Việt Nam nên làm gì về hôn nhân đồng tính ?

Thứ sáu, 26.6.2015, Tối Cao Pháp Viện Mỹ phán quyết trong vụ kiện Obergefell et al v. Hodges, Director, Ohio Department of Health, et al, với đa số 5-4, rằng hôn nhân đồng tính là hiến quyền, có trong khái niệm “due process clause” (trình tự pháp luật cần thiết) và “equal protection clause” (bảo vệ bình đẳng) của Tu chính án 14 của Hiến pháp Mỹ. Phán quyết này hoàn toàn đảo ngược khái niệm truyền thống Mỹ “hôn nhân là kết hợp giữa người nam và người nữ”.

Các luật của các tiểu bang và liên bang chống lại hôn nhân đồng tính bị mất hiệu lực ngay tức thì. Hơn nữa các hành vi đối xử phân biệt đối với hôn nhân đồng tính đều sẽ được xem như xâm phạm hiến quyền và dân quyền của người đồng tính.

Phán quyết này tạo ra vấn đề cho tự do tôn giáo ở Mỹ. Trong khi hôn nhân dành riêng cho người nam và người nữ là một truyền thống từ nhiều nghìn năm tại mọi quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong văn hóa Tin lành của Mỹ, đó còn là lòng tin tôn giáo, dựa trên Thánh kinh. (Genesis 19; Romans 1:24-27; 1Corinthians 6:9-10; và 1Tim 1:10).

Những người tin vào Thánh kinh và cho rằng quan hệ đồng tính không thể bị luật pháp bắt họ thay đổi lòng tin tôn giáo của họ – như mục sư, linh mục từ chối làm lễ cưới cho các cặp đồng tính, người bán hoa, nhiếp ảnh, thu hình, làm bánh… từ chối phục vụ đám cưới của người đồng tính, các nhà thờ, trường tư thục trực thuộc các tôn giáo, các tổ chức xin con nuôi trực thuộc các tôn giáo — cho nên chúng ta sẽ thấy Quốc hội sẽ phải tạo ra nhiều đạo luật bảo vệ lòng tin tôn giáo về hôn nhân đồng tính, để giới hạn ảnh hưởng của phán quyết của Tối Cao Pháp Viện. Sau hai ngày nghỉ cuối tuần, sáng thứ hai, 29.6.2015, Thượng nghị sĩ Mike Lee đã nhắc lại dự luật The First Amendment Defense Act (Luật bảo vệ Tu chính án I) đã được đệ trình lên quốc hội, cấm các tổ chức nhà nước làm gì thiệt hại đến quyền tự do tín ngưỡng của mọi tổ chức và cá nhân tin vào hôn nhân là kết hợp giữa người nam và người nữ.

Một điểm cần nhắc đến là xưa nay định nghĩa hôn nhân của mọi tiểu bang của Mỹ không nói gì đến người nam và người nữ. Ví dụ, tự điển pháp lý Wex định nghĩa hôn nhân là: “Sự kết hợp của một cặp như là vợ chồng. Các thành tố căn bản là: (1) hai bên có năng lực pháp lý để cưới nhau, (2) sự đồng thuận của hai bên, và (3) một hợp đồng hôn nhân như pháp luật đòi hỏi.”

Sở dĩ xưa nay luật chẳng nói gì về nam và nữ trong luật hôn nhân vì mọi người xưa nay chấp nhận hôn nhân là giữa nam và nữ. Cho đến những năm gần đây phong trào đòi hôn nhân đồng tính càng ngày càng mạnh, một số tiều bang đổi luật để chấp nhận hôn nhân đồng tính, một số tiển bang khác đổi luật để nói rõ hôn nhân là chỉ giữa một người nam và một người nữ. Đó là lý do tại sao có vụ kiện Obergefell để yêu cầu Tối Cao Pháp Viện giải quyết tranh chấp.

Đó là vấn đề ở Mỹ. Viêt Nam sẽ giải quyết vấn đề thế nào cho hợp lý?

Sở dĩ mọi nền văn hóa trên thế giới xưa nay xem hôn nhân là dành riêng cho người nam và người nữ vì từ khởi thủy của vũ trụ cho đến nay sự kết hợp giữa nam và nữ có vai trò chính là lập gia đình, sinh con đẻ cái, nuôi dưỡng con cái.

Những năm gần đây với tiến hóa của y học, người ta có thể thụ thai nhân tạo, nhờ người mang thai hộ, và xin con nuôi. Những điều này làm cho luận cứ hôn nhân là để sinh con đẻ cái không còn đứng vững, đối với Tối Cao Pháp Viện Mỹ.

Tối Cao Pháp Viện Mỹ cũng cho rằng bố mẹ đồng tính cũng có thể làm tròn nhiệm vụ nuôi dưỡng con cái như bố mẹ khác tính.

Tuy nhiên vấn đề của nước Mỹ là, hiện nay nước Mỹ có đến từ 40 đến 50% các cặp vợ chồng ly dị. Một con số kinh hoàng. Giá trị gia đình ở Mỹ thấp đến mức giáo dục trẻ em gặp khủng hoảng rất lớn. Ở Mỹ rất khó dạy con cái và bố mẹ Việt nào ở Mỹ cũng biết và đôi khi rất đau đầu về điều này.

Giá trị gia đình của Mỹ đã tồi tệ đến vậy, thêm gia đình đồng tính thì chúng ta có thể thấy giá trị gia đình của Mỹ chỉ có thể đi xuống, vì trẻ em trong các gia đình đồng tính có thể rất lẫn lộn trong đầu về cha là gì, mẹ là gì.

Các quyết định của Mỹ về hôn nhân đồng tính vì vậy cần người Việt suy xét kỹ.

Việt Nam là nước có truyền thống hôn nhân chỉ dành cho nam nữ xưa nay. Và ngày nay thì tại Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới mục đích của gia đình vẫn là nam nữ sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng, thụ thai nhân tạo hay mang thai hộ vẫn là rất thiểu số.

Hơn nữa, “Gia đình” của bố mẹ cùng giới bắt buộc thiếu sự quân bằng của bố nam và mẹ nữ, và làm các con rất lẫn lộn về ý niệm bố mẹ.

Thêm vào đó, liên hệ đồng tính không thể xem là vấn đề giới tính thực sự. Giới tính thì chỉ có hai giới, nam và nữ. Người đồng tính cũng có giới tính nam hay nữ của họ. Họ không bị ai phân biệt đối xử vì giới tính nam hay nữ của họ.

Liên hệ đồng tính, chính xác nhất, thì phải gọi đó là “một cách sống đặc biệt về tình dục”, có thể do nguyên nhân sinh học tự nhiên hoặc lựa chọn chủ quan. Cách sống như vậy là việc riêng tư của mỗi người, và mọi người khác nên tôn trọng. Nhưng chấp nhận và không kỳ thị cách sống của thiểu số thì không cần thiết phải thay đổi cả một định chế gia đình xã hội có giá trị lớn như ở Việt Nam, để áp đặt cho tất cả mọi người. Hơn nữa, giả sử chúng ta chấp nhận hôn nhân đồng tính bằng luật pháp, thì luật pháp cũng không thể ép buộc những người khác – với lòng tin khác về hôn nhân đồng tính — phải chấp nhận hôn nhân đồng tính. Mỗi người cần được tự do giữ lòng tin của mình.

Việt Nam, không như Mỹ, có giá trị gia đình rất mạnh. Hiện nay, gia đình Việt Nam đang bị nhiều đe dọa: Mạng Internet và toàn cầu hóa ồ ạt mang đến các hệ giá trị từ nước ngoài chống lại giá trị truyền thống Việt Nam, và không phải giá trị nào từ bên ngoài cũng tốt, như là giá trị hôn nhân và gia đình từ một nước khủng hoảng lớn về hôn nhân gia đình như nước Mỹ. Về khoản này, Việt Nam là thầy Mỹ, Mỹ không là thầy Việt Nam.

Với Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (còn gọi là Luật HN&GĐ năm 2014), Việt Nam hiện nay “không cấm, nhưng không thừa nhận hôn nhân đồng tính”.

Đó là một bước dung hòa tạm thời về hôn nhân đồng tính.

Có lẽ nhà nước nên nghĩ đến “đăng ký sống chung” (domestic partnership, registered domestic partnership, registered partnership, civil union) mà nhiều tiểu bang ở Mỹ và nhiều nước ở Âu Châu có, nguyên thủy là cho các cặp nam nữ ở chung nhưng không muốn lập hôn thú, và sau đó được nhiều cặp bạn đồng tính dùng. Với luật “Đăng ký sống chung”, nhà nước cho các cặp sống chung mà không muốn làm hôn thú hoặc không được làm hôn thú, đăng ký nhanh để được hưởng các quyền lợi gần như vợ chồng.

Nếu Việt Nam có luật cho một hệ thống đăng ký như thế, các cặp bạn đồng tính có thể được nhiều quyền lợi do luật quy định, về thừa kế, tài sản chung, bảo hiểm… như hôn nhân khác tính, nhưng Việt Nam vẫn có thể bảo vệ được giá trị nguyên vẹn của gia đình truyền thống và không sợ các quy chế mới cho một thiểu số người làm suy suyễn đến giá trị gia đình cho cả nước.

Thậm chí Việt Nam cũng có thể nghĩ đến chấp nhận hôn nhân đồng tính bằng luật pháp, nhưng đồng thời cũng phải nghĩ đến việc không cho luật pháp chấp nhận hôn nhân đồng tính xâm phạm tự do, đặc biệt là tự do tôn giáo, của các tổ chức và cá nhân khác có lòng tin rằng hôn nhân là kết hợp giữa người nam và người nữ.

Chúng ta cần bảo vệ mọi người với mọi lòng tin khác nhau.

TĐH

 

One thought on “Việt Nam nên làm gì về hôn nhân đồng tính ?”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s