Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Mimosa Thôi Nở” – Nhất Tuấn & Đan Thọ

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Phần giới thiệu của mình trong đề mục “Thơ Phổ Nhạc” trong Tân Nhạc Việt Nam đến các bạn hôm nay là thi khúc “Mimosa Thôi Nở” của Thi sĩ Nhất TuấnNhạc sĩ Đan Thọ.

Thi sĩ Nhất Tuấn tên thật là Phạm Hậu. Quê ở Ninh Bình nhưng sinh trưởng tại Nam Định.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam và định cư tại Đà Lạt. Ông gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1955. Sau khi tốt nghiệp ra trường ông phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam cho đến 30/4/1975.

Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng:

– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Đông Hà & Huế (1962)
– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Nha Trang (1966)
– Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Sài Gòn (1968)
– Giám đốc Nha Nghiên Cứu Kế Hoạch (1970)
– Giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh (1971)
– Tổng Giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã (1974)

Thi sĩ Nhất Tuấn.
Thi sĩ Nhất Tuấn.

Các tác phẩm của ông đã xuất bản:

– “Truyện Chúng Mình” (gồm ba tập thơ, tự xuất bản 1959-1963)
– “Truyện Chúng Mình” (tái bản trọn bộ năm tập, Khai Trí, 1964)
– “Đời Lính I, II” (tập truyện, Khai Trí, 1965)

Hơn 40 bài thơ trong tập thơ “Truyện Chúng Mình” đã được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc từ trước 1975 cho đến nay.

Hiện ông đang định cư tại Thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

Nhạc sĩ Đan Thọ, Houston 2006 (Hình: Hồ Đình Vũ).
Nhạc sĩ Đan Thọ, Houston 2006 (Hình: Hồ Đình Vũ).

Nhạc sĩ Đan Thọ tên thật Đan Đình Thọ, sinh năm 1924 tại Nam Định. Ông theo học chữ và học nhạc tại trường Saint Thomas D’Aquin. Đến năm 1942, ông bắt đầu theo học về hòa âm và sáng tác với các giáo sư Tạ Phước và Vũ Đình Dự. Ông từng là Trưởng Ban Nhạc Nhẹ – Đài Phát Thanh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa – từ năm 1956 đến năm 1965.

Nhạc sĩ Đan Thọ sáng tác rất ít, nhưng những sáng tác của ông luôn được giới âm nhạc đánh giá rất cao. Những nhạc phẩm của ông luôn tạo ra những nét quyến rũ bằng âm thanh và giai điệu.

Năm 1956, nhạc sĩ Đan Thọ nổi tiếng khi ông phổ nhạc bài thơ “Chiều Tím” của thi sĩ Đinh Hùng. Thi khúc này đã được rất nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ trình bày và cũng là tác phẩm gắn liền với tên tuổi của ông xưa nay.

Với âm điệu du dương và tình tứ, “Chiều Tím” đã làm say mê bất cứ ai có dịp thưởng thức. Đây cũng là một trong những tác phẩm đặc sắc của kho tàng Tân Nhạc Việt Nam”. (Theo Baron Trịnh)

nhattuan_Mimosa Thôi Nở1

Thi phẩm “Mimosa Thôi Nở” (Thi sĩ Nhất Tuấn)

Noël xưa anh nhớ
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu
Mimosa… bừng nở
Đẹp như tình ban đầu
Đà lạt mờ trăng lạnh
Đường về ta bước mau.

Rồi anh hỏi khẽ em
Đã xin gì với Chúa
Trong đêm lễ Noël
Em lắc đầu chả nhớ
Nhưng hồng lên đôi má
Nắm tay anh đợi chờ
Trông em sao xinh quá
Và ngoan như nàng thơ.
Mới bốn mùa thu qua
Mimosa vẫn nở
Sao mối tình đôi ta
Ai làm cho dang dở
Đêm nay Noël đây
Chuông nhà thờ khắc khoải
Gió đồi lang thang bay
Mưa buồn giăng ngõ tối.

Anh quỳ bên tượng Chúa
Cúi đầu chắp hai tay
Lạy Chúa con chờ đợi
Người ngày xưa về đây
Nhưng em không về nữa
Đường khuya mưa bay bay
Mimosa thôi nở
Trong hồn anh đêm nay.

nhattuan_ĐB

Thi khúc “Mimosa Thôi Nở” (Nhạc sĩ Đan Thọ)

NOEL xưa anh nhớ:
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu
MIMOSA, MIMOSA, MIMOSA bừng nở …
Ðẹp như tình ban đầu
Mới bốn mùa thu qua
MIMOSA, MIMOSA, MIMOSA vẫn nở …
Sao mối tình đôi ta
Ai làm cho dang dở ?

Nhưng em không về nữa
Ðường khuya mưa bay bay
MIMOSA, MIMOSA, MIMOSA thôi nở …
Trong hồn anh đêm nay …

Dưới đây mình có các bài:

– Đan Thọ, “những hạt giống đất /trời trong tâm hồn nhiều thế hệ.
– Truyện Chúng Mình – (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ – #25)

Cùng với clip thi khúc “Mimosa Thôi Nở” do ca sĩ Duy Quang diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhạc sĩ Đan Thọ, Houston 2006 (Hình: Hồ Đình Vũ).
Nhạc sĩ Đan Thọ, Houston 2006 (Hình: Hồ Đình Vũ).

Đan Thọ, “những hạt giống đất /trời trong tâm hồn nhiều thế hệ.

(Du Tử Lê – 07/18/2013 0 – 4:32 PM)

Nhắc tới người phụ nữ mấy chục năm liên tiếp, chong đèn cuối khuya, đợi chồng – – Bà Đan Thọ, trong một bài viết, cố nhà báo Trường Kỳ ghi nhận:

“Nhớ lại khoảng thời gian dài hoạt động không ngưng nghỉ của người chồng nghệ sĩ, bà Đan Thọ cũng đã phải khâm phục sức làm việc của ông. Điều đó cũng đã chứng tỏ được sự thông cảm lớn lao của bà khi Đan Thọ dấn thân vào con đường phục vụ âm nhạc.

“Đáng ghi nhận hơn cả là thời gian ông còn ở Sài Gòn: ‘Chưa bao giờ ông ấy có mặt ở nhà trước 2 giờ sáng… Từ sáng cho đến 2 giờ đêm, ông ấy ở đâu chứ không ở nhà’. Với một vẻ âu yếm, bà nói thêm ‘Ông ấy muốn làm gì ông ấy cứ việc làm, nhưng mà 2 giờ tôi cứ ngồi đợi cửa. Không bao giờ tôi đi ngủ trước, mấy chục năm như vậy. Thành ra ông ấy đâu có dám đi đâu vì biết tôi ngồi đợi cửa mà!’, như lời kể của bà Đan Thọ.

“Một điều không ai ngờ là trong suốt quá trình hoạt động của Đan Thọ, hầu như chưa hề ai thấy mặt vợ ông tại vũ trường cũng như tại các đài phát thanh ông cộng tác. Hai vợ chồng nhạc sĩ Đan Thọ hiện đang hưởng những chuỗi ngày nhàn hạ, nương tựa nhau trong lúc xế chiều tại Houston với sự thường xuyên liên lạc hay gặp gỡ con cháu từ Tampa đến Houston.

“Khá nhiều bạn bè nghệ sĩ cùng thời với ông đã nhắm mắt xuôi tay. Riêng Đan Thọ còn đây trong những buổi chiều tím của cuộc đời. Chắc hẳn người nhạc sĩ lão thành đang mỉm cười mãn nguyện với những gì ông đã cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam, trong vai trò một nhạc sĩ sáng tác và nhất là một nhạc sĩ trình diễn bên cạnh cây vĩ cầm, giờ đây đã im tiếng. Còn chăng chỉ còn là vang vọng dư âm của những ngày xưa cũ…” (6)

Tôi vẫn nghĩ, nếu có những “im tiếng” hiểu theo nghĩa bặt tăm, như lẽ tự nhiên của một đời người thì, quanh đời sống ta, cũng có những “im tiếng” nghịch lý. Tôi muốn nói tới những trường hợp chính sự “im tiếng” về phương diện thể chất ấy, lại giúp cho những tiếng nói khác sáng lên. Đằm thắm hơn. Rực rỡ hơn. Ý nghĩa hơn. Và, vì thế, những tiếng nói khác đó, lại nhận được nhiều hơn, những biết ơn, từ phía đám đông: Những người đứng ở mặt bên kia của sự “im tiếng”.

Nhạc sĩ Đan Thọ và Nhà Văn Phan Lạc Tuyên (Hình: Hồ Đình Vũ).
Nhạc sĩ Đan Thọ và Nhà Văn Phan Lạc Tuyên (Hình: Hồ Đình Vũ).

Cụ thể, ta thấy sự “đi xa” của các nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Trần Thiện Thanh, Trầm Tử Thiêng, Nguyễn Đức Quang v.v… khiến khi nghe lại sáng tác của họ, dường như chúng hay hơn, cảm động hơn… Tâm lý này cũng đến với những người hôm nay, đọc lại thơ của những tên tuổi như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên sa, Mai Thảo…

“Chùm dây vĩ cầm” của chúng ta, khác hơn. Ông hiện còn và, có thể sẽ còn ở với những người yêu ca khúc của ông, nhiều chục năm nữa. Nhưng “Chiều Tím”, “Tình Quê Hương” hai ca khúc phổ từ thơ của ông, cũng có phần lấp lánh, ngọt ngào hơn, khi tiếng vĩ cầm của ông đã không còn vang dội đêm thâu..

Tôi nghĩ, nói tới thơ phổ nhạc là nói tới tính gắn bó giữa thi ca và âm nhạc, như một cặp song sinh có chung một định mệnh. Hầu như, các nhạc sĩ của chúng ta, chí ít cũng đôi lần tìm đến thi ca, như tìm đến người tình lý tưởng, trong định mệnh âm nhạc của đời họ.

Lại nữa, nếu có những bài thơ đã được một nhạc sĩ nào đó, soạn thành ca khúc thì, điều đó, vẫn không có nghĩa là sẽ không có một hay nhiều nhạc sĩ khác tìm đến, để thi triển võ công mình. Nhưng, vẫn theo tôi, lịch sử thơ phổ nhạc của chúng ta cũng cho thấy, có những bài thơ một khi đã trở thành ca khúc thì không còn một nhạc sĩ nào muốn tìm tới nữa. Nếu đó là một phối ngẫu tuyệt hảo giữa thơ và nhạc. Điển hình như không một nhạc sĩ nào còn muốn thi thố võ công của họ với “Ngậm Ngùi”! Khi lục bát Huy Cận đã bị Phạm Duy “chặn cửa”. Hoặc một “Chiều”, thơ 5 chữ của Hồ Dzếnh, “Mộng Dưới Hoa” thơ 7 chữ của Đinh Hùng, đã bị Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương…”Khóa sổ”.

Tại sao? Câu trả lời có dễ vì những kết hợp kia không chỉ đạt tới mức cao nhất của một hôn phối tuyệt hảo mà, mỗi nốt nhạc của những tài hoa vừa kể đã nhập được vào hồn riêng của từng con chữ thi ca.

Câu trả lời này, cũng giải mã phần nào sự ngừng chân, đứng lại của các nhạc sĩ khác trước “Chiều Tím” và, “Tình Quê Hương” của Đan Thọ.

Đan Thọ phổ nhạc thơ không nhiều. Nhưng nếu:

“Chiều tím chiều nhớ thương ai, người em tóc dài
Sầu trên phím đàn, tình vương không gian
Mây bay quan san, có hay?

“Đàn nhớ từng cánh hoa bay, vầng trăng viễn hoài
Màu xanh ước thề, dòng sông trôi đi
Lúc chia tay còn nhớ chăng?

“Ai nhớ … mắt xanh năm nào
Chiều thu soi bóng, nắng chưa phai màu
Kề hai mái đầu nhìn mây tím … nhớ nhau …

“Chiều tím chiều nhớ thương ai, còn thương nhớ hoài
Đàn ơi nhắn dùm người đi phương nao
Nếp chinh bào biếc ánh sao …” (7)

Cho thấy giai điệu đã choàng thêm nhiều vòng hoa lãng mạn cho gốc cây lãng mạn của lời thơ; đưa niềm thương nhớ tới những chân trời bát ngát hoa bay, cùng vầng trăng xa xôi và, dòng sông trôi đi, mang theo mọi hy vọng của lời thề nguyền lúc chia tay của đôi tình nhân…Thì ở ca khúc “Tình Quê Hương”:

“Anh về qua xóm nhỏ,
Em chờ dưới bóng dừa.
Nắng chiều lên mái tóc,
Tình quê hương đơn sơ.
“Quê em nghèo, cát trắng,

Tóc em lúa vừa xanh.
Anh là người lính chiến,
Áo bạc màu đấu tranh .
“Em mời anh dừng lại,

Đêm trăng ướt lá dừa,
Bên nồi khoai mới luộc,
ngát hương vườn ngâu thưa
Em hẹn em sẽ kể:
Tình quê hương đơn sơ
“Mẹ già như chiều nắng,

Nhớ con trai chưa về,
Ruộng nghèo không đủ thóc
Vườn nghèo nong tằm thưa
Ngõ buồn màu hoang loạn
Quê nghèo thêm xác xơ…” (8)

Lại hiến tặng cho người nghe một giai điệu thiết tha khác. Cái thiết tha thắm đậm tính chất đơn sơ của khung cảnh thôn dã. Cũng là “đêm trăng” cũng là “lời hẹn”, cũng là “hương thơm” một tình yêu… Nhưng đó là “Đêm trăng ướt lá dừa” và, “bên nồi khoai mới luộc”. Cũng là “Em hẹn em sẽ kể” – – Nhưng đó là lời hẹn kể về một tình yêu hay “Tình quê hương đơn sơ”(?) Và, cũng là “ngát hương”, nhưng đó là hương của “vườn ngâu thưa”- – Không phải là mùi hương trong hồi tưởng… “tìm trong tiếng đàn … mùi hương chưa phai” (trong Chiều tím).

Đó là hai khía cạnh đời sống tinh thần, vốn luôn hiện hữu trong tâm hồn dân tộc Việt. Nhưng sự khác biệt của hai ca khúc này, giống như trời và đất!.

Bằng vào tài hoa riêng của mình, nhạc sĩ Đan Thọ đã thả những hạt giống “trời /đất” kia sâu trong tâm hồn nhiều thế hệ.

(Du Tử Lê – Garden Grove, July 18-2013)

________
Chú thích:
(6), (7), (8) Nđd.

Thi sĩ Nhất Tuấn.
Thi sĩ Nhất Tuấn.

Truyện Chúng Mình – (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ – #25)

Đà Lạt luôn ở trong trái tim nhà thơ NHẤT TUẤN (Phạm Hậu). Trước 1975 nhà thơ là quân nhân, gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, năm 1955, Khóa XII. Nhà thơ được biết đến nhiều qua những tập thơ “Truyện chúng mình” và tập truyện “Đời lính”. Thơ NHẤT TUẤN thuở xa xưa đầy những hình ảnh thân thương về thành phố Đà Lạt.

Thoạt tiên tình yêu thấp thoáng trong bài thơ “Truyện chúng mình”, chỉ gợi lên nỗi nhớ mong của người ở Đà Lạt bị xa cách với người ở Sài Gòn:

“Còn nhớ những thư người trước gửi
Sài gòn – Đà lạt mới năm nào
Từng chiều thứ bảy anh mong đợi
Màu chữ xanh, yêu đến ngọt ngào

Hồn có nguyên trinh màu trắng cũ
Môi hồng vẫn thắm thuở ban đầu
Không dưng lòng rộn niềm ao-ước
Nhưng biết ai còn nhớ đến nhau.”

Trong đời lính, phải rời xa Đà Lạt, từ nơi tiền đồn biên giới nhà thơ gửi lòng nhung nhớ về thành phố này nhân mùa Giáng Sinh khi viết bài “Niềm tin” cũng đầy mong nhớ:

“Lại một Noël nữa
Mấy mùa Giáng Sinh rồi
Anh ở đồn biên giới
Thương về một khung trời.

Chắc Đà lạt vui lắm
Mimosa nở vàng
Anh đào khoe sắc thắm
Hương ngào ngạt không gian.”

Sau khi tình yêu nơi giáo đường xuất hiện, trong hồi tưởng, nhà thơ chỉ nguyện cầu, ước mong “thấy” được người yêu nơi bài thơ “Cầu nguyện” (chứ không phải mong “lấy” được người yêu như bản nhạc đã đổi lời):

“Con quỳ lạy chúa trên trời
Để cho con thấy được người con yêu
Đời con đau khổ đã nhiều
Kể từ thơ dại đủ điều đắng cay

Bây giờ con đã gặp nàng
Không giàu, không đẹp, không màng lợi danh.
Chúng con hai mái đầu xanh
Chấp tay khấn nguyện trung thành với nhau.
Thề rằng sóng gió biển dâu,
Đã yêu… trước cũng như sau… giữ lời

Người ta lại bỏ con rồi,
Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con.”

Mùa Giáng Sinh thường là thời điểm kỳ diệu nhất trong suốt cả một năm với tiếng chuông nhà thờ ngân nga trong đêm vắng, với ánh nến lung linh huyền ảo và giọng thánh ca trầm bổng gợi lên những cảm xúc thanh thoát, êm đềm và thánh thiện trong lòng người. Bên giáo đường hoa mimosa Đà Lạt khoe sắc vàng tươi thắm, nhưng trong lòng nhà thơ lại chỉ nổi lên kỷ niệm buồn bã với bài “Mimosa thôi nở”:

“Noël xưa anh nhớ
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu
Mimosa… bừng nở
Đẹp như tình ban đầu
Đà lạt mờ trăng lạnh
Đường về ta bước mau.

Rồi anh hỏi khẽ em
Đã xin gì với Chúa
Trong đêm lễ Noël
Em lắc đầu chả nhớ
Nhưng hồng lên đôi má
Nắm tay anh đợi chờ
Trông em sao xinh quá
Và ngoan như nàng thơ.
Mới bốn mùa thu qua
Mimosa vẫn nở
Sao mối tình đôi ta
Ai làm cho dang dở
Đêm nay Noël đây
Chuông nhà thờ khắc khoải
Gió đồi lang thang bay
Mưa buồn giăng ngõ tối.

Anh quỳ bên tượng Chúa
Cúi đầu chắp hai tay
Lạy Chúa con chờ đợi
Người ngày xưa về đây
Nhưng em không về nữa
Đường khuya mưa bay bay
Mimosa thôi nở
Trong hồn anh đêm nay.”

Trong bài thơ “Truyện cây hoa Mimosa” (1964), lại cũng vẫn thoáng lộ ra vẻ giận hờn, trách móc vì tình phụ:

“Một đi vĩnh biệt cao nguyên
Mimosa trả… cho miền núi non
Làm gì có chuyện sắt son
Thì thôi đừng dại mỏi mòn mắt trông.”

Trước từng cùng “người xưa dịu hiền” kề vai nhau tình tự ngồi bên hồ Than Thở. Nay sao lại đã xa nhau, chỉ còn lại lời thở than tiếc nhớ dĩ vãng kỷ niệm trong “Bài hát đồi Sim”:

“Đà lạt đầy sương khói
Một mình anh lặng yên
Nghe hồn mình nức nở
Nghe buồn len trong tim
Nếu mình đừng gặp nhau
Trên núi đồi Đà lạt
Vì tình yêu ban đầu
Đã tan theo sóng nhạc.
Người xưa… người xưa đâu?
Để… lòng anh tan nát
Đời bãi bể nương dâu
Cũng buồn như tiếng hát.”

Đà Lạt rất thích hợp để làm bối cảnh cho những truyện tình. Cũng vẫn hồ Than Thở Đà Lạt là nơi đôi lứa từng vui chơi với hoa “bất tử” là sứ giả của tình yêu. Nhưng nay sao chỉ còn là một kỷ niệm “tàn nhẫn” trong bài “Cánh Immortel cuối cùng” (1964):

“Hôm xưa đi chơi hồ Than Thở
Em ngắt bên đường một đóa hoa
Rồi chạy đến anh cười hớn hở
Đây hoa bất tử như tình ta.

Từ dạo sân nhà em đỏ pháo
Em cùng người ấy sống yên bình
Đêm đêm úp mặt vào tay bảo
Nào có ra chi… truyện chúng mình.

Anh quên màu đỏ trong hoa đó
Màu đỏ là màu của biệt-ly
Và của bao nhiêu sầu hận tủi
Giờ đây còn biết nói năng chi.
Cánh hoa bất tử rơi lần chót
Tàn nhẫn như người rũ áo đi.”

Một ngày nào đó khi hồi tưởng về thành phố cao nguyên với tình yêu đẹp đẽ tràn đầy mộng ước lúc mình còn là sinh viên võ bị, NHẤT TUẤN viết bài “Nhớ về Đà lạt” (1964):

“Nhớ tám năm về trước
Khi còn là sinh viên
Học trong trường Võ bị
Nơi núi rừng cao nguyên

Dạo ấy em mười tám
Xinh đẹp hơn tiên nga
Tóc mây bồng vương trán
Môi cười tươi như hoa”

Đôi lứa đắm mình trong phong cảnh hữu tình của Đà Lạt:

“Còn nhớ không ngày xưa
Đà lạt buồn trăng mờ
Gió vàng trên nước biếc
Chim chiều bay bơ vơ”

Thời gian trôi qua. Cảnh vẫn còn đó. Người xưa đã cách xa. Để rồi lại cũng vẫn đầy hình ảnh dang dở chia ly vào giai đoạn cuối của khúc nhạc tình:

“Rừng ái ân vẫn đó
Hồ Than thở còn đây
Thông im buồn đợi gió
Mây đồi xa còn bay

Cũng vẫn một khung trời
Còn nguyên hình ảnh cũ
Em bây giờ xa rồi
Tìm đâu người viễn xứ

Tình nào không dang dở
Màu nào mà không phai
Cho nên anh không nỡ
Làm thơ để trách ai

Riêng chiều nay nhớ lại
Truyện chúng mình ngày xưa
Nhìn khung trời Đà lạt
Mà tưởng mình đang mơ.”

Và còn nhiều cuộc tình dang dở với bóng dáng Đà Lạt khác nữa trong thơ NHẤT TUẤN. Khi mưa Đà Lạt giăng mắc trên thành phố thời nhà thơ ngậm ngùi nhớ lại hình ảnh cũ, đầy ngang trái và nát tan, nhà thơ viết bài “Mưa trong kỷ niệm”. Một ngôi giáo đường nhỏ bé của Đà Lạt cũng gợi nhớ một mùa Giáng Sinh với hoa anh đào khoe sắc thắm, nhà thơ viết bài “Nhà thờ đường Cô Giang”. Một tiếng hát, một bài hát ngày xưa cũng lại nhắc nhở tới kỷ niệm chia ly cũ, nhà thơ viết bài “Đêm cuối cùng Đà lạt”.

Người yêu thơ có lẽ phải nhận ra rằng NHẤT TUẤN, với những vần thơ lai láng trữ tình trong “Truyện chúng mình” không phải chỉ là truyện riêng tư “thì thầm bên gối” giữa hai người nữa mà đã hóa thành “truyện chúng mình” của bao nhiêu là đôi tình nhân thanh niên nam nữ khác. Nhà thơ đã viết hộ xuống những trang nhật ký về tình yêu của bao người trẻ tuổi. Khi thì đằm thắm thiết tha. Nhiều lúc lại dang dở não sầu, phải cần đến thời gian như là một loại linh dược để dần dần hàn gắn các vết thương lòng trong quá khứ. Có thể coi đây là tâm sự chung của một thế hệ thanh niên thời đó, đồng một lứa tuổi với tác giả.

Trong cuộc sống tha hương, khi mùa Xuân tới biết bao là hình ảnh Đà Lạt lại chập chờn hiện về trong ký ức. Tình yêu đã mở rộng ngoài tầm “đôi lứa”. Tuy vẫn buồn nhưng hình ảnh ngôi trường xưa yêu quý hiển hiện như một vì sao sáng trong bài “Lại một xuân buồn” (1985):

“Nhớ Bích Câu Đà lạt thoáng mưa bay
Hồ Than Thở cùng lòng ai hòa nhịp
Rừng Ái Ân với ngàn thông xanh biếc
Thác Gougah, cây gọi gió than van
Đồi 15 đâu đó cụm mai vàng
Giáng Sinh tới Anh đào khoe sắc thắm
Mimosa sương long lanh đọng nắng
Chiều Lâm Viên, bản Thượng khói dâng cao
Những kỷ niệm xưa thân ái biết bao…
Ghi lại thuở bên nhau nơi Trường Mẹ!”

Trong cuộc sống tại ngước ngoài, khi cảm tác “Truyện chúng mình hải ngoại” NHẤT TUẤN viết: “Thôi trang đời đã khép”:

“Và những chiều Đà lạt
Một mình trên đồi thông
Mưa nhạt nhoà trong mắt
Gửi sầu… vào mênh mông.”

Bài “Ảo ảnh” cũng vẫn khắc ghi lại kỷ niệm uá sầu khôn nguôi:

“Xin giữ mãi kỷ niệm buồn Đà lạt
Giữa đồi thông rừng cỏ non xanh ngắt
Nhớ điên cuồng trong một phút bâng khuâng.”

Phải chăng có lẽ để tưởng vọng về thành phố Đà Lạt mưa giăng, sương phủ với núi đồi thông xanh đầy ắp những kỷ niệm ngày xa xưa một phần đời của mình còn gửi lại nơi chốn ấy vì thế mà trong chuỗi ngày ly hương và khi mái tóc chớm điểm bạc nhà thơ đã chọn về định cư ở một thành phố cũng giăng mưa với ngàn thông xanh hoài ngàn năm giữa một miền đồi núi chập chùng ở vùng trời tây bắc Hoa Kỳ, đó là Seattle?

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ” – Soạn giả: LS Ngô Tằng Giao)

oOo

Mimosa Thôi Nở – Ca sĩ Duy Quang:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s