
I couldn’t wait for success… so I went ahead without it.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Tôi không thể chờ đợi sự thành công…vì vậy tôi phải tiến lên mà không có nó đi cùng.
Johnathan Winters

I couldn’t wait for success… so I went ahead without it.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Tôi không thể chờ đợi sự thành công…vì vậy tôi phải tiến lên mà không có nó đi cùng.
Johnathan Winters
Phật nói một dụ ngôn trong kinh:
Một người đàn ông đi ngang cánh đồng và gặp con cọp. Anh ta chạy, cọp đuổi theo. Chạy đến một vực sâu, anh nắm rễ của một dây leo và nhảy xuống vực. Con cọp đứng trên vực đợi anh. Run rẩy, anh ta nhìn xuống đáy vực, một con cọp khác đang đợi dưới đáy để ăn anh. Chỉ có sợi dây leo đang giữ anh lại.

Hai con chuột, một trắng một đen, đang gặm sợi dây leo. Anh thấy một quả dâu chín mọng gần anh. Một tay nắm sợi dây leo, tay kia anh hái trái dâu. Ngọt ơi là ngọt!
Bình:
• Truyện này có nhiều phiên bản hơi khác nhau chút đỉnh, và nhiều người có những cách giải thích khác nhau. Chúng ta sẽ giải thích chuyện này theo tinh thần Thiền tông.
• Cọp trên vực và cọp ở dưới vực, tượng trưng cho điều không tránh được—đó là sự chết. Và cũng tượng trưng cho hai giới hạn của đời người: Cọp sau lưng (trên vực) là quá khứ, cọp trước mặt (dưới vực) là tương lai.
Đời người nằm giữa quá khứ và tương lai. Sơi dây leo tượng trưng cho đời người.
Chuột trắng chuột đen là biểu tượng của ngày và đêm, đưa con người dần đến sự chết.
Cuộc sống chỉ tạm thời, và ta nhất định sẽ có ngày chết.
• Thế trái dâu là tượng trưng cho điều gì?
Khoái lạc tạm thời làm cho ta si mê mà quên mất cái nguy đang gặp (như một số người giải thích)?
Nhưng nếu không ăn dâu cho thỏa thích, thì làm gì bây giờ?
• Tâm thiền là tâm rỗng lặng, không lo lắng về sự chết, không gánh nặng quá khứ và không lo sợ cho tương lai.
Sống thật là sống “ở đây lúc này.” Đừng lo chuyện không lo được. Trước cọp sau cọp, nếu đến lúc phải chết là ta sẽ phải chết, không cưỡng được, không thể chọn lựa được.
Nhưng trái dâu trước mặt, ta có cơ hội chọn lựa. Một là hưởng mật ngọt của nó, hai là để sợ hãi làm ta không thấy được trái dâu, không hưởng được nó.
Thiền là không lo sợ. An lạc vui sướng với “lúc này ở đây”.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
A Parable
Buddha told a parable in a sutra:
A man traveling across a field encountered a tiger. He fled, the tiger after him. Coming to a precipice, he caught hold of the root of a wild vine and swung himself down over the edge. The tiger sniffed at him from above. Trembling, the man looked down to where, far below, another tiger was waiting to eat him. Only the vine sustained him.
Two mice, one white and one black, little by little started to gnaw away the vine. The man saw a luscious strawberry near him. Grasping the vine with one hand, he plucked the strawberry with the other. How sweet it tasted!
#18

Cuộc sống như chiếc hộp cá trích, ai cũng tìm chiếc chìa khóa mở nó
Phan Thế Danh dịch
.
Life is rather like a tin of sardines – we’re all of us looking for the key.
Alan Bennett
Tôi có thể viết tốt hơn bất kỳ người nào có thể viết nhanh hơn tôi, và tôi có thể viết nhanh hơn bất ký người nào viết tốt hơn tôi.
Nguyễn Văn Du dịch
.
“I can write better than anybody who can write faster, and I can write faster than anybody who can write better.”
A. J. Liebling (1904-1963)

Thành công mà không có danh dự chỉ là một món ăn không có gia vị; nó sẽ làm thỏa mãn cơn đói của bạn; nhưng không ngon lành gì.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Success without honor is an unseasoned dish; it will satisfy your hunger, but it won’t taste good.
Joe Paterno
Cuộc sống ơi, tôi là năm mới
Tôi là một trang giấy trắng tinh trong cuốn sách thời gian của bạn
Tôi là một cơ hội tiếp theo của bạn trong nghệ thuật sống
Tôi là thời cơ của bạn để rèn luyện những gì đã học về cuộc sống trong suốt mười hai tháng qua
Tất cả những gì bạn đã kiếm tìm và đã không thấy, đang ẩn giấu trong tôi,
Chờ bạn tìm ra với nhiều quyết tâm hơn.
Tất cả những điều tốt đẹp bạn đã cố gắng và không giành được,
Là của tôi để cho bạn khi nào bạn có ít ham muốn mâu thuẫn.
Tất cả những gì bạn đã mơ nhưng không dám làm, tất cả những gì bạn đã hi vọng nhưng đã không quyết tâm,
Tất cả những niềm tin bạn đã khẳng định nhưng đã không có được –
Những điều này đã rơi vào giấc ngủ một cách nhẹ nhàng, đang chờ đợi để được thức tỉnh
Bởi lay động của một mục đích mạnh mẽ.
Tôi là cơ hội của bạn
Để làm mới lòng trung thành với Ngài, người đã nói “Nhìn đây, ta sẽ làm mới mọi sự.”
Tôi là năm mới.
~Unknown author
~Hoàng Khánh Hòa dịch
.
Life, I am the new year
Life, I am the new year.
I am an unspoiled page in your book of time.
I am your next chance at the art of living.
I am your opportunity to practice what you have learned about life during the last twelve months.
All that you sought and didn’t find is hidden in me,
waiting for you to search it out with more determination.
All the good that you tried for and didn’t achieve
is mine to grant when you have fewer conflicting desires.
All that you dreamed but didn’t dare to do, all that you hoped but did not will,
all the faith that you claimed but did not have —
these slumber lightly, waiting to be awakened
by the touch of a strong purpose.
I am your opportunity
to renew your allegiance to Him who said, “behold, I make all things new.”
I am the new year.

Tôi yêu cuộc sống. Đôi khi tôi đau khổ một cách điên cuồng, một cách tuyệt vọng, một cách nhức nhối, chất đầy buồn rầu. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi hiểu rất chắc chắn rằng, được sống là một điều tuyệt vời.
Phan Thế Danh dịch
.
I like living. I have sometimes been wildly, despairingly, acutely miserable, racked with sorrow, but through it all I still know quite certainly that just to be alive is a grand thing.
Agatha Christie

Phán xét tốt đến từ kinh nghiệm và kinh nghiệm đến từ phán xét tồi.
Nguyễn Văn Du dịch
.
Good judgment comes from experience and experience comes from bad judgment.
Fred Brooks

Bạn sẽ không bao giờ rời khỏi nơi mình đang đứng, cho đến khi bạn quyết định được nơi bạn muốn đến.
Đông Vy dịch
.
You will never leave where you are, until you decide where you’d rather be.
Dexter Yager
Nếu đến chùa Obaku ở Kyoto ta sẽ thấy một dòng chữ khắc “Nguyên Lý Đầu Tiên”. Các chữ này lớn lạ thường, và những người rành thư pháp luôn luôn thán phục chúng như là những tác phẩm hàng đầu. Các chữ này do Kosen viết hai trăm năm về trước.

Lúc viết, thiền sư viết trên giấy, sau đó các nghệ nhân làm bản khắc lớn hơn bằng gỗ. Trong khi thiền sư viết, có một người đệ tử bạo gan ở bên cạnh, vị này đã hòa nhiều lít mực cho thiền sư để viết mấy chữ này và luôn luôn phê bình thư pháp của thiền sư.
“Chưa được,” vị đệ tử nói với Kosen sau lần viết đầu.
“Cái này thì sao?”
“Nghèo nàn. Dở hơn cái trước,” vị đệ tử nói.
Kosen kiên nhẫn viết hết tờ này đến tờ khác cho đến khi 84 chữ “Nguyên Lý Đầu Tiên” đã được viết, mà vị đệ tử vẫn chưa đồng ý.
Rồi, khi vị đệ tử bước ra ngoài một lúc, Kosen nghĩ: “Đây là cơ hội để mình thoát được con mắt sắc bén của hắn,” và thiền sư viết vội vã, với tâm trống rỗng mọi tạp niệm. “Nguyên Lý Đầu Tiên.”
“Một tác phẩm tuyệt vời,” vị đệ tử tuyên bố.
Bình:
• Ta không thể làm gì tốt nếu ta bị phân tâm. Lý do phân tâm có thể là lý do rất tầm thường như là có học trò đứng phê phán. Ta có thể lo lắng và phân tâm rất phi lý, như là thầy sợ trò chê, chuyên gia sợ người không biết gì chê…
• Rộng hơn, trong đời sống hàng ngày, ta có thể bị phân tâm bởi đủ thứ tạp niệm: Sợ mọi người chê cười, sợ mất uy tín, sợ có người giận, sợ không ai khen… Các tạp niệm này làm ta phân tâm hàng ngày và chẳng làm được gì tốt.
• “Tâm trống rỗng mọi tạp niệm”—còn gọi là Vô Tâm–là Nguyên Lý đầu tiên của Thiền.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The First Principle
When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.
When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.
“That is not good,” he told Kosen after the first effort.
“How is that one?”
“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.
Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.
Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurriedly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”
“A masterpiece,” pronounced the pupil.
# 19

.
Phụ nữ sinh ra cuộc sống trên hành tinh này
Phan Thế Danh dịch
.
Life on the planet is born of woman.
Adrienne Rich

.
Một ý tưởng được phát triển và đưa vào hành động quan trọng hơn là ý tưởng chỉ tồn tại ở dạng ý tưởng.
Nguyễn Văn Du dịch
.
An idea that is developed and put into action is more important than an idea that exists only as an idea.
Unknown

Không có bí mật nào dẫn đến thành công cả. Nó là kết quả của sự chuẩn bị, làm việc cật lực, học hỏi từ thất bại.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
There are no secrets to success. It is the result of preparation, hard work, learning from failure.
Colin Powell
Gian nhân tuyệt sắc Shunkai, còn có tên là Suzu, bị bắt phải lấy chồng khi còn rất trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân chấm dứt, nàng đi học đại học, và học triết.

Thấy Shunkai là phải yêu nàng. Hơn nữa, đi đâu nàng cũng yêu. Tình yêu đến với nàng ở đại học, sau đó, khi triết lý không thỏa mãn nàng, nàng vào thăm một ngôi chùa để học Thiền, và thiền sinh si mê nàng. Cả đời nàng thấm ướt tình yêu.
Cuối cùng, ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thật sự. Các bạn thiền sinh nam ở chùa Kennin đều ca ngợi sự thành tâm của nàng. Một người trong số thiền sinh nam có tâm ý tốt và giúp nàng trong việc thực tập thiền.
Vị thầy trụ trì chùa Kennin là Mokurai, có nghĩa là Sấm Lặng, rất khó khăn. Thầy giữ gìn lề luật nghiêm nghặt và muốn các học trò cũng như thế. Trong nước Nhật của thời đại mới, nhiệt tâm nào các vị sư đã mất về Phật học các vị hình như tìm lại được về các bà vợ. Thầy Mokurai phải lấy chổi đuổi các bà đi khi thấy bà nào trong chùa. Nhưng thầy đuổi nhiều chừng nào, các bà ùa vào lại nhiều chừng nấy.

Trong chùa này, bà vợ của sư trưởng tràng ghen với cố gắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các học trò ca ngợi sự tập Thiền nghiêm chỉnh của Shunkai, bà khó chịu không yên. Cuối cùng bà phao tin đồn về Shunkai và người thiền sinh đang giúp đở cô. Hậu quả là anh ta và Shunkai bị đuổi ra khỏi chùa.
“Tôi có thể là đã lầm lỗi trong tình yêu,” Shunkai nghĩ, “nhưng bà này cũng không thể ở trong chùa nếu bạn của tôi bị đối xử bất công.”
Đêm đó, Shunkai mang một thùng dầu lửa, đốt rụi ngôi chùa 500 tuổi. Sáng ra cảnh sát bắt nàng.
Một luật sư trẻ thích nàng và cố để giảm án cho nàng. “Đừng giúp tôi,” nàng bảo anh ta. “Có thể là tôi sẽ quyết định làm cái gì đó, lại mang tôi vào tù nữa.”
Cuối cùng, sau khi ở đầy đủ bản án 7 năm , Shunkai được thả khỏi nhà tù, nơi một vị quản giáo 60 tuổi đã yêu cô.

Nhưng bây giờ mọi người nhìn nàng là “tội phạm”. Chẳng ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các thiền nhân, những người đáng lý ra là tin vào sự giác ngộ ở đời này với thân thể này, cũng tránh xa nàng. Thiền, Shunkai khám phá ra, là một chuyện nhưng các thiền nhân lại là một chuyện khác. Thân nhân nàng cũng không dính dấp với nàng. Nàng lâm bệnh, nghèo, và yếu.
Nàng gặp một vị sư vị sư Tịnh độ tông dạy nàng hồng danh Đức Quán Thế Âm, và nhờ đó nàng tìm được an ủi và bình an trong tâm. Nàng qua đời khi còn rất đẹp và chưa đến 30 tuổi.
Nàng viết câu chuyện về đời nàng trong một nỗ lực hoài công để kiếm sống, và kể lại một phần cho một nhà văn nữ. Vì vậy câu chuyện đời nàng đến với độc giả Nhật. Những người đã xua đuổi nàng, mạ lị nàng, ghét bỏ nàng, giờ đây đọc về cuộc đời nàng với những dòng nước mắt ăn năn.
.
Bình:
• Hồng nhan đa truân.
Nghiệp duyên…
Hay luật công bằng? “Càng nhiều sắc đẹp càng nhiều gian truân. Chữ tài liền với chữ tai một vần”?
• Nhưng…

Chuyện này nói về Shunkai, hay thực ra là nói về chúng ta, những người đang sống?
Chúng ta hay ghen ghét với người có sắc, có tài, có cái gì đó hơn ta. Cho nên người đẹp, người tài, người hấp dẫn, thì đi đâu cũng thường có kẻ thù… Và những người này khi gặp hoạn nạn, dù là oan ức, thì cũng không ai muốn đở cho họ, vì tính ghen ghét nói “Cho đáng đời!”
Và kỳ thị, cư xử với nhau bằng nhãn hiệu. Thấy người đã có tiền án thì lánh xa, ruồng bỏ (dù họ đã trả hết tội trong tù rồi).
Và đạo đức giả. Người sống thì ruồng bỏ, người đã chết thì mới nhỏ nước mắt. Tại sao? Vì người đã chết thì không còn gì đề ghen, cho nên bây giờ mới khóc được.
Vậy thì…
Yêu người thì hãy yêu người sống. Yêu bằng hành động thật sự, nhất là khi người ta gặp hoạn nạn. Và yêu không lệ thuộc vào nhãn hiệu.
• “Buddha of love” ở đây là Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng nhiều người ở Nhật còn dùng “Buddha of Love” như là một trong những tên và diện mạo của Phật Di Lặc (Maitreya hay Metteyya). Tên này có từ maitrī (Sanskrit) hay mettā (Pāli), có nghĩa là “loving-kindness” (từ bi), là các chữ đến từ chữ mitra (Sanskrit) hay mitta (Pāli) và có nghĩa là “bạn”.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Story of Shunkai
The exquisite Shunkai whose other name was Suzu was compelled to marry against her wishes when she was quite young. Later, after this marriage had ended, she attended the university, where she studied philosophy.
To see Shunkai was to fall in love with her. Moreover, wherever she went, she herself fell in love with others. Love was with her at the university, and afterwards, when philosophy did not satisfy her and she visited a temple to learn about Zen, the Zen students fell in love with her. Shunkai’s whole life was saturated with love.
At last in Kyoto she became a real student of Zen. Her brothers in the sub-temple of Kennin praised her sincerity. One of them proved to be a congenial spirit and assisted her in the mastery of Zen.
The abbot of Kennin, Mokurai, Silent Thunder, was severe. He kept the precepts himself and expected his priests to do so. In modern Japan whatever zeal these priests have lost of Buddhism they seem to have gained for their wives. Mokurai used to take a broom and chase the women away when he found them in any of his temples, but the more wives he swept out, the more seemed to come back.
In this particular temple the wife of the head priest became jealous of Shunkai’s earnestness and beauty. Hearing the students praise her serious Zen made this wife squirm and itch. Finally she spread a rumor about Shunkai and the young man who was her friend. As a consequence he was expelled and Shunkai was removed from the temple.
“I may have made the mistake of love,” thought Shunkai, “but the priest’s wife shall not remain in the temple either if my friend is to be treated so unjustly.”
Shunkai the same night with a can of kerosene set fire to the five-hundred-year-old temple and burned it to the ground. In the morning she found herself in the hands of the police.
A young lawyer became interested in her and endeavored to make her sentence lighter. “Do not help me,” she told him. “I might decide to do something else which would only imprison me again.”
At last a sentence of seven years was completed, and Shunkai was released from the prison, where the sixty-year-old warden had become enamored of her.
But now everyone looked upon her as a “jailbird.” No one would associate with her. Even the Zen people, who are supposed to believe in enlightenment in this life and with this body, shunned her. Zen, Shunkai found, was one thing and the followers of Zen quite another. Her relatives would have nothing to do with her. She grew sick, poor, and weak.
She met a Shinshu priest who taught her the name of the Buddha of Love, and in this Shunkai found some solace and peace of mind. She passed away when she was still exquisitely beautiful and hardly thirty years old.
She wrote her own story in a futile endeavor to support herself and some of it she told to a woman writer. So it reached the Japanese people. Those who rejected Shunkai, those who slandered and hated her, now read of her live with tears of remorse.
Annotation:
Karma…
Or the rule of compensation? “More beauty, more suffering. Gain rhymes well with pain”?
This story is about Shunkai, or is it indeed about us, the living?
We are jealous of people with talents, beauty, or something better than ours. Hence, beautiful people, talented people and attractive people have enemies every where they go. When these people are met with misfortune, even unfairly, no one wants to help them. Jealousy likes to say: “They deserve it!”
And we discriminate, treating each other with labelism. Seeing an ex-convict, we stay away from her, even denying her (though she already paid her dues in jail).
And our hypocracy! We have shooed away the living and now she is dead, we shed tears for her. Why? Because, the dead has nothing to be jealous of?
So…
If we love people, then let’s love the living. Let’s love by action, especially when they are in distress. And let’s love without depending on the labelism.
(Trần Đình Hoành annotated)