Lưu trữ theo thẻ: Giáo dục

Đổ lỗi

argument

“Đổ lỗi là lãng phí thời gian. Không cần biết bạn tìm ra được bao nhiêu lỗi của người kia, và dù bạn có đổ lỗi sang anh ta nhiều đến đâu, nó chẳng thay đổi bạn tí nào. Điều duy nhất mà đổ lỗi làm là hướng sự tập trung tư tưởng ra phía ngoài bạn, để bạn tìm các lý do bên ngoài, để giải thích tại sao bạn đang đau khổ hay bực bội. Bạn có thể thành công trong việc làm ai đó cảm thấy có tội, bằng cách đổ lỗi cho anh ta, nhưng bạn sẽ không thành công trong việc thay đổi điều gì đó trong bạn đang làm bạn đau khổ.”

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

“All blame is a waste of time. No matter how much fault you find with another, and regardless of how much you blame him, it will not change you. The only thing blame does is to keep the focus off you when you are looking for external reasons to explain your unhappiness or frustration. You may succeed in making another feel guilty about something by blaming him, but you won’t succeed in changing whatever it is about you that is making you unhappy.”

Dr. Wayne Dyer

Tư duy tích cực–“Thuộc về” cuộc đời

net-dep-que-huong
Chào các bạn,

Tiếng Anh có từ “sense of belonging”, dịch ra tiếng Việt là “cảm giác thuộc về”, như là “Anh cảm thấy anh thuộc về quê hương này.” Cảm-giác-thuộc-về là một cảm giác chủ quan, nhìn từ góc độ của người chủ cảm giác. Như vậy nghĩa là, nếu nàng nói “Em thuộc về anh,” thì đó là cảm-giác-thuộc-về của người đang yêu. Nhưng nếu chàng nói, “Em thuộc về anh,” thì đó không phải là cảm-giác-thuộc-về, mà là tuyên bố quyền sở hữu ở thời đại khủng long :-).

Sense of belonging rất cần thiết cho hạnh phúc và tư duy tích cực của ta. Một khảo sát của Reg Williams, giáo sư y tá và tâm lý tại đại học Michigan (bang Michigan, Mỹ) cho thấy, các bệnh nhân bệnh trầm uất có sense of belonging cao mau lành bệnh hơn các bệnh nhân có sense of belonging thấp. Các khảo sát khác cũng cho thấy cô đơn là một trong những nguyên nhân chính của bệnh trầm uất. Và dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết là trẻ em không có, hoặc không gần gũi, ai trong gia đình thường dễ “chán đời,” “hận đời” và phạm pháp.

Các nhận xét này liên hệ trực tiếp đến việc thực hành tư duy tích cực. Tất cả các đạo gia và chuyên gia về tư duy tích cực đều lập đi lập lại, ngày này qua tháng nọ, là ta phải yêu người, yêu loài vật, yêu đời, yêu thế giới. Những cái “yêu” này chính là những cảm-giác-thuộc-về, các bạn ạ.

42-17685912

Tôi chỉ có thể yêu được trường này nếu tôi cảm thấy tôi thuộc về trường này—đây là trường của tôi, đây là các thầy cô bạn bè của tôi. Nếu tôi cảm thấy tôi “lạc chuồng” trong trường này, ở đây là những tháng ngày chán nản và tù tội, đây là trường của “chúng nó” và thầy cô của “chúng nó,” chẳng ăn nhập gì với tôi cả, thì tất nhiên là tôi không thể nào yêu trường, tích cực về trường, và tích cực với chính mình trong khuôn viên trường được.

Tương tự như vậy, ta sẽ không thể nào tích cực được với đời trong “khuôn viên”của đời, nếu ta không có cảm giác là ta thuộc về cuộc đời, nếu ta cho rằng ta bị ném vào cuộc đời này như một nhà tù lớn lạnh lùng, vô mục đích.

Nhưng làm thế nào để ta có được cảm giác thuộc về cuộc đời?

À, câu hỏi này trực tiếp liên hệ đến câu hỏi căn bản nhất của tất cả mọi triết thuyết, mọi tôn giáo, mọi truyền thống tâm linh: Ta từ đâu mà đến? Đến để làm gì? Và ta sẽ đi đâu?

Những câu hỏi tối hậu đó, bạn sẽ phải tự nghiên cứu tìm câu trả lời. Tại đây chúng ta chỉ nói đến phương diện thực hành để giúp chúng ta tăng được cảm-giác-thuộc-về, và do đó, tăng được tư duy tích cực. Dù là truyền thống tâm linh hay triết lý nào, giải thích như thế nào, thì trên phương diện thực hành, tất cả đều phải dùng một phương pháp giản dị–đó là “quan tâm”, hay còn gọi là “để ý.” Và ta thực tập “để ý” từng bước một, từ trong nhà đi ra ngoài, như sau.

• Nếu ta muốn có cảm giác ta thuộc về gia đình của ta, cách duy nhất là để ý đến gia đình, hay nói chính xác hơn là để ý đến mọi người trong gia đình—Ai đang làm gì? Ở đâu,? Vui buồn ra sao? Ta cần chào hỏi thường xuyên—nếu đi sớm về khuya, chẳng thấy ai ngoại trừ cái gường của mình, thì khó cho mình có cảm tưởng thuộc về gia đình.

xe-bo

• Bên ngoài gia đình, đối với bạn bè và người thân quen cũng vậy, để ý đến họ một tí, hỏi han họ về công việc, gia đình, vui buồn, khó khăn, thay vì gặp nhau hàng ngày làm việc với nhau mà trong 5 năm chỉ nói chuyện công việc.

• Bước cao hơn của để ý là đối với người không quen biết. Thông thường, ta không bao giờ để ý đến người không quen biết, cho nên ta có thể đi ngang qua hàng nghìn người trong một ngày, nhưng chẳng bao giờ để ý đến ai. Vậy thì, nay ta thực tập nhìn những người ngoài đường kỹ hơn một tí (dĩ nhiên không phải chỉ các cô mặc mini, mà là mọi người :-)), nhất là những người lao động, những người buôn thúng bán bưng, và thương họ hơn một tí vì ta may mắn hơn. Nhìn mọi người chung quanh kỹ hơn một tí và thấy ta là anh chị em của họ và họ là anh chị em của ta. Dù là không quen biết nhau, ta có thể hiểu được những khó khăn, lo lắng, vui buồn của họ, vì đời sống của họ, trên căn bản, chẳng khác đời sống của ta bao nhiêu.

• Nhìn ánh nắng, nhìn hàng cây , nhìn hoa cỏ kỹ hơn một tí, tận hường cái đẹp thiên nhiên, và cám ơn cuộc đời đã cho ta bao nhiêu cái đẹp.

• Nhìn những con thú ta gặp, chó mèo chim chóc, và thán phục cái đẹp và bản tính tự nhiên trong trắng của chúng—ít ra là chúng không nói dối–và cám ơn cuộc đời đã cho thế giới này những người bạn như thế.
hoalucbinh

• Cuối tuần, đưa gia đình về vùng quê đi “dã ngoại”, vừa để thanh thản đầu óc, vừa tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên, vừa thấy đất nước và cuộc đời đẹp đến thế nào.

Nói chung là ta chẳng cần phải làm gì thêm, ngoại trừ “thấy” cuộc đời trước mặt với bao thân thiện đẹp đẽ và gần gũi của nó. Từ đó ta sẽ gần gũi, yêu thương và tích cực hơn với cuộc đời. Bằng không, ta vẫn có thể nhìn cuộc đời hàng ngày, nhưng vẫn không thấy cuộc đời, hoặc chỉ thấy với hằn học và tuyệt vọng—Ôi, đời vô mục đích, vô nghĩa lý, vô tình yêu! Đời là dối trá xảo quyệt! Đời là sa mạc lửa bỏng mênh mông!

Thực sự, đời là một bức tranh huyền diệu—có thể là thiên đàng, có thể là hỏa ngục, có thể là đồng cỏ xanh tươi, có thể là biển cát rực lửa, có thể là những em bé cười khúc khích, có thể là đoàn quỹ dữ gầm gừ… Đời có thể hiện ra trước mắt ta với muôn nghìn hình thái khác nhau. Và người cầm cây đũa thần có thể hô thiên biến vạn hóa đó, chẳng ai khác hơn là tâm ta cả.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: “Thuộc về” nhóm nào?, “Thuộc về” thế giới.

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Hạt giống tâm hồn – Quyền lực đích thực

sun_shines
“Hướng về ánh nắng, bạn sẽ không nhìn thấy bóng râm.” Nhân sinh quan tích cực, chính là ánh nắng trong trái tim.

Mỗi người trong chúng ta đều mang trong mình những hạt giống tâm hồn tốt (tích cực) và không tốt (tiêu cực) . Cũng như mọi loại cây để có thể tăng trưởng, đều cần có người trồng chăm vun xới, cho ánh sáng, nước và dưỡng chất, mảnh đất tâm hồn và các hạt giống của ta cũng thế. Chúng ta cũng cần chăm bón những dưỡng chất cho mảnh đất- khu vườn tâm hồn ta phát triển mới có thể tạo ra hoa thơm và quả ngọt: hạnh phúc cho ta, cho người, cho đời.

Theo tâm lý học Phật giáo tâm thức của chúng ta gồm có hai tầng: tầng dưới là Tàng thức, tầng trên gọi là Ý thức. Tàng thức là tiềm thức, còn Ý thức là phần sinh hoạt bình thường. Tàng thức được ví như mảnh đất chứa đủ loại hạt giống: những hạt giống tốt đẹp của tình thương, niềm vui, lạc quan, hạnh phúc, tha thứ, bao dung, … , nhưng cũng không thiếu các hạt giống xấu của giận hờn, ích kỷ, ganh tỵ, sân hận, bi quan, tuyệt vọng, ….

Xin nhắc lại một ẩn dụ rất hay của Thiền sư Nhất Hạnh : “Ý thức là phòng khách, và tàng thức là nhà kho. Khi các hạt giống được tưới tẩm sẽ trở thành một thứ năng lượng trên tầng ý thức và trở thành những tâm hành.“ Ví dụ hạt giống GIẬN nằm im dưới tàng thức, khi bị chọc giận (bị tưới tẩm), chúng hiển lộ thành tâm hành giận và năng lượng giận trào dâng, sục sôi như sóng dữ và từ nhà kho chúng tràn ngập phòng khách. Các bạn cũng như tôi đều biết sức tàn phá của sân hận như thế nào rồi? Ấy là địa ngục cho ta và những người thương yêu hay những ai là nạn nhân của cơn sân hận ấy.

Như thế, nếu muốn giữ được phòng khách sáng, đẹp trang nhã, mỗi chúng ta đều phải ngăn ngừa không cho những hạt giống tiêu cực từ nhà kho xuất hiện, lao vào phòng khách và gây bạo động. Cũng giống như người làm vườn, muốn có và giữ hoa thơm, trái ngọt cho khu vườn của mình, phải biết chăm bón, diệt cỏ dại, ngăn ngừa sâu rầy đến phá hại khu vườn của mình vậy.

sun-shines-thru-window
Để ta sống đẹp và hạnh phúc, chúng ta cần tạo một môi trường sống tốt cho mình. Ta có thể làm được như thế, nếu ta biết phát triển 4 nguyên tắc để làm tăng sức mạnh của hạnh tinh tấn. (The Art of Power, Thích Nhất Hạnh, 2008)

1. Cần thiết phải ngăn ngừa, tránh để cho những cảm xúc tiêu cực phát khởi.

2. Nếu những cảm xúc tiêu cực này đã vì duyên cớ gì đó biểu hiện thì ta nên làm cho chúng lắng dịu hay thay thế chúng.

3. Hãy luôn mời gọi các hạt giống tích cực lên vùng ý thức

4. Hãy quan tâm lưu giữ những hạt giống tích cực- những tâm hành thiện ỡ trên phòng khách càng lâu càng tốt

Mỗi ngày chúng ta ăn gì, làm gì, đọc gì, xem gì và nói gì cũng nên cố gắng nhớ đến bốn nguyên tắc trên.

Nguyên tắc thứ nhất:

Ai trong chúng ta còn mơ hồ về tác hại của một bài báo kích động, loan truyền tin thất thiệt, một cuốn phim bạo lực, đầy những máu me, sex, chết chóc, dục vọng …, và các chất kích thích như rượu, như ma túy, … không chỉ với thanh thiếu niên, mà cả những người lớn?. Đã có bao nhiêu trẻ vị thành niên, thanh niên, và người lớn sau khi phạm pháp, gây nhiều thứ tội như ăn cắp, đã thương, sát hại người vì thù hằn, ghen tuông, cãi vã, hay hiếp dâm… đều khai nhận đả thủ ác dưới tác động của những độc tố kia?!

Trong môi trường hàng ngày, ta nên tránh các độc tố ấy, bởi chúng sẽ đánh thức các hạt giống bạo động trong ta.

Nguyên tắc thứ hai:

Khi một hạt giống xấu- tiêu cực như sân hận, tuyệt vọng…. bị khơi dậy, phải tìm cách ngăn chận và đưa chúng xuống tàng thức, bởi nếu để chúng hoành hoành quá lâu trên vùng ý thức, chúng càng mạnh lên càng gây đổ vỡ và tác hại lớn hơn. Không cần phải đè nén chúng, mà hãy nhận diện chúng và thay thế chúng.

Thay vì ngồi gục đầu bên chai rượu đế, để cay đắng nguyền rủa cuộc đời cho quên sầu, mắng nhiếc người khác vì tức tối, hãy bước ra ngoài ngắm nhìn thiên nhiên, nghe một bản nhạc êm dịu, tìm đọc một cái gì đó lành mạnh hơn, như câu chuyện cuộc đời về nghị lực phi thường, tấm gương cao đẹp của Nguyễn Bích Lan, chùm thơ hay của cô ấy. (Báo Tuổi Trẻ ngày 12 – 17/03/ 2009). Nhưng bạn phải nhớ rằng các hạt giống tích cực, hạt lành phải luôn mạnh và hấp dẫn để trấn át được các hạt giống tiêu cực, xấu kia. Nói cách khác, nhiều tâm hành tích cực hiện diện trong phòng khách của chúng ta, thì chẳng còn chỗ cho tâm hành tiêu cực xâm nhập.

sunflowersfrance
Nguyên tắc thứ ba:

Để mời gọi các hạt giống tích cực lên và an cư trên vùng ý thức, ta phải biết tạo cơ hội cho các hạt giống ấy từ tàng thức vươn lên, biểu hiện và tăng trưởng trên vùng ý thức. Sao bạn không nghe một bản nhạc êm dịu, xem một bộ phim có sức lôi cuốn như Cuộc Đời Tuyệt Đẹp, Giai Điệu Hạnh Phúc, Mamma Mia ….? Chắc chắn bạn không thể không xúc động và ngưỡng mộ những Maria ( do Julie Andrews đóng trong The Sound of Music, Giai Điệu Hạnh Phúc), Guido (do Roberto Benigni đóng trong Life is Beautiful, Cuộc Đời Tươi Đẹp). Về nhạc thì có rất nhiều các bạn ạ: Những bản nhạc như Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui, Hãy Yêu Nhau Đi… của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hay Beautiful That Way ( nhạc trong phim Life is Beautiful, Nicola Piovani và tiếng hát của Noa ), I Have A Dream ( nhạc của ban ABBA), nhạc hòa tấu, không lời,…

Nhân đây cũng xin nói, bài này là để tiếp nối một cảm xúc tích cực sau khi được đọc loạt bài báo về những tấm gương nghị lực phi thường và những con người khuyết tật biết nuôi dưỡng những hạt giống tích cực, và vượt lên số phận làm đẹp cho đời, như Nguyễn Bích Lan, hay xem Ca sĩ Thủy Tiên hát và nhạc sĩ Nguyễn Thế Vinh (chỉ còn một tay vừa chơi đàn ghi ta, vừa thổi harmonica ) trong chương trình Gặp Mặt Cuối Tuần, HTV 7, đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, tuần 3 tháng 3)

Nguyên tắc thứ tư:

Giống như có bạn hiền, ta nên trân trọng họ, gìn giữ những tình cảm quý mến ấy trong sự hiểu biết, cảm thông, chúng ta phải ôm ấp, gìn giữ những tâm hành thiện, những hạt giống tích cực như yêu thương, lạc quan, trung thực, bao dung, vui tươi… ở lại trong ý thức của ta càng lâu và càng nhiều càng tốt. Trong khi với các hạt giống tiêu cực của tâm bất thiện ( sân hận, ích kỷ, ghen tuông, đố kỵ…), ta đẩy chúng xuống tàng thức, hoặc tìm cách hóa giải và triệt tiêu những biểu hiện của chúng càng nhanh càng hay. Chẳng phải bạn vẫn thường thấy một đề nghị thực đơn giản và dễ thực hiện trên các trang như Lá Xanh, Đọt Chuối Non, hay trên các bài viết về Sống Đẹp: Hãy cho đi thật nhiều những nụ cười bạn có, ấy là tặng phẩm không mất tiền của người giàu niềm vui . Thế thì tại sao các bạn không hào phóng trao tặng nụ cười cho những người bạn gặp mỗi ngày trong đời để mọi người cùng vui?

Những nguyên tắc hay phương sách trên, gọi là chánh tinh tấn, có thể xem như phép thực tập để chế tác chánh niệm và đem lại sức mạnh tinh thần cho chúng ta. Chánh tinh tấn đem lại rất nhiều niềm vui, hạnh phúc cho bản thân ta, cho những người ta yêu thương và mọi người sống quanh ta. Với chánh tinh tấn, bạn có thể tự thân chuyển hóa, chuyển hóa cả môi trường , và cả thế giới nữa, bởi vì bạn có quyền lực đích thực.

Chánh tinh tấn tuyệt vời như thế đấy. Các bạn ạ, tôi luôn tin mỗi chúng ta đều có khả năng bồi đắp cho những hạt giống tích cực và chánh tinh tấn ấy.

Huỳnh Huệ

Tích cực hay tiêu cực? Yêu hay thù ?

hatred in motion

Chào các bạn,

Một lầm lỗi lớn về suy tưởng chúng ta hay vấp phải mỗi khi thấy ai đó hăng say làm việc gì, là kết luận ngay, “Anh ấy rất tích cực.” Nhưng, một người rất hăng say chém giết, đó cũng là tích cực sao ?

Thù hận cũng là ngọn lửa đam mê thúc đẩy con người hăng say hoạt động trong việc trả thù và đập đổ, như tình yêu thúc đẩy con người yêu thương và xây dựng. Lầm lỗi lớn của chúng ta là lầm lẫn năng lực với tích cực.

Cả tích cực lẫn tiêu cực, cả tình yêu lẫn thù hận, đều tạo ra năng lực. Cuộc đấu tranh giữa năng lực tích cực và năng lực tiêu cực là cái mà, trong mọi nền văn hoá của con người, chúng ta gọi là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhưng, bạn đừng vội giơ tay sớm “Tôi phe thiện.” (Biết rồi khổ lắm nói mãi :-)) Nếu tự cho điểm, thì tất cả thế giới chỉ có một phe thôi, các bạn ạ–mọi người chúng ta đều dõng dạc tuyên bố, rất thành thật, “Tôi đương nhiên là thuộc phe thiện.” Nhưng rất tiếc, sự thật là thế giới có biết bao nhiêu người gây bao đau khổ và phiền não hằng ngày. Mọi người đã thuộc về phe ta hết rồi, phe địch ở đâu ra vậy kìa?

Nếu ta biết được là ta vô minh, thì ta đâu còn vô minh nữa. Bản chất của “không ánh sáng” là làm cho chúng ta không thấy được gì, kể cả không thấy được chính mình. Văn hào Alexander Solzhenitsyn nói, “Ước chi chỉ có những người gian ác đâu đó quỷ quyệt làm những việc gian ác, và ta chỉ cần lặt họ ra khỏi đám chúng ta và tiêu diệt họ. Tiếc thay, lằn ranh phân chia thiện ác cắt ngang mỗi trái tim con người, và ai là người sẵn sàng tiêu diệt con tim của chính mình?” Người nào vô tội, hãy ném viên đá đầu tiên!
heart

Bởi vì thiện và ác đã có sẵn trong trái tim con người, đừng tưởng rằng khi ta hăng say làm gì đó tức là ta đang tích cực. Tích cực là tình yêu. Thù hận là tiêu cực. Hăng say hoạt động vì thù hận vẫn là tiêu cực, dù là hăng say tiêu cực. Hăng say chưởi bới, hăng say đả phá, hăng say chỉ trích, hăng say đạp người ta xuống, đó là những hăng say tiêu cực, dù xem ra rất nóng, rất nhiều năng lực. Martin Luther King nói, “Hận thù khiến đời sống tê liệt, tình yêu giải phóng. Hận thù tung rối bời đời sống, tình yêu đem đến hài hòa. Hận thù phủ đen cuộc đời, tình yêu rọi sáng.”

Nhưng, nếu ta không là người đã hiểu và làm chủ được con tim của mình, ta sẽ không phân biệt được tình yêu và thù hận trong tim. Nếu có người cướp đường đang cướp một thiếu nữ, và ta ra tay hào hiệp đánh hắn để cứu nàng, thì trong lòng ta đang có tình yêu hay thù hận? Nếu ta vì yêu nhóm nông dân bị một quan chức tham nhũng ức hiếp mà “tấn công” vị quan đó bằng mọi cách, thì đó là tình yêu hay thù hận?

Đây là câu hỏi hết sức chủ quan, và thực sự là chỉ có mình bạn hiểu được quả tim của bạn. Không ai có thể trả lời cho bạn cả–bạn đang vì tình yêu hay thù hận trong lòng? Nếu bạn không chắc, thì mình chia sẻ với bạn một phương cách nhận biết giản dị. Nhưng cách nào đi nữa thì độ chính xác của nó tùy vào một điều kiện duy nhất—ta có thật sự thật sự thật sự thành thật thành thật thành thật với chính lòng ta không. Sai một ly đi một dặm. Chỉ cần ta có một thoáng thiếu thành thật với chính mình, mọi đo lường sẽ sai đi cả dặm.

hatred

Phương cách đó là: Hãy lắng nghe những câu chính ta nói. Các câu nói của bạn là nói về người mình yêu, hay nói về người mình ghét? “Chị bị như vậy cực quá, để em giúp chị môt tay” hay “Tên này đại gian đại ác, tôi phải đánh nó một trận mới được.” Dĩ nhiên là một hai lần thì không thể quyết đoán được, nhưng nếu bạn lấy tổng số câu trong một ngày hay trong môt tuần (kể cả những câu nói thầm trong đầu) và so sánh, bạn sẽ có khái niệm khá rõ ràng là mình vì tình yêu (tích cực) hay vì thù hận (tiêu cực). Nếu bạn tính ra 50/50, thì bạn đứng ngay chính giữa. Người tích cực hạng thầy sẽ có tỉ số tình yêu/thù hận bằng 100/0.

Nếu bạn là người tích cực thực sự, tỉ số của bạn phải rất gần 100/0. Và bạn có thể làm được điều đó, vì Mahatma Gandhi nói, “Hãy ghét tội lỗi, nhưng yêu người lầm lỗi.”

heart_quilt

Chúng ta lại rất hay ghét người lầm lỗi và yêu làm lỗi. Dĩ nhiên, đã không là thánh thì ai cũng lầm lỗi khi này khi khác. Nhưng tối thiểu là ý chí trong tâm tưởng, ta có ghét tội lỗi và yêu người lầm lỗi không?

Đây là chuyện tự nhiên trong bản tánh con người, chứ chẳng phải là gì phi thường hoặc không tưởng như nhiều người lầm tưởng—bố mẹ ghét những điều sai con cái làm, nhưng vẫn luôn thương yêu con cái. Đó là bản tánh con người tự nhiên. Rất nhiều người trong chúng ta đã lạc khỏi bản tánh yêu thương của mình quá lâu, cho nên thường hay thù ghét người mình cho là lầm lỗi, trong khi mình vẫn cứ yêu làm lỗi đó—ai hăng say đấu tố tham nhũng trong khi mình vẫn nhận tiền hay chi tiền dưới gầm bàn thường xuyên?

Lord Bryon, thi sĩ nước Anh, nói, “Thù hận là điên rồ của con tim.” Nhà Phật nói sân hận là một trong ba độc—tham, sân, si—làm cho người ta mất ánh sáng. Người thực sự tích cực không thể có thù hận; hành động tích cực không thể đặt trên căn bản thù hận. Đừng vội nhìn vào các hành động nóng bỏng của mình bên ngoài mà tưởng rằng mình tích cực. Người tích cực, với con tim tràn đầy yêu thương, đôi khi có thể chuyển xoay thế giới với chỉ một nụ cười và một con tim thanh lặng.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Yêu cụ thể , yêu trừu tượng

truu_tuong

Chào các bạn,

Trong thời đại chúng ta, ta thấy tận mắt bao cuộc chiến, giết hằng triệu con người, nhân danh chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ, đạo này, đạo nọ, thần này chúa nọ, lý tưởng này, con đường nọ. Những người đứng trong các cuộc chiến đó rất hăng say và nồng nhiệt chém giết. Nếu bạn nói bất kỳ câu nào để khuyên họ ngừng tay, có thể là bạn sẽ bị mắng nhiếc, bỏ tù, hay xử tử tức thì. Tuy nhiên, nếu đứng ngoài cuộc, mọi người chúng ta đều phải lắc đầu, “Sao những người này có thể điên rồ đến mức đó nhỉ?”

Đây không phải là triết lý cùn hay nhà văn giàu tưởng tượng. Đây là sự thực đã xảy ra mấy mươi năm nay trên khắp trái đất, kể cả ngay trên quê hương chúng ta. Và ngày nay vẫn đang xảy ra với đủ các cuộc thánh chiến, cách mạnh, đấu tranh, từ Afganistan đến Lebanon, đến Sudan, đến Sri Lanka …

Trong tất cả các cuộc chiến, mỗi bên lâm chiến luôn luôn có một lý tưởng cao cả nào đó: Chúa, Allah, người nghèo, quê hương, công bằng, bác ái, tự do, dân chủ, hạnh phúc, độc lập… Tất cả những gì cao đẹp nhất trên đời đều được mang ra trương thành các khẩu hiệu to lớn, với đủ bảng xanh đỏ chạy trên khắp các nóc phố, loa phóng thanh khắp ngang cùng ngỏ hẽm, toàn hệ thống radio, TV, báo chí và Internet rầm rộ của các phe nắm quyền hành. Những hệ thống tuyên truyền vĩ đại như vậy, nhồi vào mắt vào tai vào tim vào óc mỗi người mỗi giây mỗi phút trong ngày, những điều đẹp đẽ cao thượng nhất, chỉ để phục vụ những chém giết dã man nhất.

tranh-truu-tuong
Đó không phải là một cái gì rất bệnh hoạn trong tâm thức con người hay sao?

Nhưng mà điều gì đã làm cho chúng ta trở thành u tối đến mức đó?

Nhà Phật gọi đó là vô minh, không có ánh sáng. Điều đặc biệt của vô minh là nó như bệnh điên. Người điên không biết được là mình điên, bởi vì nếu biết được mình điên tức là mình đang còn tĩnh. Người vô minh cũng thế, không biết được là mình vô minh, vì nếu biết được mình vô minh thì đã không là vô minh.

Nhưng, lập lại lần nữa, điều gì đã làm cho con người trở thành vô minh đến mức đó? Có rất nhiều lý do riêng cho mỗi trường hợp, mỗi cá nhân, mỗi đoàn quân, mỗi quốc gia. Tuy nhiên, dù là lý do nào khởi đầu, kết quả kế tiếp vẫn là một cho tất cả mọi trường hợp: Người ta vô minh vì người ta say mê cái trừu tượng, mà không thấy được những con người cụ thể đứng trước mặt. Người ta “yêu” đồng bào, nhưng không thấy được người nông dân run rẩy đang quì trước họng súng xin tha mạng. Người ta “yêu” tổ quốc, nhưng không thấy được cây cầu mình đang xây sẽ xụp vì xi măng bị mình ăn xén. Người ta “yêu” gia đình nhưng không thấy mình cứ say sưa và bạt tai vợ thường xuyên. Người ta “yêu” người nghèo, nhưng không thấy mình chắt bóp từng xu với người ăn người làm.

Những cái trừu tượng—tổ quốc, đồng bào, công bình, bác ái, tự do, dân chủ, Chúa, Phật, Thượng đế, Allah–chỉ là những danh từ trừu tượng. Không có vị nào tên là Tổ quốc cho bạn một bạt tai nếu bạn nói tôi ghét tổ quốc. Không có vị nào tên là Đồng bào cho bạn cái đá nếu bạn tham nhũng bạc tỉ. Không có vị nào tên Công bình cho bạn vài quả đấm nếu bạn cưỡng bách người nghèo ra khỏi mảnh đất của họ để bạn có bạc tỉ bỏ túi. Chúa, Phật, Allah,Thượng đế, nếu có mặt, thì “chúng mày làm chúng mày chịu, nhân quả trả vay.”

nguoi-ngheo

Cho nên, những cái trừu tượng rất dễ bị nhân danh, bị lạm dụng. Hơn thế nữa, những cái trừu tượng còn có khả năng tiêu thụ ta hoàn toàn, xâm nhập vào toàn diện tri thức và đời sống của ta như là “quỉ ám”, và làm ta thành tuyệt đối mù lòa. Nếu ta khởi sự lạm dụng tên “phát triển xã hội” chẳng hạn, để kiếm tiền bỏ túi hay để bóc lột người cô thế, thì chỉ sau một thời gian ngắn, cái “phát triển xã hội” đó bắt đầu rỉa rói ăn sâu vào não bộ của ta và làm cho ta tin rằng ta thực sự phục vụ một vị thần tên “Phát triển xã hội” và, vì vị thần này, ta sẵn sàng sát phạt thẳng tay những ai ta nghĩ là không phục vụ vị thần linh của ta, trong khi tư tưởng của vị thần linh đó chẳng gì khác hơn là tư tưởng của cái tôi mù lòa của ta.

Đây không phải là lý thuyết mà là sự kiện lịch sử của bao nhiêu cuộc chiến thảm khốc mà chính chúng ta chứng kiến trong thế kỷ 20, và hiện tại hằng ngày. Và bạn đừng vội đổ lỗi cho một vài người như Hitler, Stalin, Polpot, bin Laden… Mỗi ung nhọt của cơ thể đã có mầm độc từ trong máu, thấm sâu trong mỗi tế bào.

Mỗi chúng ta cần dành vài phút để xét lại chính mình—chúng ta nói gì về tình yêu đồng bào, tình yêu tổ quốc, yêu thương người nghèo, bảo vệ công lý, v.v…? Và chúng ta đã và đang làm gì để thể hiện tình yêu đó? Và cách thể hiện tình yêu của ta nằm trong hành động mà người ngoài nhận ra ngay là tình yêu không? Như là vuốt ve, an ủi, chăm sóc, thương mến, cho tặng… hay là nằm trong dạng hằn học, chưởi bới, đánh đập, mạ lị, kiêu căng? Xong rồi bạn tự cho điểm bạn. Lòng bạn chỉ có bạn và thượng đế của bạn biết. Không ai có quyền phê phán.

Nhưng làm thế nào để chúng ta tránh bị “quỉ ám” bởi những danh từ trừu tượng? Thưa, rất giản dị: Ta phải yêu những con người cụ thể, những cái gì cụ thể trước mắt ta. Khoan nói yêu gia đình, hãy dịu dàng chăm sóc vợ con đi. Khoan nói yêu đồng bào, hãy tử tế với người láng giềng đi. Khoan nói yêu người nghèo, mua vài tấm vé số giúp ông cụ mù bán vé số đi. Khoan nói yêu thành phố, ngưng xả rác đi. Khoan nói yêu môi trường xanh, ngưng ăn thịt thú rừng đi. Khoan nói yêu tổ quốc, đóng thuế đầy đủ đi. Khoan nói yêu tự do, để cho con cái thong thả đi. Khoan nói yêu dân chủ, để các học trò bàn luận thoải mái đi. Khoan nói yêu Chúa, thành tâm với bạn bè đi. Khoan nói yêu Phật, từ bi với người lầm lỗi đi.

nguoi_ngheo

Tất cả những gì trừu tượng đều có thể đạt được một cách xác thực, không dối trá, nếu ta không nghĩ đến trừu tượng mà chỉ đối xử đúng với những gì cụ thể. Cứ nhân ái với láng giềng, đương nhiên đó là yêu đồng bào. Giữ sạch sẽ đường phố, đó là yêu tổ quốc. Bố thí một đồng bạc, đó là yêu Chúa. Nhẫn nhục với người gây sự ngoài đường, đó là yêu Phật. Không ức hiếp người nghèo khổ, đó là con Thượng đế.

Mỗi chúng ta phải tự thành thật với chính mình,và phải bám chặt vào những gì cụ thể chung quanh ta để mà sống. Nếu nhìn vào lịch sử, và đọc báo hằng ngày, ta thấy mỗi người chúng ta đều có khả năng trở thành rất tăm tối—chỉ một tí quyền hành, môt tí tiền bạc, một tí địa vị, con người của ta có thể thở thành mù lòa rất dễ. Nhưng nếu ta đã có thói quen quan tâm đặc biệt đến những gì cụ thể trước mắt, thì rất khó cho chúng ta trở thành mù lòa, vì rất dễ để nhận ra hôm nay ta có ăn gian tiền của ai không, có bố thí cho ai không, có dịu ngọt lễ độ với người ăn mày nào không. “Cụ thể” không bao giờ nói dối.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

“Tin vào sức mạnh của tuổi trẻ”

qvnpct

Chỉ sau hơn một năm chính thức hoạt động, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh đã lần lượt trao ba giải thưởng uy tín: giải thưởng tinh hoa giáo dục quốc tế, giải thưởng Việt Nam học và giải thưởng nghiên cứu. Chương trình dịch thuật là một trong ba chương trình trọng tâm của quỹ. Bên cạnh đó, quỹ còn xây dựng “Tủ sách dẫn nhập” và “Tủ sách tri thức mới” với mục đích cập nhật kiến thức cho độc giả VN. Chương trình quan trọng thứ ba là “Học viện nhân dân”, đang được khởi động như một kiểu Đông Kinh nghĩa thục của thế kỷ 21. Với tôn chỉ “chấn hưng dân trí”, hoạt động của quỹ đang tạo nên những hiệu ứng tốt trong xây dựng nền tảng tri thức xã hội.

Xem tiếp tại đây

Họa sĩ mù

Mù thì mò mẫm tìm đường đi đã khó rồi, đừng nói là sáng tạo những họa phẩm nghệ thuật như người họa sĩ mù này, John Bramblitt, sinh viên Đại Học North Texas (UNT). John chỉ cảm được (bằng mắt) sự khác biệt giữa màu đỏ và màu xanh, và sự hiện diện của màu sáng như màu trắng. Anh sáng tạo một cách vẽ bằng cảm giác ở đầu ngón tay.

Hãy tự hỏi, ta còn rất lành lặn, bao nhiêu tiềm năng ta đang có mà không sử dụng và phát triển, vì ta không tin vào chính ta?

Tam đoạn luận và giới hạn của luận lý

meeting

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta sẽ khảo sát hai lý luận căn bản nhất trong luận lý học, mà ta dùng hằng ngày, để hiểu rõ và nắm vững chúng trong đời sống và công việc hằng ngày. Đó là tam đoạn luận suy diễn và tam đoạn luận quy nạp. Đồng thời ta sẽ cảnh báo về các giới hạn tự nhiên của ngôn ngữ và lý luận.

• Tam đoạn luận hầu như là nền tảng của phần lớn, nếu không nói là tất cả, suy tư của con người. Tam đoạn luận là lý luận ba câu. Ví dụ: (1) Mọi người đều chết. (2) Ông Xuân là người. (3) Vì vậy, ông Xuân sẽ chết. Hai câu đầu (1) và (2) của tam đoạn luận nầy là 2 tiền đề–tiền đề 1 và tiền đề 2. “Tiền” là trước (không phải là “money”, nhưng nếu bạn hiểu là money cho dễ nhớ thì cũng tốt, vì money thường đi trước mọi sự :-)), tiền đề là mệnh đề đi trước; câu (3) là kết đề, tức là kết luận rút ra từ hai tiền đề.
Tam đoạn luận trên đây là tam đoạn luận suy diễn, nó vì nó “suy” từ cái chung (mọi người) đến cái riêng (ông Xuân).

• Lý luận theo chiều ngược lại, từ VÀI cái riêng đến cái chung, goi là quy nạp. Và quy nạp thì dựa vào quan sát các trường hợp cá nhân, mà “quy” về một định luật chung cho tất cả. Ví dụ: (1) Hùng Vương chết, Hai Bà Trưng chết, Trần Hưng Đạo chết, Quang Trung chết, ông tôi chết, bà tôi chết, v.v.. (2) Các vị đó là người. (3) Vì vậy, mọi người đều phải chết.

• Hai tam đoạn luận này ta dùng rất thường xuyên trong ngày, nhưng gọn gàng hơn. Ví dụ, suy diễn kiểu các bà :-): “Ông này làm gì mà ôm điện thoại đi ra xa, nói nhỏ xíu. Chắc là liên hệ bất chính với cô nào rồi.” Đây là rút ngắn của môt tam đoạn luận: (1) Đàn ông nói điện thoại cách bí mật là có liên hệ bất chính với đàn bà. (2) Ông này đang bí mật. (3) Vì vậy, ông này có liên hệ bất chính.

argument1

• Lỗi lầm thường thấy nhất trong tam đoạn luận suy diễn là tiền đề đầu tiên thường quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Trong ví dụ trên, ở tiền đề 1, ta thấy ngay là nói chuyện bí mật đâu nhất thiết có nghĩa là có liên hệ bất chính, giả sử đó là bí mật quốc phòng hay bí mật nghề nghiệp thì sao?

Muốn cho chính xác hơn thì ta phải “thu nhỏ” lại một tí,và nói theo kiểu xác suất. Ví dụ: (1) Đàn ông, không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp, mà nói chuyện bí mật thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính. (2) Ông này không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp mà cứ nói chuyện kiểu bí mật trước mặt mình, (3) thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính.

“Khả năng cao” thì khá chính xác trên phương diện lý luận, nhưng không mạnh như trăm-phần-trăm. Vì vậy, các quí vị thiếu kinh nghiệm thuyết phục thường cứ cố ăn nói viết lách kiểu trăm-phần-trăm cho mạnh mẽ, nhưng làm người nghe và người đọc nhận ra ngay là mình lớ ngớ và không thành thật.

• Điểm yếu của tiền đề 1 của tam đoạn luận suy diễn cũng chính là điểm yếu của kết đề của tam đoạn luận quy nạp. (1) Tôi thấy ông A nói điện thoại bí mật và có liên hệ bất chính. (2) Tôi cũng thấy ông B cũng vây; ông C cũng vậy.… (3) Vì vậy, hễ đàn ông nói chuyện điện thoại bí mật là có liên hệ bất chính.

Kết luận này quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm, cho nên không tin được. Nếu giảm lại một tí theo cách nói xác suất thì dễ tin hơn: “Vì vậy, hễ đàn ông nói điện thoại bí mật là có khả năng có liên hệ bất chính.”

• Cả suy diễn và quy nạp (cũng như mọi luận lý khác của con người) đều có môt điểm rất yếu nữa, đó là các từ ngữ của con người luôn luôn có tính cách mù mờ, dùng tạm qua ngày thôi, chứ không giải quyết điều gì rốt ráo được. Ví du: (1) Hồng nhan thì đa truân. (2) Cô ấy đẹp quá. (3) Thành ra đời cô ấy khổ.

Phản biện: “Trời, con nhỏ đó, cái mặt mẹt như vậy mà chị nói là đẹp. Nó cực vì chuyên môn nói xạo, chớ hồng nhan cái gì!”

Ở đây ta thấy, từ “đẹp” rất mù mờ. Đẹp xấu tùy người đối diện, tùy say hay tĩnh. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ con người cũng đều mù mờ như thế. Cho nên, những người tin rằng có thể dùng ngôn ngữ và lý luận để giải quyết mọi thắc mắc ở đời, tìm ra mọi chân lý ở đời, là những người rất thiếu kinh nghiệm về lý luận.

argument

• Một điểm yếu rất lớn khác nữa là tất cả mọi phương thức lý luận (kể cả tam đoạn luận) chỉ do con người tìm ra được trong cuộc sống mắt thấy tai nghe. Ví dụ: Tiền đề “Mọi người đều chết”. Ta biết được điều này là do thấy trong lịch sử (qua sách vở) và chung quanh ta ai cũng có lúc chết, cho nên ta “qui nạp” thành kết luận “Mọi người đều chết.” Rồi ta lại mang kết luận quy nạp này làm tiền đề cho một suy diễn mới, “Mọi người đều chết, hắn là người, cho hắn tha hồ ba hoa chích chòe đi rồi cũng có lúc phải chầu chúa thôi!”

Tức là quy nạp, suy diễn, hay bất kỳ lý luận nào ta sẽ học sau này, cũng chỉ là do kinh nghiệm quan sát của con người mà ra. Cho nên, các lý luận này khi gặp điều gì vượt quá vòng kinh nghiệm thường ngày của con người thì hoàn toàn không sử dụng được. Ví dụ: Tự nhiên có một cô gái rất trẻ, nhìn mới hai mươi mấy, đến gặp bạn và nói: “Tôi nói cho cậu bé hay nhé, cậu năm nay cở bốn mấy, thế thì cậu phải gọi tôi là ‘bà tiên tổ’ mới đúng, vì tôi năm nay 3.125 tuổi rồi.” Nếu cô bé này cứ nhất định như thế, và nếu chúng ta không thể chứng minh được tông tích cô này, toàn hệ thống công an cảnh sát của thế giới không có cách nào chứng minh được cô này từ đâu mà có, thì lúc đó ta có thể thấy lời cô ta nói có một cái gì đó có thể có giá trị, chứ chưa chắc là cô ta điên, và qui luật “Mọi người đều phải chết” có thể không dùng được, tối thiểu là trong trường hợp cô bé này.

• Nhận xét trên đây có hậu quả rất lớn cho đời sống con người trên thế giới ngày nay: Trong những lãnh vực xa hơn kinh nghiệm mắt thấy tai nghe (cộng thêm các máy móc phụ mắt và phụ tai), thì toàn hệ thống suy luận của con người không sử dụng được, và đó là lý do tại sao mà tôn giáo và các truyền thông tâm linh luôn luôn sống mạnh cho đến ngày nay, dù là tôn giáo và các truyền thống tâm kinh nói nhiều điều rất khác với kinh nghiệm hằng ngày và lý luận hằng ngày của ta. Các tôn giáo và truyền thống tâm tinh thường nhấn mạnh đến những kinh nghiệm vượt xa kinh nghiệm hằng ngày—Ví dụ: Nói chuyện với Chúa hiện ra trước mặt, nói chuyện với Quan âm Bồ tát hiện ra trước mặt… Ở đây ta không bàn đúng sai, ta chỉ cần hiểu rằng các kinh nghiệm cá nhân siêu hình, dù thật hay không thật, là các kinh nghiệm không thuộc trong lĩnh vực hoạt dộng của ngôn ngữ và lý luận thông thường. Cho nên nếu ta cố gắng tranh biện về các vấn đề này tức là ta rất thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ và lý luận.

• Một điểm quan trọng khác trong việc sử dụng và hiểu biết ngôn ngữ là: Ngôn ngữ, vì giới hạn rất lớn của nó, thường được sử dụng như là “hé cánh cửa” để mời ta vào bên trong và thấy rõ hơn. Nếu ta không chịu mở cửa bước vào, thì không thể thấy bên trong. Ví dụ: Bạn thường ngày về nhà 6 giờ chiều. Hôm nay không hẹn nhưng lại về 11 giờ đêm, vào nhà thấy nàng còn ngồi đó bên mâm cơm và nói “Em đợi anh từ chiều đến giờ.” Bạn thực sự thấy được gì, thấy được bao nhiêu, trong câu nói đơn sơ nhẹ nhàng đó, hay là chỉ lý luận: “Đến giờ thì đi ngủ đi chứ, tại sao đợi làm gì?”

• Luận lý học là khoa học về sử dụng ngôn ngữ và lý luận chính xác. Nó rất cần cho chúng ta trong công việc và đời sống hằng ngày. Cho nên ta phải nắm vững. Và khi đã nắm vững, ta cũng phải biết ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Khi đọc hay nghe một câu nói, có nghĩa là chúng ta nhận được cái bánh ít bọc lá chuối. Ngôn ngữ lý luận là lớp lá bọc, tư tưởng tâm tình là bánh bên trong. Ta ăn bánh bỏ vỏ, hay ăn vỏ bỏ bánh?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sự có mặt — quà tặng quý giá

sadness
“Tặng phẩm quý giá nhất ta có thể dâng tặng cho người khác là sự có mặt của chúng ta. Khi sự quan tâm chia sẻ của chúng ta bao bọc những người ta yêu thương, họ sẽ rộ nở như những đóa hoa tươi thắm”

Ý nghĩa đích thực của từ có mặt trong lời dạy trên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là gì? Và bằng cách nào sự có mặt là một tặng phẩm ta dành cho người khác?

Và câu hỏi cuối cùng ta tự đặt cho mình là mỗi ngày trong đời, ta đã thực sự tặng cho những người ta yêu, ta quý, những người sống, làm việc bên ta hay những người ta gặp, sự có mặt của mình đúng nghĩa hay chưa?

Chắc chắn mỗi chúng ta đều có câu trả lời, nhưng trước hết mời các bạn suy nghĩ về câu trả lời của Sunada. Bà Sunada sinh ra ở Nhật, nhưng sống tại Mỹ từ năm lên 3 cho đến nay. Bà đã có 16 năm làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao (high tech), quản lý các chương trình phát triển phần mềm . Trong khoảng thời gian đó thường xuyên đối mặt với áp lực rất lớn, bà đã phải chịu đựng những thương tổn nặng là hậu quả của stress . Bà bắt đầu nghiên cứu Phật pháp và thực hành thiền định từ 1995, có 3 năm giảng dạy các lớp tu học và thiền tại Boston (Mỹ), hiện đang tham gia giảng dạy các lớp tu học thiền qua mạng Internet với Wildmind và tư vấn cho những ai cần giúp đỡ về tu học. “Khi tôi bắt đầu thực hành chánh niệm, lĩnh vực đầu tiên của tôi là chánh niệm trong mỗi hoạt động hàng ngày quen thuộc. Tôi “nhìn “ lại những gì đang diễn ra trong đầu tôi trong một bữa ăn trưa cùng một người bạn đồng nghiệp. Tôi giật mình sửng sốt nhận ra rằng tôi không đang chú ý đến bạn. Trong khi anh ấy đang say sưa nói về một dự án chung của chúng tôi, tôi thấy mình đang suy nghĩ về ý tưởng của tôi. Rồi sau đó tôi thấy mình đang lập kế hoạch cho cuộc họp chiều hôm đó. Tóm lại, tôi đang theo đuổi những vấn đề, một chương trình tương lai của tôi, và tôi không thực sự đang có mặt trong hiện tại cùng anh ấy. Bây giờ tôi mới nhận ra rằng thật đáng buồn chúng ta hiếm khi thực sự có mặt cùng người khác.”

gia-dinh

Các bạn có thấy mình giống hệt Sunada không? Tôi cũng không phải là ngoại lệ. Trong cuộc sống hàng ngày, bộn bề với công việc đủ loại: việc công, việc tư, chuyện cơ quan, chuyện gia đình con cái… với đủ áp lực, chúng ta đi đâu, ngồi ở đâu, với ai vẫn không thoát ra khỏi những gì đang đè nặng lên tâm trí của chúng ta. Những ý tưởng, kế hoạch, các hợp đồng kinh doanh, hay chuyến đi nghỉ lễ sắp tới, quà sinh nhật cho người yêu,…. là những rào cản che mất khiến ta không thực sự nhìn thấy người khác, hoặc thấy rõ họ dù họ đang ngồi cạnh ta. Ta có tập trung lắng nghe người khác chăng? Ta có hiểu người ấy muốn gì ở ta?

Chẳng hạn chúng ta có một người bạn bị ốm, hay đang gặp chuyện không hay, cần giúp đỡ. Tùy theo mức độ thân tình mà ta quan tâm và giúp đỡ theo khả năng của mình. Ta có thể giúp được rất nhiều từ vật chất đến tinh thần cho người bạn thân thiết ấy. Nhưng với một người lạ qua đường xin ta giúp đỡ, có bao nhiêu người trong chúng ta nghi ngại và do dự?

Và thử suy nghĩ xem có bao nhiêu phần trăm trong cách đáp ứng của chúng ta là do ý muốn giúp đỡ, gỡ rối, điều chỉnh sự khó khăn ấy theo cách của riêng ta? Hoặc giả ta làm việc gì đó chỉ để làm giảm bớt nỗi lo âu và buồn phiền của ta khi nhìn thấy người ta đau đớn hay bất hạnh? Cũng có thể ta đang tỏ ra tốt đẹp như chân dung tự họa của mình là một người tốt bụng, nhân ái, và sẵn sàng giúp đỡ. Có hay chăng việc ghi điểm với hi vọng rằng nếu ta giúp người lúc này, mai mốt họ sẽ đền đáp cho ta? Những động cơ rất vị kỷ để giúp đỡ ai đó được khoác tên lòng vị tha. Mà nếu ta thực sự có một ước muốn chân thành giúp người, hầu như không tránh khỏi những động cơ lẫn lộn ấy len lỏi ít nhiều vào suy nghĩ và hành động của ta.

Với những trợ giúp đến do nghề nghiệp, lại có thêm mức độ phức tạp. Nếu chúng ta quá chú trọng đến hình ảnh của chính mình với vai trò chuyên môn, ta có thể đang liên hệ với người khác qua lớp mặt nạ của nghề nghiệp. Thực sự chính ta với tư cách là một con người đang có mặt, hay chỉ là một y tá, bác sĩ., luật sư, giáo viên đang lên tiếng một cách máy móc theo chức trách nghề nghiệp?

Có khi sự giao tiếp giữa người với người trong lĩnh vực này còn tệ hơn Các bạn đã bao giờ chứng kiến một vị bác sĩ không buồn nghe bệnh nhân khai bệnh, và rất tiết kiệm lời han hỏi dù mới đầu buổi khám bệnh? Tôi đã không ít lần chứng kiến những cảnh này trong bệnh viện công và cả trong phòng khám tư. Một buổi chiều nọ tôi đi cùng một người bạn là bác sĩ ở tỉnh lẻ đưa một người thân, mắc một căn bệnh tim mạch nghiêm trọng đến phòng khám của một vị bác sĩ giáo sư chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn. Vì ở xa, chúng tôi vào muộn hơn nên có số phiếu hẹn khám cuối cùng của ngày hôm ấy. Sau khi chờ rất lâu mới đến lượt, người bạn là bác sĩ (vốn là học trò cũ từ xưa, chắc thầy không nhớ) đưa người thân của tôi vào khám. Tôi ngồi ở ngoài và có lẽ đến khi ấy vị bác sĩ đã quá mệt mỏi nên rất tiết kiệm lời. Ông ta nghe khai bệnh và hỏi không quá 3 câu với vẻ gắt gỏng, rồi lập tức ghi đơn cho thuốc, không thèm liếc mắt đến những hồ sơ kết luận bệnh án trước đó. Ra về người thân của tôi rất buồn rầu. Không phải vì tiền khám bệnh và thuốc mua tại đó rất đắt, nhưng thực sự người bệnh cảm thấy mình bị coi thường, không được giúp đỡ, trấn an khi vị bác sĩ ấy đang có mặt, và mất cả niềm tin vào cái gọi là “lương y như từ mẫu” của vị giáo sư bác sĩ đó.

sadness
Phải chăng ta đang sử dụng vai trò nghề nghiệp của minh như một cách tránh giao tiếp liên hệ với người khác theo nghĩa từ trái tim đến trái tim?

Một tình huống khó khăn khác là khi ai đó đang làm gì sai quấy, phạm pháp hay thiếu đạo đức, họ đang làm một điều gì khiến người khác bị tổn hại và đau khổ hay chính họ cũng đau khổ. Khi chúng ta tin rằng ta đúng và người khác sai, chúng ta sẽ phân hóa, phân cực, và rơi ngay vào cái bẫy của thói quen tự cho mình là chính trực, là đạo đức. Chính cách suy nghĩ này đã ngăn trở ta đặt mình vào hoàn cảnh của người và cảm thông với họ. Ví dụ, một người ăn cắp một số tiền của ta, ta có tìm hiểu lý do nào thúc đẩy anh ta làm như thế? Để tiêu xài thỏa thích, hay để mua thuốc cho đứa con bị ốm nặng…?

Thế thì chánh niệm có nghĩa là thụ động và để cho người khác tiếp tục đớn đau, hay tiếp tục gây ra rắc rối khó khăn trong cuộc đời họ? Tất nhiên là không!

Chánh niệm có vai trò vô cùng quan trọng vì chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại.. Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại. Trong số các đặc tính của chánh niệm, xin nêu ra ở đây:

Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã
Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi. (Thích Nhất Hạnh)

Theo Sunada, chánh niệm phải bắt đầu bằng sự tôn trọng nhân phẩm và lý luận của người khác. Như thế có nghĩa dù cho ta rất không đồng tình với việc làm của họ, ta vẫn phải cố gắng để hiểu xem tại sao họ làm như thế và hoàn cảnh nào đưa đẩy họ đến đó. Có nghĩa là tạm dừng quan điểm của mình và thực sự hiểu hoàn cảnh của người ta- không chỉ bằng trí óc mà bằng trái tim.

Có mặt trong chánh niệm cũng có nghĩa là loại bỏ những động cơ vị kỷ của ta đi. Hay nếu ta không thể làm được như thế, ít nhất ta có thể cố gắng tránh không dùng đến chúng như những tấm kính lọc qua đó chúng ta nhìn vào và xem xét hoàn cảnh, vấn đề của một người khác. Như thế cũng dẹp bỏ những nỗi sợ hãi của chúng ta. Cái gì đã ngăn cản ta mở lòng ra với người khác? Ta sợ mình bị tổn thương chăng? Hay ta sợ mắc phải sai lầm về nghề nghiệp? Thực sự, cái gì dựng lên một bức tường ngăn cách ta và người mà cơ bản rất giống ta?
giadinh

Tất nhiên có những lúc điều tốt nhất ta phải làm là bắt tay hành động trước khi có thêm những tổn hại nặng nề hơn. Ta cần làm việc này theo cách nào gây ra ít tổn hại nhất cho người trong cuộc, có liên quan. Và có lẽ ta cần hành động mạnh đối với người đó để ngăn cản họ không gây thêm điều xấu tổn hại nào hơn. Nhưng trước hết ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh, thân phận của người ấy trong chốc lát, để suy nghĩ và hiểu người ta hơn.

Và trên hết, chánh niệm là kiên nhẫn. Phải thừa nhận rằng mọi thay đổi đều cần thời gian, và ta không thể bắt sự việc vận hành theo thời gian biểu của ta. Và có một số sự việc xảy ra vượt quá dự kiến và khả năng thay đổi của ta như thường thấy. Chẳng hạn, ta không thể bắt hoa nở theo ý muốn; có khi hoa chẳng nở mà còn héo úa. Nhưng chúng ta có thể vun xới tạo điều kiện tốt cho cây tốt và hoa nở thắm tươi. Như thế ta nên bón phân cho đất, cho cây hoa có nước và ánh sáng, dưỡng chất… Rồi ta kiên nhẫn chờ đợi…

Trở lại với sự có mặt như một tặng phẩm mà Thiền sư Nhất Hạnh đã nói. Phải chăng ta hãy luôn chánh niệm về sự có mặt thực sự của mình bên người khác trong từng giây phút, trong mỗi hoàn cảnh và vị trí. Ta cho đi sự có mặt trọn vẹn của ta khi đang đứng, ngồi ở đâu, làm việc gì với một hay nhiều người khác. Ta ngồi ở bàn, ăn một bữa cơm bình thường của gia đình. Ta đang chăm chú nghe một người thân giải bày tâm sự. Ta đang đứng trong lớp học giảng bài cho học sinh, hay đang bên giường bệnh nhân… Dẫu trong vai trò nào, ta cũng có thể dâng tặng sự có mặt của ta theo cách vun xới cây hoa, cho ánh sáng, nước và dưỡng chất… Và tiền đề quan trọng hơn cả, ấy là hãy rộng mở lòng mình, dẹp bỏ những thành kiến, nghi kỵ và trao tặng trái tim chân thực dễ bị tổn thương của chính ta cho người khác.

Huỳnh Huệ

Đam mê tuyệt vời

Chào các bạn,

Mấy năm về trước (2004) mình có viết một bài trong diễn đàn VNBIZ, nhan đề là Passion for Excellence. Sau đó một thời gian, bài này được chuyển đi rộng rãi trong giới sinh viên học sinh trên mạng và được một số bạn chuyển sang tiếng Việt.

Gần đây có một bạn gửi mình một bản tiếng Việt. Hôm nay gửi đến các bạn cả bản tiếng Việt lẫn bản tiếng Anh. Mình không biết bạn nào dịch bài tiếng Việt này, rất hay. Nếu các bạn nào biết, cho mình gửi lời cám ơn đến người dịch.

Các chữ in đậm trong này là từ trên mạng. Trong bài nguyên thủy tiếng Anh, mình không in đậm chỗ nào cả.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

________________

Các bạn thân mến,

Có điều này cứ khiến tôi trăn trở từ khoảng 10 năm nay. Giờ có lẽ chính là lúc để tôi chia sẻ với các bạn.

Thường thì khi chỉ ra một điểm yếu kém hay một vấn đề nào đó của quốc gia, sẽ có người phản biện rằng, “Chúng ta còn tốt hơn nhiều nước châu Phi,” hay “Nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn chúng ta,” hay “Chúng ta là một nước nghèo.”

Đó là cái mà tôi gọi là “Tâm lý của kẻ thua cuộc.”

Thử tưởng tượng khi giáo viên nói với học sinh, “Em có thể học tốt hơn thế này, hãy cố gắng hơn nữa,” và cậu học sinh trả lời, “Thưa thầy, gia đình em nghèo, nhiều bạn học sinh nghèo khác còn học kém hơn em.”

Tại sao lại so sánh mình với những kẻ thua cuộc? Tại sao không đem mình ra so sánh với những người xuất sắc nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển, hay những nước nghèo, tại sao không nói, “Chúng ta muốn sẽ đánh bại Pháp và Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh.”

“Anh điên à? Đó là hai trong số các cường quốc lớn nhất trên thế giới. Thật là hão huyền và viển vông!”

“Người anh em, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng ta đã đánh bại hai nước này trên mặt trận quân sự. Vậy thì kinh doanh hay công nghệ có là gì?”

Thử tưởng tượng 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cả nước, “Thưa Đồng bào, Pháp là một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới. Chúng ta không thể đọ được với súng ống và đại bác của họ. Các vị thật quá điên rồ khi nghĩ đến chuyện chiến đấu với họ, chưa nói đến việc đánh bại họ.” Nếu Người đã nói như vậy, giờ chúng ta sẽ ra sao?

Thật không may, sau chiến thắng trên mặt trận quân sự, những thế hệ tiếp theo sống đớn hèn, không nghị lực, không ý chí, không khát khao chiến thắng, không hoài bão vượt trội.

Mấy năm trước, khi tôi bay về Việt Nam, vài người bạn của tôi ở Bộ Ngoại giao đón tôi ở sân bay. Tôi đã rất bức xúc trước thực trạng cán bộ Hải quan đòi tiền Việt kiều ở sân bay, nên tôi nói với bạn mình, “Cậu biết không, mấy thằng trong kia chỉ chăm chăm đòi tiền dân chúng.” Một người bạn của tôi nói rằng, “Ồ, các anh có hàng đống tiền cơ mà. Anh nên chia bớt cho những người anh em nghèo khó mới phải.”

Nghe đến đó, tôi rất thất vọng, nên im lặng không trả lời. Đó là tâm lý của kẻ thua cuộc, tâm lý chấp nhận chất lượng hạng ba, và lý luận bảo vệ sự cam chịu đó. Người bạn này của tôi về sau trở thành đại sứ ở nhiều nước, anh ta không hề thấp kém. Vậy bạn có thể hình dung bao nhiêu người ở nước ta có tâm lý của kẻ thua cuộc như thế.

Nếu có nhiều đến thế những người mang tâm lý của kẻ thua cuộc, Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chúng ta, thế hệ này, nên cảm thấy hổ thẹn với cha ông. Cha ông ta đã không nói, “Pháp và Mỹ quá mạnh, chúng ta không thể chiến thắng.” Cha ông ta chỉ có một điều duy nhất trong suy nghĩ – chiến thắng hay là chết. Đó chính là hoài bão vượt trội, khát vọng chiến thắng, khao khát không chấp nhận đứng thứ hai (bởi vị trí thứ hai đối với họ chính là cái chết).
the-thao

Nếu muốn chiến thắng, cần phải tư duy như một người thắng cuộc. Và đó là, “Chúng ta muốn thắng những người mạnh nhất. Chúng ta muốn là vô địch. Và chúng ta sẽ tạo ra con đường của mình từ đây đến chiến thắng cuối cùng.” Tâm lý của người thắng cuộc đó sẽ tự động buộc tâm trí ta vào trạng thái không chấp nhận làm kẻ tầm thường, không chấp nhận biểu hiện kém cỏi, không chấp nhận bất cứ cái gì thấp hơn nỗ lực cao nhất, phấn đấu lớn nhất, làm việc chăm chỉ nhất, và tư duy tích cực nhất.

Ai đó có thể nói, “Nhưng chiến đấu vì sinh tồn khác với cạnh tranh để làm giàu. Nền văn hóa của chúng ta chưa bao giờ coi trọng sự giàu sang. Trong nền văn hóa truyền thống, một thầy giáo nghèo là người được coi trọng nhất.”

Câu trả lời của tôi sẽ là:

(1) Khi chúng ta chiến đấu chống lại Pháp và Mỹ, đó không chỉ là chiến đấu để tồn tại. Chúng ta vẫn có thể sống dưới ách đô hộ của Pháp và Mỹ. Nhưng đó là một cuộc sống không có danh dự. Chúng ta chiến đấu vì danh dự, không phải vì sinh tồn.

(2) Ngày nay, chiến đấu để làm giàu và chống đói nghèo cũng là chiến đấu vì danh dự, bởi bất cứ ai trên thế giới cũng đều khinh thường công dân của một nước nghèo.

(3) Nền văn hóa truyền thống tôn vinh cái nghèo là hoàn toàn sai lầm. Là thuốc phiện. Đối với một cá thể, có thể sự giàu sang là vấn đề ý thích cá nhân, và không ảnh hưởng nhiều đến người khác. Nhưng đối với một quốc gia, đói nghèo là cái tội, sự giàu sang là sức mạnh và độc lập. Nếu Việt Nam giàu và mạnh từ một ngàn năm trước, thì Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật, và Mỹ đã chẳng dám tấn công chúng ta. Nếu thế, ta đã chẳng mất một ngàn năm chiến tranh. Đối với một quốc gia, nghèo nghĩa là yếu, là mở cửa cho những kẻ khác tấn công, là để bị đô hộ và giày xéo bởi các quốc gia khác, là bị khinh thường bởi người dân của các nước giàu có hơn. Hãy đi ra thế giới và bạn sẽ hiểu.

Đói nghèo là căn bệnh của một quốc gia. Đói nghèo cần phải bị xóa bỏ.

Bất kể triết lý cá nhân của mỗi chúng ta về sự giàu sang ra sao, đối với đất nước, làm giàu là mục tiêu chính yếu. Vì vậy hãy nhắc nhau đòi hỏi nhiều hơn nữa ở bản thân mình, ở bạn bè, thầy cô, chính phủ, và những nhà lãnh đạo. Hãy nhìn cách những nước giỏi nhất thế giới, như Nhật, Anh, Úc làm việc, học hỏi từ họ với quyết tâm về sau sẽ vượt qua họ (và họ sẽ vui lòng lắng nghe bạn, các bạn sinh viên, nói lên điều này, bởi bất cứ một giáo viên chân chính nào cũng muốn nhìn thấy cái ngày học trò đánh bại mình). Hãy ngừng suy nghĩ “Chúng ta là một nước nghèo, nên thế này là tốt rồi.” Không, sẽ là không đủ cho tới khi ta có thể đánh bại những người xuất sắc nhất trên thế giới.

Hãy tin vào chính mình. Nếu ta nghĩ ta có thể làm được, thì ta sẽ làm được

Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường. Đừng chấp nhận đứng ở vị trí thứ hai.

Hãy chấp nhận là người xuất sắc nhất.

Luôn đòi hỏi bản thân và dân tộc vượt trội nhất.

Và chúng ta có lịch sử hỗ trợ bên mình, rằng chúng ta có thể làm được những gì mà các dân tộc khác cho là không tưởng.

Hãy có một ngày thật tuyệt vời, bạn nhé!

Hoành

.

the-thao-vu-thi-thu-thuy1
Dear các anh các chị,

There is this thing that has been bothering me seriously for, well, probably 10 years or so. Now I’ve thought that probably I should share it with you all.

Very often, when we point out some weakness, some problem in our nation or our system, I would hear a response like “We do much better than many countries in Africa” or “There are many developing countries doing worse than us” or “We are a poor country.” That is what I call “The Loser’s Mentality.”

Imagine a teacher tells a student, “You can do better than this, try harder,” and the student responds, “Teacher, my family is poor, many poor students do worse than I do.”

Why compare ourselves with the losers? Why can’t we compare ourselves with the best and the brightest instead? Instead of comparing ourselves with other developing countries, other poor countries, why don’t we just say “We want to eventually beat the France and beat the American in technology and business”?

“Are you crazy? These are two of the most advanced countries in the world. You are so day dreaming and unrealistic.”

“Brother, if I remember correctly, we did beat these two countries on the military battlefield already. What’s the big deal about business and technology?”

Imagine that 70 years ago president Ho Chi Minh told the nation, “You guys, France is one of the most advanced nations on earth. We cannot compete with their guns and cannons. You will be crazy to think about fighting them, not mentioning defeating them.” Had he said that, where are we now?
Unfortunately, after we won the military battles, the succeeding generations act like wimps, no back bone, no will, no aspiration to win, no passion for excellence.

Several years ago, when I got out of the airport in Vietnam, several friends from Ministry of Foreign Affairs picked me up at the airport. I was upset at seeing the custom officers asking for Vietkieu’s money at the airport, so I told my friends: “You know, these guys in there just ask for people’s money blatantly.” One of my friends said: “Oh, you guys have a lot of money. You can give some to your poor brothers.”

I was very disappointed when I heard that, so I didn’t respond. That was the loser’s mentality, the mentality of accepting the third-grade quality and coming up with rationale to support such acceptance. This friend of mine later became ambassador to several countries, so he is not low in ranking. You can imagine how many people in our country have such loser’s mentality. If so many of us have such a loser’s mentality, where will Vietnam go?
the-thao-hoang-anh-tuan

We, this generation, should be ashamed to our father’s generation. Our fathers did not say, “The French and the American are so powerful, we cannot beat them.” They had only one thing in mind —- win or die. That is the passion for excellence, the passion for winning, the passion for not accepting to be second (because second to them meant death).

If we want to win, we just have to think like a winner. And that is, “We want to beat the best. We want to be champion. And we will work our way, from here to championship.” Such winner’s mentality will automatically forces our mind into the state of not accepting mediocrity, not accepting low quality performance, not accepting anything less than the best effort, the best trial, the hardest work, the hardest thinking.

Some may say, “But fighting for survival is different than competing to be rich. In our culture, richness is never a big thing. In our traditional culture, being a poor teacher is the best position of all.”

My response would be:

(1) When we fought against the French or the American, that was not fighting for survival. We still could live under the French and the American. It was just not a very honorable way of living. So we were fighting for honor, not survival.

(2) Today, fighting against poverty and for wealth is also fighting for honor, because people around the world always look down on citizens of poor nations.

(3) Our traditional culture of glorifying poverty is just wrong. To use the communist terminology, it is opium. As an individual, probably wealth is a matter of personal taste and may not matter much to some of us. But as a nation, poverty is a sin, wealth is strength and independence. Had Vietnam been wealthy and powerful a thousand years ago, the Chinese, the French, the Mongolian, the Japanese, the American would not have had the guts to attack us. Then we hadn’t had to spend a thousand years fighting. As a nation, poverty means you are weak, you open yourself to attack by other guys, to be dominated and stepped upon by other nations, to be looked down upon by citizen of richer nations. Go around the world, and you will see this point clearer than the day light.

Poverty is a disease of the nation. Poverty has to be erased. Regardless what our personal philosophy about wealth, for the nation, wealth is a major goal.

So we need to tell each other to be more demanding of ourselves and our fiends, our teachers, our government, our leaders. Look at how the best of the world, the Japanese, the British, the Australian work, learn from them with the determination to outdo them later on. (And they will love to hear you, the student, say this, because every good teacher would love to see the day the student can beat him).

Stop thinking that “We are so poor, so this is good enough.” No, it won’t be enough until we can beat the best of the world.

Believe in ourselves. If we think we can do it, then we will do it. Don’t settle for mediocrity. Don’t settle for second. Settle for the best. Demand the best of ourselves and our people. And we have our history to back us up, that we can do what other peoples think impossible.

Have a great day!

Tran Dinh Hoanh
(Washingon DC, September 2004)

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Người đi bộ miệt mài cùng đất nước

nghoangquy

Nhà giáo dục Hoàng Quý là một trong những nhân tài được đào tạo từ Khu học xá Nam Ninh, ở một trường sơ tán trên đất Trung Quốc, có tên là “Dục tài học hiệu” (Ngôi trường đào tạo nhân tài). Đúng như lớp trí thức ở thế hệ ông, và cũng đúng truyền thống gia đình, ông là người hiếu học đến mê say, có ý chí và sức tự học rất lớn, tài năng mà khiêm nhường, suốt đời tận tụy phục vụ đất nước, ở lĩnh vực nào cũng có đóng góp lặng lẽ mà xuất sắc.

Xem tiếp tại đây.

Ông tiến sĩ bán nhà xây trường

nguyenledac

Ngôi trường mang tên nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện do tiến sĩ Nguyễn Lê Đắc thành lập đã trở thành “câu chuyện cổ tích” đối với người dân xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sự khác biệt giữa trường tư thục Nguyễn Khắc Viện với các trường công lập ở chỗ: “Đầu thải” của các trường trung học phổ thông công lập (số học sinh không đủ điểm kỳ thi chuyển cấp) lại là đầu vào của trường.

Xem tiếp tại đây.

Bagan – Myanmar

Kinh đô cổ đại Bagan
Kinh đô cổ đại Bagan

Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa. 

Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi. 

Chùa Shwezigon
Chùa Shwezigon

Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.

Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.

Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu. 

Đền Anada
Đền Anada

Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…

Loan Sabaru

Thời tiết

dsc01416

Thời tiết

“Bất cứ ngày nào tôi đứng thẳng
đó là ngày tốt lành”
…như tôi vẫn hằng nói.

Nếu bạn hỏi tôi,
“Khỏe không?”

Tôi sẽ đáp: “ TUYỆT VỜI !”
bởi vì khi nói thế,
tôi sẽ làm được thế.

Khi Đời cho mưa giông
và mây đen bao phủ,
tôi biết ơn những giọt nước
làm tóc tôi mềm cong,

Khi Đời cho nắng đẹp,
tôi ngẩng mặt tri ân,
cảm nhận ấm áp trên má.

Khi Đời mang lại mù sương,
tôi kéo áo choàng chặt lại,
tạ ơn những bóng râm bí mật
đã làm cho những điều quen thuộc
trở thành khác lạ và hấp dẫn.

Khi Đời đem tuyết trắng,
tôi lao ra nếm những bông tuyết đầu tiên,
tận hưởng cái lạnh diệu kỳ của hoa tuyết.

Những sự kiện và trải nghiệm cuộc đời
giống như thời tiết–
chúng đến rồi đi,
chẳng kể tôi ưa thích gì.

Vậy nên nào có hề chi!
Tốt hơn là cứ ưa thích chúng.

Vì thực ra,
luôn CÓ một thời cho từng mục đích
dưới vũ trụ mênh mang.

Và mỗi mùa đều ban phúc riêng của mùa ấy …
.

Huỳnh Huệ dịch
huynh_hue2001@yahoo.com.

.
lightning

Weather Report

“Any day I’m vertical
is a good day”
…that’s what I always say.

If you ask me,
“How are you?”
I’ll answer, “GREAT!”
because in saying so,
I make it so.

When Life gives me dark clouds and rain,
I appreciate the moisture
that brings a soft curl to my hair.

When Life gives me sunshine,
I gratefully turn my face up
to feel its warmth on my cheeks.

When Life brings fog,
I hug my sweater around me
and give thanks for the cool shroud of mystery
that makes the familiar seem different and intriguing

When Life brings snow,
I dash outside to catch the first flakes on my tongue,
relishing the icy miracle that is a snowflake.

Life’s events and experiences
are like the weather –
they come and go,
no matter what my preference.

So, what the heck?!
I might as well decide to enjoy them.

For indeed,
there IS a time for every purpose
under Heaven.

And each season brings its own unique blessings
.

BJ Gallagher

Gặp gỡ dịch giả 7 tuổi tại TPHCM

Thaihabooks tổ chức buổi tọa đàm “Tài năng, tính tự lập của con trẻ và vai trò của cha mẹ”, vào lúc 9 giờ, ngày 20-3, tại Café Miss Saigon, 90 Phạm Ngọc Thạch, Q.3 – TPHCM. Trong buổi tọa đàm này, bé Đỗ Nhật Nam – dịch giả nhỏ tuổi nhất Việt Nam, chị Phan Thị Hồ Điệp (mẹ bé Nam), tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn sẽ chia sẻ những vấn đề như làm thế nào để định hình tính tự lập, giúp các bé phát triển tối đa tiềm năng của mình. Thaihabooks sẽ ra mắt bộ sách đầu tay của dịch giả Đỗ Nhật Nam.

Xem tiếp tại đây.