All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Không xa Phật vị

Một sinh viên đại học thăm thiền sư Gasan và hỏi ông: “Đã bao giờ thầy đọc Thánh Kinh Thiên chúa giáo chưa?”

“Chưa, đọc cho tôi nghe đi,” Gasan nói.

Người sinh viên mở Thánh Kinh và đọc phúc âm Thánh Matthew: “Và tại sao lại lo áo quần? Hãy xem các bông huệ ngoài đồng mọc thế nào. Chúng không làm việc, không dệt vải, nhưng tôi nói thật với các bạn ngay cả vua Solomon trong tất cả vinh quang của mình cũng không mặc đẹp như các bông hoa đó… Đừng lo đến ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo cho nó.”

Gasan nói, “Ai nói những lời này, tôi xem đó là một người đã giác ngộ.”

Người sinh viên đọc tiếp: “Xin và bạn sẽ được, tìm và bạn sẽ thấy, gõ cửa và cửa sẽ mở cho bạn. Bởi vì ai xin thì sẽ nhận, ai tìm thì sẽ thấy, và ai gõ cửa sẽ được mở cửa.”

Gasan nói: “Tuyệt vời. Ai mà nói điều này thì không xa Phật vị.”

Bình:

• Đó là các lời nói của Giêsu của Nazareth. Các điều sâu thẳm trong con tim của con người vượt biên giới tôn giáo mà nhiều tín đồ của các tôn giáo thích lập nên bằng những rào cản phân biệt ta đúng họ sai.

• “Đừng lo đến ngày mai” tức là sống ở đây lúc này. Đó là Thiền.

“Tìm thì sẽ thấy” tức là muốn thành tâm tìm chân lý thì sẽ có lúc được. Đó là Phật pháp.

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là một thiền sư Tào Động Nhật Bản. Là học trò của Keizan Jokin, và có các học trò: Bassui Tokushō, Taigen Sōshin, Tsūgen Jakurei, Mutan Sokan, Daisetsu Sōrei, và Jippō Ryōshū.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Not Far From Buddhahood

A university student while visiting Gasan asked him: “Have you even read the Christian Bible?”

“No, read it to me,” said Gasan.

The student opened the Bible and read from St. Matthew: “And why take ye thought for raiment? Consider the lilies of the field, how they grow. They toil not, neither do they spin, and yet I say unto you that even Solomon in all his glory was not arrayed like one of these…Take therefore no thought for the morrow, for the morrow shall take thought for the things of itself.”

Gasan said: “Whoever uttered those words I consider an enlightened man.”

The student continued reading: “Ask and it shall be given you, seek and ye shall find, knock and it shall be opened unto you. For everyone that asketh receiveth, and he that seeketh findeth, and to him that knocketh, is shall be opened.”

Gasan remarked: “That is excellent. Whoever said that is not far from Buddhahood.”

#16

Tâm trí tự do

Chào các bạn,

Vị thầy dạy mình Ju Jitsu (nhu thuật) là một giáo sư cận chiến cho công an ở vùng ngoại ô thủ đô Mỹ, ngoài giờ dạy công an thì dạy tại võ đường riêng. Thầy này có những câu khẩu quyết ngắn ngắn, lập đi lập lại hoài, cho nên chẳng học trò nào mà không thuộc. Một trong những khẩu quyết mình thích nhất là “Chẳng có chiêu nào sai” (There is no wrong move). Chỉ có chiêu có hiệu quả và chiêu không hiệu quả.

Tức là khi chiến đấu, chúng ta phải luôn chuyển động, luôn luôn tung chiêu thức, mọi chiêu đều đúng, chiêu này không hiệu lực thì tung chiêu khác ngay, kể cả các chiêu thức chưa bao giờ học nhưng cảm thấy thích hợp lúc đó. Trong chiến đấu, luôn luôn sáng tạo cho hoàn cảnh tức thì, tâm trí không được ràng buộc vào một qui tắc đúng sai nào.

Đó chính là tâm trí tự do (free mind), tâm trí sáng tạo (creative mind). Tâm trí tự do và sáng tạo chỉ có được nếu ta không lệ thuộc vào công thức có sẵn nào cả. Đó chính là điều các võ sư và thiền sư gọi là “tâm không” hay “vô tâm” (no-mind).

Chiến đấu trong tòa án cũng thế. Dù là trước đó đã có chuẩn bị bài bản tử tế, đến lúc vào tòa, luôn luôn có những ngạc nhiên về bằng chứng và thủ tục, và người luật sư sẽ phải sáng tạo và biến hóa rất nhanh.

Làm thương mãi cũng vậy, Địch thủ tung sản phẩm mới, hoặc chiến dịch tiếp thị mới, hoặc kinh tế thê giới lên xuống trồi sụt… ta phải phản ứng ngay, và chiêu này không hiệu quả phải lập tức tung chiêu khác.

Và nếu ta nói chuyện với các vị cha chú lão thành đã kinh nghiệm trong chiến tranh, chắc chắc các vị ấy cũng sẽ nhấn mạnh đến tính sáng tạo liên tục trong chiến tranh.

Cuộc đời là thế. Nói chung, cuộc sống ở đời tùy thuộc vào khả năng sáng tạo nhậy bén của ta. Tức là, lệ thuộc vào một tâm trí tự do, sáng tạo, không bị đóng khung bởi các công thức.

Và không chỉ là cá nhân, quốc gia cũng thế. Quốc gia chỉ có thể hùng cường trong kỹ nguyên thông tin và sáng tạo này nếu (1) các cá nhân công dân sáng tạo, và (2) guồng máy công quyền nhậy bén đủ để sáng tạo biến hóa liên tục.


Tuy nhiên vấn đề của mỗi chúng ta là chúng ta luôn luôn trưởng thành trong một cái khuôn nào đó—gia đình ta (cấp tiến hay bảo thủ), vùng ta ở (bắc hay nam), tôn giáo (công giáo, phật giáo, hay chẳng tôn giáo nào), học lực (lớp 5 hay tiến sĩ), mức độ kinh tế (ngồi mát ăn bát vàng hay cày còng lưng), kinh nghiệm (chỉ là cậu ấm hay đã phải làm cu li)… Nói chung là, mỗi người chúng ta trưởng thành và sống trong những hoàn cảnh đặc biệt, tạo nên cung cách cảm xúc và suy nghĩ của riêng ta. Cung cách cảm xúc và suy nghĩ này định nghĩa con người ta, và đồng thời cũng có thể là một cái khuôn đóng ta trong đó. Vậy thì làm sao ta có thể thoát khỏi cái khuôn của chính mình để có được tâm trí tự do, tâm trí không vướng mắc?

Đã bao nhiều lần chúng ta nói và viết: Đừng có thành kiến, đừng chấp trước, đừng ngục tù tư tưởng… Hãy mở rộng đầu óc, mở rộng tư tưởng, hãy để tâm trí bay xa… Rồi nhìn chung quanh chúng ta thấy gì? Thiên hạ chia nhóm, chia bang, xỉ vả nhau, chỉ trích nhau, đánh đấm nhau, bắt bớ nhau, bỏ tù nhau, giết chóc nhau. Anh em đánh đấm nhau, quốc gia hơn thua nhau, ai cũng lèm nhèm chưởi bới “phe kia” là tội ác.

Trời phật ơi! Làm sao chỉ một việc mở rộng tâm trí tự do để không còn trong ngục tù tranh chấp, để mọi người có thể sống chung hòa bình với nhau, lại khó thế ?

Càng lớn tuổi mình càng phục Phật Thích Ca – con người chúng ta mê muội khôn lường.

Dù sao đi nữa thì cá nhân chúng ta có thể lựa chọn. Ta không cần phải nhốt ta vĩnh viễn trong ngục tù tâm trí. Ta có cách để mang tâm trí đến vùng trời tự do, nếu ta thực tâm muốn làm thế. Ta có thể làm cho đời ta và thế giới này tươi đẹp hơn một tí nếu chúng ta thực hành “tâm trí tự do.”

• Ta có thể thiền và buông xả như các thiền sư. Hoặc cầu nguyện để có tâm “như trẻ em” và yêu vô điều kiện như Giêsu.

• Hoặc, trong đời sống hàng ngày, ta thực tập các điều sau đây:

1. Đời là tương đối: Mình có cái đúng của mình, người khác có cái đúng của họ. Cái đúng của họ sai đối với mình, nhưng mình tôn trọng y’ họ vì nó đúng với họ.

2. Mình muốn lắng nghe người khác không? Mình muốn hiểu và thông cảm người khác không?

3. Mình có thể gạt các kết luận, giả thiết, và thành kiến về người khác ra ngoài đầu óc hạn hẹp của mình không?

4. Mình có muốn trò chuyện, đối thoại, đặt câu hỏi, và lắng nghe người khác, để hiểu họ không? (Tức là, không trò chuyện với thái độ kiêu căng để giảng cho họ rằng họ ngu và họ nên theo con đường của mình).

5. Mình thực sự muốn kéo những người khác đến gần mình, hay mình chỉ muốn người khác làm theo ý mình? Tức là, lo lắng của mình hướng vào người khác, hay chỉ hướng vào mình?

Điều thứ 5 là điều cuối cùng và căn bản nhất: Trong tư duy chăm sóc lo lắng của ta, ta là trung tâm của vũ trụ, hay mọi người quanh ta là trung tâm của vũ trụ của ta?

Nếu chúng ta, như một cá nhân, một nhóm người, một tôn giáo, một đảng phái… nhìn vào chính ta, chính nhóm ta, chính tôn giáo ta, chính đảng phái ta… như là trọng tâm của suy tưởng và lo lắng của chính mình… thì ta hoàn toàn không có lối thoát và thế giới này cũng không có lối thoát…

Lối thoát ra khỏi ngục tù nằm ở bên ngoài nhà tù–ở trong những người quanh ta. Đó là nơi tư duy của ta nên tập trung quan tâm và lo lắng.

Chúng ta có muốn làm vậy không? Chúng ta nghiêm chỉnh và quyết tâm đến thế nào về việc này?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Phản ứng lập trình hay hành động tự do?

o0o

© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Tiếng vỗ của một bàn tay

Mokurai, Tiếng Sấm Tĩnh Lặng, là thiền sư trụ trì chùa Kennin. Sư có một đệ tử nhỏ tên Toyo mới 12 tuổi. Toyo thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy mỗi sáng và tối để nhận giáo huấn trong lớp riêng một thầy một trò và được hướng dẫn cá nhân về cách dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.

Toyo cũng muốn được vào lớp riêng.

Mokurai nói, “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ.”

Nhưng Toyo nằng nặc xin, vì vậy cuối cùng thầy cũng đồng ý.

Chiều tối, cậu bé Toyo đến đúng giờ, trước cửa phòng thầy Mokurai dùng làm lớp riêng. Cậu đánh một tiếng cồng báo hiệu đã có mặt, gập mình chào lễ phép ba lần ngoài cửa, và bước vào ngồi yên lặng một cách lễ độ trước mặt thầy,

“Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau,” Mokurai nói. “Bây giờ chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay.”

Toyo cúi chào và về phòng để suy nghĩ vể câu hỏi. Từ cửa sổ cậu có thể nghe nhạc của các cô geishas. “A, tôi có rồi!” cậy bé tuyên bố.

Sáng hôm sau, khi thầy hỏi cậu trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo làm tiếng nhạc của geishas.

“Không, không,” Modurai nói. “Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả.’

Nghĩ là nhạc của geishas cắt đứt dòng suy tưởng, Toyo chuyển chỗ ở đến một nơi yên lặng hơn. Cậu bé thiền định. “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?” Cậu bé nghe tiếng nước nhỏ giọt. “Tôi có rồi,” Toyo nghĩ.

Khi Toyo đến gặp thầy sau đó, cậu bé bắt chước tiếng nước nhỏ giọt.

“Cái gì vậy?” Mokurai hỏi. “Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi.”

Hoài công Toyo thiền định để nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Cậu nghe tiếng thở dài của gió. Nhưng tiếng đó cũng bị thầy gạt bỏ.

Tiếng vỗ của một bàn tay cũng không phải là tiếng ve kêu.

Hơn mười lần Toyo vào thăm Mokurai với những loại tiếng khác nhau. Tất cả đều trật. Cả một năm, cậu bé suy nghĩ tiếng gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay.

Cuối cùng Toyo vào được thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh . “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa,” sau này cậu bé giải thích, “vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng.”

Toyo đã đạt được tiếng vỗ của một bàn tay.

Bình:

竹田黙雷 Takeda Mokurai (1854-1930)

aka 黙雷宗淵 Mokurai Sōen, 左辺亭 Sahen-tei

• Takeda Mokurai (1854-1930) (“Silent Thunder” – Tiếng Sấm Tĩnh Lặng) đi tu lúc còn nhỏ và được huấn luyện bởi các thiền sư hàng đầu thời đó. Mokurai trở thành sư trụ trì chùa Kennin, một trong những ngôi chùa cổ nhất và quan trọng nhất ở Kyoto, Nhật, vào năm 1892 khi Mokurai chỉ 38 tuổi. Mokujrai còn là một họa sĩ nổi tiếng với tên Sayu Núi Đông. Sayu vì một trong những bút danh của Mokurai là Sayutei, và Núi Đông là chỉ chùa Kennin.

• Bài này nói đển thủ tục lễ nghĩa khi đến gặp thầy để có lớp riêng với thầy (sanzen) rất rõ.

• “Dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.” Đây chính là yếu tính của công án. Đa số công án không phải là một câu hỏi cho một câu trả lời bằng chữ nghĩa hay lý luận, như câu hỏi “tiếng vỗ của một bàn tay” ở đây.

Người học trò, trong tiến trình tìm câu trả lời, sẽ tự nhiên tìm mọi cách để tập trung tư tưởng, không cho tư tưởng đi lang thang. Tâm sẽ lặng từ từ, như nghe tiếng nhạc, đến tiếng nước nhỏ giọt, tiếng thở dài của gió…

• Đến một lúc nào đó, tâm hoàn toàn tĩnh lặng đến nỗi không còn âm thanh nào có thể làm cho ta bị phân tâm. Tai nghe thì vẫn nghe, nhưng tâm hoàn toàn không xao động. Đó là “vượt lên trên” mọi âm thanh.

• Nhưng tại sao lại là tìm được “âm thanh tĩnh lặng” (soundless sound)?

Âm thanh tĩnh lặng (soundless sound) cũng là âm thanh của tĩnh lặng (sound of silence) như tên một bản nhạc của Simon and Garfunkel hay “tiếng thầm trong ngọc nói lời hay” của thiền sư Kiều Trí Huyền.

Tức là, trong tĩnh lặng ta “nghe”, “thấy”, “hiểu” hay “ngộ” được nhiều điều mà khi tâm ta bị phân tâm vì các “tiếng động” ta không nghe, không thấy, không hiểu.

Điều này thì chúng ta ai cũng đã có kinh nghiệm loáng thoáng phần nào—đôi khi ta tĩnh lặng, chẳng làm gì cả, chẳng suy nghĩ gì cả, tự nhiên bao nhiêu ý tưởng sáng tạo lại ùa đến. Tĩnh lặng làm con người thông thái ra, bao nhiêu vị thầy đã nói như thế.

• Tại sao vị học trò trong truyện này chỉ mới 12 tuổi?

Thưa, vì: (1) 12 tuổi thì ít có tiếng động trong đầu từ những lo lắng—con cái, công việc, chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện tiền bạc, chuyện nợ nần… và (2) 12 tuổi thí ít có kiến thức lý luận để mà có thành kiến “Làm sao một tay mà phát ra tiếng vỗ được? Vô l‎ý!”

Tức là nếu cái tâm ta càng nhẹ nhàng, giản dị, và không cố chấp, như trẻ thơ, thì ra sẽ thiền dễ hơn và đạt giác ngộ dễ hơn.

Muốn vào được thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Sound of One Hand

The master of Kennin temple was Mokurai, Silent Thunder. He had a little protégé named Toyo who was only twelve years old. Toyo saw the older disciples visit the master’s room each morning and evening to receive instruction in sanzen or personal guidence in which they were given koans to stop mind-wandering.

Toyo wished to do sanzen also.

“Wait a while,” said Mokurai. “You are too young.”

But the child insisted, so the teacher finally consented.

In the evening little Toyo went at the proper time to the threshold of Mokurai’s sanzen room. He struck the gong to announce his presence, bowed respectfully three times outside the door, and went to sit before the master in respectful silence.

“You can hear the sound of two hands when they clap together,” said Mokurai. “Now show me the sound of one hand.”

Toyo bowed and went to his room to consider this problem. From his window he could hear the music of the geishas. “Ah, I have it!” he proclaimed.

The next evening, when his teacher asked him to illustrate the sound of one hand, Toyo began to play the music of the geishas.

“No, no,” said Mokurai. “That will never do. That is not the sound of one hand. You’ve not got it at all.”

Thinking that such music might interrupt, Toyo moved his abode to a quiet place. He meditated again. “What can the sound of one hand be?” He happened to hear some water dripping. “I have it,” imagined Toyo.

When he next appeared before his teacher, he imitated dripping water.

“What is that?” asked Mokurai. “That is the sound of dripping water, but not the sound of one hand. Try again.”

In vain Toyo meditated to hear the sound of one hand. He heard the sighing of the wind. But the sound was rejected.

He heard the cry of an owl. This was also refused.

The sound of one hand was not the locusts.

For more than ten times Toyo visited Mokurai with different sounds. All were wrong. For almost a year he pondered what the sound of one hand might be.

At last Toyo entered true meditation and transcended all sounds. “I could collect no more,” he explained later, “so I reached the soundless sound.”

Toyo had realized the sound of one hand.

# 21

Josh Groban – giọng ca vàng trẻ trung

Chào các bạn,

Joshua Winslow “Josh” Groban, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1981, tại Los Angeles, California, là một ca nhạc sĩ Mỹ trẻ, nhưng đã bán đến 20 triêu đĩa nhạc chỉ ở thị trường Mỹ.

Bố Josh Groban là người Do Thái sinh ở Nga, mẹ là người Mỹ gốc Na Uy. Học nhạc từ nhỏ, đến 17 tuổi được theo học thanh nhạc với David Foster, người đã thắng giải Grammy về soạn nhạc.

Josh Groban có giọng truyền cảm rất tự nhiên, không màu mè. Rất nhiều bản của Josh Groban là nhạc thánh ca, cho nên cách trình diễn của chàng cũng rất đứng đắn trầm tĩnh như hát thánh ca. Dù vậy sức truyền cảm tự nhiên trong giọng hát nhẹ nhàng êm dịu và ấm áp vẫn thực là tuyệt diệu.

Nhạc của Josh Groban thường mang âm điệu cổ điển, nhẹ nhàng.

Năm 2001, album đầu tiên lấy tên “Josh Groban” trở thành đĩa gold ngay lập tức, và trong vòng một năm nhảy từ gold lên “double platinum”.

Năm 2003, album thứ nhì lấy tên “closer” đi từ hạng 11 đến hạng 1 trên các Billboards trong vòng hai tháng. Bản You raised me up trong album này trở thành bản nhạc nhẹ rất được ưa chuộng trong các danh sách nhạc contemporary adult (nhạc đương thời cho người lớn).

Josh groban cũng đã hát một số bản nhạc cho các phim Troy, Polar Express, Linkin Park.

Sau đây mời các bạn nghe You raised me up, My December, Remember When it Rained, và Remember Me của phim Troy.
.

You raised me up

when I am down,
and oh my soul’s so weary
when troubles come
and my heart burdened be.
Then I am still
and wait here in the silence
until you come
and sit a while with me.

you raise up
so I can stand on mountains,
you raise me up
to walk on stormy seas,
I am stong
when I am on your shoulders,
you raise me up
to more than can be.

.

My December

This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
This is my December
This is my snow covered home
This is my December
This is me alone
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you
Feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the
Things I said to you
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
These are my snow covered dreams
This is me pretending
This is all I need
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the things
I said to you
And I give it all away
Just to have
Somewhere to go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to

.

Josh Groban – Remember When It Rained

Wash away the thoughts inside
That keep my mind away from you.
No more love and no more pride
And thoughts are all I have to do.

Ohhhhhh Remember when it rained.
Felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the darkness I remain.

Tears of hope run down my skin.
Tears for you that will not dry.
They magnify the one within
And let the outside slowly die.

Ohhhhhh Remember when it rained.
I felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the water I remain
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down

.

Remember Me (trong phim Troy)

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
Just remember me

I am the one star that keeps burning, so brightly,
It is the last light, to fade into the rising sun

I’m with you
Whenever you tell, my story
For I am all I’ve done

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory
Remember me

I am that one voice in the cold wind, that whispers
And if you listen, you’ll hear me call across the sky

As long as I still can reach out, and touch you
Then I will never die

Remember, I’ll never leave you
If you will only
Remember me

Remember me…

Remember, I will still be here
As long as you hold me
In your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
I live forever
Remember me

Remember me
Remember… me…

Lời khuyên của mẹ

Jiun, một thiền sư thời Sứ Quân, là một học giả tiếng phạn Sanskrit nổi tiếng đời Tokugawa. Khi còn trẻ, Jiun thường thuyết giảng cho các thiền sư khác.

Mẹ Jiun nghe điều này và viết cho chàng một lá thơ:

“Con, mẹ không nghĩ là con muốn theo Phật vì con muốn trở thành một quyển tự điển sống cho mọi người. Chẳng có giới hạn nào cho thông tin và lý giải, vinh quang và danh dự cả. Mẹ mong con bỏ hết các việc thuyết giảng này. Vào tu trong một thiền am nhỏ tại một góc núi xa. Dùng thời gian để thiền và nhờ đó mà có thể giác ngộ.”

Bình:

• Tokugawa Yoshinobu (28.10.1837-22.11.1913) là Sứ Quân (Shogun) cuối cùng của Nhật Bản, cho đến ngày chế độ sứ quân chấm dứt (1868).

Jiun (1718-1804) là một vị sư Chân Ngôn Tông (Shingon) và là một nhà cải tổ Phật giáo thời Tokugawa ở Nhật. Jiun chú trọng vào giáo dục Phật học và cải tổ đạo đức trong tâm ta. Jiun rất giỏi về mọi khía cạnh của Phật pháp, viết các sách dạy tiếng phạn Sanskrit đầu tiên ở Nhật, và thành lập ngành học về luật (vinaya) trong Chân Ngôn Tông.

• Bài viết này nêu lên vấn đề chúng ta thường nghe các vị thầy lớn của nhân loại nói tới nói lui rất thường xuyên: Đừng lệ thuộc vào ngôn từ để tìm trí tuệ và chân lý.

Lão tử nói: “Đạo mà có thể gọi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn, tên mà có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn.”

Phật gia dạy ta không nên chấp vào “danh sắc.” Danh là tên, chỉ ngôn ngữ, tức là “không nên chấp vào ngôn ngữ.”

Chữ nghĩa ngôn từ cực kỳ giới hạn, hơn nữa lại tạo ra rối rắm nhiều hơn là trí tuệ. Khi anh chị yêu nhau, chỉ nhìn nhau không nói mà có thể hiểu nhau sâu thẳm. Khi hai vợ chồng sắp ly dị, một từ “ăn” chỉ có 2 mẫu tự, cũng chẻ ra, không chỉ làm 2 mà là 200 lần, để có lý do gây lộn ngày đêm.

Hiểu biết và chân lý không đến qua ngôn từ mà qua cảm xúc và trực giác. Tôi biết em yêu tôi vì tôi cảm được điều đó và trực giác (biết ngay) điều đó, mà chẳng cần ngôn ngữ hay lý luận. Hiểu biết và trí tuệ, về quả tim con người và chân lý của cuộc đờì, đến từ cảm xúc và trực giác. Ngôn ngữ và l‎ý luận nếu có giúp thì may ra chỉ là 1 phần trăm.


• Ngôn ngữ và l‎ý luận giúp thì ít mà hại thì có thể nhiều. Học trò mới học luận l‎ý thích dùng ngôn từ để lảm nhảm lý luận đủ kiểu và họ cho như thế là biết. Cho đến vài mươi năm sau, nếu họ có tiến bộ, họ sẽ khám phá ra là họ đã chẳng biết gì hết và đã chỉ tốn thời giờ gây lộn.

Hơn nữa, lý luận, ngôn ngữ, và thuyết giảng, thường đi theo các tràng pháo tay và các ca tụng cho giảng viên, chỉ làm cho “cái tôi” của giảng viên dễ bị ung thối.

• Tĩnh lặng (thiền) giúp cho chúng ta làm đằm cái tôi xuống (không lý luận, không tranh cãi, không có các tràng pháo tay…) và “nghe” được “cảm xúc” và những “cảm nhận” của mình về chính mình, vể người khác, và về thế giới quanh mình. Đó mới là cách để hiểu biết và có được trí tuệ.

• Mẹ Jiun, chứ không phải là bố, viết thơ khuyên bảo, nghĩa là phụ nữ thường giỏi hơn hơn đàn ông về cảm xúc và trực giác. Đàn ông thường lạc trong ngôn ngữ và lý luận.

• Mẹ còn có nghĩa là “tâm.” Mẹ ta là tâm ta. Và tâm ta muốn ta phải tĩnh lặng để có thể giác ngộ, tức là để tâm trở lại được căn tính trong sáng của tâm.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Mother’s Advice

Jiun, a Shogun master, was a well-known Sanskrit scholar of the Tokugawa era. When he was young he used to deliver lectures to his brother students.

His mother heard about this and wrote him a letter.:

“Son, I do not think you became a devotee of the Buddha because you desired to turn into a walking dictionary for others. There is no end to information and commentation, glory and honor. I wish you would stop this lecture business. Shut yourself up in a little temple in a remote part of the mountain. Devote your time to meditation and in this way attain true realization.”

# 20

La Bamba

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Có lẽ đa số chúng ta quen thuộc với bản hát tươi vui La Bamba của Ritchie Valens. Ritchie phổ biến bản này năm 1958 và biến nó thành một bản nhạc nổi tiếng quốc tế. Nhưng là Bamba là dân nhạc và dân vũ truyền thống của tiểu bang Veracruz, Mexico.

Ritchie Valens là một nhạc sĩ Mỹ gốc Mexico. Sinh ngày 3 tháng 5 năm 1941 tại Los Angeles, với tên thật là Richard Steven Valenzuela. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Ritchie Valens tử nạn máy bay cùng hai nhạc sĩ nhạc rock Mỹ là Buddy Holly và The Big Bopper, thọ 18 tuổi. Ngày này được xem là Ngày Âm Nhạc Chết (The day the music died) trong văn hóa âm nhạc Mỹ.

Năm 1987, đạo diễn Luis Valdez làm phim La Bamba, do Lou Diamond Phillips đóng vai Ritchie Valens, nhưng với giọng ca thật của Ritchie.

Báo nhạc Rolling Stone xếp La Bamba hạng 354 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.

Sau đây mời các bạn xem

1. Video clip của phim La Bamba.

2. Video dân vũ La Bamba của tiểu bang Veracruz, Mexico, trong đó cô dâu và chú rể là người vũ chính, dùng chân thắt nút nơ, tượng trưng cho nghĩa vợ chồng, cùng với sự phụ họa của các phù dâu phù rể.

3. Video La Bamba do Los Lobos trình diễn.

Chúc các bạn một ngày Bamba!!

Video clip, phim La Bamba, tài tử Lou Diamond Phillips, giọng ca Ritchie Valens

Dân vũ La Bamba của Veracruz, Mexico

La Bamba — Los Lobos

Vui hay lo? – Một dụ ngôn

Phật nói một dụ ngôn trong kinh:

Một người đàn ông đi ngang cánh đồng và gặp con cọp. Anh ta chạy, cọp đuổi theo. Chạy đến một vực sâu, anh nắm rễ của một dây leo và nhảy xuống vực. Con cọp đứng trên vực đợi anh. Run rẩy, anh ta nhìn xuống đáy vực, một con cọp khác đang đợi dưới đáy để ăn anh. Chỉ có sợi dây leo đang giữ anh lại.

Hai con chuột, một trắng một đen, đang gặm sợi dây leo. Anh thấy một quả dâu chín mọng gần anh. Một tay nắm sợi dây leo, tay kia anh hái trái dâu. Ngọt ơi là ngọt!

Bình:

• Truyện này có nhiều phiên bản hơi khác nhau chút đỉnh, và nhiều người có những cách giải thích khác nhau. Chúng ta sẽ giải thích chuyện này theo tinh thần Thiền tông.

• Cọp trên vực và cọp ở dưới vực, tượng trưng cho điều không tránh được—đó là sự chết. Và cũng tượng trưng cho hai giới hạn của đời người: Cọp sau lưng (trên vực) là quá khứ, cọp trước mặt (dưới vực) là tương lai.

Đời người nằm giữa quá khứ và tương lai. Sơi dây leo tượng trưng cho đời người.

Chuột trắng chuột đen là biểu tượng của ngày và đêm, đưa con người dần đến sự chết.

Cuộc sống chỉ tạm thời, và ta nhất định sẽ có ngày chết.

• Thế trái dâu là tượng trưng cho điều gì?

Khoái lạc tạm thời làm cho ta si mê mà quên mất cái nguy đang gặp (như một số người giải thích)?

Nhưng nếu không ăn dâu cho thỏa thích, thì làm gì bây giờ?

• Tâm thiền là tâm rỗng lặng, không lo lắng về sự chết, không gánh nặng quá khứ và không lo sợ cho tương lai.

Sống thật là sống “ở đây lúc này.” Đừng lo chuyện không lo được. Trước cọp sau cọp, nếu đến lúc phải chết là ta sẽ phải chết, không cưỡng được, không thể chọn lựa được.

Nhưng trái dâu trước mặt, ta có cơ hội chọn lựa. Một là hưởng mật ngọt của nó, hai là để sợ hãi làm ta không thấy được trái dâu, không hưởng được nó.

Thiền là không lo sợ. An lạc vui sướng với “lúc này ở đây”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Parable

Buddha told a parable in a sutra:

A man traveling across a field encountered a tiger. He fled, the tiger after him. Coming to a precipice, he caught hold of the root of a wild vine and swung himself down over the edge. The tiger sniffed at him from above. Trembling, the man looked down to where, far below, another tiger was waiting to eat him. Only the vine sustained him.

Two mice, one white and one black, little by little started to gnaw away the vine. The man saw a luscious strawberry near him. Grasping the vine with one hand, he plucked the strawberry with the other. How sweet it tasted!

#18

Kiến bò miệng cối

Chào các bạn,

Cối Xay và Kiến - tranh của thiền sư Hakuin

Thiền sư “Vậy à” Haikuin vẽ một bức tranh kiến bò cối xay nổi tiếng.

Con kiến nhỏ
Nó bò miệng cối
Nó bò, nó bò…

Và nó bò mãi… và cho đến khi nó bò được 10km, tức là khoảng 5 triệu lần chiều dài 2mm của nó, con kiến vẫn không biết là nó đã chẳng đi đâu cả, vẫn còn ngay đó, trên miệng cối.

Đây là bi kịch của nhiều người trong thế giới chúng ta. Họ sử dụng 50 năm cuộc đời, đi triệu dặm đường, có ảo tưởng là mình đã đi được rất xa, nhưng không biết là họ thực ra chỉ ngồi một chỗ, ngay đó, ngay trên miệng cối.

Họ không có 50 năm kinh nghiệm sống, mà có thể chỉ là một năm kinh nghiệm, lập đi lập lại 50 lần.

Nhưng, làm thế nào để ta biết được ta không bò miệng cối, khi ta thì quá nhỏ mà đường đời thì quá dài, quá rộng? Khi con mắt ta nhìn không quá 200m mà đường đời dài những 500 ngàn km? Khi trí ta nhìn không quá một tuần mà đường đời dài đến 50 năm?

Có lẽ con kiến không thấy hết được vòng tròn nó đang bò, nhưng nếu nó thông minh một tí, nó có thể nhận ra sau khi đi một hai vòng là tại sao mỗi bước đường mình đi lại nhìn thấy quen thuộc quá vậy? Cũng lỗ hỏm giống thế này, cũng kẽ nứt như thế kia, rồi một tí xíu lại thấy một rãnh lớn chắn ngang đường… Chẳng lẽ mình đã trở lại chỗ cũ?

Nếu ta đi một con đường quen thuộc trong cả 50 năm, rất có thể là ta đã ở trên miệng cối 50 năm.

Thế thì làm sao mới không là quen thuộc?

Dĩ nhiên, nếu bạn thay đổi công việc, sở làm, nơi ở thường xuyên… chính những thay đổi vật thể này có cơ hội lớn để mang đến kinh nghiệm và tư duy mới cho bạn. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Nhưng điều quan trọng hơn cả là khả năng đổi mới ngay cả khi mình chẳng chuyển đi đâu cả. Chúng ta có thể điểm qua các thay đổi, theo thứ tự từ thấp đến cao, trong năm vừa rồi chẳng hạn, như là cách kiểm điểm thành tích thay đổi trong năm:

1. Năm rồi ta đã học thêm được môn gì mới không? Như là ngoại ngữ, hay sử dụng computer, hay sử dụng máy móc gì đó, hay khiêu vũ, hay vẽ, hay âm nhạc… Hoc được môn mới là một thay đổi, không chỉ là thay đổi vì biết môn mới, mà chính môn mới có thể tạo cơ hội cho ta thay đổi cả nền tảng tư duy.

2. Năm rồi ta đã học được một luồng tư tưởng, luồng văn hóa nào mới không? Như là đọc một ít về Hồi giáo, hay Phật giáo, hay về nước Phi Luật Tân, hay Thái Lan, hay tư tưởng của Gandhi…

3. Năm rồi ta đã tự nghi vấn về tư duy của chính mình? Ví dụ: Trước kia tôi không bao giờ thích người Trung quốc, năm vừa rồi tôi đã tự hỏi “Phải chăng tôi có máu kỳ thị chủng tộc chống người Trung quốc?” Hay , xưa nay tôi rất kiên quyết trong các lập trường về một số vấn đề, nhưng từ năm rồi tôi bắt đầu tự hỏi “Thái độ giữ vững lập trường có đồng nghĩa với đầu óc hẹp hòi?”

4. Năm rồi ta có thay đổi lập trường về một số vấn đề hay không? Ví dụ: Trước kia tôi rất chống người đồng tính, năm rồi tôi đã thay đổi ý kiến và chấp nhận người đồng tính cũng là người tốt như tôi.

5. Các loại người ta cảm thấy thực sự yêu thương lo lắng trong lòng có tăng trong năm vừa rồi không? Ví dụ: Năm rồi tôi đột nhiên cảm thấy yêu thương và lo lắng cho những người đang trong vòng tù tội lao lý. Hay, năm rồi đột nhiên tôi cảm thấy rất thương những người bị bệnh AIDS.

Đây là một số điểm căn bản để chúng ta có cơ hội nhận biết là chúng ta đang đi đường thẳng hay đang chỉ đi vòng tròn trong đời. Rất khó để thấy con đường 50 năm, nhưng tương đối dễ để nhìn lại một năm hầu biết được mình đã đổi mới tí nào không.

Cuối cùng, người điên không bao giờ biết mình điên, người đầu óc si mê không bao giờ biết mình si mê, vì, nếu biết mình điên thì mình không điên, biết mình si mê thì không si mê. Vì vậy, nếu ta si mê thì ta không thể nào biết mình si mê được, nhưng đây là dấu hiệu thường thấy trong những người si mê: “Tôi luôn luôn giữ vững lập trường về…” hay “Chuyện này đối với tôi là tuyệt đối ‘không’ “. Dù là không hẳn đúng 100%, các câu chắc nịch như “giữ vững lập trường” hay “tuyệt đối” thường là dấu hiệu của mù quáng về tư tưởng và tư duy, và đang đi vòng tròn đã nhiều năm.

Ta phải thực sự muốn đổi mới thường xuyên, và phải quan sát thái độ tư duy của mình, phải cố công tìm ra các thay đổi thực sự trong mình qua các dấu hiệu khách quan bên ngoài, mới có thể nhìn xuyên qua các bức màn si mê chủ quan che mờ tâm trí , để biết mình đang đi đường tròn hay đường thẳng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Happy 2010

Chúc cả Vườn Chuối–admins, tác giả, commentors, fans, đọc giả, bạn bè–một năm mới dồi dào sức khỏe, ít stress, nhiều tình (loại tình không stress 🙂 ), nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc…

Cách chắc ăn nhất để gặp nhiều may mắn là sờ bụng ông Phật Béo, cho nên ta có một ông đây, để các bạn sờ bụng lấy hên.

Happy 2010 !!
.

Message đầu tiên

Chào các bạn,

Đầu năm chúc mỗi người chúng ta và mọi người trong gia đình vui vẻ, khỏe mạnh, may mắn, và tư duy tích cực mỗi ngày 🙂

Vườn Chuối là vườn tư duy tích cực. Mọi chúng ta ở đây đều là những người rất bình thường, cố gắng sống tư duy tích cực mỗi ngày và mang tư duy tích cực đến cho đời mỗi ngày.

Chẳng có gì to tát, và chẳng có ai là siêu nhân cả.

Nhưng cuộc đời quanh ta đã có đủ rác rến, tiêu cực, chia rẽ, ngăn cách, đố kỵ, nghi ngờ, thiếu thành thật… Nếu chúng ta tự bước ra khỏi vòng cương tỏa đó được một tí, cuộc đời đẹp thêm một tí. Kéo được người bạn nào đi theo một tí, cuộc đời đẹp thêm một tí.

Mỗi chúng ta có đủ loại gánh nặng, khó khăn, và vấn đề cá nhân, như tất cả mọi người khác trên thế giới. Điều đó không cản được chúng ta tự thắp một ngọn nến nhỏ cho mình và cho thế giới.

Con đường chúng ta đi sẽ không có đích điểm cuối cùng. Vì đích điểm cuối cùng ai cũng đã biết rồi—đó là nghĩa trang, và ta muốn đến đó càng chậm càng tốt :-). Trong thời gian chờ đợi, cuộc hành trình là điều duy nhất có ý nghĩa.

Chúng ta là những lữ hành trong những chuyến đi của cuộc đời. Chỉ có điều cần làm là làm cho cuộc hành trình đó vui hơn, và có một tí ‎ý nghĩa cho chính ta và cho cuộc đời.

No Big Deal.

Chúc các bạn một năm mới tươi vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nguyên Lý Đầu Tiên

Nếu đến chùa Obaku ở Kyoto ta sẽ thấy một dòng chữ khắc “Nguyên Lý Đầu Tiên”. Các chữ này lớn lạ thường, và những người rành thư pháp luôn luôn thán phục chúng như là những tác phẩm hàng đầu. Các chữ này do Kosen viết hai trăm năm về trước.

Lúc viết, thiền sư viết trên giấy, sau đó các nghệ nhân làm bản khắc lớn hơn bằng gỗ. Trong khi thiền sư viết, có một người đệ tử bạo gan ở bên cạnh, vị này đã hòa nhiều lít mực cho thiền sư để viết mấy chữ này và luôn luôn phê bình thư pháp của thiền sư.

“Chưa được,” vị đệ tử nói với Kosen sau lần viết đầu.

“Cái này thì sao?”

“Nghèo nàn. Dở hơn cái trước,” vị đệ tử nói.

Kosen kiên nhẫn viết hết tờ này đến tờ khác cho đến khi 84 chữ “Nguyên Lý Đầu Tiên” đã được viết, mà vị đệ tử vẫn chưa đồng ý.

Rồi, khi vị đệ tử bước ra ngoài một lúc, Kosen nghĩ: “Đây là cơ hội để mình thoát được con mắt sắc bén của hắn,” và thiền sư viết vội vã, với tâm trống rỗng mọi tạp niệm. “Nguyên Lý Đầu Tiên.”

“Một tác phẩm tuyệt vời,” vị đệ tử tuyên bố.

Bình:

• Ta không thể làm gì tốt nếu ta bị phân tâm. Lý‎ do phân tâm có thể là lý do rất tầm thường như là có học trò đứng phê phán. Ta có thể lo lắng và phân tâm rất phi lý‎, như là thầy sợ trò chê, chuyên gia sợ người không biết gì chê…

• Rộng hơn, trong đời sống hàng ngày, ta có thể bị phân tâm bởi đủ thứ tạp niệm: Sợ mọi người chê cười, sợ mất uy tín, sợ có người giận, sợ không ai khen… Các tạp niệm này làm ta phân tâm hàng ngày và chẳng làm được gì tốt.

• “Tâm trống rỗng mọi tạp niệm”—còn gọi là Vô Tâm–là Nguyên Lý đầu tiên của Thiền.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurriedly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

# 19

Auld lang syne – Những ngày đã xa – Bản nhạc giao thừa


Chào các bạn,

Auld lang syne là một bản nhạc ai trên thế giới cũng biết, và đương nhiên là người Việt Nam nào cũng biết. Tuy nhiên lời chính thức thì có lẽ là đại đa số người đều chỉ biết có một lời chính thức: Ò e Rô-be đánh đu, Tặc-dăng nhảy dù, Zô-rô bắn súng, chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi. 🙂 Và tên Việt Nam chính thức của bản nhạc là “Ò E” 🙂

Auld lang sine là môt bài thơ phổ thành nhạc theo âm điệu dân ca truyền thống của Tô Cách Lan (Scotland), do Robert Burns viết năm 1788. Burns gởi bản nhạc vào Viện Bảo Tàng Âm Nhạc Tô-Cách-Lan với dòng chữ: “Bản nhạc sau đây là một bản nhạc cổ xưa, chưa bao giờ được in ra, chưa bao giờ được viết xuống, cho đến khi tôi ghi lại từ một ông cụ.”

Auld lang sine là tiếng Tô Cách Lan cũ, có nghĩa là “old long since”, hay “long long ago” and “in the days gone by”–lâu lắm rồi, ngày xửa ngày xưa…

Auld Lang Syne

Should old acquaintance be forgot,
and never brought to mind ?
Should old acquaintance be forgot,
and old lang syne ?

CHORUS:
For auld lang syne, my dear,
for auld lang syne,
we’ll take a cup of kindness yet,
for auld lang syne.

And surely you’ll buy your pint cup !
and surely I’ll buy mine !
And we’ll take a cup o’ kindness yet,
for auld lang syne.

CHORUS

We two have run about the slopes,
and picked the daisies fine ;
But we’ve wandered many a weary foot,
since auld lang syne.

CHORUS

We two have paddled in the stream,
from morning sun till dine† ;
But seas between us broad have roared
since auld lang syne.

CHORUS

And there’s a hand my trusty friend !
And give us a hand o’ thine !
And we’ll take a right good-will draught,
for auld lang syne.

CHORUS

Những ngày đã xa

Nên quên đi thân thuộc cũ
Và không bao giờ nhớ lại?
Nên quên đi thân thuộc cũ
Và những ngày đã xa?

ĐIỆP KHÚC:
Cho những ngày đã xa, bạn quý
Cho những ngày đã xa
Chúng ta sẽ nâng chén ân cần
Cho những ngày đã xa.

Và chắc chắn là bạn sẽ mua cho bạn một ly
Và chắc chắn là tôi sẽ mua cho tôi!
Và chúng ta sẽ nâng ly ân cần,
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chạy trên những triền đồi
Hái hoa cúc dại
Nhưng chúng tôi đã lang thang những đôi chân mệt mõi
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chèo trong suối
Từ sáng đến giờ cơm tối
Nhưng những con biển rộng giữa chúng tôi đã gào thét
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Và có một bàn tay, người bạn tin cẩn ơi!
Và giúp chúng tôi một tay!
Và chúng ta sẽ uống một ly tốt bụng
(Hay: Và chúng ta sẽ chèo đúng và tốt bụng)
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

(TĐH dịch)

Khỏi cần phải nói ta cũng biết là bản này được chơi khắp thế giới khi chuông giao thừa điểm 12 giờ đêm.

Sau đây mời các bạn đón giao thừa với vài video clips về Auld Lang Syne.

1. Auld Lang Syne, nhạc nền chính trong phim “Waterloo Bridge”.

2. Auld Lang Syne, do Dougie McLean hát bằng tiếng Tô-cách-lan.

3. Andre Rieu, trình tấu violin với các nhạc sĩ bag pipes của Tô-Cách-Lan.

Happy New Year! Chúc Mừng Năm Mới!
.

Auld Lang Syne – Theme of the film “Waterloo Bridge”


.

Robert Burns – Auld Lang Syne As sung by Dougie MacLean in Scottish, on the album Tribute

.

Andre Rieu – Auld lang syne 2006 (with Scottish bagpipes)

Thở hơi ấm giữa trời đông

Thở hơi ấm
Giữa trời đông
Cuối năm
Bên cạnh dòng sông
Băng giá
Và những rừng cây trụi lá
Những dãy đèn Giáng Sinh
Còn sáng trên những nóc nhà
Những bầy em nhỏ
Còn trượt băng trên mặt dòng sông

Một năm lại sắp qua
Chuông giao thừa sẽ điểm
Và ta sẽ rủ bỏ những muộn phiền
Những dại khờ
Lầm lỡ
Viết lại trang sách mới
Trinh nguyên

Tạ ơn mùa đông
Đã làm sạch đất trời
Đã tuốt hết lá vàng lá chết
Để cuộc đời có thể vào xuân

Tạ ơn Trời đã cho ta những ngày lạnh giá
Để tuốt sạch những gai góc hồn ta
Để ta có thể tái sinh
Trong ánh bình minh mới

Tạ ơn mọi người
Đã cho mùa đông muộn phiền rơi rụng
Để cùng nhau
Ta có thể vào xuân
Với nụ non và những sắc màu

Vạn mùa đông đã qua
Vạn lần ta đã chết
Và vạn lần ta đã tái sinh
Trong những tháng năm lang thang trần thế

Tạ ơn Trời
Đã giữ ta trong vô lượng luân hồi
Để ta mãi sinh ra
Vào tâm thức mới
Vào những cõi trời
Gần hơi thở
Của Tình-yêu

Thở hơi ấm
Giữa trời đông
Bên cạnh dòng sông vô lượng

TĐH
4:32 pm, Wednesday, Dec. 30, 2009
Lake of the Woods, Virginia,  USA

Chuyện đời Shunkai

Gian nhân tuyệt sắc Shunkai, còn có tên là Suzu, bị bắt phải lấy chồng khi còn rất trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân chấm dứt, nàng đi học đại học, và học triết.

Thấy Shunkai là phải yêu nàng. Hơn nữa, đi đâu nàng cũng yêu. Tình yêu đến với nàng ở đại học, sau đó, khi triết lý không thỏa mãn nàng, nàng vào thăm một ngôi chùa để học Thiền, và thiền sinh si mê nàng. Cả đời nàng thấm ướt tình yêu.

Cuối cùng, ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thật sự. Các bạn thiền sinh nam ở chùa Kennin đều ca ngợi sự thành tâm của nàng. Một người trong số thiền sinh nam có tâm ‎ý tốt và giúp nàng trong việc thực tập thiền.

Vị thầy trụ trì chùa Kennin là Mokurai, có nghĩa là Sấm Lặng, rất khó khăn. Thầy giữ gìn lề luật nghiêm nghặt và muốn các học trò cũng như thế. Trong nước Nhật của thời đại mới, nhiệt tâm nào các vị sư đã mất về Phật học các vị hình như tìm lại được về các bà vợ. Thầy Mokurai phải lấy chổi đuổi các bà đi khi thấy bà nào trong chùa. Nhưng thầy đuổi nhiều chừng nào, các bà ùa vào lại nhiều chừng nấy.

Trong chùa này, bà vợ của sư trưởng tràng ghen với cố gắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các học trò ca ngợi sự tập Thiền nghiêm chỉnh của Shunkai, bà khó chịu không yên. Cuối cùng bà phao tin đồn về Shunkai và người thiền sinh đang giúp đở cô. Hậu quả là anh ta và Shunkai bị đuổi ra khỏi chùa.

“Tôi có thể là đã lầm lỗi trong tình yêu,” Shunkai nghĩ, “nhưng bà này cũng không thể ở trong chùa nếu bạn của tôi bị đối xử bất công.”

Đêm đó, Shunkai mang một thùng dầu lửa, đốt rụi ngôi chùa 500 tuổi. Sáng ra cảnh sát bắt nàng.

Một luật sư trẻ thích nàng và cố để giảm án cho nàng. “Đừng giúp tôi,” nàng bảo anh ta. “Có thể là tôi sẽ quyết định làm cái gì đó, lại mang tôi vào tù nữa.”

Cuối cùng, sau khi ở đầy đủ bản án 7 năm , Shunkai được thả khỏi nhà tù, nơi một vị quản giáo 60 tuổi đã yêu cô.

Nhưng bây giờ mọi người nhìn nàng là “tội phạm”. Chẳng ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các thiền nhân, những người đáng lý ra là tin vào sự giác ngộ ở đời này với thân thể này, cũng tránh xa nàng. Thiền, Shunkai khám phá ra, là một chuyện nhưng các thiền nhân lại là một chuyện khác. Thân nhân nàng cũng không dính dấp với nàng. Nàng lâm bệnh, nghèo, và yếu.

Nàng gặp một vị sư vị sư Tịnh độ tông dạy nàng hồng danh Đức Quán Thế Âm, và nhờ đó nàng tìm được an ủi và bình an trong tâm. Nàng qua đời khi còn rất đẹp và chưa đến 30 tuổi.

Nàng viết câu chuyện về đời nàng trong một nỗ lực hoài công để kiếm sống, và kể lại một phần cho một nhà văn nữ. Vì vậy câu chuyện đời nàng đến với độc giả Nhật. Những người đã xua đuổi nàng, mạ lị nàng, ghét bỏ nàng, giờ đây đọc về cuộc đời nàng với những dòng nước mắt ăn năn.
.

Bình:

• Hồng nhan đa truân.

Nghiệp duyên…
Hay luật công bằng? “Càng nhiều sắc đẹp càng nhiều gian truân. Chữ tài liền với chữ tai một vần”?

• Nhưng…

Chuyện này nói về Shunkai, hay thực ra là nói về chúng ta, những người đang sống?

Chúng ta hay ghen ghét với người có sắc, có tài, có cái gì đó hơn ta. Cho nên người đẹp, người tài, người hấp dẫn, thì đi đâu cũng thường có kẻ thù… Và những người này khi gặp hoạn nạn, dù là oan ức, thì cũng không ai muốn đở cho họ, vì tính ghen ghét nói “Cho đáng đời!”

kỳ thị, cư xử với nhau bằng nhãn hiệu. Thấy người đã có tiền án thì lánh xa, ruồng bỏ (dù họ đã trả hết tội trong tù rồi).

đạo đức giả. Người sống thì ruồng bỏ, người đã chết thì mới nhỏ nước mắt. Tại sao? Vì người đã chết thì không còn gì đề ghen, cho nên bây giờ mới khóc được.

Vậy thì…

Yêu người thì hãy yêu người sống. Yêu bằng hành động thật sự, nhất là khi người ta gặp hoạn nạn. Và yêu không lệ thuộc vào nhãn hiệu.

• “Buddha of love” ở đây là Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng nhiều người ở Nhật còn dùng “Buddha of Love” như là một trong những tên và diện mạo của Phật Di Lặc (Maitreya hay Metteyya). Tên này có từ maitrī (Sanskrit) hay mettā (Pāli), có nghĩa là “loving-kindness” (từ bi), là các chữ đến từ chữ mitra (Sanskrit) hay mitta (Pāli) và có nghĩa là “bạn”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Story of Shunkai

The exquisite Shunkai whose other name was Suzu was compelled to marry against her wishes when she was quite young. Later, after this marriage had ended, she attended the university, where she studied philosophy.

To see Shunkai was to fall in love with her. Moreover, wherever she went, she herself fell in love with others. Love was with her at the university, and afterwards, when philosophy did not satisfy her and she visited a temple to learn about Zen, the Zen students fell in love with her. Shunkai’s whole life was saturated with love.

At last in Kyoto she became a real student of Zen. Her brothers in the sub-temple of Kennin praised her sincerity. One of them proved to be a congenial spirit and assisted her in the mastery of Zen.

The abbot of Kennin, Mokurai, Silent Thunder, was severe. He kept the precepts himself and expected his priests to do so. In modern Japan whatever zeal these priests have lost of Buddhism they seem to have gained for their wives. Mokurai used to take a broom and chase the women away when he found them in any of his temples, but the more wives he swept out, the more seemed to come back.

In this particular temple the wife of the head priest became jealous of Shunkai’s earnestness and beauty. Hearing the students praise her serious Zen made this wife squirm and itch. Finally she spread a rumor about Shunkai and the young man who was her friend. As a consequence he was expelled and Shunkai was removed from the temple.

“I may have made the mistake of love,” thought Shunkai, “but the priest’s wife shall not remain in the temple either if my friend is to be treated so unjustly.”

Shunkai the same night with a can of kerosene set fire to the five-hundred-year-old temple and burned it to the ground. In the morning she found herself in the hands of the police.

A young lawyer became interested in her and endeavored to make her sentence lighter. “Do not help me,” she told him. “I might decide to do something else which would only imprison me again.”

At last a sentence of seven years was completed, and Shunkai was released from the prison, where the sixty-year-old warden had become enamored of her.

But now everyone looked upon her as a “jailbird.” No one would associate with her. Even the Zen people, who are supposed to believe in enlightenment in this life and with this body, shunned her. Zen, Shunkai found, was one thing and the followers of Zen quite another. Her relatives would have nothing to do with her. She grew sick, poor, and weak.

She met a Shinshu priest who taught her the name of the Buddha of Love, and in this Shunkai found some solace and peace of mind. She passed away when she was still exquisitely beautiful and hardly thirty years old.

She wrote her own story in a futile endeavor to support herself and some of it she told to a woman writer. So it reached the Japanese people. Those who rejected Shunkai, those who slandered and hated her, now read of her live with tears of remorse.

Annotation:

  • Beauty and suffering.

Karma…

Or the rule of compensation? “More beauty, more suffering. Gain rhymes well with pain”?

  • But…

This story is about Shunkai, or is it indeed about us, the living?

We are jealous of people with talents, beauty, or something better than ours. Hence, beautiful people, talented people and attractive people have enemies every where they go. When these people are met with misfortune, even unfairly, no one wants to help them. Jealousy likes to say: “They deserve it!”

And we discriminate, treating each other with labelism. Seeing an ex-convict, we stay away from her, even denying her (though she already paid her dues in jail).

And our hypocracy! We have shooed away the living and now she is dead, we shed tears for her. Why? Because, the dead has nothing to be jealous of?

So…

If we love people, then let’s love the living. Let’s love by action, especially when they are in distress. And let’s love without depending on the labelism.

(Trần Đình Hoành annotated)