Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 6 (PHẦN 4)

Người dịch: Đào Thị Bích Diệp

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 6: TÁI KHỞI ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 21 (Phần 4)

6A. 350 ppm: Tái hấp thụ CO2 bằng việc mở rộng nông nghiệp và trồng rừng (tiếp)

Có một vài cách để lưu trữ CO2 trong đất. Một trong số đó là quá trình cacbon hoá bằng quá trình thuỷ nhiệt (làm nóng nước trong vỏ trái đất) để sản xuất đất mùn một cách nhanh chóng, phương pháp được phát triển bởi Markus Antonietti, chủ tịch của Viện Max Planck về Chất keo và Bề mặt (Max  Planck  Institute  for  Colloids  and Interfaces) ở Potsdam.

Đây là một phương pháp để tạo ra cacbon với vận tốc lớn, một cách thức mà nếu diễn ra trong tự nhiên, sẽ cần đến hàng trăm hoặc hàng ngàn năm để hoàn thành. Vật liệu hữu cơ được chuyển hoá thành cacbon trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao (như trong nồi áp suất) trong các lò cacbon hoá được thiết kế đặc biệt. Cacbon sau đó được bổ sung vào đất như là một loại phân bón tạo ra mùn than. Trong phương pháp này, CO2 được lưu trữ trong đất. Việc thêm bình quân khoảng 20 tấn cacbon cho mỗi hecta đất nông nghiệp có thể làm tăng gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba sản lượng của đất trồng.

Những nhà máy cacbon hoá này hiện có giá khoảng 100 000 Euros, bằng với giá của một thiết bị nông nghiệp cỡ lớn, nhưng một khi nó được sản xuất hàng loạt, giá thành sẽ tự động giảm xuống. So sánh với sản lượng tăng dần và sự tiết kiệm phân bón, các nhà máy này cho hiệu suất cao, đồng thời lại tạo ra nguồn nhiệt hữu ích.

Một phương pháp khác để lưu trữ CO2 trong đất bằng các phương tiện sản xuất đất mùn là quá trình “terra preta“* – là một loại sản phẩm từ đất mùn từ chất thải than củi hữu cơ và phân.

*terra preta: tiếng Bồ Đào Nha theo nghĩa đen là đất đen, hay vùng đất đen, là một loại đất màu rất tối, màu mỡ và có ảnh hưởng rất lớn đối với môi trường và con người. Đây là loại đất chứa hàm lượng cao cacbon của than củi và có tính bền vững lâu dài trong đất hàng nghìn năm, loại đất này được tìm thấy ở vùng sông Amazon.

Cả hai phương pháp này chỉ có thể được thực hiện trong một bối cảnh địa phương. Hans-Josef Fell đã tính toán rằng, bằng việc kết hợp một chương trình trồng rừng toàn cầu với quá trình cacbon hoá thuỷ nhiệt Antonietti (sử dụng 8 triệu nhà máy trên khắp thế giới), mức CO2  toàn cầu có thể giảm xuống tới 330 ppm vào năm 2030 nếu chúng ta sử dụng một cách rộng rãi năng lượng tái tạo (toàn cầu) ngay từ bây giờ. Điều kiện cuối cùng này cho năng lượng tái tạo là chưa đạt được, thậm chí ngay cả với một sự chuyển đổi năng lượng nhanh chóng. Nhưng sự chuyển hoàn toàn sang năng lượng tái tạo là hoàn toàn có thể trong một phần tư thế kỷ trên quy mô toàn cầu, do đó mục tiêu 350 ppm hoàn toàn có thể đạt được.

Cả tái trồng rừng và sản xuất đất mùn với quy mô lớn đều không phụ thuộc vào nông nghiệp độc canh, giúp bảo vệ khí hậu và ổn định cân bằng nước tự nhiên. Chúng có thể được áp dụng mọi nơi và phụ thuộc vào sự tham gia của nhiều nhà hoạt động. Ngay cả khi không cần có trợ cấp, chúng cũng mở ra các cơ hội thị trường mới cho nông nghiệp và lâm nghiệp. Đặc biệt, chúng thúc đẩy việc sử dụng gỗ như là một vật liệu xây dựng, một vật liệu lưu trữ CO2 trong thời gian dài và có thể thay thế phần lớn đối thủ của nó là xi măng (đại diện cho việc giảm thiểu hơn nữa khí thải CO2). Nhưng cả hai sáng kiến đều đòi hỏi một sự thúc đẩy chính trị ban đầu: các sáng kiến nông nghiệp cần có sự đào tạo và các chương trình vay vốn có liên quan, các sáng kiến trồng rừng cần có sự phân bố các khu vực trồng trọt, với các quy định liên quan đến việc trồng các loại cây tự nhiên (bản địa) và rừng hỗn hợp.

Sự thành công của một dự án trồng cây không phụ thuộc vào nguồn vốn, như đã được minh hoạ bởi ví dụ lịch sử của Civilian Conservation Corps (CCC) được thiết lập bởi tổng thống Franklin D. Roosevelt trong những năm 1930. George C. Marshall, người chịu trách nhiệm về chương trình phục hồi Châu Âu sau chiến tranh thế giới, đã đứng ra tiến hành dự án này hay còn gọi là Kế hoạch Marshall, được tài trợ bởi Mỹ. Trong khoảng thời gian giữa năm 1936 và 1941, CCC đã huy động nhiều thanh niên tình nguyện (tổng cộng khoảng 800 000 người trong suốt dự án) tham gia trồng rừng tự nguyện. Chỉ trong vài năm, các vùng rừng rậm tại Mỹ đã mở rộng đáng kể. Tổng thống Kennedy cũng sử dụng CCC như là một mô hình cho Peace Corps – Tổ chức Hoà bình mà ông thành lập vào năm 1961.

Ở Trung Quốc hiện có khá nhiều dự án trồng rừng xã hội, trong đó các thị trưởng và thành viên chính quyền ở địa phương thực hiện việc trồng rừng cùng với một số lượng lớn người dân vào cuối tuần. Các cộng đồng và trường học có thể thực hiện các dự án này với hiệu quả tốt như nhau. Một ví dụ điển hình là dự án Cây vì Cây – Tree for Tree, thiết lập bởi trẻ em tại các trường học và được hỗ trợ bởi UNEP (Chương trình Môi trường Liên hợp quốc) với mục tiêu trồng được 1 triệu cây tại mỗi quốc gia trên thế giới. Khẩu hiệu của họ là:

“Chỉ nói suông thôi thì sẽ không thể làm các sông băng ngừng tan chảy: Đừng nói nữa. Hãy bắt đầu trồng cây đi”.

Trồng rừng cũng có thể là một nhiệm vụ đầy năng suất của quân đội trong thời bình, không chỉ ở các nước đang phát triển, và đặc biệt là cho các dự án tái trồng rừng lớn hơn được thực hiện ở xa khu dân cư. Một ví dụ xa xưa là việc quân đoàn kỹ sư của hoàng đế người Pháp Napoleon tham gia xây dựng các kênh mương vận chuyển và hệ thống thuỷ lợi, thay vì tham dự vào các dự án tái trồng rừng.

Các khuôn khổ chính trị bền vững

Khi nói đến các biện pháp về bảo vệ khí hậu tự nhiên, một khuôn khổ chính trị là cần thiết nếu muốn đảm bảo cho sự bền vững. Nếu việc sử dụng năng lượng sinh học không đồng bộ với việc tái trồng trọt và cân bằng CO2, thì chúng ta khó có thể nói đến sự bền vững. Điều tương tự cũng áp dụng cho các phương pháp trồng trọt làm xói mòn đất mùn và phá huỷ mạch ngước ngầm. Định luật vật lý của sự bền vững phải được xếp hạng cao hơn bất kỳ sự điều tiết thị trường nào và phải được ưu tiên hơn các thoả thuận quốc tế. Nó phải được công nhận như là một nguyên lý dẫn đường trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia.

Tính ưu việt của các nguyên lý bền vững cũng có thể được xác thực trong cơ cấu của các hiệp định thương mại thế giới. Điều này đòi hỏi sự tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của sự tương tác lẫn nhau, ví dụ các quy định bền vững phải được áp dụng cho, không chỉ với hàng nhập khẩu mà còn với các sản phẩm quốc nội. Do đó, UNEP và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), dưới hình thức của một cơ quan Liên hợp quốc đặc biệt về nông nghiệp và thực phẩm, nên được giao cho nhiệm vụ xác định và lập ra một bộ quy tắc ứng xử cho việc sử dụng sinh khối bền vững. Mặc dù bản thân nó không phải là một thoả thuận quốc tế, một chương trình hành động được đề nghị như vậy sẽ giúp cho việc đạt được thoả thuận này trở nên nhanh chóng hơn, và bản thân nó có thể đóng vai trò cơ sở cho việc lập ra các điều luật của quốc gia. Khi mà một bộ luật như vậy được thông qua bởi các nước lớn hay là EU, ảnh hưởng của nó sẽ tự động có tầm quốc tế.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s