Nhạc cụ cổ truyền VN – Pí

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các loại nhạc cụ mang họ của Việt Nam

Pí Pặp là nhạc cụ hơi phổ biến ở cộng đồng người Thái, Việt Nam. Nó là một ống nứa dài từ 30 đến 40 cm, đường kính nho hơn hoặc bằng 1 cm. Pí pặc có một đầu bịt mấu kín, sát mấu là một lỗ hình chữ nhật với cạnh ngắn 0,4 cm và cạnh dài 1,5 cm. Lỗ này được bịt kín bằng một miếng đồng hoặc bạc dát mỏng chứa bên trong lưỡi gà tam giác.

Trên thân ống, có sáu lỗ bấm nằm từ đoạn giữa ống đến phần cuối ống (một lỗ nằm ở phía mặt sau, năm lỗ còn lại nằm cùng hàng với lưỡi gà). Tuy 6 lỗ bấm nhưng nghệ nhân chỉ dùng năm lỗ để tạo ra sáu âm, nếu tính tờ khóa Sol Pí Pặp bắt đầu từ âm thấp nhất là:

Si giáng rồi đến Rê, Fa, Sol, LaĐô.

Nghệ nhân ngậm phân ống có lưỡi vào miệng, giữ thân ống nằm ngang hơi chếch xuống để thổi. Âm thanh phát ra âm nhưng rè, riêng những âm bồi thì trong và vang.

Pí Pặp là nhạc cụ do nam giới sử dụng. Họ thường đệm cho bài hát cho con gái. Khi thổi một mình họ chơi lại phần đệm ấy với ít nhiều biến tấu.

Người Thái cũng hay chơi một đôi Pí Pặp được nối song song với nhau gọi là Pí Đôi. Hai chiếc pí này có kích thước bằng nhau, cùng được định âm. Nghệ nhân chỉ dùng các lỗ bấm của một ống để tạo ra giai điệu khi thổi, còn ống thứ 2 giữ nhiệm vụ phát ra bè rền trì tục (ostinato) dù có đủ các lỗ bấm (không bấm vào các lỗ này). Do đó ống phát giai điệu sẽ có âm thanh vang và trong, ống bè nên rè và giòn.

Pí Pặp.
Pí Pặp.
Pí Đôi.
Pí Đôi.

Pí Đôi làm bằng 2 ống nứa tép được buộc ghép song song, đường kính 1 cm, cùng chiều dài 30 – 35 cm, mỗi đầu ống đều có mấu kín. Ngay sát chỗ mấu ở mỗi ống người ta khoét một lỗ hình chữ nhật kích thước 0,4 cm x 1,5 cm để đặt lưỡi gà đồng (lưỡi gà hình tam giác cân được cắt rời hai cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy). Trên thân của một ống người ta khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm trên cùng nằm ở mặt sau thân ống cách lưỡi gà 7 cm, 5 lỗ tiếp theo nằm thẳng hàng với lưỡi gà. Chỗ 2 thành ống giáp nhau cách lỗ thổi 13 cm, nghệ nhân khoét 2 lỗ thông nhau, khi thổi lỗ này sẽ cho 1 âm nền trì tục. Trật tự hàng âm của Pí Đôi như sau:

Do1, Sol1, La1, Do2, Rê2, Mi2, Fa2.

Khi chơi Pí Đôi người ta đặt dọc thân Pí, miệng ngậm kín đầu ống có gắn lưỡi gà rồi thổi. Pí Đôi có các kỹ thuật rung, luyến, láy, nhấn hơi, nén hơi. Âm thanh của Pí Đôi vang, trong, có pha chất bồi âm nghe trữ tình nhưng sôi nổi, lại có chất rè giòn của bè nền trì tục.

Pí Đôi là nhạc cụ dùng trong sinh hoạt giao duyên do nam giới sử dụng đệm cho nữ giới hát. Cũng có khi Pí Đôi dùng để độc tấu bằng cách thổi lại giai điệu phần hát đó, nhưng giai điệu đã có những thay đổi nhất định.

Pí Đôi là nhạc cụ hơi được các chàng trai Thái ưa thích, có lẽ bởi Pí Đôi còn là tiếng nói giao duyên, là nhịp cầu nối quan hệ giữa các chàng trai với các cô gái.

Cũng như Pí Pặp, Pí Đôi là nhạc cụ dành riêng cho nam giới, có thể chơi giai điệu hoặc đệm hát.

Pí Tam Lay.
Pí Tam Lay.

Pí Tam Lay là nhạc cụ dành riêng cho trẻ em trǎn trâu và cho nam giới sử dụng khi canh lúa ở ngoài ruộng, nương của dân tộc Thái.

Pí Tam Lay là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà có cấu tạo là 3 ống nứa tép nối lồng vào nhau, tổng chiều dài chừng 70 – 80 cm, đường kính từ 0,8 – 1 cm. ống trên cùng nhỏ nhất và có mấu kín, ngay sát mấu người ta tách từ thân ống một mảnh hình chữ nhật có kích thước 1,5 x 0,5 cm, một cạnh nhỏ vẫn dính vào thân ống, mảnh tách này chính là lưỡi gà. Pí Tam Lay có 3 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách đáy lưỡi gà một “đơn vị đo” là hai ngón tay, lỗ bấm thứ 2, 3 gần nhau trên thân ống cuối cùng.

Mầu âm của Pí Tam Lay trầm ấm có tiếng rè độc đáo. Khi chơi người ta kết hợp úp mở phía không có mấu của ống tre vào bắp chân tạo hiệu quả láy rền, tiếng vang xa, âm sắc đục nhòe.

Là nhạc cụ độc đáo mà trẻ em và thanh niên Thái ưa thích, được dùng trong sinh hoạt vui chơi giải trí. Pí Tam Lay là nhạc cụ kiêng không dùng trong làng, bản. Có một số nơi mê tín cho rằng thổi Pí Tam Lay tức là cầu mưa cho nên thời gian nào ruộng nương đủ nước hoặc sắp gặt hái thì kiêng không được thổi.

Pí Thiu.
Pí Thiu.

Pí Thiu hoặc Pí Khúi là tên gọi một nhạc cụ hơi thổi rất được thanh niên dân tộc Thái ưa thích. Vào những đêm trǎng sáng tiếng Pí Thiu của các chàng trai cất lên nhè nhẹ thường làm mềm lòng các thiếu nữ tuổi trǎng tròn.

Pí Thiu được làm bằng một loại nứa nhỏ. Thân Pí là một dóng nứa có chiều dài 71 – 75 cm, đường kính khoảng 1,5 cm, một đầu có mấu kín, còn một đầu không mấu. ở mép mấu có một lỗ hình bán nguyệt đó là lỗ thổi vòm. Pí Thiu có 4 lỗ bấm nằm thẳng hàng với lỗ thổi vòm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi vòm 34 cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (6 cm).

Pí Thiu là loại nhạc cụ họ hơi chi lỗ vòm (sáo thổi dọc). Khi thổi Pí Thiu, người ta tì cằm lên đầu ống, chúm môi tạo luồng hơi thổi chéo vào lỗ vòm, làm chuyển động cột không khí trong ống. Theo một nguyên tắc đóng mở ống và kết hợp với lực độ của hơi thổi, Pí Thiu sẽ cho ta một thang âm:

La1, Đô2, Rê2, Fa2, Sol2.

Pí Thiu có các kỹ thuật thổi:

Rung, luyến hơi, kỹ thuật bấm, ngón vuốt, ngón láy…

Âm sắc của Pí Thiu ấm áp, du dương, trữ tình, đẹp, phù hợp với các bài có tình cảm sâu lắng, êm dịu. Tiếng Pí Thiu nghe gần tưởng như nhỏ, nhưng thực ra vang xa.

Pí Thiu là nhạc cụ đã có khá lâu trong đời sống dân tộc Thái. Cho đến nay nó vẫn tồn tại bởi nó là nhạc cụ hấp dẫn trong sinh hoạt giao duyên của trai gái dân tộc Thái.

Pí Tót.
Pí Tót.

Pí Tót là loại sáo thổi bằng mũi của dân tộc Khơ mú tỉnh Sơn La và Lai Châu. Sáo được xếp vào nhạc cụ họ hơi, chi lỗ vòm.

Pí Tót được làm bằng một loại nứa nhỏ. Thân Pí Tót là một dóng nứa một đầu hở một đầu kín có chiều dài 35 – 40 cm, đường kính khoảng 1 cm. Phía gần đầu hở có khoét một lỗ nhỏ hình vuông để làm lỗ thổi. Một lỗ bấm duy nhất được khoét tròn ở gần đầu kín.

Pí Tót là loại sáo thổi ngang, khi thổi Pí Tót người thổi tì mũi lên lỗ thổi vòm, rồi lấy hơi đằng miệng, đẩy hơi ra đằng mũi tạo luồng hơi chéo vào lỗ vòm làm chuyển động cột không khí trong ống. Mặc dù chỉ có một lỗ bấm nhưng Pí Tót vẫn có được một thang âm 5 âm:

Rê, Fa, Sol, La, Đô.

Pí Tót có các ngón kỹ thuật thổi:

Vuốt hơi, Nhấn hơi, Kỹ thuật bấm, Ngón vuốt, Ngón láy.

Âm sắc của Pí Tót ấm áp, du dương, trữ tình phù hợp với các bài có tình cảm sâu lắng, êm dịu.

Pí Tót là nhạc cụ của nữ giới sử dụng trong sinh hoạt thường ngày để ru trẻ nhỏ ngủ và dùng trong sinh hoạt giao duyên.

pí_Pí của người Thái

Pí Một Lao/Pí Lao Luông là nhạc cụ hơi phổ biến ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Tên nhạc cụ này xuất phát từ tiếng Thái, nhưng ngoài người Thái còn có người Kháng, người La Ha và Kha Mú sử dụng nhạc cụ này. Pí một lao là ống nứa tép dài từ 70 đến 90 cm, đường kính từ 1,5 đến 2 cm. Nó có 1 đầu bịt mấu kín, ngay sát mấu kín là 1 lỗ hình chữ nhật có cạnh ngắn 1 cm và cạnh dài 2 cm, được bịt kín bằng đầu bát mỏng chứa lưỡi gà tam giác.

Trên thân ống có nhiều lỗ nhưng chỉ sử dụng 5 lỗ để phát ra hàng âm:

Đô, Rê, Fa, Sol, La.

Lỗ đầu tiên nằm sau thân ống còn 5 lỗ kia nằm thẳng hàng với lưỡi gà. Ở đoạn giữa lỗ bấm thứ nhất và lưỡi gà có thêm một lỗ nửa. Lỗ này được phủ bằng 1 màng mỏng lòng nứa, chung quanh lỗ đắp sáp ong thành núm. Khi người ta thổi màng mỏng này sẽ rung lên, tạo ra âm thanh nghe giòn và rè. Pí Một Lao dùng để đệm cho thầy Mo hát khi cúng chữa bệnh người ốm. Lối hát cúng này gọi là Xên Một Lao.

Nhạc cụ này còn tên khác là Pí Lao Luông (sáo một lao loại lớn). Người giữ nương rẫy và trẻ con thường này lấy nứa tươi mô phỏng nhạc cụ này để thổi giải trí trong lều canh hoặc trên bãi chăn trâu. Loại Pí giải trí này gọi là Pí Lao Nọi (sáo một lao loại nhỏ)…

Pí Một Lao chỉ dùng trong việc hát cúng ngừa bệnh, rất kiêng thổi trong nhà lúc bình thường. Theo thông lệ, có hai người thổi nhạc cụ này, mỗi người một pí để đệm cho thấy mo hát. Người thổi được gọi là Mo pí (ông Mo thổi Pí).

Cách thổi Pí tương tự khi dùng sáo ngang. Họ không ngậm đầu ống Pí trong miệng mà thổi vào lỗ nằm cuối thân ống, mỗi tay giữ một bên thân Pí và bấm lỗ, đưa hơi chếch thân Pí về phía bên tay phải của người thổi.

Pí Lao Luông được làm bằng một ống nứa có chiều dài khoảng 78 – 80 cm, đường kính 1,5 cm, một đầu có mấu kín. Ngay sát mấu người ta khoét một lỗ hình chữ nhật có kích thước 0,7 cm x 2 cm để đặt lưỡi gà đồng (lưỡi gà hình tam giác cân được cắt rời hai cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy). Trên thân ống có 7 lỗ bấm. Lỗ bấm thứ nhất ở mặt sau thân ống cách chỗ thổi là 24 cm, lỗ thứ 2 ở mặt trước cách lỗ bấm thứ nhất 3 cm, 5 lỗ còn lại nằm thẳng hàng với lỗ thứ 2 và cách đều nhau (3 cm), riêng lỗ 4 và 5 cách nhau 6 cm. ở quãng giữa lưỡi gà và lỗ bấm thứ 2 người ta khoét thêm một lỗ, dùng sáp ong đen đắp thành gò quanh miệng lỗ rồi lấy màng mỏng ruột nứa hay vỏ trứng nhện phủ lên. Khi thổi màng này rung tự do làm cho âm thanh rè. Pí Lao Luông có hàng âm như sau:

La, Do1, Re1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2.

Người ta thổi Pí Lao Luông bằng cách đặt pí sang phải hơi chéo xuống, miệng ngậm hết phần lưỡi gà rồi thổi truyền hơi ra liên tục làm sao cho tiếng pí không ngắt khi thổi.

Là nhạc cụ dùng trong sinh hoạt giao duyên do nam giới sử dụng. Pí Lao Luông đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt thường ngày của các chàng trai Thái.

Pí Láo Nọi.
Pí Láo Nọi.

Pí Láo Nọi phổ biến trong dân tộc Thái, vùng Tây Bắc. Pí Láo Nọi làm bằng một đoạn nứa có chiều dài 35 – 40 cm, đường kính 0,6 cm, một đầu có mấu kín. Ngay sát mấu người ta tách từ thân ống 1 mảnh hình chữ nhật có kích thước 2,6 cm x 0,4 cm, một cạnh nhỏ vẫn dính vào thân ống (mảnh tách này chính là lưỡi gà). Pí Láo Nọi có 7 lỗ bấm, 1 lỗ trên cùng nằm ở mặt sau thân ống, còn 6 lỗ tiếp theo nằm thẳng hàng với lưỡi gà. Hàng âm của Pí Láo Nọi như sau:

Sol, Do1, Rê1, Mi1, Sol1, La1, Si1, Do2.

Người ta thổi Pí Láo Nọi bằng cách ngậm kín phần lưỡi gà rồi thổi hơi ra, kết hợp bịt, mở các lỗ bấm.

Âm sắc của Pí Láo Nọi giòn, rè, tiếng vang, trong, trữ tình phù hợp với những bản nhạc có tình cảm sâu lắng êm dịu.

Là nhạc cụ độc tấu, đệm cho hát do nam giới sử dụng, Pí Láo Nọi đóng một vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt giao duyên của các chàng trai Thái.

Pí Me/Pí Lự.
Pí Me/Pí Lự.

Pí Me hoặc Pí Lự là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà của dân tộc Lự ở Lai Châu – Sơn La thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam.

Pí Me/Pí Lự được làm từ một ống nứa, hoặc trúc có chiều dài khoảng 50 – 70 cm, đường kính 1,5 cm, một đầu có mấu kín. Ngay chỗ mấu người ta trổ thủng 1 lỗ hình chữ nhật có kích thước 1cm x 2,5 cm để đặt lưỡi gà đồng (lưỡi gà hình tam giác cân được cắt rời hai cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy). Trên thân ống có khoét 7 lỗ bấm, lỗ thứ nhất ở mặt sau thân ống cách lưỡi gà 29 cm, lỗ thứ 2 ở mặt trước cách lỗ thứ nhất 2 cm, 5 lỗ còn lại nằm thẳng hàng với lỗ thứ 2 và cách đều nhau (3 cm), riêng lỗ 4 và 5 cách nhau 6 cm. Pí Me/Pí Lự có hàng âm như sau:

Do1, Re1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1.

Nghệ nhân thổi Pí Me/Pí Lự bằng cách đặt dọc thân Pí xuống, miệng ngậm kín phần ống có gắn lưỡi gà ngập trong miệng, rồi thổi truyền hơi ra liên tục làm sao cho tiếng Pí không ngắt khi thổi.

Âm thanh của Pí Me/Pí Lự giòn, rè có pha chất bồi âm, tiếng trong trữ tình phù hợp với các bài có tình cảm sâu lắng, êm dịu.

Pí Me/Pí Lự là nhạc cụ dùng để độc tấu, hòa tấu, do nam giới sử dụng trong sinh hoạt giao duyên. Ngoài việc diễn tấu Pí Me còn là phương tiện để các chàng trai nói thay lời mình với các cô gái.

Pí Sên.
Pí Sên.

Pí Sên là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do của dân tộc Thái – tỉnh Sơn La.

Pí Sên được làm từ 1 ống nứa có chiều dài 71 cm, đường kính khoảng 1,5 – 2 cm, một đầu có mấu kín. Ngay sát mấu có một lỗ hình chữ nhật kích thước 1 cm x 2 cm là nơi đặt lưỡi gà đồng. Lưỡi gà hình tam giác cân được cắt rời 2 cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy. Trên thân ống có 7 lỗ bấm. Lỗ bấm thứ nhất ở mặt sau thân ống cách chỗ thổi là 27cm, lỗ thứ 2 ở mặt trước cách lỗ thứ nhất 3cm, 5 lỗ còn lại nằm thẳng hàng với lỗ thứ hai và cách đều nhau (3cm), riêng lỗ 4 và 5 cách nhau 6 cm. ở quãng giữa lưỡi gà và lỗ bấm thứ hai người ta khoét thêm một lỗ rồi lấy màng mỏng của ruột nứa hay vỏ trứng nhện phủ lên, khi thổi màng này rung lên tạo âm sắc rè. Pí Sên có hàng âm như sau:

Sol, Si, Rêb1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1.

Khi thổi Pí Sên, người thổi đặt Pí sang phải hơi chéo xuống, miệng ngậm hết phần lưỡi gà rồi thổi truyền hơi ra liên tục làm sao cho tiếng Pí không ngắt khi thổi. Pí Sên có các ngón kỹ thuật:

Rung hơi, luyến hơiláy rền.

Âm thanh của Pí Sên trầm đục và rè, có mầu sắc huyền bí.

Thuở xưa Pí Sên là nhạc cụ của các thầy mo chỉ dùng đệm cho hát khi hành lễ. Ngày nay người Thái đã dùng Pí Sên như một nhạc cụ trong sinh hoạt đời thường.

Pí Lè.
Pí Lè.

Pí Lè là nhạc cụ thuộc họ hơi, chi dǎm kép, của dân tộc Thái ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Pí Lè có 4 bộ phận: Thân kèn, loa kèn, cọc dǎmdǎm. Thân kèn là một ống rỗng hình trụ dài khoảng 30 cm, làm bằng gỗ cứng, trên thân ống có khoét 8 lỗ bấm hình tròn, 7 lỗ phía trước được bố trí với những khoảng cách gần như đều nhau tạo thành một hàng dọc, lỗ thứ 8 ở phía sau ngay gần cọc dǎm. Loa kèn làm bằng gỗ đẽo mỏng hình chóp cụt, đầu nhỏ của loa nối liền với ống kèn. Phần đầu nhỏ của ống kèn, người ta gắn một cọc cắm dǎm. Dǎm làm bằng ống sậy, hoặc làm bằng tổ sâu cắm vào cọc dǎm.

Âm vực của Pí Lè rộng 2 quãng 8 là các âm:

Đồ (đúng) – Rê (non) – Mi (non) – Fa (già) -Sol (đúng) – La ( non) – Si (non) – Đố (đúng).

Nghệ nhân thổi Pí Lè bằng cách ngậm gần hết phần dǎm, rồi lấy hơi đằng mũi, đẩy hơi ra miệng tác động vào dǎm kèn. Bằng cách luồn hơi liên tục như vậy, các nghệ nhân có thể thổi hàng giờ, không cần ngắt hơi. Khi diễn tấu tùy từng bài mà người ta áp dụng các kỹ thuật rung hơi, đánh lưỡi, vuốt hơi. Các ngón bấm như ngón láy, ngón vuốt, ngón rung vỗ.

Pí Lè là nhạc cụ dùng trong dàn nhạc nghi lễ phong tục của đồng bào Thái, do nam giới sử dụng. Đặc biệt Pí Lè được dùng nhiều nhất trong nhạc tang lễ. Hòa tấu với Pí Lè còn có chũm choẹ , thanh la to, thanh la nhỏ và trống. Tiếng Pí Lè không thể thiếu được trong các nghi lễ phong tục mang tính chất trang nghiêm và thiêng liêng của người Thái.

Pí Tơm của người Khơ Mú.
Pí Tơm của người Khơ Mú.

“Khi nói đến nét độc đáo nhất và luôn gắn bó với đời sống văn hóa của đồng bào Khơ Mú thì không thể không nhắc đến cây Pí Tơm. Đây là loại sáo dọc, gần giống như “Pí” của người Thái, với âm sắc độc đáo như tiếng gió vi vu trườn qua các sườn đồi, lòng thung và có khả năng diễn tả tâm trạng, mô phỏng không gian sống của người Khơ Mú nơi các triền đồi của vùng cao đất Nghệ. Pí Tơm là nhạc cụ chính dùng để đệm cho hát “Tơm”, hát “Kưn chơ” và góp âm sắc để dàn nhạc cụ tre nứa thêm phong phú cho những màn hát múa tập thể trong các ngày lễ hội, là tiếng nói thẳm sâu của tâm hồn, tình cảm cùng những mong ước tốt đẹp về cuộc sống, tình yêu của người Khơ Mú, vì thế người quen gọi nó theo cách gọi của người Thái là cây Pí Tơm.

“Pí Tơm được chế tác một cách đơn giản. Người Khơ Mú có thế chế tác ra nhạc cụ độc đáo này ở bất cứ nơi đâu, miễn là chỉ cần có một cây nứa nhỏ có đường kính từ 1-1,5cm. Cây nứa để làm Pí Tơm phải đủ tuổi, không quá già. Nghệ nhân đem cắt 7 lóng nứa, mỗi đoạn dài 8cm, chuốt lại rồi luồn vào nhau xếp theo thứ tự to đến nhỏ. Đoạn thứ 3 tính từ gốc, dài chừng 24 cm được khoét 3 lỗ hơi cách nhau 6-7 cm, đoạn ống thứ 7 (phần ngọn) chỉ nhỏ bằng chiếc đũa có cái lưỡi gà. Khác với Pí Nhuôn của Thái (có lưỡi gà bằng đồng thau), lưỡi gà của cây Pí Tơm được tạo từ chính thân cây nứa. Nghệ nhân dùng dao sắc tuốt sạch cật cây nứa, sau đó khoét tạo lưỡi gà, độ dài khoảng 1,5 cm, rộng 2mm. Khi thổi, lưỡi gà rung nhẹ để điều tiết khí âm qua các lỗ nhỏ tạo thành những giai điệu mang đậm âm hưởng của đại ngàn.” (trích Vi Hợi-Tương Dương)

Púa.
Púa.

Púa là nhạc cụ họ hơi, chi hơi môi của dân tộc H’mông, một dân tộc sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam.

Púa làm bằng hai đoạn ống được cuốn bằng lá đồng mỏng một ống to, một ống nhỏ. Đoạn ống nhỏ dài 72 cm, đường kính 3 cm, một đầu có gắn một miếng đồng tròn làm búp để tì môi khi thổi, đầu kia lồng khít vào trong đầu nhỏ của đoạn ống to. Đoạn ống to thân ống hình trụ tròn dài 61 cm. Đầu to còn lại nối liền với 1 cái loa có chiều dài 7 cm, đường kính miệng loa 16, 5 cm.

Khi thổi Púa, người thổi phải ở tư thế đứng, 2 tay đỡ thân Púa. Đặt hai môi trực tiếp vào miệng thổi, thổi luồng hơi làm chấn động cột không khí, tạo nên âm thanh. Âm thanh của Púa to, khoẻ, vang xa, có chất rè của kèn đồng.

Púa là nhạc cụ do nam giới sử dụng, thường thổi riêng để thông tin hoặc hòa tấu với trống, thanh la, chũm chọe, xi-u trong những nghi lễ của đám tang khi cúng linh hồn, lễ dâng rượu hay khi mổ bò, dê làm vật dâng hiến.

Dưới đây mình có các bài:

– Pí của người Thái
– Chuyện về hồn cây Pí Thái ở Sơn La
– Âm thanh Pí lè

Cùng với 12 clips tổng hợp nghệ thuật diễn tấu các loại Pí để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & Viện Âm Nhạc VN)

Ông Cầm Văn Dưn cho biết:
Ông Cầm Văn Dưn cho biết: “người Thái có nhiều loại pí với nhiều âm thanh khác nhau” Ảnh: Việt Cường.

Sáo của người Thái

(Bài: Ngân Hà, Ảnh: Việt Cường)

Trong kho tàng nhạc cụ âm nhạc các dân tộc Việt Nam, chiếc sáo (pí) từ lâu đã được biết đến là nhạc cụ đặc trưng của dân tộc Thái ở Sơn La.

Theo truyện dân gian dân tộc Thái để lại, vào những đêm trăng sáng, các chàng trai, cô gái Thái tuổi 16 đến 20 thường giao lưu văn nghệ, hát giao duyên. Tan hội, chàng trai tự tìm đến nhà cô gái mà mình thích để tỏ tình thông qua tiếng pí. Chàng trai thổi đến khi nào trong nhà cô gái không ai còn thức, lúc ấy mới dùng que chọc đúng vào chỗ ngủ của cô gái, đánh thức cô gái dậy để tâm sự. Các đêm tiếp theo, chàng trai dùng chiếc pí để thổi gọi người yêu, nhiều lần nghe thành quen nên mỗi lần nghe thấy tiếng sáo, cô gái dậy mở cửa cho người yêu vào nhà và ngồi tâm sự đến sáng. Từ đó, pí trở thành nhạc cụ không thể thiếu đối với các chàng trai, cô gái Thái.

Pí của người Thái làm từ trúc, rất đa dạng về chủng loại.

Pí pặp kép được ghép từ hai chiếc pí pặp đơn, được thổi vào buổi sáng sớm với giai điệu vui nhộn.

Màng tạo độ rè âm thanh trên pí cúng.

Pí thui với âm thanh du dương, đượm buồn.

Nghệ nhân Cầm Văn Dưn ở tổ 8, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, người đã hơn 50 năm
gắn bó với nhạc cụ dân tộc Thái.

Chúng tôi đến nhà ông Cầm Văn Dưn ở tổ 8, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La. Ông Dưn là người đã hơn 50 năm gắn bó với nhạc cụ âm nhạc của người Thái, từng đạt Huy chương vàng thổi sáo tại Hội diễn văn nghệ toàn quốc năm 1994 ở Hà Nội, Huy chương bạc thổi sáo tại Hội diễn văn nghệ toàn quốc năm 1998 ở Tuyên Quang. Ông Dưn cho biết, pí của người Thái được làm bằng ống tre nứa chặt vào cuối năm, phần đầu thường được gắn với một thanh bằng đồng hoặc bạc nhỏ gọi là lưỡi gà để khi thổi âm thanh phát ra trong hơn, ở giữa thường có mỗi lỗ nhỏ và khoảng cách giữa các lỗ được tính theo chu vi hình tròn ở đầu ống nứa. Bình thường, sẽ mất khoảng một ngày để hoàn thành chiếc pí. Khi thổi, người ta đặt dọc thân sáo, miệng ngậm kín đầu ống có gắn lưỡi gà rồi thổi với các kỹ thuật rung, luyến, láy, nhấn hơi, nén hơi… Khó nhất trong thổi pí là người thổi cần phải lấy hơi tốt vì khi thổi phải thổi liên tục, không được ngắt quãng. Âm thanh của pí khi vang lên nghe vừa có chút trữ tình pha lẫn sôi nổi, lại vừa có tiếng rè.

Pí có nhiều loại và mỗi loại có một âm thanh khác nhau. Pí pặp đơn gồm 1 ống, có 6 lỗ và lưỡi gà bằng đồng, thường được các chàng trai Thái ở vùng Thuận Châu, Mai Sơn dùng để thổi vào ban đêm thay cho lời gọi người yêu trong những đêm đi chọc sàn với âm thanh vang lên trữ tình để cô gái cảm động rồi mở cửa cho vào nhà.

Pí pặp kép được ghép từ hai chiếc pí pặp đơn với nhau, được thổi vào buổi sáng sớm với giai điệu vui nhộn.

Pí thui có độ dài khoảng 1m, có 6 lỗ, không có lưỡi gà, được người Thái trắng ở Mộc Châu thổi với âm thanh du dương, đượm buồn để bày tỏ sự nuối tiếc cho mối tình đẹp của hai người yêu nhau say đắm nhưng không thành.

Pí tam lay được ghép lại từ 3 ống nứa, mỗi ống gồm 1 lỗ, được các chàng trai ở vùng Mường La thổi gọi bạn gái vào lúc trăng sáng.

Pí loong tông gồm 2 lỗ, có lưỡi gà làm bằng tre, được người Thái huyện Mường La thổi vào những ngày mùa lúa chín để cổ vũ, động viên nhau hăng say lao động, sản xuất với giai điệu vui nhộn.

Pí cúng có 7 lỗ, lưỡi bằng đồng, có lỗ điều chỉnh để làm rè tiếng, được người Thái dùng để thổi liên tục từ đêm đến sáng cùng với tiếng cúng của thầy Mò đuổi tà ma khi trong nhà có người ốm đau.

pí1

Ngồi nghe những giai điệu trữ tình, tha thiết được thể hiện qua từng loại pí của ông Dưn, người ta như cảm nhận được sự giao hòa giữa đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn con người sáng hơn và thêm tin yêu vào cuộc sống./.

Pí trong lễ hội Xên Mường (lễ hội tạ ơn Tổ tiên, thổ địa, cầu yên bình). (Ảnh: Tư liệu)
Pí trong lễ hội Xên Mường (lễ hội tạ ơn Tổ tiên, thổ địa, cầu yên bình). (Ảnh: Tư liệu)

Chuyện về hồn cây Pí Thái ở Sơn La

(Hoàng Mai – Sơn Nữ)

Mỗi khi cầm cây Pí lên thổi, ông Cầm Văn Dưn (68 tuổi, phường Tô Hiệu, TP.Sơn La, tỉnh Sơn La) như trở lại thời trẻ. Ánh mắt ông vui say, nhanh nhẹn, đôi tay ông điêu luyện theo từng nốt nhạc reo vui. Cây Pí (cây sáo dọc) thuộc bộ hơi. Tiếng Pí có trong tất thảy niềm vui, nỗi buồn của người Thái. Và ông Dưn là một trong số người hiếm hoi giữ được tất cả loại hồn của Pí.

Cưới được vợ đẹp nhờ hồn Pí

Trò chuyện với chúng tôi, ông Cầm Văn Dưn cho biết, cây Pí mang trong nó tích cổ từ lâu đời. Chuyện kể rằng, ngày xưa, ở một bản nhỏ của dân tộc Thái, có một đôi trai tài, gái sắc là Khun Lú và nàng Ủa yêu nhau tha thiết. Họ đã cùng nhau thề núi, hẹn sông sống trọn đời bên nhau. Nhưng vì Khun Lú nghèo nên bố mẹ nàng Ủa cấm đoán và ép gả nàng cho người khác. Để giữ trọn lời thề, nàng Ủa đã thắt cổ tự vẫn. Nàng Ủa chết đi, Khun Lú buồn và thương, không lúc nào không nhớ tới nàng Ủa. Nhớ thương người con gái chung tình, Khun Lú đã làm Pí Pặp để khóc than người yêu. Nhưng rồi, càng thổi Pí Pặp, Khun Lú càng nhớ thương nàng Ủa hơn. Khun Lú đã bóp nát cây Pí Pặp và rồi cũng tự vẫn. Sau này, tỏ lòng mến mộ và trân trọng tình yêu của đôi tình nhân, người Thái trắng đã chế tạo ra Pí Pặp dựa trên các chi tiết có được trong câu chuyện tình, để làm nên cái hồn Pí Thái rất khác lạ.

Ông Dưn thổi Pí Tam Lay.
Ông Dưn thổi Pí Tam Lay.

Trầm ngâm sau câu chuyện xen lẫn buồn vui về truyền thuyết một trong những loại Pí của người Thái, ông Dưn chia sẻ: “Ngày xưa, đàn ông Thái chúng tôi biết thổi Pí nhiều như lá cây trên rừng. Ngày nhỏ, tôi và nhiều đứa trẻ đã được nghe tiếng Pí dân tộc từ ông, cha thổi vào các dịp hội của bản. Giờ đây, tìm được một người biết thổi Pí quả là không dễ. Cuộc sống đổi thay, người dân Thái không còn gói gọn trong các buôn làng, người ta dần quên đi tiếng Pí. Cây Pí bị xếp vào góc nhà, xó bếp. Người Thái bao đời nay gắn bó với tiếng Pí, mất đi tiếng Pí người Thái dần dần sẽ quên nguồn cội”. Nghĩ vậy ông Dưn quyết tâm dạy con cháu và thanh niên trong bản thổi Pí.

Ông Dưn tâm sự: “Thổi được Pí đã khó làm thế nào thổi được hồn dân tộc, thể hiện được cuộc sống sinh hoạt, nét văn hóa, tình yêu của người Thái và tâm sự của chính người thổi muốn truyền đạt qua tiếng Pí càng khó hơn rất nhiều. Nó đòi hỏi người thổi chúng phải thật sự yêu cây Pí, thật sự muốn học. Tôi yêu và đã tìm đến những người biết thổi Pí để học, để làm được những điều mà người dân đang dần quên lãng”.

Để chứng minh cho sự say mê loại nhạc cụ đặc trưng của cha ông mình, ông Dưn cầm cây Pí Pặp lên say mê kể từng chi tiết cấu tạo của loại Pí thấm đượm chuyện tình buồn xa xưa. Với cấu tạo bằng hai ống nứa tép nhỏ cỡ ngón tay út, một ống gọi là “xảng i” (tượng trưng cho con trai), ống kia gọi là “xảng me” (tượng trưng cho con gái). Người ta đo chiều dài của Pí Pặp không phải theo gang tay mà là bằng cách nắm tay vào thân ống nứa, đếm theo từng nắm tay. Sáo Pí Pặp có ba cỡ: Năm nắm tay, bảy nắm tay và chín nắm tay, phù hợp với từng lứa tuổi người chơi. Lưỡi sáo được làm bằng đồng hoặc bạc nõn. Hai ống nứa được buộc bằng sợi dây đồng nhỏ, kẹp lại, ống nứa ở gần miệng thổi được kẹp bằng sáp ong có tác dụng giữ hơi.

Nhờ những kiến thức và tài năng từ việc học, chơi Pí điêu luyện, ông Dưn được tuyển vào làm nhạc công của đoàn nghệ thuật tỉnh Sơn La từ năm 1965 đến năm 1990. Ông cũng từng nhận Huy chương Vàng hội diễn Nghệ thuật quần chúng toàn quốc năm 1994, Huy chương Bạc trong hội diễn Nghệ thuật quần chúng toàn quốc năm 1998. Không những vậy, nhờ tiếng Pí, ông đã lấy được lòng người con gái đẹp nhất đoàn văn công tỉnh Sơn La ngày đó. Người vợ của ông, bà Lừ Thị Xó, là diễn viên múa trong đội nghệ thuật tỉnh, vì mê tiếng Pí của ông mà theo ông về làm vợ.

Hai người cùng đam mê tiếng Pí, tình yêu của bà đã chắp cánh cho tiếng Pí của ông bay xa hơn và lay động nhiều khán giả hơn, sau mỗi lần biểu diễn. Ông đã có mặt ở hầu hết các hội diễn Nghệ thuật quần chúng, không chỉ trong tỉnh mà cả toàn quốc, mang tiếng Pí đến với nhiều vùng đất, nhiều người và nhiều dân tộc hơn.

Các loại Pí của người Thái.
Các loại Pí của người Thái.

Giữ hồn Pí Thái

Trò chuyện với ông Dưn, được nghe tiếng Pí vang lên qua sự thể hiện của ông, người nghe như nhìn thấy cả một dải núi rừng hùng vĩ, hoang sơ nhưng lãng mạn với những đôi trai gái đi trẩy hội xuân bên những nếp nhà sàn thấp thoáng cạnh sườn núi. Những âm thanh Pí khiến người nghe chìm đi trong cảm xúc về tình yêu đẹp, về cuộc sống bình yên, về công việc thường ngày với những vui, buồn… Tiếng Pí đã dứt, ông Dưn cầm cây Pí gọn trên tay, nhẹ nhàng giới thiệu về những loại Pí, đặc trưng âm thanh của chúng. Tiếng dân tộc Thái, Pí Pặp là loại sáo đôi. Bao năm ông gắn bó với chiếc sáo đôi cũng là từng ấy năm những người trong bản được nghe ông thổi đệm theo làn điệu dân ca Thái. Từ độ rung, vuốt hơi, luyến láy, đến nén hơi, nhả nốt, những kĩ thuật đó đã được ông “khổ luyện” qua nhiều năm và giờ đây “bung” ra trong từng âm điệu đầy trữ tình, réo rắt, dìu dặt khó quên như truyền thuyết đôi tình nhân Khun Lú – nàng Ủa.

Ông Dưn gọi Pí Pặp là Pí tình yêu, đứng đầu các loại Pí. Theo ông Dưn, có tình yêu, giữ được tình yêu thì mới giữ được hồn của mình, dân tộc mình. Cây Pí Pặp thường dùng để thổi trong những dịp như tỏ tình với bạn gái, giao duyên. Ngày xưa, các chàng trai thường mang cây Pí đến chân cầu thang nhà sàn cô gái mình thích để thổi. Cô gái nghe tiếng Pí của người mình yêu sẽ biết và ra tâm sự. Sau đó đến Pí Khui, đây cũng là loại Pí thổi lúc giao duyên vào những dịp giao lưu văn nghệ. Pí Khui dùng để gọi bạn tình mỗi đêm chọc sàn. Người thổi Pí Khui mà buồn thì âm thanh rất xa vắng, thổn thức, mênh mang đầy nội tâm. Ông Dưn bảo rằng, những đêm thanh vắng nghe tiếng Pí Khui, người già thở dài, lần đến hũ rượu nhớ lại tuổi thanh xuân. Người Thái nói đó là cái “men” gọi lại tuổi xuân của người già.

Không chỉ thổi Pí lúc tìm bạn giao duyên, người Thái còn có riêng Pí Tam Lay để thổi những lúc lao động mệt nhọc. Trong một khoảng không gian rộng lớn, giữa cánh đồng, tiếng Pí Tam Lay khiến người ta quên mệt mỏi, nặng nhọc để thêm hăng say, yêu lao động. Lúc đau buồn, tiếng Pí Lao làm người nghe liên tưởng tới những mất mát, khổ đau, thiệt thòi của số phận. Nghe tiếng Pí Lao giữa các đam ma chay, khó ai có thể không rơi lệ buồn thương cho một kiếp người nổi trôi.

Giờ tiếng Pí không còn hiện hữu nhiều trong đời sống hàng ngày của người Thái nhưng với ông Dưn mỗi lúc rảnh rỗi, ông thường lấy Pí ra thổi những bài mới. Ông Dưn tâm niệm: “Cái bụng tốt, cái tâm sáng, cái đầu chịu khó học, thổi Pí mới hay, mới toát lên cái hồn cốt của người Thái”. Nghe những âm thanh tinh tế của cây Pí Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân vang, bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của “chân – thiện – mỹ”. Hiện nay, trong mỗi dịp văn nghệ, ông Dưn vẫn thường mang đến các tiết mục bằng Pí. Tiếng Pí của ông Dưn được mệnh danh là có hồn nhất vùng. Ông còn sẵn sàng nhận chỉ dạy cho bất cứ ai có đam mê với hồn cốt dân tộc mình.

Chỉ lo tiếng Pí bị thất truyền

Điều vẫn còn trăn trở với người nghệ nhân già này là lớp trẻ người Thái biết thổi Pí giờ không nhiều, người già biết dùng Pí để truyền lại cho thế hệ trẻ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tiếp xúc với nhiều người trẻ, ông Dưn nhận thấy, người trẻ bây giờ ít người muốn học thổi Pí. Ông sợ tiếng Pí của tổ tiên, ông bà người Thái sẽ không còn được ngân lên trong các dịp buồn, vui của dân bản. Ở cái tuổi xế chiều, ông vẫn đau đáu một mong muốn, làm thế nào để có nhiều người yêu tiếng Pí dân tộc. Và ông hy vọng với sự tận tình, chỉ bảo của ông thì người biết thổi Pí, thổi hay sẽ ngày một nhiều lên.

Pí Lè.
Pí Lè.

Âm thanh Pí lè

Dân tộc Tày ở Lào Cai có vốn văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng, thể hiện qua các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc, lễ hội và các tập quán sinh hoạt tín ngưỡng… Trong đó, có một loại nhạc cụ độc đáo – đó là kèn Pí lè.

Kèn Pí lè được làm từ loại gỗ cứng, chắc, bền. Người Tày sử dụng Pí lè trong các nghi lễ cúng thần, Lồng tồng, lễ cưới hỏi, vào nhà mới… Pí lè là nhạc cụ thuộc họ hơi, không chỉ khác về cấu tạo hình dáng nhỏ, gọn, chất liệu âm thanh vang vọng, tưng bừng mà còn là biểu tượng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào Tày.

Thân Pí lè là một ống gỗ đục rỗng hình trụ, có chiều dài từ 30 – 40cm, chia làm 10 đốt được dùi lỗ nhỏ hình tròn, các đốt tạo thành bởi sự phân chia giữa các gờ ở mỗi đốt (gần giống đốt tre), trong đó có 7 đốt ở giữa được dùi lỗ nhỏ phía trước, bố trí khoảng cách đều nhau tạo thành một hàng dọc. Loa kèn là phần cuối của cây kèn, được làm bằng lá đồng mỏng, uốn hình chóp cụt, có độ dài khoảng 10cm, đường kính 12cm, đầu nhỏ của loa nối liền với ống kèn. Phần đầu nhỏ của ống kèn được dùi một lỗ tròn dùng để buộc dây từ đầu tới loa kèn.

Người thổi Pí lè bằng cách lấy hơi đằng mũi, đẩy hơi ra miệng tác động vào những lỗ nhỏ thân kèn, hơi luồn qua lỗ nhỏ liên tục như vậy, nghệ nhân thổi kèn hàng giờ không cần ngắt hơi. Khi biểu diễn, tùy thuộc vào nội dung bài hát, trong mỗi nghi lễ khác nhau, người thổi kèn áp dụng các kỹ thuật rung hơi, vuốt hơi, phối hợp với các ngón bấm, ngón vuốt, ngón vỗ trên thân kèn… để tạo ra những âm thanh bay bổng, dồn dập, da diết nhưng phù hợp với khung cảnh diễn ra nghi lễ.

Pí lè thường có hai kích cỡ to, nhỏ khác nhau, khi thổi phải có hai người thổi cùng nhau, hai thứ âm thanh to, nhỏ hòa quyện tạo cảm xúc tưng bừng, nhộn nhịp.

oOo

Độc tấu “Pí Tam Lay”:

 

NSUT Đức Liên – Giới thiệu Sáo Pi Thiu:

 

Sáo Pi Thiu – Thương Nhớ Người Yêu – NSƯT Đức Liên:

 

Độc tấu sáo Pi Thiu:

 

NSUT Đức Liên – Giới thiệu Sáo Pí Tót:

 

NSUT Đức Liên – Giới thiệu Sáo Pi Pap:

 

Pí Pặp – nghệ nhân Lò Văn Ơn ( Điện Biên):

 

Pí Pặp – ”Tiếng sáo gọi mùa” – Quốc Huy:

 

Pí Đôi – nghệ nhân Lò Văn Ơn:

 

Kèn Pí Lè ở Bắc Hà:

 

NSUT Đức Liên – Giới thiệu Sáo Vẫy (Phong Tiêu):

 

NSUT Đức Liên – Giới thiệu Sáo Ca Lế:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s