

Năm mươi sáu năm gắng sống tử tế
Đi đường tôi trong thế giới này
Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết
Trời trong xanh một mảnh trăng đầy

Các đệ tử đứng quanh ông, tụng kinh, và Shoun ra đi khi kinh còn đang tụng.
.

Bình:

• Người ta nghĩ rằng xuất gia là “ra khỏi nhà”, bỏ cha bỏ mẹ đi tu. Nhưng đâu có Phật nào cản con lo cho mẹ từng ngày, ngay cả lúc ngồi thiền là lúc cần yên tĩnh nhất, cũng mang mẹ theo bên cạnh để chăm sóc.

Ngoài gánh nặng tiền bạc và công khó, còn gánh nặng bị người đời cười chê. Mang gánh nặng để lo cho mẹ, đó chính là bằng chứng cụ thể nhất của tình yêu.

• Không chỉ lo về thể chất, mà Shoun còn lo về phát triển tinh thần của mẹ–chơi nhạc cùng mẹ, nghiên cứu Phật pháp cùng mẹ, và mẹ rốt cuộc cũng thành ni cô, mở rộng tâm mẹ trên đường tu học. Còn cái lo nào lớn cho bằng.

• Vì yêu mẹ, nên Shoun kính trọng phụ nữ, kể cả gái làng chơi. Và kính trọng phụ nữ, ngay cả khi người khác cười mình là giao du với người xấu.

• Khi mẹ chết Shoun thay mẹ để nói chuyện với mình, đó là do cảm thấy gần gũi mẹ đến mức thấy có mẹ trong mình, và mẹ nói được lời mẹ qua miệng mình.

• Thực sự thì, trong ta có cha mẹ và tất cả tổ tiên ta.

Bởi vì Shoun biết mẹ đã ở trong Shoun, nên Shoun chẳng buồn gì cả. Nói chuyện với mẹ xong là điềm tĩnh bảo mọi người có thể hỏa táng xác mẹ.

• Cho đến ngày cuối đời, vẫn không quên mẹ và thầy.

• Đến ngày cuối đời, Shoun mới xác nhận là mình đã giác ngộ–Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết, trời trong xanh môt mảnh trăng đầy.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Shoun and His Mother

Shoun became a teacher of Soto Zen. When he was still a student his father passed away, leaving him to care for his old mother.

Whenever Shoun went to a meditation hall he always took his mother with him. Since she accompanied him, when he visited monasteries he could not live with the monks. So he would build a little house and care for her there. He would copy sutras, Buddhist verses, and in this manner receive a few coins for food.

When Shoun bought fish for his mother, the people would scoff at him, for a monk is not supposed to eat fish. But Shoun did not mind. His mother, however, was hurt to see the others laugh at her son. Finally she told Shoun: “I think I will become a nun. I can be a vegaterian too.” She did, and they studied together.

Shoun was fond of music and was a master of the harp, which his mother also played. On full-moon nights they used to play together.

One night a young lady passed by their house and heard music. Deeply touched, she invited Shoun to visit her the next evening and play. He accepted the invitation. A few days later he met the young lady on the street and thanked her for her hospitality. Others laughed at him. He had visited the house of a woman of the streets.

One day Shoun left for a distant temple to deliver a lecture. A few months afterwards he returned home to find his mother dead. Friends had not known where to reach him, so the funeral was then in progress.

Shoun walked up and hit the coffin with his staff. “Mother, your son has returned,” he said.

“I am glad to see you have returned, son,” he answered for his mother.

“Yes, I am glad too,” Shoun responded. Then he announced to the people about him: “The funeral ceremony is over. You may bury the body.”

When Shoun was old he knew his end was approaching. He asked his disciples to gather around him in the morning, telling them he was going to pass on at noon. Burning incense before the picture of his mother and his old teacher, he wrote a poem:

For fifty-six years I lived as best I could,
Making my way in this world.
Now the rain has ended, the clouds are clearing,
The blue sky has a full moon.

His disciples gathered about him, reciting a sutra, and Shoun passed on during the invocation.

#15

Greensleeves – Tà Áo Xanh

Chào các bạn,

Giáng Sinh là không thể thiếu Silent Night. Và Greensleeves – Tà áo xanh.

My Lady Greensleeves, họa sĩ Danta Gabriel Rossetti 1864

Nhưng Greensleeves không phải là một thánh ca. Greensleeves là tình ca. Người ta không hát Greensleeves, nhưng người ta luôn luôn trình tấu Greensleeves với organ, piano hay harp trong nhà thờ.

Greensleeves là một dân ca Anh quốc, viết theo thể điệu trữ tình gọi là Romanesca. Năm 1560 một bản nhạc ballad đã được đăng ký với London Stationer’s Company, công ty độc quyền xuất bản nhạc của Anh, dưới tên “A New Northern Dittye of the Lady Greene Sleeves”. Continue reading Greensleeves – Tà Áo Xanh

Giáng Sinh đầu

Giáng Sinh đầu trên đất lạ
Tay nách con tay xách giỏ
Phố nhỏ lạnh vắng
Tuyết trắng cả trời đêm
Em vượt nghìn dặm tìm
Về anh
Mùa thánh
Mắt em sao trời
Long lanh
Chuyến xe khuya lẻ loi
Mang nỗi mừng hội tụ
Đôi mái đầu xanh
Ngờ nghệch
Yêu nhau nồng nhiệt cả trời đông
Lạc lỏng
Giữa ngã tư đời mờ mịt

*

Hơn ba mươi năm đã trôi qua
Giáng sinh lại đã trở về
Ngồi ôn chuyện cũ
Mang mang tấc dạ
Thật là huyền diệu
Làm sao hai đứa khờ
Lại có thể vượt qua nghìn bão tố

*

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời
Bình an dưới thế cho người yêu nhau

TĐH

Lake of the Woods, Virginia, USA
4:16 PM, Dec. 24, 2009
For my wife Túy-Phượng

Con người Giêsu

Chào các bạn,

Nhân mùa Giáng Sinh,  tức là mùa mừng sinh nhật Chúa Giêsu, mình muốn chia sẻ với các bạn một tí về con người hấp dẫn này.  Đây là một trong hai người có ảnh hưởng mạnh nhất trên tư duy của mình.  Người kia là Phật Thích Ca.  Các điều thú vị về Chúa Giêsu mình sắp chia sẻ ở đây là lấy trực tiếp từ Thánh Kinh, mặc dù có một số điều rất ít người để ý đến và nhắc đến.

Bài này đặc biết chú trọng đến khía cạnh con người của Chúa Giêsu.  Khía cạnh Con Chúa hay Chúa Con thì ta tạm gác qua một bên, vì  thực sự là chẳng có gì hấp dẫn để bàn.  Đã là Chúa rồi thì có 5 ngàn cánh tay, 10 ngàn con mắt, đi một giây 20 triệu năm ánh sáng, cũng chỉ là chuyện thường, chẳng có gì đáng ngạc nhiên. 🙂

Cuộc đời con người của Chúa Giêsu là một cuộc đời nhiều hấp lực.  Đó là cuộc đời của một người rất người, với đầy đủ những vết bùn trong gia phả, cùng những xúc cảm, khổ đau, và nước mắt của con người.  Và là một người rất gần gũi với những người ở tận đáy xã hội.

Từ phần này về sau, chúng ta chỉ dùng tên Giêsu trong bài, như cách dùng trong các bản Thánh Kinh nguyên thủy tiếng Hebrew và Hy Lạp, để nhấn mạnh tính cách “con người” của Chúa Giêsu.

Tổ tiên mờ ám

Phúc Âm của Matthew ghi lại chi tiết gốc gác của  Giêsu, bắt đầu từ Abraham, tổ phụ của dân Do Tháí, đến  Giêsu, 42 đời cả thảy.  (Matthew 1:1-17)  Trong gia phả của chế độ phụ hệ này, theo truyền thống Do Thái thời đó, chỉ có tên đàn ông, và đương nhiên là đàn ông Do Thái.  Thuở đó, và ngay cả đến ngày nay cũng vẫn còn khá đúng, người Do Thái chỉ lập gia đình với người Do Thái và bị cấm lấy người “ngoại đạo”, cho nên gia phả chỉ có người Do Thái là chuyện đương nhiên.  Tuy nhiên trong số 42 đời trong gia phả Giêsu, Matthew có kèm theo tên 4 người phụ nữ được xem là có ảnh hưởng quan trọng trong lịch sử Do Thái: Tamar, Rehab, Ruth và Bathsheba.  Điều thú vị về các phụ nữ này được giải thích trong phiên bản Thánh Kinh cho Sinh Viên (Student Bible), New International Version:

“Tổ Tiên Mờ Ám:  Gia phả Matthew ghi lại khác với nhiều gia phả Do Thái vì có ghi tên phụ nữ, mà đó lại là chọn lựa một nhóm phụ nữ đáng ngạc nhiên.  Tamar, không phải người Do Thái, lừa và quyến rũ bố chồng, rồi sinh ra cặp con song sinh ngoài hôn thú (Genesis 38);  Rahab, cũng không phải người Do Thái, đã từng là một gái làng chơi (Joshua 2:6); Ruth, không phải người Do Thái, lớn lên như là một người theo tà đạo (Ruth 1-4); và vợ của Uriah, bà Bathsheba, phạm tội ngoại tình với vua David (2 Samuel 11-12).   Nhiều người đàn ông trong gia phả cũng có dĩ vãng   đen tối; nói chung tổ tiên của  Giêsu biểu lộ rất rõ rằng Thượng đế có thể dùng đủ mọi loại người để làm việc.”

Con hoang

Thánh Kinh nói Mary, mẹ  Giêsu, thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần,  khi còn đồng trinh.  Và  Giêsu không phải là con thật của Joseph, chồng của Mary.  (Matthew 1:18-21).

Nói theo thói thường của trần thế, đó gọi là con hoang, không có cha.

Kẻ tị nạn từ lúc mới sinh ra

Vừa mới sinh ra, đã bị vua Do Thái là Herod tìm giết, vì Herod nghe nói đất Do Thái mới sinh ra một vị vua, và Herod không muốn ai tranh giành ngôi vua với mình.  Thế là Joseph và Mary phải khăn gói quả mướp, nửa đêm mang Giêsu chạy sang Ai Cập tị nạn.  (Matthew 2:13-15).

Nghèo và thất học

Joseph và Mary nghèo đến nỗi phải sinh  Giêsu trong chuồng gia súc và đặt con trên máng cỏ của gia súc.  (Luke 2:6-7).  Bố Joseph làm thợ mộc.  (Matthew 13:55). Và  Giêsu cũng theo bố làm nghề thợ mộc (Mark 6:3).  Chẳng ở đâu trong Thánh Kinh nói  Giêsu có học hành bằng cấp gì cả.

Ưu ái với người thất học,  người xấu , người tội lỗi, người thù địch

  • Trong số 12 người đệ tử thân cận nhất, 4 người đầu tiên là ngư phủ–Peter, Andrew. James, John (Mattew 4:18-22).  Matthew là người thu thuế.  (Matt 9:9-13)  Vào thời đó, người thu thuế còn thấp hơn cả gái làng chơi, vì bị xem là phản quốc.  Những người thu thuế làm việc cho chính quyền La Mã, tức là chính quyền thực dân đô hộ, thu thuế của dân Do Thái tức là đồng bào họ, giữ lại một phần huê hồng bỏ túi, phần còn lại chuyển cho nhà nước La Mã.
  • Giêsu ăn uống trong nhà của chàng thu thuế Matthew, với các người thu thuế khác và “ những người tội lỗi”.  Thánh Kinh chỉ nói “người tội lỗi” mà không nói rõ tội gì, nhưng ta có thể mường tượng được trộm cắp, lừa bịp, lưu manh, bỏ nhà thờ, chống Thượng đế, không theo lề luật đạo đức…  (Matthew 9:9-13).

Đây là những loại người mà người đứng đắn không được chung đụng, đến nỗi các lãnh đạo tôn giáo buộc tội  Giêsu là “ăn uống với những kẻ thu thuế và người tội lỗi”.  Và  Giêsu trả lời: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, nhưng người bệnh cần.” (Matthew 9:12).

  • Một lần khác  Giêsu gặp một người phụ nữ Samaritan cạnh giếng nước và nói chuyện với bà ta.  Người Samaritan và người Do Thái không liên hệ nhau.  Người Do Thái xem người Samaritan là ngoại đạo tội lỗi và không nói chuyện với người Samaritan.  Hơn nữa, các vị thầy tôn giáo Do Thái thường không nói chuyện riêng với phụ nữ ngoài đường.  Vì vậy đệ tử  Giêsu ngạc nhiên khi thấy  Giêsu nói chuyện riêng với phụ nữ, mà lại là phụ nữ Samaritan .  (John 4:27)

Và bà này lại là một người có vấn đề rất lớn theo tiêu chuẩn thời đó, vì  Giêsu biết bà ta đã có đến 5 đời chồng, và hiện đang sống với một ông không phải là chồng!

Dù vậy  Giêsu vẫn ưu ái bà ta đên mức đứng giảng cho bà ta một lúc, rồi sau đó tiết lộ với và ta: “Ta là Đấng Cứu Thế [mà dân Do Thái đang mong đợi]” (John 4:26).   Đây là người duy nhất Giêsu nói câu đó, cho đến  khi bị đưa ra tòa.

  • Người La Mã, nhất là lính La Mã, được xem là kẻ thù của dân Do Thái.  Nhưng khi một sĩ quan La Mã đến nhờ  Giêsu cứu người nhà đang bị bệnh nặng, Giêsu liền chữa người đó.  (Matt 8:5-13)

  • Một người phụ nữ bị bắt về tội ngoại tình, phải bị xử tử bằng cách ném đá theo luật Do Thái.   Giêsu đã cứu bà ta bằng cách hỏi những người sửa soạn ném đá: “Ai là người không có tội thì hãy ném viên đá đầu tiên.”  Nghe câu hỏi, mọi người bỏ ra về.  (John 8-5-11)

Trọng phụ nữ

Vào thời mà phụ nữ bị coi thường,  Giêsu rất tôn trọng và ưu ái phụ nữ,  và xử với phụ nữ bình đẳng với đàn ông.  Điều này hầu như không thể có vào thời đó.

  • Khi một người đàn bà góa ở Nain khóc lóc vì con vừa chết, Giêsu thương tình và cứu con bà sống lại. (Luke 7:11-15).
  • Vào một ngày Sabbath, tức là ngày nghỉ hàng tuần dành riêng cho Thượng đế, mà ngày nay ta gọi là ngày Chúa Nhật, ngày không ai được phép làm việc gì cả,  Giêsu chữa bệnh khòm lưng cho một người phụ nữ đã bị bệnh đó 18 năm, ngay trong đền thờ Do thái giáo, trước mặt bao nhiêu giáo dân và giáo sĩ.  Đây là phạm luật Do Thái công khai trước mắt toàn thể mọi người. (Luke 13:10-17). (Vậy thì bị xử tử đóng đinh cũng là phải!).
  • Hai chị của  Lazarus, người đã chết và được Giêsu cứu sống lại, là Martha và Mary rất thân với Giêsu.  Khi Giêsu đến nhà thăm, Martha thì nấu nướng, nhưng Mary thì ngồi ngay dưới chân  Giêsu để nghe nói chuyện.   (John 11:5, Luke 10:38-39).
  • Chúng ta đã nói đến thái độ đặc biệt của  Giêsu với người phụ nữ Samaritan bên giếng nước bên trên.
  • Một người đàn bà bị bệnh xổ huyết 12 năm, sờ vào người  Giêsu và được Giêsu chữa lành, dù là với thời đó bà ta được xem là “không sạch” và không ai nên đụng bà ta hoặc cho bà ta đụng vào.  (Mark 5:22-34)
  • Tương tự như vậy,  Giêsu sờ vào xác đứa con gái của Jairus, được xem là “không sạch” vì là xác chết, để cứu cô bé sống lại.  (Mark 5:41).
  • Rất nhiều phụ nữ theo nghe  Giêsu giảng đạo và dùng tiền của họ để lo cho  Giêsu.  Trong số đó có   “Joanna vợ của  Cuza, quản gia của vua Herod; Susanna; và nhiều phụ nữ khác.” (Luke 8:3)
  • Khi  Giêsu bị bắt và bị hành hình, hầu hết môn đệ nam biến mất, nhưng một số phụ nữ đi theo cho đến nơi hành hình, tận chân thánh giá trên đồi Golgotha, gồm:

1. Mary Magdalene (theo phúc âm Matthew, Mark, and John)

2. Mary mẹ của James and Joses (phúc âm  Matthew and Mark)

3. Mẹ của các người con của Zebedee (phúc âm Matthew)

4. Salome (phúc âm Mark) – Nhiều học giả cho rằng Salome có lẽ là phụ nữ số 3, mẹ của các người con của Zebedee.

5. Mary, mẹ  Giêsu (phúc âm John)

6. Mary, vợ của Clophas (có lẽ là anh em của  Joseph, ba dượng của  Giêsu) (phúc âm của John)

7. Chị/em (không tên) của Mary, mẹ của  Giêsu  (phúc âm của John) – Nhiều học giả cho rằng đây có lẽ cũng là người số 6, vợ của Clophas.

8. “Người Môn Đệ Được Yêu Mến”, không tên, nhưng đa số người tin rằng đó chính là John (phúc âm John)

(Xin xem Who Was At The Cross?)

Tức là 7 người phụ nữ và một môn đệ nam.

  • Trong số các môn đệ nữ, đặc biệt nhất là Mary Magdalene, người đứng tên số một trong danh sách 8 người trên, ngày nay là nữ thánh trong giáo hội công giáo và chính thống giáo, với ngày 22 tháng 7 là ngày lễ thánh.  Đây là người phụ nữ nổi bật nhất trong số những người theo  Giêsu .

Mary Magdalene ngồi xem một môn đệ Giêsu tên Joseph tẩn liệm Giêsu vào mồ (Matthew 27:61).  Ba ngày sau, sáng chúa nhật, Mary Magdalene dẫn vài phụ nữ đến mộ để xức dầu cho Giêsu (Mark 16:2) và một thiên thần cho họ biết Giêsu đã sống lại (Mark 16:6).  Mary và các phụ nữ về kể lại với các đệ tử của Giêsu (Luke 24;10).   Sau đó Giêsu hiện ra, lần đầu tiên, với Mary Magdalene (John 20-14) và bảo nàng về báo cho các môn đệ khác.

Đây là một việc rất lạ thường, vì thời đó tiếng nói của đàn bà không có giá trị và đàn bà không được phép làm nhân chứng, nhưng  Giêsu  lại nhờ Mary làm nhân chứng việc mình sống lại với các đệ tử khác.

Các học giả nghiên cứu về Mary Magdalene cho thấy nhiều bằng chứng Mary là môn đệ rất quan trọng của  Giêsu, hơn tất cả các môn đệ khác, và cao hơn hay ít ra là cũng đồng hàng với đại đệ tử Phêrô.  Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng vài trăm năm sau khi Giêsu chết, giáo hội trọng nam đã làm một cuộc cách mạng đưa Mary và phụ nữ xuống hàng thứ yếu.  Xem Mary Magdalene cùa Susan Haskins

Trong các phúc âm thời giáo hội Thiên chúa giáo mới khai sinh, các “Phúc âm Gnostic” (Gnostic Gospels) đã bị giáo hội loại bỏ như là không chính thống.  Một trong những Phúc âm Gnostic là Phúc âm của Mary Magdalene.  Theo phúc âm này thì Mary Magdelene là môn đệ gần gũi và học được nhiều nhất từ  Giêsu, trên cả Phêrô. (Xem Phúc âm Mary Magdalene).

Nhiều tình cảm, dễ khóc

Khi Giêsu thấy hai bạn Mary và Martha, hai chị của Lazarus, và gia tộc, buồn khóc vì Lazarus đã chết, Giêsu khóc.  Và sau đó cứu sống Lazarus.  (John 11:35)

Khi nhìn Jerusalem và tiên đoán Jerusalem sẽ bị trừng phạt và phá rụi vì đã không chấp nhận mình, Giêsu khóc.  (Luke 19:41).

Trước giờ bị bắt, Giêsu cầu nguyện một mình trong vườn Gethsemane, muốn các đệ tử cùng thức với mình vì “thầy buồn đến mức có thể chết được” (Matthew 26:38), nhưng các đệ tử ngủ hết!  Giêsu buồn đến nỗi máu rỉ ra từ chân lông trên hai tay. (Luke 22:44)

Trước lúc tắt thở trên thập tự giá, Giêsu than lớn: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao người lại bỏ rơi con?” (“Eloi, Eloi,lama sabachthani?”) (Matthew 27:46)

Thường đến nơi thanh vắng cầu nguyện một mình

“Rất sớm vào buổi sáng, khi trời còn tối, Giêsu thức dậy, ra khỏi nhà và đến một nơi thanh vắng, cầu nguyện.  Simon và các bạn đi tìm, và khi họ tìm thấy Giêsu, họ la lên: ‘Mọi người đang đi tìm thầy!’” (Mark 1:35-37).

“Giêsu lùi vào nơi hoang dã cầu nguyện.”  (Luke 5:17)

Đêm trước ngày giảng Bài Giảng Trên Đồi, “Giêsu lên núi cầu nguyện, và liên tục cầu nguyện cả đêm với Thượng đế.”  (Luke 6:12)

Tình yêu là cốt tủy của lời giảng

Giêsu giảng:

  • “Yêu Chúa, Thượng đế của bạn, với cả trái tim, cả linh hồn, cả khối óc của bạn… Và yêu láng giềng của bạn như yêu chính bạn.”  Matthews 22:37-38.
  • “Yêu kẻ thù của bạn và cầu nguyện cho những người bắt bớ bạn, để bạn có thể là con của Cha ở trên trời.”  (Matthew 5:44-45).


Tha thứ

Trên thập giá, Giêsu cầu nguyện cho những kẻ hành hình mình, “Lạy cha, tha thứ cho họ, vì họ không biết họ làm gì.”  (Luke 23:33-34)

Con người của Giêsu là đó.

Một con người với tất cả những tâm tình yếu kém của con người.  Một con người rất người, và một tình yêu mênh mông vô tận, tự mang trên vai trọng trách làm  sạch mọi quả tim của nhân loại…

Với lời than cuối cùng vọng vang qua hơn 2 ngàn năm lịch sử:  “Chúa ơi, Chúa ơi, sao người lại bỏ rơi con?”

Đó là người mà mình cảm thấy rất gần gũi, rất gần hơn một thần linh.

TĐH

Lời nguyện Giáng Sinh của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII

Ôi Hài Nhi dịu ngot của Bethlehem

Hãy cho chúng con chia sẻ với cả con tim của chúng con
điều kỳ diệu thẳm sâu của Giáng Sinh.

Hãy đặt vào quả tim của mọi người niềm an bình
mà đôi khi họ đi tìm một cách tuyệt vọng
và chỉ có Ngài mới có thể cho họ.

Giúp họ hiểu nhau nhiều hơn,
và sống như anh chị em,
con cùng Cha.

Cho họ thấy điều đẹp, điều thánh, điều tinh khiết của Ngài.

Đánh thức trong lòng họ
tình yêu và lòng biết ơn về thiện tâm vô tận của Ngài.

Hãy nối kết họ với nhau trong tình yêu của Ngài.

Và cho chúng con an bình thiên đàng của Ngài.

Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

.

Christmas Prayer of Pope John XXIII

O sweet Child of Bethlehem,
grant that we may share with all our hearts
in this profound mystery of Christmas.
Put into the hearts of men and women this peace
for which they sometimes seek so desperately
and which you alone can give to them.
Help them to know one another better,
and to live as brothers and sisters,
children of the same Father.
Reveal to them also your beauty, holiness and purity.
Awaken in their hearts
love and gratitude for your infinite goodness.
Join them all together in your love.
And give us your heavenly peace. Amen.

Pope John XXIII

Thánh ca Giáng Sinh Việt

Chào các bạn,

Hôm qua chi Huỳnh Huệ cho chúng ta nghe 13 bản nhạc Giáng Sinh quốc tế bất tử.  Đương nhiên là các bản này chúng ta cũng ca hát thường xuyên ở VN.  Hôm nay thêm vào nhạc xanh Giáng Sinh, mời các bạn nghe vài bản thánh ca Việt.  Các thánh ca này thường chỉ hát trong nhà thờ.

Dưới đây là bài

Hang Bê Lem, bản thánh ca Giáng Sinh số 1 của Việt Nam, của nhạc sĩ Hải Linh, do nhóm MTG trình bày. MTG có lẽ là các xơ Dòng Mến Thánh Giá.

Cao Cung Lên, do ca sĩ Mỹ Huyền và các bạn trình bày.

Mùa Đông Năm Ấy, của nhạc sĩ Hoài Đức, biểu diễn bởi các ca sĩ Mai Hậu và Xuân Trường, và các xơ Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi.

Sau đó là hai bản nhạc quốc tế lời Việt:

Đêm Thánh Vô Cùng, tức Silent Night, do Hoàng Châu hát.

Mùa Sao Sáng, tức bản dân ca nổi tiếng của Anh từ thế kỷ 16, Greensleeves.

Chúc các bạn một Giáng Sinh an lành.
.

Hang Bê Lem – Nhạc: Hải Linh, biểu diễn: Nhóm MTG

.

Cao Cung Lên – Mỹ Huyền

.

Mùa Đông Năm Ấy – Nhạc Hoài Đức, biểu diễn ca sĩ Mai Hậu & Xuân Trường trình bày, và các chị em Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi

.

Đêm thánh vô cùng – Ca sĩ Hoàng Châu

.

Mùa sao sáng (Greensleeves)

.

Giêsu trong Thánh Kinh Koran của Hồi giáo

Chào các bạn,

Với lịch sử đánh nhau đẫm máu giữa Hồi Giáo và Thiên chúa giáo, và các cuộc thánh chiến Hồi giáo đang xảy ra trên thế giới ngày nay, đa số người trên thế giới không biết là hai tôn giáo này là anh em. Đó là một đại họa cho hòa bình thế giới, tạo ra bởi chẳng mấy ai chịu đọc cả Thánh Kinh và Kinh Koran.

Nhân dịp Giáng Sinh, chúng ta nên suy tư về thảm trạng này một tí, và nhớ rằng chiến tranh Hồi giáo trên thế giới ngày nay sẽ không chấm dứt cho đến khi có sự đối thoại anh em giữa khối Hồi giáo và khối Thiên chúa giáo. Và đối thoại đó khộng có nghĩa là các chính trị gia chơi trò chính trị với nhau quanh bàn tròn, mà là sự hiểu biết và tương kính giữa các dân tộc của hai khối.

Kinh Koran gọi Giêsu (Eesa trong tiếng Ả-rập) là Messiah (Đấng Cứu Thế), cùng danh xưng với Messiah Muhammad, giáo chủ Hồi giáo. Theo Kinh Koran, Giêsu là một trong những tiên tri lớn nhất của Thượng đế.

Bản Kinh Koran tiếng Anh tại website Hồi giáo http://islamworld.net cho thấy Kinh Koran nhắc đích danh tên Jesus (Giêsu) tổng cộng 28 lần, không phải chỉ một hai lần.

Và website Thiên chúa giáo http://www.ways-of-christ.net/topics/islam.htm nói những dòng sau đây về Giêsu trong Kinh Koran của Hồi giáo:

Giêsu Kitô trong Kinh Koran

Kinh Koran chấp nhận Giêsu là một tiên tri, và là người truyền tin của Thượng Đế, và là “Lời” Thượng đế, và là “thánh linh của Thượng đế”, được tạo ra như Adam. Các điều này còn nhiều hơn các điều được một số các nhà thần học Thiên chúa giáo ngày nay chấp nhận, vì các nhà thần học này chỉ xem Giêsu như là một nhà cải cách xã hội.

Duy chỉ có điều Giêsu là Con Thượng Đế – như người Thiên chúa giáo thời Muhammad tưởng tượng một cách rất rõ ràng về thể xác – trong tín điều Một Chúa Ba Ngôi của Thiên Chúa Giáo, là không được Kinh Koran chấp nhận.

Theo Kinh Koran, Giêsu có nói đến việc Ngài sẽ sống lại, nhưng có lẽ đó là Kinh Koran nói về việc Giêsu sẽ trở lại lần thứ hai trong Ngày Phán Xét, khi tất cả mọi tín đồ đều sống lại, như được nhắc đến thường xuyên trong Kinh Koran. Kinh Koran nói là Giêsu đã được đưa về với Thượng đế khi còn sống. Khác với niềm tin của tín đồ Thiên chúa giáo là Giêsu đã chết, sau đó sống lại, và về trời với Thượng đế.

Cả Kinh Koran và Thánh Kinh đều đồng ý là có Ngày Phán Xét khi tất cả tín đồ được sống lại và Giêsu sẽ đến để phán xét.“

(TĐH dịch và tóm lược)

Nói chung là chỉ với vài tí ti khác biệt đó, chúng ta đã có bao nhiêu cuộc chiến đẫm máu trong vòng mấy trăm năm.

Sự điên rồ đã đến, đang đến, và sẽ tiếp tục đến, nếu người ta thích mặc áo tôn giáo, nhưng không nghe lời dạy của chính người mình gọi là thầy, là Chúa: “Hãy yêu cả kẻ thù của con.”

Thế giới của chúng ta đang đối diện với những thảm họa chiến tranh lớn. Và những khủng hoảng về môi trường, khí hậu, tài nguyên thiên, và những bất bình đẳng giàu nghèo quá lớn trên thế giới, sẽ làm cho những cuộc chiến tranh chấp tôn giáo, tranh chấp văn hóa, và tranh chấp kinh tế, có cơ hội phát triển dữ dội hơn.

Hãy suy niệm về những điều này, và hiệp lòng cầu nguyện cho sự mở rộng của đầu óc và trái tim con người, và cho hòa bình thế giới.

Bình an của Thượng đế ở cùng tất cả chúng ta.

Mến,
Hoành