Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 3 (PHẦN 3)

Người dịch: Trương Lương Vinh
Biên tập: Phạm Thu Hường

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 3: Các Siêu Lưới – Những Chiếc Phanh Tiến-Bộ-Giả-Hiệu (Phần 3)

3B. CÔNG NGHỆ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ XÃ HỘI: DỰ ÁN DESERTEC VÔ ĐỊNH

Khi nói đến dự án DESERTEC chỉ có tên và các chi tiết là mới. Ý tưởng cung cấp cho châu Âu với năng lượng được tạo ra từ điện mặt trời ở sa mạc Sahara đã được nói đến cách đây 60 năm và đã được phát triển bởi một người Pháp, Marcel Perrot tại Viện nghiên cứu năng lượng mặt trời của mình tại Algeria: điện được tạo ra bởi các nhà máy điện năng lượng mặt trời Algeria, khi đó là một thuộc địa của Pháp, để được truyền đi dọc theo dây cáp ngầm nằm trên nền đáy biển, do đó có thể bảo đảm nguồn cung cấp điện của Pháp trong tương lai.

Sau khi Pháp đã buộc phải công nhận độc lập của Algeria sau Chiến tranh Algeria 1954-1962, ý tưởng này đã bị từ bỏ và Pháp bắt đầu hành trình hạt nhân của mình. Cũng cùng một ý tưởng đã được nắm bắt trong thời gian những năm 1950 bởi một giáo sư người Đức, Eduard Justi, người muốn sử dụng các nhà máy điện năng lượng mặt trời ở sa mạc Sahara để tạo ra hydro và cung cấp nguồn điện cho Châu Âu. Ý tưởng không mới này cũng đã được chọn một lần nữa trong những năm 1980 bởi Trung tâm Vũ trụ Đức (tổ chức DLR ngày nay) và phát triển hơn nữa. Viện nghiên cứu này đã thử nghiệm với công nghệ nhà máy nhiệt điện mặt trời ở Almeria thuộc Tây Ban Nha từ những năm 1970, và phát triển các đề xuất hợp tác năng lượng tái tạo xuyên Địa Trung Hải (Transmediterranean Renewable Energy Cooperation), tạo nền tảng mà sáng kiến của dự án DESERTEC được dựa trên.

Không nghi ngờ rằng dự án DESERTEC là có thể thực hiện được về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, so với các lựa chọn năng lượng tái tạo khác, và mặc dù tất cả các nghiên cứu lạc quan, chi phí thực sự của dự án này vẫn không thể kiểm soát được. Tuy nhiên, do tầm quan trọng nền tảng của nó, chúng ta không thể cho phép chi phí thực tế của sự chuyển đổi năng lượng trở thành tiêu chí quyết định, ít nhất cho đến khi năng lượng tái tạo có thể cạnh tranh được so với năng lượng hạt nhân và hóa thạch. Mặc dù vậy, câu hỏi về chi phí lại là một điểm trực tiếp hợp lý khi so sánh các cách thức khác nhau của việc sử dụng năng lượng tái tạo. Ngoài ra, chi phí không bao giờ nên được xem xét trong sự cô lập, bởi vì việc cung cấp năng lượng tái tạo cũng phải liên quan đến các lợi ích khác, và quan trọng hơn, đó là lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, đặc biệt là câu hỏi trong đó các khái niệm năng lượng tái tạo nào có thể được công nhận nhanh nhất, cho cả Châu Âu và trong các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi.

Lịch trình không thực tế, những chi phí bùng nổ

Vì các lý do chính trị, kinh tế và các lý do mang tính xã hội học, rõ ràng là gần như không thể nào thực hiện được dự án điện sa mạc trong khi tuân thủ những hứa hẹn về ngân sách và lịch trình đã định. Đề cập tới điều này, tôi không muốn ngụ ý rằng các lỗi tính toán đã được thực hiện bởi những người đề xuất các nghiên cứu liên quan, nhưng các nghiên cứu này chỉ có thể, tối đa là, tính toán được những gì có thể xảy ra, nếu tất cả các bên tham gia vào dự án tuân theo kế hoạch cực kỳ nghiêm ngặt trong khoảng thời gian vài thập kỷ. Điều này là không thực tế, chỉ riêng số lượng các tổ chức tham gia đã là không thể quản lý; bao gồm hơn 40 chính phủ, với mỗi hệ thống mạng lưới quốc gia riêng của họ, và đừng quên các chính phủ khu vực trên khắp vùng đất mà các đường dây cáp điện phải được lắp đặt (và do đó cũng phải quan tâm đến dân số của các khu vực này nhằm có biện pháp hạn chế họ làm gián đoạn xây dựng).

Không có dự án kỹ thuật lớn nào đã từng được hoàn thành thành công trong phạm vi ngân sách – chi phí thường gấp đôi hoặc thậm chí nhiều hơn so với dự toán ngân sách. Ngay cả khi tính toán một cách chính xác, sự phức tạp của các dự án lớn khiến cho không thể dự đoán chính xác thời gian kéo dài bao lâu hoặc những các hoạt động liên quan. Không có nghiên cứu nào có thể dự đoán kết quả của quá trình ra quyết định, mức độ kháng cự, xung đột lợi ích phát sinh và những sai sót không thể tránh khỏi xảy ra khi dự án được thực hiện. Các dự án lớn có thể dẫn đến sai sót lớn mà kết thúc bằng một sự sụp đổ.

Dự án điện sa mạc có thể sẽ là dự án đầu tư lớn nhất thế giới cho đến nay, với một số lượng thành viên tham gia rất lớn đến mức không thể lường trước và liên tục thay đổi (do thời gian dài của dự án). Điều đó là quá phức tạp chưa kể đến tình hình chính trị nhạy cảm ở phần lớn các bang vùng sa mạc bị ảnh hưởng. Có một cái nhìn thực tế về môi trường chính trị và kinh tế là quan trọng hơn nhiều so với mô hình tính toán của chi phí kỹ thuật. Hơn nữa, rất khó có thể lập dự toán chi phí cho các đường dây cáp điện trong khoảng cách dài với bất kể là ở mức độ chính xác nào bởi vì cho đến bây giờ chúng là duy nhất. Tuy nhiên, EUROSOLAR có một dự án tương tự được đánh giá khoa học: các đường cáp điện với dòng cao áp một chiều (HVDC) dài nhất trên thế giới là ở Trung Quốc, và kéo dài trên một khoảng cách 2000 km. Ngược lại, DESERTEC đang có kế hoạch về đường dây cáp điện có chiều dài lên đến 5000 km.

Cho đến nay dòng cao áp một chiều được kết nối trực tiếp giữa các điểm nút mạng (point-to-point connections), do đó một mạng lưới dày đặc phân nhánh với nhiều mối liên kết chéo – như dự kiến cho DESERTEC – sẽ bao gồm chi phí phát triển mạng lưới lớn hơn nữa. Dự án vùng sa mạc này tiêu biểu cho việc nhảy vào tình huống cực kỳ phức tạp và khó khăn mà không có sự kinh nghiệm trước đó; chúng ta không có kinh nghiệm trong việc sử dụng cáp của dòng cao áp một chiều ở độ sâu hơn 1000 m, điều sẽ là cần thiết để đi xuyên qua Địa Trung Hải. Chỉ riêng điều này đã khiến cho cực kỳ ít có khả năng hai dòng cao áp một chiều đầu tiên sẽ được thực hiện vào năm 2020, hoàn toàn phi thực tế rằng có khả năng đưa ra tính toán cho một dự án khổng lồ như vậy trước khi những yếu tố chính mà dự án được dựa trên đã từng trải qua quá trình lĩnh hội kinh nghiệm (learning curve) của riêng mình.

Nhưng trên tất cả, thật sự có rất ít khả năng việc xây dựng các tuyến đường cáp truyền điện sẽ đi theo kế hoạch bởi vì sự kháng cự của địa phương là không thể tránh khỏi. Đối với các tuyến đường cáp dài truyền dẫn xuyên qua Ý, trên dãy núi Alps đến Đức, xuyên qua Tây Ban Nha trên dãy núi Pi-rê-nê hoặc xuyên qua Địa Trung Hải đến Pháp, và từ đó đến các điểm kết nối khác nhau, khả năng của việc chống đối từ các cá nhân hoặc các nhóm nhỏ bảo thủ là quá lớn không thể tính toán được. Các vấn đề gặp phải trong việc xây dựng nhiều tuyến đường truyền chỉ 20 km hoặc 50 km chiều dài, thường kéo dài hàng chục năm để hoàn thành, là một cảnh báo trước của những gì sắp đến.

Một ví dụ về kiểu vấn đề của DESERTEC sẽ phải đối mặt khi xây dựng mạng lưới xuyên biên giới là cuộc xung đột xung quanh đường truyền điện cao áp một chiều Pháp-Tây Ban Nha chạy từ Cazirel-Aragon, đến Baixas, Santa-Llogaia. Mặc dù đường truyền này bao gồm một khoảng cách chỉ 75 km, việc thi công đã mất đến 30 năm. Chỉ sau khi cựu Ủy viên Liên minh Châu Âu, Mario Monti tham gia vào như một người điều phối và với lời hứa hơn 225 triệu euro tài trợ của Liên minh Châu Âu, khi đó thỏa thuận mới có thể đạt được, cho phép sự xây dựng có thể hoàn thành vào năm 2014 và dưới hình thức của hệ thống cáp ngầm đắt tiền, chỉ để xoa dịu sự phản đối của địa phương. Tổng chi phí cho đường dây cáp điện này là khoảng 800 triệu euro, gấp chín lần so với ước tính ban đầu!

Một trong những lập luận chính nêu ra bởi những người biểu tình dân sự tại khu vực mà qua đó các đường dây điện sẽ chạy, đó là các đường cáp này không được thiết kế để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho khu vực của họ, hoặc nhiều khi ngay cả nhu cầu năng lượng quốc gia của họ. Có thể thấy được mức độ xung đột xung quanh các đường cáp truyền dẫn – và chúng ta đang nói đến 80-100 tuyến đường, mỗi tuyến có chiều dài từ 3000 km đến 5000 km! – điều sẽ là một đặc điểm cố định của dự án. Thậm chí ngay cả khi tất cả các cuộc xung đột được giải quyết vì lợi ích của dự án thì sự chậm trễ lớn trong việc xây dựng là không thể tránh khỏi và điều này tự động tạo ra sự gia tăng kinh khủng về chi phí. Đây là điều không thể tránh khỏi nhưng có rất nhiều hậu quả cho việc xây dựng tiếp theo của các nhà máy điện vì những nhà máy này phụ thuộc vào sự sẵn có của các tuyến cáp truyền dẫn.

Dự án DESERTEC được gắn bó với các nhà máy điện thu giữ và lưu trữ cacbon cũng bởi vì chúng rất quan trọng đối với các nguyên tắc cơ bản đằng sau dự án này – để làm cho lựa chọn điện sa mạc trở nên hấp dẫn như là một phương tiện đảm bảo nhu cầu của Châu Âu về năng lượng, miễn là các cơ cấu được thiết kế để đảm bảo nhu cầu phụ tải nền của nhà máy điện. Nếu dự án này là chủ yếu quan tâm đến việc tạo ra năng lượng mặt trời và năng lượng gió cho các quốc gia ở Bắc Phi và Cận Đông, thì dự án cũng sẽ cần phải xem xét, bên cạnh các nhà máy điện thu giữ và lưu trữ cacbon, để xây dựng các nhà máy quang điện mặt trời và năng lượng gió. Những nhà máy này không phụ thuộc vào một siêu mạng lưới xuyên qua Địa Trung Hải và có thể được xây dựng tương đối dễ dàng trên một diện tích rộng. Nhà máy điện thu giữ và lưu trữ cacbon có giá trị cho các thành phố lớn ở các vùng sa mạc của Bắc Phi, hay sử dụng như dự trữ cân bằng cho năng lượng gió ở các vùng đặc biệt nhiều gió dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và trong phần lớn của Ai Cập. Ngược lại, quang điện có giá trị lớn cho các vùng nông thôn trên khắp Bắc Phi, nơi kết nối mạng lưới điện là hầu như không thể cũng như không cần thiết.

Ngoài ra, chỉ có nhà máy CCS làm mát bằng không khí, chứ không phải làm mát bằng nước, có thể được sử dụng ở các vùng sa mạc vì thiếu nước và/hoặc chi phí bổ sung khổng lồ từ nhà máy khử muối và các đường ống dẫn nước. Phương pháp làm mát bằng không khí được sử dụng trong nhà máy điện thu giữ và lưu trữ cacbon lớn nhất thế giới đang được xây dựng – dự án nhà máy Shams-1 công suất 100-MW ở Abu Dhabi. Tuy nhiên, dự án này cho thấy nhà máy điện CCS đang cách xa cho khả năng có thể sản xuất điện với giá  0.05 hoặc 0.06 euro cho mỗi kilowatt giờ – bao gồm cả chi phí truyền điện sang châu Âu. Để nhà máy điện Shams 1 được hoàn vốn, trợ giá 0.30 euro cho mỗi kilowatt-giờ trong hơn 25 năm đã được thỏa thuận với mạng lưới công ty tại Abu Dhabi. Chi phí khấu hao cho nhà máy 100 MW của Abu Dhabi tiếp theo, hiện đang lập kế hoạch, đã được giảm xuống còn 0.25 euro mỗi kilowatt-giờ. Hai nhà máy điện này, được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tại địa phương Abu Dhabi, không phải chịu bất kỳ chi phí thuê đất nào và chỉ bao gồm  chi phí truyền dẫn tối thiểu. Để so sánh, khoản trợ giá bảo đảm cho số kilowatt giờ của hai nhà máy điện này là cao hơn so với các khoản thanh toán cho năng lượng được tạo ra bởi toàn bộ hệ thống quang điện ở các vùng nông thôn mở ở Đức.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s