Tộc Thái là một trong 54 tộc người, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có tiếng nói và chữ viết rất gần với người Việt. Đặc biệt trong ngôn ngữ Thái hiện nay còn giữ được rất nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ. Ngoài do sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong quá trình phát triển của những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh, thì chủ yếu là do tộc Thái với những yếu tố khách quan, giữ được nhiều tinh hoa của ngôn ngữ Việt cổ, phát triển hoàn thiện như bây giờ.
Theo những nhà nghiên cứu chữ Việt cổ, dân tộc ta có chữ viết và hệ thống giáo dục phát triển từ thời Hùng Vương – (chữ khoa đẩu). Chữ Thái có nguồn gốc từ chữ khoa đẩu. Về mặt nhân chủng học, người Thái, Mường, Tày, Kinh… đều thuộc Mongoloid phương Nam. Đó là di duệ của người Việt cổ bản địa chủng Indonesian và cùng được chuyển hóa sang Mongoloid phương Nam. Cũng như tộc Kinh, tộc Thái là con cháu của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Bởi “sự chuyển hóa từ Việt cổ (đa số Indonesian) sang Việt hiện đại (Mongoloid phương Nam) xảy ra khoảng sau 2600 năm TCN, khi nước Văn Lang thành lập. Tùy hàm lượng máu Mongoloid và sự phân bố địa lý mà người Việt chia ra tới 54 sắc tộc như hiện nay” – (Hà Văn Thùy). Do ở các vùng bán sơn địa, xa trung tâm đô hộ của giặc ngoại xâm, tộc Thái đã bảo tồn được ngôn ngữ Việt cổ trước sự tàn sát, đồng hóa dân tộc bao năm ròng của các thế lực thù địch. Trên cơ sở ngôn ngữ Việt cổ, ngôn ngữ Thái biến đổi hiện đại hóa như ngày nay phù hợp với tiến trình phát triển xã hội.
“Địa danh cổ trên đất nước ta phân bố rất rộng, thuộc ngôn ngữ Lạc Việt. Yếu tố tiếng Thái còn tìm thấy khá đậm nét trong đấy. Ngôn ngữ Nam Á trong tiếng Việt cổ là có nguồn gốc chung từ rất xa từ văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, khi nông nghiệp còn thuộc loại hình nương rẫy. Cơ tầng ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ. Cơ chế ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ… Tiếng Thái chính là tiếng Việt cổ phát triển vào một giai đoạn lịch sử muộn. Mối quan hệ giữa chữ viết Đông Sơn và chữ Thái cổ được xem xét dưới quan điểm nhất quán này. Chữ Thái, bao gồm tất cả hệ thống từ Tây Bắc – Thanh Hóa – Nghệ An và chữ viết trên sách ở người Mường (Thanh Hóa). Sách Mường là bảo lưu chữ viết Đông Sơn và chữ Thái không có thay đổi lớn, như chữ Ai Cập tồn tại 3.000 năm không có thay đổi gì mấy.” – (Lê Trọng Khánh). Điều đó lý giải được lý do tại sao ở những vùng người Thái chưa bao giờ đặt chân đến, thì lại có rất nhiều tên địa danh, đơn vị hành chính… mang tên Thái và trong ngôn ngữ Thái mang nhiều yếu tố ngôn ngữ Việt cổ. Ở đây cần nói rõ, không gian địa danh ngôn ngữ Việt cổ vô cùng rộng lớn, chứ không bó hẹp trong địa bàn Việt Nam như bây giờ.
Trước hết trong lao động sản xuất, từ miền Bắc cho đến miền nam Trung bộ có rất nhiều địa danh mang tên: “Pu”, “Pù” – (núi), “Na”, “nà” – ruộng, “Tà” – bến nước mà trong công trình: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình Khoa đẩu” của giáo sư Lê Trọng Khánh đã thống kê những địa danh đó kéo dài từ vùng Lưỡng Quảng, Hải Nam, đến Nam Á. “Chúng ta gặp rất phong phú ở vùng người Mường – Thái địa danh có thành tố “na”, “nà” (đồng ruộng).
Ở những vùng có sự giao thoa văn hóa như Hà Bắc và quanh đền Hùng lớp địa danh này khá dày đặc (Nà Lao, Nà Uy v.v…). Ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là “na” như ở Tứ Xã, Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Nà Pheo, Nà Giũa, Nà Đỏ v.v… Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là “na” như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng v.v. Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, “tam sơn cấm địa”. Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út… Những điều này có thể lý giải được vì dọc bờ hữu ngạn sông Thao – (Nặm Tao) xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Những dòng họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà… là những nhóm cư dân Việt cổ phát triển lên thành người Việt hiện nay. “Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hoá đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi sự thật lịch sử. Ông là con một bà người Mường có tên là Đinh Thị Đen quê ở chân núi Thu Tinh, làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng thành một thần tượng cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hoá. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thuỷ Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng” – (Nguyễn Hữu Nhàn).
Song ở những vùng các cư dân Tày, Thái, Mường chưa hề đặt chân đến cũng có rất nhiều địa danh “na”. Trên địa bàn Nhật Nam (thuộc Quảng Ngãi) có Nà Lau, Nà Klich, Nà Niêu (địa điểm Tỉnh ủy Quảng Ngãi họp quyết định đồng khởi Trà Bồng), và một điều rất lý thú người Chăm H’rê trong ngôn ngữ của họ cũng gọi “nà” là ruộng. Địa danh có thành tố “nà” vùng Chăm H’rê cũng phổ biến như ở vùng người Mường – Thái. Những từ chỉ phức hợp lúa nước có sự đồng nhất tương đối giữa các ngôn ngữ: Mường – Thái – Chăm H’rê và Việt (Khu IV cũ). Sử liệu này cho phép chúng ta nghĩ rằng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Lưỡng Việt rất phổ biến địa danh có thành tố “na” (ruộng) người Việt cổ trồng lúa nước rất sớm; và có một lớp ngôn ngữ thống nhất chỉ về phức hệ lúa nước. Và cư dân Nhật Nam là người Việt cổ; phía Nam của họ là cộng đồng người nói tiếng Malayo” – (Lê Trọng Khánh).
Chỉ xin trích dẫn một số ví dụ: những từ như “mương”, “phai” chỉ những công trình dẫn thủy nhập điền cho đến nay vẫn phát âm đồng nhất. Có những từ đã biến âm đôi chút hoặc trở thành từ ghép Thái – Việt như “tông” – đồng, “đo đạc” – tạc, “đòn càn” – can, “mưa phùn”, “dao pha”, “cày” – tháy, “chạc” (dây thừng) – chược.
Tên địa danh cũng có rất nhiều từ tương đồng hoặc còn giữ nguyên bản như: “Chiềng” là vị trí trung tâm ở một mường lớn, (Chiềng là thủ phủ của một mường, nhiều nơi phát triển thành thành phố lớn hoặc thủ đô của quốc gia) – (tất nhiên trong lịch sử người Thái, ngoài “Chiềng” mang ý nghĩa như trên là phổ biến, nó cũng có ngoại lệ như là: Chiềng Pấc là tên một mường phìa của Châu Mường Muổi, Chiềng Cang là tên một mường phìa của Châu Mường Mụa; trong sử sách, người Thái gọi nước Lào là Chiềng Đông, Chiềng Tòng). Nay còn có nhiều thành tố “Chiềng” ở cả những nơi người Thái chưa bao giờ đặt chân đến như: Hà Nội có Chiềng Lôi (Cổ Loa). Hà Tây: Chiềng Vậy (Hoài Đức). Phú Thọ: Gò Chiềng (Lâm Thao), Chiềng Ninh (Phù Ninh). Hà Nam: Chợ Viềng (Phủ Giầy). Sơn Tây: Chiềng Tăng. Vùng nông thôn miền Bắc còn không ít địa danh có từ Chiềng. Nhưng thưa dần vào phía Nam: Chiềng Giang (O Lâu) Quảng Trị… “Hiện tượng phân bố địa danh có từ Chiềng ở trên, không còn nghi ngờ sự thiên di của một bộ người Việt cổ làm lúa nước, ở vùng bực thềm sông Hồng lên phía tây với văn hóa lúa nước và văn hóa đồ đồng Đông Sơn.” – (Lê Trọng Khánh).
Thành tố “Viềng” cũng rất phổ biến, “viềng” có nghĩa là thành luỹ quân sự, nơi bảo vệ “Chiềng” hoặc biên cương, đất nước. Trên viềng thường có các các vị trí quân sự giống như là lô cốt hay chòi canh gọi là “Che”. Ví dụ tại Viềng Lôi (thành Cổ Loa) có ba “che”, có tên là “Che noóc”, “Che tò” và “Che cuông” (tiếng Thái có nghĩa là “Che ngoài”, “Che nối tiếp” và “Che trong”). (“Che”: tiếng Thái cũng có nghĩa là góc, mà các “Che” quân sự này cũng đặt tại các góc như các đồn tiền tiêu). Danh từ “Chiềng”, “Viềng” phát triển rộng khắp ở nhiều nước Đông Nam Á. Như vậy “vào một thời kỳ lịch sử xa xưa, cộng đồng người phân bố rất rộng từ miền Nam Trung Quốc (chủ yếu Lưỡng Việt) đến Nam Đông Dương nói một ngôn ngữ có yếu tố cơ bản thống nhất (từ chỉ: núi, sông)” – (Lê Trọng Khánh).
Trong mọi mặt đời sống sinh hoạt, cũng có rất nhiều từ còn giữ nguyên bản, tương đồng hoặc trở thành từ ghép. Trước hết “Vua Hùng” là phiên âm của một từ Việt cổ: Vua – Bua – Bô – Pô = (bố); Hùng – Khun = Cun = Thủ lĩnh. Vua Hùng = Bố của các thủ lĩnh = Thủ lĩnh tối cao. Danh hiệu Hùng Vương chỉ là một sự lắp ghép danh hiệu Bố cái đại vương (Bố cái = Vua lớn = Đại vương) để chỉ Vua Phùng Hưng sau này. Hoặc từ “Thục Phán” (tiếng Thái là Tục Pán) có nghĩa là chiếm đất, là mở mang bờ cõi…
Ta tạm chia những yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái ra một số nhóm: nhóm phiên âm trực tiếp, nhóm này chỉ liệt kê các từ thông dụng và không có từ khác thay thế; nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau; nhóm cận nguyên âm và vần; nhóm phụ cận vần và các nhóm khác.
Trước hết là nhóm phiên âm trực tiếp, là nhóm những từ thông dụng, không có các từ khác thay thế: “bàn” (bạc) – ban, “bản” – bàn, “chọn” – chọn, “quen” – quẻn, “việc” – việc, “bể” (biển) – pể, “mương” – mương, “phai” – phai, “nàng” – nàng, “ngân” (tiền) – ngân, “an” – yên, “dệt” (vải) – dệt …
Những từ trong nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau (những từ này là từ ghép, một từ tiếng Thái với một từ Việt): “áo xống”, “béo múp”, “bừa phứa”, “chim chóc”, “chó má”, “đòn càn”, “hang thẳm”, “quát nạt”, “xin xỏ”, “xa lắc”, “súng ống”, “giá cả”, “mặt nạ”, “dao pha”, “tre pheo”, “chân thật”.…
Nhóm cận nguyên âm và vần, (gồm những từ có cách phát âm gần nhau về âm và vần): “Ánh” – xánh, “bánh” – pảnh, “bào” – pao, “bão” – pảo, “bắt” – pắt, “bè” – pe, “bóc” – pọc, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bố” – pỏ, “bốc” – chốc, “chan” – chán, “cá” – pá, “lôi” – lối, “lo” – ló, “còng” – cỏng, “cây” – mạy, “gốc” – cốc, “han” – hán, “bắn” – bén, “nỏ” – nả, “bó” – pò, “bói” – pòi, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bốc” – chốc, “gang” – khang, “bá” – pả, “vải” – phải, “mận” – mặn, “nhót” – lót, “bể” – biển, “chống” – chông, “đòi” – toi…
Nhóm phụ cận vần và các nhóm khác (nhóm này không tính về thanh điệu, gần nhau về âm và vần): “bát” – pẹt, “bắt” – chặp, “bơi’ – loi, “buộc” – phục, “buông” – vang, “cạp” – cọp, “chấm” – chẳm, “lống” –puống, “chạc” – chược, “đáp” – chắp, “chẻ” – phả, “chích chòe” – chí chọe, “chốn” – chòn, “chủ” – chảu, “đập” – tặp, “cục” – cọc, “dê” – bè, “cửu – càu, “đường” – tang, “giường” – chong, “gắp” – cạp, “buộc” – phục, “buông” – vang, “chẻ” – phả, “đến” – ten, “kẹp” – nịp, “căng” – kếnh, (chim) “cuốc” – cu vắc, “chốn” – chòn, “cổ” – co, “lưng” – lằng, “coi” – moi. “cũ” – cảu…
Có thể liệt kê rất nhiều những từ, ngữ mang yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái, bởi theo thống kê của các nhà nghiên cứu, có tới gần 30% vốn từ tiếng Việt cổ trong ngôn ngữ Thái. Nghiên cứu ngôn ngữ Thái ta sẽ tìm được phần nào ngôn ngữ Việt cổ, một dân tộc đa sắc tộc đã làm nên những trống đồng nổi tiếng và nền văn minh lúa nước và công nghiệp đá Hòa Bình phát triển sớm nhất thế giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới chứng minh. Chúng ta tự hào vì “Văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới Văn hóa Bắc Sơn”. Chính sự hình thành và phát triển nhà nước từ rất sớm, cùng nền văn minh lúa nước, công nghiệp đá, đúc đồng, làm giấy… và hệ thống giao thương rộng khắp với nhiều vùng lãnh thổ đã thúc đẩy quá trình phát triển chữ Việt cổ. Chúng ta vô cùng tự hào vì dân tộc ta là dân tộc duy nhất giữ gìn được con chữ của Bách Việt trước sự hủy diệt tàn bạo bao năm ròng của các thế lực thù địch, mà người Thái góp một phần không nhỏ. Đây cũng đang là một hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu chữ Việt cổ trong và ngoài nước và bước đầu đã thu được những thành công đáng khích lệ. Điều đó càng làm cho ta hiểu thêm về lịch sử dân tộc và tăng cường tình đoàn kết anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Trần Vân Hạc
Tài liệu tham khảo:
– “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu” của Lê Trọng Khánh.
– “Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt” của Hà Văn Thùy
– “Yếu Tố Việt-Mường và Tày-Thái trong nền tảng Văn Hóa Đất Tổ của” Nguyễn Hữu Nhàn.
– Cùng sự giúp đỡ của các nhà sưu tầm nghiên cứu văn hóa Thái: Sầm Văn Bình và Cà Văn Chung.
Bài viết của Trần Vân Hạc là một ví dụ điển hình của kiểu suy diễn dân tộc học cực đoan, lấy vài hiện tượng giao thoa ngôn ngữ để áp đặt một kết luận lịch sử khổng lồ mà không có nền tảng khoa học nghiêm túc.
Nguy hiểm hơn, bài viết còn cố tình đánh tráo khái niệm giữa “có quan hệ ngôn ngữ” với “là cùng một thứ”, rồi từ đó xuyên tạc lịch sử chữ viết và nguồn gốc dân tộc.
Trước hết cần nói rõ: chữ Thái không phải “chữ Kinh”, cũng không phải “chữ Việt cổ” còn sót lại như bài viết tuyên truyền. Đây là điều mà ngành ngôn ngữ học lịch sử và dân tộc học hiện đại đã xác định từ lâu.
Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), nhánh Việt–Mường. Trong khi đó tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tai–Kadai. Hai hệ này hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc. Việc có nhiều từ giống nhau không chứng minh rằng “tiếng Thái là tiếng Việt cổ”, mà chỉ phản ánh quá trình tiếp xúc văn hóa lâu dài giữa các cộng đồng cư dân Đông Nam Á.
Nếu cứ thấy vài từ giống nhau rồi kết luận “cùng một ngôn ngữ”, thì tiếng Việt vay mượn hàng ngàn từ Hán, chẳng lẽ lại thành “tiếng Hán cổ”?Tác giả cố tình gom người Kinh, Thái, Mường, Tày thành “một dân tộc Việt cổ” rồi tự suy diễn rằng mọi di sản đều là của “Kinh”. Đây là kiểu đồng hóa văn hóa cực kỳ phản khoa học.
Các tộc người có giao thoa lịch sử là chuyện bình thường, nhưng mỗi dân tộc vẫn có bản sắc riêng, lịch sử riêng, hệ thống chữ viết riêng. Không thể vì vài địa danh có âm gần giống mà cướp luôn di sản văn tự của cả một dân tộc.Lập luận “chữ Thái bắt nguồn từ chữ khoa đẩu” càng yếu hơn nữa.
Cho đến nay, “chữ khoa đẩu” chưa từng được giới học thuật quốc tế công nhận là một hệ chữ viết lịch sử có bằng chứng khảo cổ xác thực. Phần lớn các luận điểm xoay quanh “khoa đẩu” chỉ xuất hiện trong các công trình mang tính giả thuyết cá nhân, không được hệ thống nghiên cứu ngôn ngữ học chính thống thừa nhận.
Trong khi đó, nguồn gốc chữ Thái đã được nghiên cứu rõ ràng: các hệ chữ Thái chịu ảnh hưởng từ nhóm chữ Brahmi Ấn Độ thông qua hệ chữ Khmer và Mon cổ, tương tự nhiều chữ viết Đông Nam Á khác như Lào, Shan, Lanna. Đây là hướng phát triển văn tự có chứng cứ lịch sử, niên đại và hình thái chữ cụ thể, chứ không phải những suy đoán mơ hồ kiểu “trống đồng là chữ”.
Bài viết còn sử dụng hàng loạt kiểu “so âm đoán nghĩa” rất tùy tiện. Ví dụ thấy “na”, “nà”, “chiềng”, “viềng” xuất hiện ở nhiều nơi rồi lập tức quy thành dấu vết “Việt cổ”. Đây là lỗi phương pháp cực kỳ sơ đẳng. Đông Nam Á là không gian đa ngữ hàng ngàn năm, việc các cộng đồng chia sẻ lớp từ vựng nông nghiệp, sông núi, ruộng đồng là điều hoàn toàn bình thường.
Ngôn ngữ học không bao giờ dựa vào vài âm na ná nhau để kết luận quan hệ huyết thống ngôn ngữ. Nếu làm kiểu đó thì gần như mọi ngôn ngữ trên thế giới đều “cùng gốc”.Đáng chú ý hơn, bài viết cố tạo cảm xúc dân tộc cực đoan bằng những cụm như “thế lực thù địch”, “hủy diệt Bách Việt”, “dân tộc duy nhất giữ được chữ viết”… Đây không phải văn phong học thuật mà là văn phong tuyên truyền. Một công trình khoa học nghiêm túc sẽ đưa ra tư liệu khảo cổ, đối chiếu ngữ âm có quy luật, niên đại văn bản, chuỗi phát triển chữ viết rõ ràng — chứ không phải nhồi truyền thuyết Lạc Long Quân, Âu Cơ rồi trộn với suy diễn chủng tộc và cảm tính dân tộc.
Nguy hiểm nhất là kiểu tư tưởng này vô tình xúc phạm chính dân tộc Thái. Người Thái có lịch sử, văn hóa và hệ chữ riêng của họ. Việc biến chữ Thái thành “chữ Kinh thất truyền” chẳng khác nào phủ nhận bản sắc của họ, biến toàn bộ di sản của họ thành “phụ lưu” của người khác. Đó không phải đoàn kết dân tộc, mà là chiếm dụng văn hóa đội lốt tự hào dân tộc.Sự thật là:
* Người Thái và người Kinh có giao thoa lâu dài.
* Ngôn ngữ hai bên có vay mượn qua lại.
* Một số địa danh và lớp từ cổ có liên hệ khu vực.
Nhưng từ đó nhảy vọt tới kết luận “tiếng Thái là tiếng Việt cổ” hay “chữ Thái là chữ Kinh” thì không còn là nghiên cứu nữa, mà là ngụy sử.
Lịch sử không thể xây bằng lòng tự ái dân tộc. Càng không thể lấy vài âm đọc gần giống để viết lại nguồn gốc chữ viết của cả một dân tộc. Một nền học thuật nghiêm túc phải dựa trên khảo cổ, ngữ âm lịch sử, văn bản cổ và phương pháp khoa học — không phải những chuỗi suy diễn cảm tính khoác áo “khôi phục Việt cổ”.Tôn trọng dân tộc Thái là phải công nhận họ có bản sắc thật sự, có lịch sử thật sự, có chữ viết thật sự của riêng họ — chứ không phải biến họ thành “phiên bản lưu giữ hộ văn hóa Kinh cổ” để phục vụ những huyền thoại dân tộc thiếu căn cứ.
LikeLike
Cảm ơn anh Vân Hạc.
Có nhiều liên hệ giữa ngôn ngữ Việt và Thái, và mình rất tù mù. Mong anh Vân Hac có một loạt bài để các anh chị em có thể hiểu rõ hơn một chút về:
–Chữ viết Việt cổ, mà vài học giả gần đây gọi là chữ khoa đẩu.
— Chữ viết Thái cổ.
— Chữ viết Thái ngày nay.
— Có liên hệ gì giữa chữ Việt cổ khoa đẩu và chữ Thái (cổ hay ngày nay).
— Có mấy nhóm người Thái khác nhau? Tại sao khác nhau? Và tại sao cùng họ “Thái”?
— Văn hóa Thái và văn hóa Việt gần nhau đến thế nào?
v.v…
Nếu anh Vân Hạc mời được vài vị học giả về văn hóa Thái gởi bài vào ĐCN thì lại càng rất quý. Rất tốt cho các anh chi em Vườn Chuối, và dĩ nhiên là mình là người học trò đầu tiên.
Cảm ơn anh Vân Hạc. Chúc anh chị vui khỏe.
LikeLike