Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 2 (PHẦN 6)

Người dịch: Phạm Thu Hường

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 2: Phương Pháp Và Tâm lý Của Sự Trì Hoãn
(Phần 6)

2A. Chủ nghĩa tối giản có tổ chức: Bẫy khái niệm của các hội nghị khí hậu thế giới và giao dịch thương mại phát thải (tiếp theo)

Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo (EEG) thành công hơn và rẻ hơn giao dịch khí thải cacbon

Chỉ tính riêng ở Đức, Đạo luật EEG đã dẫn đến giảm phát thải một lượng CO2 lớn hơn đáng kể so với mức yêu cầu chính thức của Nghị định thư Kyoto. Nghị định thư Kyoto đặt mục tiêu giảm lượng khí thải CO2 là 10 triệu tấn vào năm 2012 đối với điện được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch và các ngành công nghiệp, trong khi Đạo luật EEG kích thích đầu tư vào năng lượng tái tạo, đến năm 2009 đã làm giảm lượng khí thải CO2 đến 66 triệu tấn.

Tại Đức, chứng chỉ phát thải đã khiến cho chi phí phát điện tăng lên 10.75 tỷ Euro chỉ riêng từ năm 2005 đến 2007. Mặc dù các chứng chỉ phát thải đã được cấp cho các công ty điện miễn phí, chính các công ty đó đã gộp giá trị thị trường của các chứng chỉ này khi tính toán hóa đơn tiền điện của khách hàng. Trong mọi trường hợp, hệ quả của giao dịch phát thải cacbon cũng như sự phân phối rộng rãi và hoàn toàn miễn phí của các chứng chỉ phát thải CO2 là những lợi nhuận bất ngờ cho các công ty năng lượng lớn của Đức, sẽ tăng lên khoảng 44 tỷ Euro cho đến năm 2012. Ngược lại, các chi phí phải trả thêm để đưa năng lượng tái tạo vào hệ thống sẽ chỉ dưới 47 tỷ Euro trong giai đoạn 2005-2012, và sẽ dẫn đến việc giảm lượng khí thải CO2 ở Đức nhiều hơn 80 triệu tấn, tức là hiệu quả gấp 8 lần về mặt tài chính.

Tuy nhiên, trong khi thúc đẩy năng lượng tái tạo để tạo ra điện một cách thân thiện với môi trường, các phát triển công nghệ và giảm chi phí cho công nghệ tương lai (ngoài việc tránh được sự nhập khẩu năng lượng hóa thạch và các chi phí ngoại vi), lợi nhuận trời cho của các công ty năng lượng lại không phản ánh bất kỳ đóng góp tích cực nào. Tất cả những điều này là con số cụ thể, hoàn toàn trái ngược với các ý tưởng về mặt lý thuyết của các học giả Kyoto về chi phí của việc làm giảm phát thải CO2.

Đạo luật EEG, mà khi ra đời đã bị các công ty năng lượng tập trung tấn công, có lẽ đã gián tiếp khuyến khích nhiều biện pháp bảo vệ môi trường trên toàn thế giới hơn toàn bộ Nghị định thư Kyoto. Đạo luật này đã khơi mào cho việc sản xuất hàng loạt công nghệ năng lượng tái tạo, giảm chi phí và xây dựng hàng loạt cơ sở sản xuất các công nghệ này tại các nước như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản. Đến lượt mình, các quốc gia này sản xuất và bán các công nghệ cho thị trường đang phát triển nhanh chóng tại Đức, cũng như các thị trường khác có những luật tương tự như EEG.

Đây chính là cách làm thế nào để các cuộc cách mạng công nghệ cất cánh – bằng cách châm ngòi cho một quá trình động lực tự sinh. Những người ưa thích hạn ngạch được chứng nhận (về CO2), được phân phối dựa theo những tiêu chí chủ quan và hiệu quả đáng nghi ngờ, sẽ kết thúc với một nền kinh tế kỹ trị bị điều khiển bởi Nhà nước hơn là một cuộc cách mạng công nghệ năng lượng.

Thậm chí như vậy, các nhà lý luận chính của giao dịch cacbon (với một quan điểm thiển cận hoặc cố tình mù quáng và một sự miêu tả lá mặt lá trái thấy rõ về sự thật), than vãn về “sự không hiệu quả kinh tế” của EEG và “bản chất hiệu quả kinh tế cao của giao dịch cacbon”.

Đặc biệt thường xuyên và nhiều lời là sự phàn nàn của Viện Nghiên cứu Kinh tế của Đức (RWI), một Viện nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách tổ chức có trụ sở tại Essen, nơi tính toán  mọi chi phí có thể liên quan tới việc giảm lượng khí thải CO2 (như thể không có các tiêu chí khác tồn tại), trước khi cố tình trình bày đánh lạc hướng.

Theo RWI, để giảm phát thải mỗi tấn CO2, cần một khoản chi phí là 900 Euro với sử dụng điện năng lượng mặt trời, 200 Euro với điện gió, và chỉ 30 Euro hoặc ít hơn 30 Euros bằng cách sử dụng giao dịch cacbon. Họ đã xoay xở như thế nào để tính ra được những con số như vậy, điều hoàn toàn không cân xứng với giá mà khách hàng phải trả cho điện tạo ra từ năng lượng tái tạo so với giá cho phần điện mà được bao hàm trong giá của chứng chỉ phát thải CO2?

Ở đây chúng ta thấy có sự đụng độ của hai ý tưởng không tương xứng và đối lập: Viện RWI (ở đây được xem như là một biểu tượng cho tất cả những người ủng hộ giao dịch cacbon), dùng chi phí đầu tư thực tế trong hệ thống năng lượng tái tạo (và chuyển đổi thành điện không phát thải) để so sánh với giá giao dịch của chứng chỉ CO2 được phân bổ. Tổ chức này cũng dùng các chi phí cho các khoản đầu tư hoàn toàn mới vào các hệ thống năng lượng tái tạo để so sánh với một phần chi phí đầu tư bổ sung vào hệ thống thông thường hiện có nhằm làm giảm chỉ một vài điểm phần trăm lượng khí thải CO2.

Và thứ ba, họ so sánh các hệ thống năng lượng tái tạo sản xuất điện không phát thải trong suốt vòng đời hoạt động của chúng với những nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch mà tiếp tục phát ra số lượng CO2 đáng kể trong khoảng thời gian 50 năm hoặc lâu hơn (khi họ đề cập đến các nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch mới và hiệu quả hơn nghĩa là sẽ phát thải lượng CO2 có lẽ là 10% ít hơn thông thường). Vì vậy, họ so sánh hiệu quả lâu dài của việc hoàn toàn tránh khỏi khí thải CO2 với tác dụng ngắn hạn của việc giảm lượng khí thải bằng một vài phần trăm. Nói ngắn gọn, ngay cả khi theo phân tích kinh tế chặt chẽ, họ vẫn tiếp tục so sánh những điều (nguồn năng lượng) quá khác biệt về bản chất.

Hãy đơn giản nhìn vào 20 năm sau, các khoản đầu tư được thực hiện như là một kết quả của Đạo luật EEG, khi các khoản trợ cấp bảo đảm cho mỗi hệ thống đã hết và hệ thống đã được khấu hao sau thời gian dài. Đến thời điểm này, chi phí sản xuất điện sử dụng hệ thống phát điện năng lượng mặt trời và gió có lẽ là khoảng 0.01 Euro cho mỗi kilowatt giờ hoặc ít hơn – các chi phí khi đó chỉ dành cho việc thay thế các dụng cụ chuyển đổi năng lượng và việc bảo trì thường xuyên.

Ngược lại, một nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch, ngay cả với sự giảm phát thải CO2, cũng sẽ vẫn hoạt động sau 20 năm và tiêu thụ nhiên liệu ngày càng đắt đỏ, và sẽ vẫn tiếp tục phát thải CO2. Điều này là hoàn toàn chưa kể đến các khí thải khác và các chi phí xã hội liên quan, những chi phí mà, đối với các nhà lý luận chính của giao dịch cacbon, là không còn tồn tại, cứ như thể họ sống trên một hành tinh khác vậy.

Bởi vậy mà, một người như Christoph Schmidt, người đứng đầu của RWI và đồng thời là một trong năm thành viên của Hội đồng các chuyên gia kinh tế của Chính phủ Đức (hay còn được gọi là “năm nhà hiền triết kinh tế”), những người được giao nhiệm vụ nghiên cứu chính sách kinh tế tổng quan, lại có thể đi đến kết luận vô lý rằng những tác dụng về mặt môi trường của EEG là “gần như bằng không” và rằng hiệu quả kinh tế tổng thể là “tối đa chỉ bằng không”. “Những gì được coi như là kết quả của EEG chỉ đơn giản là phát thải ra nơi khác, với khí thải chỉ được đơn giản là chuyển sang các ngành công nghiệp khác có tham gia vào các giao dịch cacbon.

Trong một bài báo cho Hội đồng tư vấn của Đức về Môi trường (SRU), giáo sư kinh tế Karin Holm-Muller đặt vấn đề có nên so sánh những điều được ưa thích với điều không được ưa thích khác biệt hoàn toàn về bản chất. Bởi vì “hiển nhiên” rằng điều này dẫn đến một sự “ưu tiên cho các nhà máy điện đốt than” mặc dù một sự so sánh thực tế “tất cả các chi phí” chỉ ra rằng đây là những biện pháp tốn kém hơn so với lượng việc tránh hoàn toàn lượng khí thải CO2 bởi các phương pháp thay thế (ví dụ, năng lượng gió).

Kết quả của sự xét đoán sai lầm ban đầu này là, chúng ta tiếp tục gắn bó với “con đường tránh né dài hạn cận tối ưu mang tính xã hội”, hay là giao dịch cacbon. Vấn đề này được nêu bật bởi thực tế là nghĩa vụ để giảm hơn nữa lượng CO2 chỉ luôn được đưa ra ít một theo mỗi giai đoạn, từ mỗi “giai đoạn giao dịch” đến đoạn tiếp theo, và luôn luôn bao gồm lý luận và tranh cãi, với tầm quan trọng của mỗi giai đoạn cần phải được đàm phán riêng rẽ.

Kết quả là các doanh nghiệp luôn luôn chỉ muốn tăng “chi phí bổ sung cho việc giảm phát thải trong hệ thống hiện tại” hơn là các khoản đầu tư vào năng lượng tái tạo, do các điều kiện ngắn hạn hơn và nhiều khoản tính toán có thể kiểm soát hơn. Hậu quả là “nhờ vậy mà hiện trạng của hệ thống công nghệ cũ tiếp tục được bảo quản, hưởng thụ một mức độ bảo đảm mà không thể được cung cấp chỉ riêng bởi giao dịch cacbon”. Điều này dẫn đến “các công nghệ mới đang bị bất lợi do hệ thống giao dịch cacbon“. Do vậy chiến thuật chờ đợi và trì hoãn đã thành công.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s