Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đây Thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử & Võ Tá Hân

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đây Thôn Vĩ Dạ” của Thi sĩ Hàn Mặc TửNhạc sĩ Võ Tá Hân.

Thi sĩ Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí – sinh ngày 22 tháng 9, 1912 – mất ngày 11 tháng 11, 1940 – là một thi sĩ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, ông là người khởi xướng ra “Trường Thơ Loạn”.

Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là “Bàn Thành Tứ Hữu”, nghĩa là “Bốn Người Bạn Thành Đồ Bàn”.

Ông sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình; lớn lên ở Qui Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo, ông được rửa tội tại Nhà thờ Tam Tòa với tên thánh là Phanxicô. Tổ tiên của ông gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Cố tổ ông là cụ Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên, Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh dưới triều Vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con:

1- Nguyễn Bá Nhân (tức nhà thơ Mộng Châu) cũng là người dìu dắt Hàn Mặc Tử trên con đường thơ văn.
2- Nguyễn Thị Như Lễ.
3- Nguyễn Thị Như Nghĩa.
4- Nguyễn Trọng Trí (tức thi sĩ Hàn Mặc Tử).
5- Nguyễn Bá Tín (người dời mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hòa về Ghềnh Ráng vào ngày ngày 13 tháng 2 năm 1959).
6- Nguyễn Bá Hiếu;
7- Nguyễn Văn Hiền
8- Nguyễn Văn Thảo.

Thi sĩ Hàn Măc Tử.
Thi sĩ Hàn Măc Tử.

Thi sĩ Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên ông cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926).

Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp gỡ cụ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của vị chí sĩ này. Ông được cụ Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ “Thức Khuya” của mình lên một tờ báo. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với cụ Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu ông làm việc ở Sở Đạc Điền.

Về sau đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công Luận. Khi ấy, bà Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp bà Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

Theo gia đình Hàn Mặc Tử, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái Quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ Nữ Tân Văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa”, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y.

Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ của ông mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín – em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.

hanmactu_Anh chị em của HMT

Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile. Bác sĩ nói rằng: “Bệnh cùi rất khó phân biệt”. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.

Trước đây vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bao nhiêu bệnh nhân đã bị hất hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi, thì ông cũng không ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị thì đúng là phản khoa học vì lẽ ra cần phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh Viện Phong Quy Hòa..

Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa ông vào trại phong sớm. Và bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử chết là do nội tạng hư hỏng quá nhanh do uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.

Ông bỏ tất cả quay về Qui Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.

Nguyễn Trọng Trí làm thơ từ năm mười sáu tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng Khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.

hanmactu1

“Đây Thôn Vĩ Dạ” là bài thơ do thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940) sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập “Thơ Điên” (về sau đổi tên thành “Đau Thương”).

Hiện nay, bài thơ này được nhiều người cho là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại.

“Đây Thôn Vĩ Dạ”, lúc đầu có tên là “Ở Đây Thôn Vĩ”. Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ.

GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vĩ Dạ (Huế). Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểm nghèo (bệnh phong).

Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những ký ức thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử…

Theo ông Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì: “Năm 1939, Hoàng Thị Kim Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” gửi ra Huế cho Hoàng Thị Kim Cúc…”

Cho đến nay, bài thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” đã được ít nhất 5 nhạc sĩ phổ nhạc: Phạm Duy, Hoàng Thanh Tâm, Phan Huỳnh Điểu, Võ Tá Hân, và Khúc Dương.

Bài thơ này cũng là một nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ đời sau sáng tác thơ văn về thôn Vĩ và Huế.

Năm 2001, nhà xuất bản Arfuyen đã xuất bản tuyển tập thơ của Hàn Mặc Tử sang tiếng Pháp, lấy tên “Le Hameau des roseaux” (Đây Thôn Vĩ Dạ) do Hélène Péras và Vũ Thị Bích dịch.

NS Võ Tá Hân.
NS Võ Tá Hân.

NS Võ Tá Hân, pháp danh Minh Hoan, không là một nhạc sĩ chuyên nghiệp. Hành nghề như là một chuyên gia ngân hàng quốc tế (Bank of Montreal – Singapore Finance – USB) và lãnh đạo thương mãi (CDL, SIM…), ông xem nhạc là một môn giải trí nghiêm chỉnh, chơi nhạc và soạn nhạc khi rảnh rỗi.

Lúc còn học trường Trung học Nguyễn Trãi tại Sài Gòn (1960 – 1967), ông học Guitar cổ điển tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc (1962 – 1967) với GS Dương Thiệu Tước và trình diễn trong một số chương trình trên đài phát thanh và đài truyền hình.

Sau khi đậu ưu hạng cả ba kỳ thi trung học và nhận được Giải thưởng Học sinh Ưu tú của Tổng Thống (VNCH) năm 1967, ông du học Mỹ năm 1968 với một học bổng lãnh đạo của USAID. Ông tốt nghiệp cử nhân tại MIT (Massachusetts Institute of Technology) năm 1972 và thạc sĩ tại trường Alfred P. Sloan School of Management năm 1973, đồng thời nhận 2 giải thưởng ở MIT.

NS Võ Tá Hân và NS Trịnh Công Sơn (1998).
NS Võ Tá Hân và NS Trịnh Công Sơn (1998).

Lúc học ở MIT, ông tiếp tục học hòa âm, đối âm, nhạc giao hưởng, và dương cầm, cùng dạy guitar và trình tấu guitar thường xuyên trong các buổi hòa nhạc. Năm 1971, ông thành lập Hội Guitar Cổ Điển MIT và phát hành bản ghi cách đánh guitar cho bài “Los Sitios De Zaragosa.” Trước khi rời MIT, ông thành lập Hội Guitar Cổ Điển Boston năm 1973.

Như là chuyên gia ngân hàng, chuyên gia tư vấn tài chính và chuyên gia cải tổ công ty, ông đã sống là làm việc tại San Jose, Boston, Montreal, Toronta, Manila và hiện nay ở Singapore, nơi ông và gia đình đã sinh sống từ 1981.

Ông là tác giả của nhiều bài báo về Kinh tế, Tài chính và Quản trị trên báo Saigon Economic Times từ năm 1991. Cuốn sách gần đây nhất của ông, Cành Hoa Trước Gió, phát hành tại Việt Nam năm 2004 trở thành cuốn sách kinh tế bán chạy nhất ở Việt Nam khi được tái bản lần thứ 5 vài năm 2006.

nhacthien3

nhacthien7

Ông viết bài hát đầu tiên năm 1974 “Ai Trở Về Xứ Việt” (thường được biết là bài “Nhớ Mẹ”), với lời lấy từ một bài thơ của cô ông, Minh Đức Hoài Trinh. Tuy nhiên, ông không soạn nhạc nghiêm chỉnh cho đến khi tình cờ có một tập thơ của Huỳnh Văn Dũng năm 1993 ở Sài Gòn, tạo cho ông hứng thú để viết 10 bài hát và phát hành album đầu tiên, “Dầu Ngày Xưa Rất Xưa”, cả ở Mỹ lẫn Việt Nam năm 1984. Ông tiếp tục viết thêm hơn 600 bài hát nữa và đến 2008 thì đã phát hành 37 đĩa nhạc.

Năm 1983, ông thành lập Hội Guitar Cổ Điển Singapore và làm Hội trưởng 16 năm nay. Chính trong thời gian này ông soạn và phát hành cách chơi guitar cổ điển cho một số bài hát Việt. Nhưng phải đến 2008 ông mới phát hành 2 đĩa nhạc guitar “Bên Đời Hiu Quạnh” và “Los Sitios de Zaragosa”.

Những bài soạn piano phần lớn lấy từ một tập nhạc ông soạn cho vợ ông để bà tập trong những ngày đông dài khi hai ông bà ở Canada!

Trong thời gian ông là hội trưởng Hội Tây Ban Cầm Cổ Điển ở Singapore (1983-2000), ông đã trình diễn độc tấu guitar nhiều lần và làm giám khảo trong nhiều cuộc thi guitar ở Singapore và Việt Nam. Ngoài việc xuất bản hơn 50 soạn phẩm cho guitar cổ điển và piano ông còn sáng tác hơn 500 ca khúc phổ thơ và đã phát hành 30 CD gồm các Ca Khúc Phật giáo, Trường Ca, Thiền Ca,v.v… (Dịch từ bản tiếng Anh trên blog Võ Tá Hân)

hmt_ĐB1

Thi phẩm “Đây Thôn Vĩ Dạ” (Thi sĩ Hàn Mặc Tử)

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

hmt_ĐB2

Thi khúc “Đây Thôn Vĩ Dạ” (Nhạc sĩ Võ Tá Hân)

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà

Dưới đây mình có các bài:

– Vài nét chân dung Hàn Mặc Tử – Nhà thơ thiên tài của Việt Nam
– Hàn Mặc Tử – nhà thơ có số phận kỳ lạ – Kỳ 5: Đây thôn Vỹ Dạ – bài thơ nhiều ẩn số
– Nhạc sĩ Võ Tá Hân người phổ nhạc nhiều album Phật giáo nhất

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Đây Thôn Vĩ Dạ” do hai ca sĩ Vân Khánh và Thúy Vinh diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Hàn Măc Tử.
Thi sĩ Hàn Măc Tử.

Vài nét chân dung Hàn Mặc Tử – Nhà thơ thiên tài của Việt Nam

(Vinh Hồ)

1. TÌNH YÊU, ÁNH SÁNG, TIẾNG THẦM TRONG THƠ

Có nhiều thi sĩ đưa địa danh vào thơ:

Thôi Hiệu với “Hoàng Hạc Lâu”.
Bà Huyện Thanh Quan “Qua Đèo Ngang”
Nguyễn Nhược Pháp với “Chùa Hương”
Hoàng Cầm “Bên kia sông Đuống”
Nguyên Sa “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…”
Cung Trầm Tưởng “Trời mùa Đông Paris, Suốt đời làm chia ly…”
Du Tử Lê “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”
Hàn Mặc Tử (HMT) “Đây Thôn Vỹ Dạ”:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc…

Qua bài thơ trên, tên tuổi HMT gắn liền với thôn Vỹ, thôn Vỹ gắn liền với Cố Đô, tất cả gắn liền làm một. Tôi yêu bài thơ từ lúc còn ở mái trường Trần Bình Trọng, Ninh Hòa. Có một quãng thời gian dài tôi cứ tưởng HMT là người Huế.

Nguyễn Du tả nhan sắc Thúy Kiều qua Thúy Vân:

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang…

Thúy Vân đẹp thế, nhưng:

Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn

Hàn Mặc Tử tả “Huế đẹp Huế thơ” qua thôn Vỹ Dạ. Dưới ngòi bút của ông Vỹ Dạ trở nên đẹp đẽ thơ mộng lạ thường. Vỹ Dạ, một địa danh bình thường nằm lặng lẽ bên bờ Hương Giang mà đã đẹp như thế thì những thắng cảnh khác của Huế như cung vàng điện ngọc, đền miếu lăng tẩm của một thời vang bóng sẽ còn đẹp đẽ cao sang đến bậc nào?

Hesiod viết: “Một nửa tốt hơn toàn thể”. Ở đây, HMT không viết một nửa hay toàn thể… nhưng ông viết một nét, một góc rất nhỏ của Huế: “Đây Thôn Vỹ Dạ!” Nhưng từ một nét, một góc rất nhỏ HMT đã nói rất nhiều (về Huế). Thiên tài là ở chỗ đó!

Thôn Vỹ giống như trăm nghìn thôn khác trên quê hương VN, cũng có “thuyền ai đậu bến, lá trúc, hàng cau” nhưng thuyền ai, khóm trúc, hoa bắp, hàng cau, bến nước, sông trăng của thôn Vỹ trong thơ HMT đẹp quá! Đẹp một cách mượt mà óng ả mê ly tình tứ… đẹp như một cảnh “Địa đàng mơ ước” ở trần gian. Dưới cái nhìn của HMT cảnh vật dù có tầm thường nhỏ bé đến đâu cũng trở nên có hồn, sinh động, lớn lao mang sắc hương diệu kỳ như một phép lạ, đẹp và thơ mộng đến nỗi ai cũng muốn về thăm một lần.

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên!

Mở đầu bài thơ, tác giã đã nói bằng trái tim thiết tha mời gọi: Sao anh không về? Ai không xuyến xao khi nghe những lời êm ái mặn mà? Hình như trong chúng ta ai cũng có một Thiên Đàng để tưởng nhớ. Từ khi con người đánh mất Thiên Đàng bơ vơ giữa trần gian thì nỗi nhớ nhung hoài vọng một ngày trở về càng thêm tha thiết. Qua hình ảnh tuyệt vời Đây Thôn Vỹ Dạ, HMT muốn dựng lại nơi Đế Đô vàng son (từng là trung tâm điểm của dãi giang sơn gấm vóc có tên là Việt Nam hình cong chữ S nằm soi mình bên Thái Bình Dương chạy dài đến tận miền Lục Chân Lạp tiếp giáp với Vịnh Thái Lan) một cảnh Địa Đàng tràn ngập tình yêu, ánh sáng và tiếng thầm. Ánh sáng chứa chan rạng rỡ niềm hy vọng, một thứ ánh sáng mới mẻ tinh khiết diệu kỳ long lanh như thủy tinh và đẹp như ngọc:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới kên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

Ánh sáng mềm mại êm ái tưởng như dát bạc nạm vàng giữa dòng sông trăng huyền ảo mà con đò là mối tình đầu vừa chớm nở, có khi đó là thứ ánh sáng tâm tưởng thoạt tan thọat biến trong giấc mơ của kẻ cô đơn trông ngóng được gặp lại người tình:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra.

Tình yêu nơi khu vườn Vỹ Dạ là một thứ tình yêu thôi thúc mãnh liệt nhưng cũng rất lãng mạn sương khói mơ hồ:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Nỗi cô đơn, niềm trông ngóng và sự nôn nao khao khát đợi chờ của một trái tim rực lửa yêu đương đã lên tới tột độ tột cùng tưởng như không thể nào đợi chờ lâu hơn được nữa:

Có chở trăng về kịp tối nay?

Chữ “kịp?” đặt trong thể nghi vấn ở đây là một “chữ thần” có khả năng diễn tả trọn vẹn tâm trạng bồn chồn của kẻ đang yêu, đang khao khát tình yêu mãnh liệt. Suốt hằng ngàn năm trong thơ ca VN lần đầu tiên xuất hiện Hồ Xuân Hương, rồi HMT, hai thi sĩ chân thành can đảm đã dám vượt qua bức tường luân lý đạo đức kìm hãm, để nói lên tiếng nói của trái tim mà lý trí đã bao đời nguyền rủa, những điều rất thật nhưng úy kỵ của con người đã hiện hữu từ thời Adam/Eva đến nay, đó là: Tính Dục.

Trái tim yêu đương đang độ lên men nồng cháy như một thứ trái cây rục rĩu chín mềm trong thơ Hồ Xuân Hương: “Một trái trăng thu chín mõm mòm” nay trở nên đắm đuối dục tình trong một bài thơ khác của HMT:

“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi (…)
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng lắm!
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
(Bẽn lẽn)

Nếu tính dục thoáng hiện bóng bẩy trong thơ Hồ Xuân Hương đã làm mới mẻ tăng thêm sức sống cho dòng thơ ca cổ điển, thì tính dục hối hả trong thơ HMT cũng làm cho dòng thơ ca tiền chiến thêm quyến rũ ngất ngây.

Nguồn ánh sáng lung linh trong Đây Thôn Vỹ Dạ trở nên rực rỡ trong Mùa Xuân Chín:

“Chị ấy năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”

và trở thành chói lọi hào quang trong thế giới tâm linh kỳ bí của Xuân Như Ý:

Như song lộc triều nguyên: ơn phước cả
Dâng dâng cao thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi Thiên đàng…
(Ave Maria)

Những tiếng thì thầm “Sao anh không về?”, “Có chở trăng về kip tối nay?” đã được lặp lại nhân lên thành trăm thứ tiếng lòng trong bài Bẽn Lẽn:

Trong khóm vi lau rào rạt mãi:
Tiếng lòng ai nói sao im đi?

Đây Thôn Vỹ Dạ đầy ngập tình yêu, ánh sáng và tiếng thầm, hay nói một cách khác, tình yêu ánh sáng và tiếng thầm đã phối hợp với nhau để làm nên sự kỳ diệu cho Đây Thôn Vỹ Dạ cũng như cho toàn bộ tác phẩm của HMT về mặt bút pháp. Từ Gái Quê thơ HMT như con chim Phượng Hoàng soãi cánh bay vào thế giới siêu hình siêu thực qua những Thơ Điên, Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang

Tình yêu được thăng hoa thành tình yêu Thiên Chúa, ánh sáng được thăng hoa thành ánh sáng Triều Thiên và tiếng thầm được thăng hoa thành muôn tiếng Kinh Cầu:

Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
Ta chắp hai tay lạy quỳ hoan hảo
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế
(Đêm Xuân Cầu Nguyện)

Tình yêu, ánh sáng, và tiếng thầm lúc bấy giờ đã hoàn toàn “xuất thế gian” để hòa nhập vào thế giới diệu kỳ bất khả tư nghị. Đó là cõi Thánh nữ, Thiên đàng, cũng là cõi Thơ Mầu nhiệm:

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng bằng hương hoa sáng láng,
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh?
(Ave Maria)

Đêm-Xuân-Rất-Đỗi-Anh-Linh chỉ có trong Mùa Xuân Vĩnh Cửu mà người trần tục không thể nào biết được:

– Chàng ơi! Chàng ơi!, sự lạ đêm qua!
Mùa xuân tới, mà không ai biết cả…
(Ra đời)

Vì Sự-Lạ-Đêm-Qua, mà phải cần đến những Thi-sĩ-Thần-Linh để làm nhiệm vụ Thiên sứ báo tin mừng đến muôn người:

Một chiều xanh- một chiều xanh huyền hoặc
Sáng bao la vây lút cõi thiên không

HMT đã tự nhận mình không phải là thi sĩ trần gian mình trần mắt thịt:

Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ
Ngọc Như Ý vô tri còn biết cả
Huống chi tôi là Thánh thể kết tinh
Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh.

Khởi đi từ Tình Quê, Bẽn Lẽn, Đây Thôn Vỹ Dạ… nguồn thơ HMT phong phú như dòng sông mở ra đại dương mênh mông bát ngát, càng ngày càng xa bờ hiện thực, bến lãng mạn… để tiến vào thế giới tượng trưng, trừu tượng, siêu thực, mà người thơ là một thứ Sứ giả mang Thông điệp Tình yêu của Thượng Đế đến với nhân loại. Những thi tập Hương Thơm, Mật Đắng, Máu Cuồng Và Hồn Điên, Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, khi ra đời, người đương thời không hiểu đã buông lời nguyền rủa: “Thơ với thẩn gì! toàn nói nhảm.” Nhưng rồi thời gian đã công nhận đó là những hạt trân châu quý hiếm trong Thơ ca Tiền chiến, đúng như khi xưa Chế Lan Viên đã hùng hồn khẳng định, và ngày nay Phạm Duy đã phổ thành Trường ca.

HMT là một hiện tượng lạï lùng trong Thơ Tiền Chiến. Ông làm thơ từ năm 16 tuổi, lúc mất chỉ vừa tròn 28. Bắt đầu sự nghiệp bằng thể thơ Đường luật, vốn là thể thơ vô vàn khó khăn về luật tắc, nhưng dưới tay HMT vẫn mượt mà tươi mới như thường:

Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi

Vì thế, được chí sĩ Phan Bội Châu, vốn xuất thân Nho học từng đỗ Đầu Xứ đã nhiệt liệt khen ngợi: “Từ ngày về nước đến nay tôi chưa gặp được bài nào hay đến thế…” Sau này gia nhập Phong trào Thơ Mới với một nguồn thơ đầy sáng tạo, HMT cũng được Hoài Thanh hết lời ngợi khen: “Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng”. Hoài Thanh đã bỏ ra 1 tháng trời để nghiên cứu toàn bộ thơ HMT đến “mệt lã”, và công nhận “Vườn thơ Hàn rộng rinh không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh.” đúng như HMT đã viết trong lời tựa cho tập “Thơ Điên” của mình. Hoài Thanh đã dành cho HMT 21 trang nhận định và trích dẫn thơ, đó là số trang cao nhất trong sách của ông, cao hơn cả các nhà thơ lừng danh hàng đầu lúc bấy giờ (Lưu trọng Lư và Xuân Diệu có số trang ngang nhau 19 trang, Thế Lữ 15 trang, Huy Cận 13 trang, Chế Lan Viên 11 trang, Quách Tấn 6 trang) vậy mà ông cho biết “còn muốn trích ít bài nữa”.

Người đầu tiên khám phá thiên tài HMT là Chế Lan Viên, đăng trên báo Người Mới số 5, ra ngày 23-11-1940:

“Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử.”

Một năm sau, trong cuốn “Hàn Mặc Tư” xuất bản (1941), tác giả Trần Thanh Mại cũng tỏ ra thán phục HMT, cho rằng thơ HMT có nhiều ý tưởng và hình ảnh mới lạ, ảnh hưởng sâu đậm trường phái tượng trưng của Mallarmé bên Pháp quan niệm thơ phải đạt tới cái mức thuần túy, bí hiểm, phi thường, khó hiểu, bằng cách đổi cả mẹo luật, tiếng nói cũ, thành những dấu hiệu, những nhạc điệu kỳ dị.

Trong ngày giỗ lần thứ 50 của HMT tổ chức tại Paris ngày 11-11-1990, học giả Thái Văn Kiểm nhận xét:

“Nhà thơ của chúng ta bẩm thụ được cái thiên tư cao quý là nhìn thấy được cái hư ảo, cảm được cái vô lượng và nghe được sự yên lặng của vô thủy vô chung. Nơi đây vang dội những lời cầu nguyện, những hương lạ mê ly, những âm thanh kỳ diệu, tất cả chìm ngập trong bể hào quang và trong tinh hoa của thi vị. Vì theo Hàn Mặc Tử , thi ca là một sáng tạo thuần túy của Thượng Đế, và để báo đáp công ơn đó, thi sĩ phải là kẻ xướng Thánh ca, cảm thông với Thượng Đế, ca ngợi chân thành sự nghiệp thiêng liêng và vinh quang bất diệt của Người. Thi sĩ là gạch nối , là trung gian ưu tú giữa Hóa Công và nhân loại.”

Năm 1994, “Trường Ca Hàn Mặc Tử” của Phạm Duy ra đời phổ từ thơ HMT (gồm các bài: Tình quê, Đây Thôn Vỹ Dạ, Đà Lạt Trăng Mờ, Trăng Sao Rớt Rụng, Hồn Là Ai, Trút Linh hồn, Lạy Bà Là Đấng Tinh Tuyền Thánh Vẹn, Ôi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel, Phượng Trì Ôi Phượng Trì). Khi trình làng Phạm Duy đã thú nhận: “phổ thơ Hàn Mặc Tử khó vô kể, một năm trời vật lộn với thơ.” Một năm trời vật lộn của ông có khác gì một tháng mệt lã của Hoài Thanh trước kia.

Tóm lại, thời gian đã minh chứng cho nhận xét đánh giá của Chế Lan Viên, Hoài Thanh về thơ HMT là đúng. Hàn Mặc Tử là một thiên tài trong nền thơ ca VN và thế giới. Mặc dầu mắc bệnh nan y, bao năm nằm trên giường bệnh nhìn thân xác, linh hồn từ từ tan rã… bao ngày sống trong tận cùng nỗi đau thương tuyệt vọng, quằn quại đau đớn… nhưng nhà thơ vẫn không ngừng sáng tạo ra những vần thơ để gởi đến bè bạn, người thân, cuộc đời, những lúc đó có ai tin rằng những bài thơ tuyệt tác? Ôi, thật là cảm động và thán phục biết chừng nào!

2. VÀI NÉT TIỂU SỬ

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, mất năm 1940, mới 28 tuổi.

Quê Mỹ Lệ, Đồng Hới, Quảng Bình. Tổ tiên họ Phạm, ông cố Phạm Nhương, ông nội Phạm Bồi, vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn. Cha Nguyễn văn Toản, mẹ Nguyễn Thị Duy, anh Nguyễn Bá Nhân, 2 chị Như Nghĩa, Như Lễ, và 2 em Nguyễn Bá Tín, Nguyễn Bá Hiếu.

Trí học tiểu học ở Quãng Ngãi, khi cha chết, mẹ dọn về Qui Nhơn, ở đây Trí tập làm thơ Đường luật lúc 16 tuổi lấy bút hiệu là Minh Duệ Thị. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba, Mẹ Trí gởi Trí ra Huế học tại trường dòng Pellerin, chính đất Thần Kinh non nước hữu tình có truyền thống thơ phú, nơi quy tụ nhiều nhân tài đã ảnh hưởng và mở cánh cửa tư duy trí tuệ tài hoa thúc đẩy Trí trở thành thi nhân. Trí đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn với bút hiệu Phong Trần. Thời gian này Đông Dương khủng hoảng kinh tế, gia đình sa sút, không còn điều kiện Trí phải nghỉ học đi làm Sở Đạc Điền một độ, bị đau rồi mất việc.

Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Nhơn, kế đó mắc bệnh hủi… vào Nhà thương Quy Hòa và mất tại đó.
Khi vào Sài Gòn làm báo Trí lấy bút hiệu Lệ Thanh (tên làng Mỹ Lệ, chánh quán Tân Thanh ghép lại). Trí chiếm giải nhất cuộc thi thơ của một câu lạc bộ thơ, bút hiệu Lệ Thanh nổi tiếng từ đó. Trí cộng tác với báo Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới. Năm 1936 khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn, Trí mới đổi là Hàn Mạc Tử. Hàn Mạc nghĩa là “Rèm Lạnh”. Bạn Trí là Quách Tấn góp ý:

“Tránh kiếp Phong Trần làm khách Hồng Nhan (Lệ Thanh) lại núp sau Rèm Lạnh (Hàn Mạc)… Đã có Rèm Lạnh thì nên có thêm một bóng nguyệt nữa mới thật nên thơ.”

Trí đồng ý ngay, cầm bút vạch thêm một vành trăng non trên chữ Mạc, từ đó có bút hiệu Hàn Mặc Tử. Mặc Tử không còn nghĩa “Rèm Lạnh” nữa, mà có nghĩa là “Bút Mực” (Hàn: Bút, Mặc: Mực) hiểu theo nghĩa bóng là “Văn Chương”. Như vậy, ba chữ Hàn Mặc Tử có nghĩa là “Khách Văn Chương”.

Tập thơ Đường luật mang tên “Lệ Thanh Thi Tập” có 3 bài Thức Khuya, Chùa Hoang, Gái Ở Chùa được Phan Sào Nam họa vận lại. Năm 1936 tập thơ Gái Quê xuất bản là một chuyển hướng sang Thơ Mới (Năm 1932 bài Tình Già của Phan Khôi mở màn cho phong trào Thơ Mới.)

Cuối năm 1936, Trí đi chơi Huế, Đà Nẳng, Nha Trang, Phan Thiết rồi định vào Sài Gòn tiếp tục làm báo bỗng có dấu hiệu mắc bệnh hủi. Người nhà cho rằng Trí bị bệnh là do lúc đi làm ở sở Đạc Điền Qui Nhơn phải băng qua nhiều bãi tha ma lúc mưa giông bị nhiểm khí độc từ mồ mả bốc lên. Cũng có người cho rằng Trí ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm dẫn nhau lên Lầu Ông Hoàng chơi, mắc mưa vào trú trong một ngôi mộ mới xây bị nhiểm hơi người chết bốc lên nên bị bệnh. Khi mắc bệnh, Trí thuê một chòi tranh ở Gò Bồi cách Qui Nhơn 15 km để ở và bắt đầu tuyệt giao với bạn bè.

Cuối năm 1937 gom góp khoảng 50 bài thơ làm trên giường bệnh được HMT gọi là Thơ Điên (gồm 3 tập Hương Thơm, Mật Đắng, Máu Cuồng Và Hồn Điên) mang chung một nhan đề: Đau Thương để tặng thân mẫu (một số bài nói về trăng, một số nói về cõi hồn, một số thuộc các đề tài khác). Tiếp đến là Xuân Như Ý (gom góp năm1939), Thượng Thanh Khí (gom góp năm 1940).

Mùa hạ 1938, thấy bệnh tình khó qua khỏi, gia cảnh càng sa sút, HMT sau nhiều lần do dự đã quyết định vào bệnh viện phong cùi Qui Hòa chữa miễn phí để tránh gánh nặng cho gia đình. Theo họ hàng thì khi vào đây HMT chỉ mới chớm nổi vài mụn đỏ nho nhỏ trên mặt, bàn tay bắt đầu cứng khó cầm bút.

3. TÌNH YÊU, TÌNH BẠN

Trong đời tình cảm, những người đẹp gây những dấu ấn cho HMT là Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình và Thương Thương. Hoàng Cúc chỉ là một mở đầu của tiếng gọi con tim, chưa quen thân, chưa hò hẹn gì. Mộng Cầm gần gũi nhất, sâu đậm nhất, nhưng khi nghe HMT vướng bệnh thì nàng vội vả lên xe hoa đã làm cho HMT đau khổ xót xa. Mai Đình, người con gái nhân hậu đã xin được làm vợ để săn sóc, dù HMT từ chối, nàng vẫn ở bên cạnh lo thuốc thang… Mãi lâu sau khi HMT mất, gia đình hết lời khuyên nhủ, nàng mới chịu đi lấy chồng, nhưng vẫn xin chồng cho nàng được lập bàn thờ, treo ảnh HMT mãi cho đến khi nàng mất năm 1999 tại Sài Gòn. Thương Thương chỉ là cái bóng bé nhỏ dịu dàng từ xa, nhưng đã cho HMT nhiều ý thơ rất đẹp trong Cẩm Châu Duyên. Ngoài ra, theo Quách Tấn, HMT còn có Lê Thị Ngọc Sương, chị ruột Bích Khê, nhưng mối tình này chỉ như làn sương mỏng.

Thời tiền chiến, trong làng thơ có nhiều đôi bạn tri kỷ tuyệt vời như Xuân Diệu- Huy Cận, Huy Thông- Nguyễn Nhược Pháp, và Nhóm Thơ Bình Định gồm: Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Yến Lan, Chế Lan Viên. Bộ ngủ này rất tâm đắc cùng nổi tiếng, cùng có tên trong sách Thi Nhân Việt Nam, đã có tác phẩm xuất bản, chỉ trừ Yến Lan ghi có 1 tác phẩm sẽ xuất bản. Quách Tấn lớn tuổi nhất, nên được cả nhóm xem là đại ca. Tình bạn giữa Quách Tấn và HMT rất gần gũi thân thiết. Chính QT đề nghị HMT đổi chữ Mạc ra chữ Mặc… Và sau này cũng chính QT đứng ra xây mộ HMT tại Ghềnh Ráng còn lưu đến ngày nay và xuất bản toàn bộ tác phẩm của HMT. Quách Tấn là một thi sĩ nổi tiếng ngồi một mình một chiếu trong khuynh hướng thơ cổ điển, được Hoài Thanh nể phục, về sau (thập niên 60) được Phạm Công Thiện đề cao là một con chim Phượng Hoàng ở phương Đông. Ngoài 3 thi tập, 2 cuốn sưu khảo, ông còn trên 50 đầu sách chưa xuất bản. Năm 1940 ông có làm bài thơ “Mộng Thấy Hàn Mặc Tử” in trong thi tập Mùa Cổ Điển, bài thơ này nói lên tình cảm thắm thiết của ông đối với người bạn thơ:

Ơi Lệ Thanh! Ơi Lệ Thanh!
Một giấc trưa nay lại gặp mình .
Nhan sắc châu pha màu phú quý,
Tài hoa bút trổ nét tinh anh.
Rượu tràn thú cũ say sưa chuyện,
Hương tạ trời cao bát ngát tình.
Tôi khóc tôi cười vang cả mộng…
Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.

Người bạn thân khác của HMT là Bích Khê, một thi sĩ tài hoa mệnh bạc thuộc trường phái Thơ tượng trưng, mà Hoài Thanh đã phê bình: “Tôi đã gặp trong “Tinh Huyết” những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Tinh Huyết là một thi tập của BK. Bài Tỳ Bà được Phạm Duy phổ nhạc năm 1969. Đề tựa cho thi tập Tinh Huyết, HMT đã viết như sau:

“Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu… Ở “Tranh Lõa Thể” sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết.”

Người bạn khác của HMT là Yến Lan, có bài Bến My Lăng nổi tiếng trích trong thi tập Bến My Lăng được Hoài Thanh bình phẩm: “Không khí lạ lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích”.

Một người bạn khác của HMT là Chế Lan Viên, người đã từng hết lời ca ngợi thơ HMT. Mới 17 tuổi CLV đã xuất bản thi tập “Điêu Tàn” được Hoài Thanh đánh giá: “Vong linh đau khổ của nòi giống họ (Chiêm Thành) đã nhập vào Chế Lan Viên, cho nên dù không phải là người họ Chế, Chế Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm thành. Quyển Điêu Tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt nam như một niềm kinh dị.”

Tóm lại, năm thi tài gặp nhau, mỗi người mỗi vẻ, mỗi người đều có một chỗ đứng riêng biệt sáng chói trên thi đàn. Sự xuất hiện và kết hợp giữa họ với nhau từng gây nên một hiện tượng thơ ca vang dội và độc đáo nhất lúc bấy giờ.

4. CHÂN DUNG THẬT

Suốt nhiều năm qua, cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của HMT đã được dựng thành phim, kịch nói, cải lương, tuồng chèo, phổ nhạc… Hầu như ai đóng vai HMT cũng được hóa trang hình dạng quái dị, mặt mũi u nần, tay chân cùi cụt co quắp…

Trong bài viết “Hãy trả lại chân dung thật cho nhà thơ Hàn Mặc Tử” tác giả Hoàng Hương Trang sau khi đi nhiều nơi khảo sát, tìm hiểu… đã kết luận chân dung thật của nhà thơ HMT không đến nỗi tồi tệ như thế mà vẫn: “bình thường, lành lặn.”

Thi sĩ Hoàng Hương Trang cho biết, bà có tham khảo nhiều tài liệu, ảnh chụp còn lưu tại Bệnh Viện Qui Hòa nơi giường bệnh của HMT năm xưa, cũng như nghe nhiều vị bác sĩ, nữ tu, những nhân chứng từng sống chung với HMT, họ kể rõ về những ngày cuối cùng của HMT, cả người em chú bác với HMT từng theo chăm sóc HMT từ lúc mới bị bệnh cho đến lúc mất, cả những bệnh nhân đến nay vẫn còn sống tuổi khá thọ, (có người đã điều trị 45 năm hiện còn sống) họ đều cho biết chân dung HMT “vẫn nguyên vẹn, không sứt mẻ, quái gỡ.”

Ông Nguyễn văn Xê, bệnh nhân nằm chung phòng với HMT đã từng viết bài mô tả cái chết của HMT. HMT chỉ bệnh 4 năm. Do giai đoạn đầu gia đình chạy chữa theo các thầy lang gia truyền bắt ăn uống kiêng cử làm cơ thể suy nhược, nên khi vào bệnh viện, HMT đã kiệt sức. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết lại là kiệt lỵ chứ không phải phong cùi. Thư Ông Xê còn lưu tại Qui Hòa đề ngày 25-3-1941 viết: “Lúc bấy giờ trông thân thể nhà thi sĩ thật là thảm thê, tuy mặt mày chàng không bị chứng bệnh tàn phá đến nỗi nhàu nát, hay hóa nên quái gỡ…” Chính Ông Xê hiện còn sống ở trại Cái Sắn vẫn nguyên vẹn không sứt mẻ quái gỡ. Hàn Lệ Thu (nhà thơ, vì yêu thơ HMT mới lấy bút danh đó) nằm bệnh từ năm 16 tuổi tại Qui Hòa đến nay đã ngoài 60 tuổi vẫn nguyên vẹn hình hài, tự nấu nướng giặt giũ lấy. Các nữ tu cho biết người bệnh chữa trị sớm theo đúng quy cách thì không bị lở loét, vẫn lao động, có người thọ tới 80, có thể lập gia đình sinh con cái bình thường.

5. KẾT LUẬN

Bài này viết ra nhầm phác họa một vài nét chân dung Hàn Mặc Tử từ đời thường cho đến tác phẩm, để chúng ta có một cái nhìn bao quát về một nhà thơ thiên tài VN, hầu tránh những ngộ nhận, những nhầm lẫn… có thể xảy ra về HMT.

Với 8 tập thơ, 1 vở kịch thơ, cùng nhiều bài tiểu luận văn chương của HMTcòn để lại, thật vô cùng quý giá. Những ý thơ cao siêu, những ngôn ngữ thơ mới lạ mà cả Hoài Thanh lẫn Phạm Duy đều phải bỏ nhiều thì giờ để nghiên cứu “mệt lã”, “khó vô kể” cho thấy HMT có trình độ hiểu biết uyên thâm, có cái nhìn mới lạ, có cảm nhận siêu phàm mà người thường khó thể hiểu được.

Đến đây, tôi xin trích một câu trong bài viết “Kinh Vật Lộn và Phép Vượt Qua Trường Ca Hàn Mặc Tử của Phạm Duy” của Linh mục Trần Cao Tường sau đây để thay cho phần kết luận bài này:

“Hàn Mặc Tử, tên thật là Phanxicô Nguyễn Trọng Trí, một nhà thơ Thiên tài trong nền Văn học Việt Nam và là một nhà thần bí theo đạo Chúa , diễn được những huyền nhiệm vượt qua ngôn ngữ loài người.”

(Vinh Hồ – Orlando, 15-4-2004)

Tài liệu tham khảo:

– “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh, Hoài Chân, 1967
– “Kinh Vật Lộn Và Phép Vượt Qua Trường Ca Hàn Mặc Tử” L.M. Trần Cao Tường, Văn số 66, 67, 2002.
– “Nói Về Ca Khúc Và Thơ Phổ Nhạc” Phạm Duy, cùng số Văn trên.
– “Hãy Trả Lại “Chân Dung Thật” Cho Nhà Thơ Hàn Mặc Tử” Hoàng Hương Trang, Văn Nghệ số 48, ngày 26/12/2002.

hanmactu_ĐTVD thơ

Hàn Mặc Tử – nhà thơ có số phận kỳ lạ – Kỳ 5: Đây thôn Vỹ Dạ – bài thơ nhiều ẩn số

(Trần Đình Thu Việt Báo [Theo Thanh Niên])

Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn. Lúc này thân phụ Hoàng Cúc về hưu nên gia đình phải dọn về Huế. Cũng trong năm đó, chàng bắt đầu phát hiện những dấu hiệu của căn bệnh phong, nhưng chàng vẫn chưa quan tâm đến nó. Một thời gian rất lâu, căn bệnh mới phát mạnh.

Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc.

Chi tiết trên là theo Nguyễn Bá Tín. Còn theo nhiều tác giả khác thì Hoàng Cúc không gửi ảnh mình mà gửi một tấm bưu ảnh có mây nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có khóm tre, có cả ánh trăng hoặc là ánh nắng chiếu xuống. Một thời gian sau, nàng nhận được thư của Hàn Mặc Tử. Kèm theo bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng, Hàn Mặc Tử viết:

“Túc hạ! Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay là một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm, muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc phận lắm rồi. Mong ơn trên xuống độ cho túc hạ thật đầy và mong rằng một mùa xuân nào đấy sẽ gặp lại được túc hạ cho phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ”.

Đây thôn Vỹ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất của Hàn Mặc Tử trong tập thơ Điên. Bởi lúc này chàng đang trong thời kỳ bệnh tật, đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn tâm hồn. Thơ của chàng luôn luôn là những gào thét uất hận, nghẹn ngào. Bài thơ này, Nguyễn Bá Tín cho biết nguyên cái tựa ban đầu của nó là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Nhưng về sau đã được biên tập lại, bỏ đi chữ Ở.

Trong bài thơ, hình ảnh hàng cau được nhiều người khen ngợi, nhưng lại đem đến thắc mắc cho chính người được tặng thơ là Hoàng Cúc. Nàng đã không hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại viết câu thơ “Sao anh không về chơi thôn Vỹ/Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Thôn Vỹ Dạ, nằm bên kia Đập Đá, cư dân ở đây phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu. Kế thôn Vỹ Dạ là thôn Nam Phổ, một thôn bình dân, sống bằng nghề trồng cau. “Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh”. Cau Nam Phổ nổi tiếng khắp cả nước. Hằng năm đến mùa cau, già trẻ gái trai trong làng đều có thể trèo cau, hái cau để bán. Các cô gái Nam Phổ nổi tiếng trèo cau giỏi. Vì thế có câu “Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau”. Những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ bị xếp vào diện câu ví đó. Và vì thế ít ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ.

Như vậy, thì vì sao Hàn Mặc Tử lại lấy hình ảnh cây cau như là một biểu tượng cho thôn Vỹ Dạ? Bài thơ cũng tạo ra rất nhiều sự khó hiểu đối với độc giả trong các chi tiết khác. Chẳng hạn mấy câu thơ “Mơ khách đường xa, khách đường xa. Áo em trắng quá nhìn không ra” và “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Ai biết tình ai có đậm đà?”. Có nhiều ý kiến lý giải khác nhau, trong đó thậm chí có người cho rằng khổ thơ này chỉ những nàng kỹ nữ sông Hương như trên báo Giáo Viên Nhân Dân số tháng 1/1990.

Theo ý kiến một số người, hình ảnh “áo trắng nhìn không ra” là do Hoàng Cúc mặc chiếc áo dài màu trắng mà tấm hình cũ quá nên Hàn Mặc Tử không thấy rõ. Còn “sương khói mờ nhân ảnh” thì Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể là Hàn Mặc Tử muốn nói đến đời sống khói nhang cõi thiền của Hoàng Cúc.

Ngày tháng ra đời của bài thơ cũng gây bàn cãi. Trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 7/1/1990, tác giả Đào Quốc Toàn viết: “Bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ chỉ có thể được viết trong khoảng 1936-1937 chứ không thể viết vào năm 1939 được, bởi vì bài thơ này được Hàn Mặc Tử tập hợp lại ở tập Đau thương trong thời gian cuối 1937 đầu 1938. Tập thơ này gồm khoảng 50 bài thơ, lúc đầu lấy tên là Thơ điên”.

Đây cũng là vấn đề khó làm sáng tỏ. Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ này trong thời điểm nào? Nếu căn cứ vào trí nhớ của Hoàng Cúc thì bài thơ ra đời vào năm 1939. Trong thư gửi cho Quách Tấn vào ngày 15/10/1971, Hoàng Cúc viết:

“Vào khoảng hè 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử mắc bệnh nan y, và khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, để an ủi một tâm hồn đã vô cùng đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử mà không ký tên, rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ…”.

(Trần Đình Thu Việt Báo [Theo Thanh Niên])

NS Võ Tá Hân.
NS Võ Tá Hân.

Nhạc sĩ Võ Tá Hân người phổ nhạc nhiều album Phật giáo nhất

(Đạo Phật Ngày Nay thực hiện)

ĐPNN: Xin anh cho biết đôi dòng về tiểu sử và cơ duyên nào đã đưa anh đến với âm nhạc Phật giáo?

VTH: Tôi sinh ra ở Huế nhưng lớn lên ở Sài Gòn. Xong 7 năm Trung học tại trường Nguyễn Trãi thì nhận học bổng USAID Leadership sang Mỹ du học năm 1968. Sau khi tốt nghiệp Cử nhân và Thạc sĩ tại Viện Đại học Công nghệ Massachusetts (MIT), tôi sang Canada năm 1974. Là một ngân hàng gia quốc tế, tôi đã sống và làm việc ở Montreal, Toronto, Philippines rồi định cư tại Singapore từ 1981 và vừa về Mỹ từ 2010.

Trong thời gian trung học, tôi cũng theo học Guitar cổ điển tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn từ 1962 đến 1967 với cố giáo sư Dương Thiệu Tước. Sau khi sang Mỹ thì tôi cũng tiếp tục học thêm về Hòa âm, Đối âm và Phối khí dàn nhạc.

Xuất thân từ gia đình thuần thành Phật giáo (ông nội tôi, cụ Võ Chuẩn, là người đã xây nhiều chùa tại các nơi mà ông từng làm Tổng đốc như ở Kontum, Quảng Ngãi v.v…, thân phụ tôi là ông Võ Sum sau này cũng là sáng lập viên chùa Vạn Hạnh ở San Diego, Califormia, Hoa Kỳ, tôi cũng hay đến chùa và được nghe kinh từ nhỏ. Tuy nhiên ngay từ lúc ấy tôi thường tự hỏi rằng tại sao bên Thiên Chúa giáo có rất nhiều nhạc mà Phật giáo mình thì không. Thêm vào đó, tuy nghe kinh nhưng tôi có hiểu gì đâu! Do đó ngay từ thuở nhỏ, tôi đã mong có ngày sẽ tìm hiểu về các bài kinh Phật và làm sao để mang âm nhạc đến với Phật giáo!

Tôi bắt đầu sáng tác từ năm 1974 với ca khúc đầu tay là bài Nhớ mẹ, phổ từ bài thơ của người cô ruột là thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Đến năm 1993 tôi mới thực hiện CD đầu tiên với 10 ca khúc phổ thơ của thi sĩ Huỳnh Văn Dung, trong đó có bài Rất Huế. Khi đến CD thứ sáu thì một hôm, mẹ tôi có trách khéo là tại sao tôi chỉ viết nhạc tình mà lại không viết nhạc Phật! Nhân có tập kinh Khóa lễ đại chúng do chùa Liên Hoa ở Arlington, Texas gửi tặng, tôi bèn ngồi ngay vào piano và phổ nhạc đoạn “Phục nguyện”. Sau đó một thời gian thì CD Dâng hương ra đời…

ĐPNN: Cho đến nay anh đã sáng tác được bao nhiêu nhạc phẩm Phật giáo?

VTH: Thực sự thì tôi không rõ là mình đã viết được bao nhiêu bài mà chỉ biết đã phát hành khoảng 30 CD các ca khúc Phật giáo, phổ nhạc các bài Kệ, Niệm Phật, Thiền Ca, nhạc Gia đình Phật tử, ca khúc về Mẹ cho mùa Vu lan v.v… Về nhạc kinh thì có Trường ca kinh Pháp Cú, Trường ca kinh Phổ Môn, Trường ca kinh A Di Đà, Trường ca kinh Vu Lan. Mới đây thì tôi phổ nhạc những bài Chú tiếng Phạn như Chú Đại bi, Tiêu tai cát tường thần chú, và bài kinh Đại Thế Chí niệm Phật viên thông v.v… Những nhạc phẩm này đều có trên mạng tại www. votahan.com/nhac hoặc http://www.votahan.com/nhac/KinhKePhatGiao

ĐPNN: Trong quá trình sáng tác thì anh có những kỷ niệm nào đặc biệt có thể chia sẻ với độc giả?

VTH: Tôi có cảm tưởng dường như những việc Phật sự mà chúng ta làm đều thấu đến chư Thiên và luôn có giúp đỡ nào đó xảy đến tại những khúc quanh quan trọng…

Khi tôi vừa viết xong nốt nhạc cuối cùng của tập Dâng hương thì chỉ trong vòng vài giờ sau, cơ duyên đưa đẩy khiến thầy Giác Đẳng trên đường từ Mỹ sang Malaysia lại ghé Singapore và đến thăm nhà tôi. Thầy giúp tôi sửa lại các chỗ sai trong phần lời kinh, rồi sau đó gửi bài Kệ Phật sử để phổ nhạc. Sống ở Singapore là nơi không có chùa Việt Nam, sau cả chục năm mới được vị sư ghé đến nhà lại đúng lúc ấy thì quả là một điều vô cùng hy hữu!

Khi tôi bắt đầu phổ nhạc Kinh A Di Đà thì tình cờ lại được thầy Nhật Từ tặng cho quyển kinh đã được Việt hóa. Thầy Nhật Từ không những đã khuyến khích và hướng dẫn tôi hoàn thành Trường ca kinh A Di Đà mà còn dành thì giờ đến tận phòng thu Quang Đạt để hướng dẫn giúp phần thâu trống chuông mõ cho đúng nghi thức Phật giáo. Sau đó thì cũng nhờ các tập kinh Việt hóa khác của thầy mà tôi hoàn thành Trường ca kinh Phổ Môn, Kinh Vu Lan v.v…

Những sự giúp đỡ “vô hình” có khi đến một cách rất huyền diệu như trong trường hợp tôi cần tìm danh hiệu của ngài Đại Thế Chí Bồ tát để phổ nhạc! Lại có những lúc nát óc tìm lối ra cho dòng nhạc thì câu trả lời đến trong giấc mơ. Thật hết sức kỳ diệu!

NS Võ Tá Hân và NS Trịnh Công Sơn.
NS Võ Tá Hân và NS Trịnh Công Sơn.

ĐPNN: Xin anh cho biết bài nhạc nào mà anh thích nhất?

VTH: Thực cũng khó trả lời vì tôi đã viết khoảng năm sáu trăm bài gì đó nhưng trong trí thì luôn nghĩ đến bài nhạc đang hoặc sắp viết mà chẳng mấy khi nhìn lại con đường đã qua! Tuy nhiên khi được hỏi thì tôi chợt nghĩ đến bài Con chuồn chuồn, là bài nhạc rất ngắn, viết cho các em Oanh Vũ Gia đình Phật tử (GĐPT). Đây là một trong số 180 bài nhạc GĐPT viết cho tuổi trẻ, phổ từ các bài thơ của anh Tuệ Kiên.

ĐPNN: Anh có dự tính gì trong tương lai?

VTH: Trước mắt thì tôi vẫn tiếp tục phổ nhạc các bộ kinh khác và hy vọng có thể phát hành CD. Chỉ có điều là chi phí thực hiện mỗi CD đều rất cao, nhưng ngày càng khó bán vì việc sao chép ngày nay quá dễ dàng. Người muốn nghe nhạc mới thì nhiều nhưng đóng góp thì chẳng bao nhiêu! Ngoài ra tôi cũng mong xuất phát từ những đơn vị GĐPT sẽ có những ca đoàn Phật giáo hùng mạnh để quảng bá âm nhạc Phật giáo rộng lớn hơn, do đó tôi đã chú trọng nhiều đến các nhạc phẩm viết cho ban hợp ca.

ĐPNN: Anh có lời nhắn nhủ hay ước vọng gì không?

VTH: Tôi cảm thấy rất may mắn đã có những ca khúc Phật giáo được nhiều người ngưỡng mộ, tuy nhiên những công trình âm nhạc này không phải là thành quả của riêng cá nhân để mình có thể tự hào, mà là nhờ vào sự đóng góp của rất nhiều người khác đã âm thầm giúp đỡ từ nhiều năm qua. Tôi muốn nhân đây gửi lời chân thành cám ơn đến những người bạn đã gửi những bài thơ để phổ nhạc và giúp tôi rất nhiều về phần ca từ, đặc biệt nhất là anh Tuệ Kiên Vũ Văn Sang ở Texas và cô em gái Diệu Hạnh Võ Giao Trinh ở Paris.

Tôi cũng xin cám ơn các ca sĩ đã giúp diễn tả các ca khúc rất sâu sắc, chân tình, đặc biệt là Bảo Yến, Trung Hậu, Hạnh Nguyên, Bích Hồng, Bích Phượng, Thùy Dương, Vân Khánh, Mai Hậu, Quang Minh, Tấn Đạt, Khắc Dũng, nhóm Cadillac, nhóm Hoa Giấy v.v… Hai nhạc sĩ Quốc Dũng và Quang Đạt đã giúp mang lại sức sống cho những nốt nhạc của tôi trên trang giấy. Huynh trưởng Giác Tịnh giúp các ca khúc này được chắp cánh bay đến với các đơn vị GĐPT tại khắp miền đất nước.

Xin tri ơn quý thầy đã khuyến khích và hướng dẫn về những lời kinh kệ phổ nhạc. Xin cám ơn người bạn đời CTTN Kim Châu đã tạo điều kiện để tôi có thể yên tâm dành thì giờ cho âm nhạc và cuối cùng xin cám ơn người “fan” nhiệt thành nhất là… Mẹ tôi!

ĐPNN: Xin cảm ơn anh Minh Hoan Võ Tá Hân.

(Đạo Phật Ngày Nay thực hiện)

oOOo

Đây Thôn Vĩ Dạ – Nghệ sĩ Thúy Vinh diễn ngâm:

 

Đây Thôn Vĩ Dạ – Ca sĩ Vân Khánh:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s