Con làm gì vậy! Thầy nói gì vậy!

Thời tân tiến này có rất nhiều lảm nhảm vô nghĩa về thầy và trò, và việc trò thừa kế giáo pháp của thầy, cho thầy quyền chuyển giáo pháp đến đệ tử tin cẩn. Dĩ nhiên là Thiền nên được chuyển tay cách này, từ tâm đến tâm, và khi xưa xảy ra như thế. Im lặng và khiêm tốn trị vì, thay vì chuyên nghiệp và đòi hỏi. Người tiếp nhận giáo pháp cách đó dấu chuyện đó trong lòng đôi khi cả 20 năm. Cho đến khi có một người khác, do chính nhu cầu của anh ta, khám phá ra là có một sư phụ ngay bên cạnh mình, lúc đó việc giáo pháp đã được thừa kế mới có người biết, và ngay cả những lúc đó, câu chuyện xảy ra một cách tự nhiên và giáo pháp toàn quyền tự định đường đi của nó. Không bao giờ một người thầy tuyên bố “Tôi là truyền nhân của vị-này-vị-nọ.” Những tuyên bố như vậy chính là bằng chứng ngược lại.

Thiền sư Mu-nan chỉ có một truyền nhân. Tên của anh ta là Shoju. Sau khi Shoju đã hoàn tất Thiền học, Mu-nan gọi Shoju vào phòng. “Thầy già rồi,” Mu-nan nói, “và theo thầy biết, Shoju, con là người duy nhất sẽ tiếp tục gánh vác giáo pháp này. Đây là một quyển sách. Nó đã được truyền tay từ sư phụ đến sư phụ cả 7 đời. Thầy cũng đã thêm nhiều điểm vào đó, theo hiểu biết của thầy. Quyến sách rất có giá trị, và thầy trao nó lại cho con làm biểu tượng cho sự thừa kế của con.”

“Nếu quyến sách quan trọng như vậy, thầy nên giữ nó,” Shoju trả lời. “Con đã nhận Thiền của thầy không từ ngữ và con hài lòng với nó như vậy.”

“Thầy biết vậy,” Mu-nan nói. “Dù vậy thì quyển cách này cũng đã được cả 7 đời sư phụ mang nó, vậy con có thể giữ nó như là một biểu tượng là con đã tiếp nhận giáo pháp. Đây nè.”

Lúc đó hai người đang nói chuyện trước một lò than. Ngay khi quyển sách vừa chạm tay, Shoju ném nó ngay vào đống than hừng hực. Shoju chẳng tha thiết gì đến việc sở hữu.

Mu-nan, người chưa bao giờ nổi giận trước đó, la: “Con làm gì vậy!”

Shoju la lại: “Thầy nói gì vậy!”
.

Bình:

• Shoju là thiền sư Shoju Rojin, thầy của thiền sư Vậy À Hakuin.

Dù Hakuin chỉ học với Shoju tám tháng, Hakuin luôn luôn xem Shoju là vị thầy chính của mình. Shoju là một vị thầy cực kỳ đòi hỏi, chưởi mắng la lối Hakuin thường xuyên để thúc Hakuin đến giác ngộ.

• Shoju nói với thầy Mu-nan: “Con đã nhận Thiền của thầy không từ ngữ”. Vậy có nghĩa là tiến trình huấn luyện của Mu-nan cho Shoju chẳng lệ thuộc vào kinh sách, và có lẽ là lệ thuộc nhiều vào thiền định để quán các công án (vì đây là cách huấn luyện chính của Hakuin cho dòng thiền Lâm Tế sau này).

• Thế có nghĩa là không cần sách.

Nhưng không cần thì cũng cứ giữ nó như là biểu tượng của kế vị, mắc gì mà phải “ném sách vào mặt thầy” và ngang nhiên xóa bỏ truyền thống của cả 7 đời tổ sư của môn phái?

Việc này có lẽ quan trọng hơn là việc cần đọc sách hay không, hoặc Shoju có nhấm một lít sakê trước đó không.

Truyền thống thừa kế chỉ truyền lại cho một người–như là người duy nhất có được giáo pháp–làm cho giáo pháp không phát triển được, cứ như là một cây mà tất cả các cành đều bị chặt bỏ và luôn luôn chỉ chừa một cành. Cây đó cũng sẽ èo uột mà chết. Đây là một cái hại cần dẹp bỏ.

Hakuin kể lại lời Shoju: “Thiền tông của chúng ta bắt đầu xuống dốc vào cuối đời Nam Tống. Đến đời Minh, việc truyền học đã rơi xuống đất, tiêu tán dần. Ngày nay, cái còn lại chỉ là thuốc độc thật ở Nhật. Nhưng vậy mà cũng chẳng được nhiều. Cứ như là tìm sao trên trời giữa ban ngày. Còn các con, mấy thằng mù thối tha trọc đầu, mấy thằng nhóc đần độn rách rưới, chúng mày chưa đạp nhằm Thiền ngay cả trong mộng.”

Có lẽ chính vì vậy mà cần cải tổ chính sách, không thể gạt bỏ nhân tài được, cần phải chấm dứt chế độ truyền giáo pháp cho chỉ một người.

Hakuin sống từ 1686 đến1769. Shoju cũng chỉ sớm hơn Hakuin vài mươi năm. Cả 1,000 năm trước đó, lục tổ Huệ Năng ( 638-713) ở Trung quốc đã bãi bỏ tục lệ truyền y bát cho truyền nhân (vì vậy mà thiền tông không có tổ nào sau tổ thứ sáu).

Sau Shoju, Hakuin dạy cả nghìn học trò, và chứng nhận cho hơn 80 học trò là truyền nhân chính thức (và tất cả mọi thiền sư Lâm Tế Nhật Bản ngày nay là từ Hakuin mà ra).

• Shoju bỏ tục lệ đó, ngay trước mặt thầy, ngay giây phút được kế vị, vì Shoju yêu thầy và thành thật với thầy, không nỡ gạt thầy là chẳng có gì xảy ra cả, đợi đến khi thầy chết mới lo cải tổ.

Và phải làm chớp nhoáng như thế, nếu không thì sẽ kẹt với tình cảm sâu đậm của thầy với quyển sách đã qua 7 đời truyền kế.

• Có lẽ là theo truyền thống, ngay giây phút truyền thừa, thầy hết việc và truyền nhân chịu trách nhiệm 100%.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

What Are You Doing! What Are You Saying!

In modern times a great deal of nonsense is talked about masters and disciples, and about the inheritance of a master’s teaching by favorite pupils, entitling them to pass the truth on to their adherents. Of course Zen should be imparted in this way, from heart to heart, and in the past it was really accomplished. Silence and humility reigned rather than profession and assertion. The one who received such a teaching kept the matter hidden even after twenty years. Not until another discovered through his own need that a real master was at hand was it learned that the teaching had been imparted, and even then the occasion arose quite naturally and the teaching made its way in its own right. Under no circumstance did the teacher even claim “I am the successor of So-and-so.” Such a claim would prove quite the contrary.

The Zen master Mu-nan had only one successor. His name was Shoju. After Shoju had completed his study of Zen, Mu-nan called him into his room. “I am getting old,” he said, “and as far as I know, Shoju, you are the only one who will carry on this teaching. Here is a book. It has been passed down from master to master for seven generations. I have also added many points according to my understanding. The book is very valuable, and I am giving it to you to represent your successorhip.”

“If the book is such an important thing, you had better keep it,” Shoju replied. “I received your Zen without writing and am satisfied with it as it is.”

“I know that,” said Mu-nan. “Even so, this work has been carried from master to master for seven generations, so you may keep it as a symbol of having received the teaching. Here.”

They happened to be talking before a brazier. The instant Shoju felt the book in his hands he thrust it into the flaming coals. He had no lust for possessions.

Mu-nan, who never had been angry before, yelled: “What are you doing!”

Shoju shouted back: “What are you saying!”

# 67

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Phù Đổng Thiên Vương

Thời Hùng Vương, thiên hạ thái bình, dân gian giàu có. Vua nhà Ân lấy cớ nước Nam không có triều kiến, sai tuần thú đem quân sang đánh. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế chống cự. Có người tâu rằng: “Sao không cầu Long Vương đưa âm quân lên giúp”. Vua nghe lời, bèn ăn chay, lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, thắp hương cầu đảo ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn sáu thước, mặt to bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói múa ca. Những người trông thấy đều cho là kẻ lạ thường, mới tâu lên vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không nói năng cũng không ăn uống. Vua đến hỏi: “Nghe tin quân phương Bắc sắp sang xâm lược, ta thua được thế nào” (1). Cụ già ngồi im một lúc, kính cẩn rút thẻ ra bói, bảo vua rằng: “Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang đây”. Vua lại hỏi kế chước ra sao?. Cụ già đáp: “Kế giữ nước, ấy là phải nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy”. Dứt lời, bay mất lên không, mới biết đó là Long Quân vậy.

Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu tìm người hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Vũ Ninh (2), trong làng có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một bé trai, đã ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công ơn bú mớm”. Bé trai nghe mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ mời sứ giả tới đây, hỏi xem có việc gì”. Người mẹ kinh ngạc vô cùng, vui mừng kể lại với hàng xóm rằng con mình đã biết nói. Hàng xóm cũng lấy làm kinh ngạc, tức tốc mời sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”. Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh sợ bại trại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả vội về tâu với vua. Vua mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa”, rồi ra lệnh cân năm mươi cân sắt đúc thành ngựa, nón”.

Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi nói con rằng tai họa đã đến. Người con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy chuẩn bị cơm, rượu cho con ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”. Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn nhiều, người mẹ cung cấp không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu bò, bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy lau lách buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), người con mới duỗi chân đứng dậy, cao hơn mười trượng, ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là tướng nhà trời đây!” rồi vung kiếm, đội nón cưỡi ngựa, ngựa chồm lên hí dài mà chạy như bay, quan quân theo sau, tiến sát đồn giặc, đánh nhau ở dưới núi Trâu, huyện Vũ Ninh Quân giặc đại bại, chém giết lẫn nhau. Vua nhà Ân bị giết ở núi Trâu, quân lính còn lại đều bái lạy, xưng gọi “Tướng nhà trời” rồi cùng hàng phục. Đi đến đất Sóc Sơn, thôn An Việt, Tướng nhà trời cởi áo, cưỡi ngựa bay lên trời, còn để vết tích ở hòn đá trên núi.

Vua Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương (3), lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương khói. Nhà Ân, qua hơn 27 đời vua, 644 năm không dám đem quân quấy nhiễu. Bốn phương nghe tiếng thảy đều đến thần phục vua Hùng.

Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương (4), lập miếu thờ ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.

Chú thích:
1) Bản VHV 1473 còn có thêm câu: “Có ý kiến gì xin ngài bảo giúp”.
2) Nay là tỉnh Bắc Ninh
3) Phù Đổng Thiên Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng trời ở làng Phù Đổng”, tục gọi là thánh Dóng.
4) Xung Thiên Thần Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng thần bay vút lên trời”.

(Nguyễn Hữu vinh dịch)
.

Bình:

• Truyện này trong nguyên bản Hán Văn là truyện “Đổng Thiên Vương”. Có thể Đổng là chữ Hán viết âm nôm Dóng mà ra. Tuy nhiên “thánh Dóng” hay “thánh Gióng” vẫn còn là một đề tài tranh luận. Ở đây, chúng ta sẽ tạm dùng “thánh Dóng”.

• Câu chuyện bắt đầu 3 năm trước khi đánh nhau với nhà Ân: Có nghĩa là phải luôn chuẩn bị cho chiến tranh. Đừng đợi nước đến chân mới nhảy. Lo cho chiến tranh khi đang hòa bình.

• Nhiều số 3 dùng trong truyện. Ta đã nói đến tâm lý‎ con người yêu chuộng số ba trong truyện Đầm Một Đêm.

• Ông già to lớn ca hát ở ngã ba: Già là biểu tượng cho thông thái. Ca hát là biểu tượng cho văn nghệ sĩ và trí thức. Ca hát ở ngã ba là điên điên khùng khùng.

Vào ngày xưa, nam thì cầm kỳ thi tửu–đàn, cờ, thơ, rượu, và nữ thì cầm, kỳ, thi, họa. Cho nên trí thức và văn nghệ sĩ gần như có cùng một nghĩa, không như ngày nay.

Đây là nói về văn nghệ sĩ và giới trí thức có tiếng nói “điên điên khùng khùng”, không giống đại đa số dân chúng. Họ là những người sâu sắc, thấy xa trông rộng, thấy những điều không mấy người thấy, thấy chuyện chưa xảy ra, cho nên tiếng nói của họ thường “không giống ai” và “điên điên khùng khùng”. Chỉ rất ít người thông thái mới hiểu được họ.

Và văn nghệ sĩ và trí thức cảm nhận được hồn thiêng dân tộc, nói lên được tiếng nói của hồn thiêng dân tộc, nên truyện mới nói “ông già múa hát” chính là Long Quân.

Hùng Vương không những không chê cười “ông già múa hát” mà còn mời vào xin ý kiến, để có thể nghe các lời điên điên khùng khùng, đó là vua thông thái.

Vua không có tầm nhìn chỉ có thể nghe ve vuốt của những kẻ “thức thời.”

• Cố vấn của ông già Long Quân là: “Kế giữ nước, ấy là phải (1) nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, (2)rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi (3) tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ.”

“Cố vấn” này thì rất đơn giản, ai cũng biết, sao lại phải cố vấn cho vua? Thưa, đơn giản nhưng lại cực kỳ căn bản. Vì cực kỳ căn bản và quan trọng cho nên chính Long Quân phải lập lại cho vua.

Chú ý đến thứ tự, không làm đúng thứ tự này thì thuật trị nước không thành: (1) nghiêm ngặt, (2) rèn luyện, (3) tìm nhân tài.

Ngày nay, thuật trị nước này không chỉ cho chiến tranh quân sự, mà còn là chiến tranh chống nghèo đói và lạc hậu, chiến tranh kinh tế với các quốc gia khác trên thương trường quốc tế…

• Ông già ở làng Phù Đổng 60 tuổi mới sinh con, bé trai 3 tuổi mà chỉ biết nằm ngửa và không biết nói: “Già 60 tuổi” là biểu tượng cho khôn ngoan thông thái.

Đứa bé là đứa con của sự khôn ngoan thông thái. Đứa bé là biểu tượng của nhân dân. Nhân dân lúc nào cũng xem ra yếu đuối, ngu ngơ, không biết nói, không biết làm gì cả, ngu ngơ đần độn. Nhưng nhân dân thực sự là đứa con của khôn ngoan, vì khi quốc biến nhân dân là cứu tinh của quốc gia.

Đứa bé cũng là biểu tượng của quân đội, từ nhân dân mà ra, khi quốc biến.

• Vua phải đến với dân, dân không tự động đến với vua. Đối thoại phải do vua khởi xướng và người thay mặt vua phải đến gặp dân trong làng xã. Và vua, cũng như người đại diện, phải nghe dân nghiêm chỉnh, dù là dân chỉ có vẻ ngu ngơ như trẻ lên ba. Theo ‎ý dân mà làm việc.

Binh pháp Tôn Tử nói đến 5 yếu tố chính của chiến lược: Đạo, thiên, địa, tướng, pháp. Đạo là quan trọng nhất: “Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức.”

Vua dốt, thì không những không “gợi” cho dân nói, mà khi dân phê phán kêu ca thì bịt miệng dân cho được việc.

• Ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt: Đây hẳn nhiên là quân trang quân dụng cần thiết cho một quân đội.

Ngựa sắt là phương tiện và khả năng di chuyển thần tốc, quan trọng số một trong quân sự, nên ngựa sắt cao 18 thước. 18 là 2 lần 9, 9 là số lớn dương lớn nhất (thái dương), ‎ý nói rất nhiều, rất lớn (Số 18 cũng dùng trong 18 đời Hùng Vương).

Kế tiếp là vũ khí tấn công, kiếm sắt 7 thước. 7 là số dương lớn thứ 2, dưới số 9.

Sau đó là nón sắt, bảo vệ binh sĩ.

Điểm quan trọng cần lưu ý ở đây là l‎ý thuyết chiến lược của Việt Nam nhắm vào vận tốc là yếu tố quan trọng nhất (số 18 của ngựa sắt), và binh sĩ phải nhẹ để di chuyển nhanh (cho nên chỉ có mũ sắt mà không có giáp sắt). Vũ khí đứng thứ hai sau vận tốc. Đây là l‎ý thuyết chiến lược giúp chúng ta bách chiến bách thắng trong cả nghìn năm nay, không thể sao nhãng được.

Binh pháp Tôn Tử nói: “Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là nhờ vào thế tiết nhanh chớp nhoáng.”

Điều này rất thường đối với dân Việt, đã rành thuật chiến tranh ngay khi còn trong bụng mẹ. Nhưng quan sát các trận chiến của các đại gia thế giới, như Mỹ trong mấy thập niên qua, thì trọng tâm của chiến lược của họ là sức mạnh trấn áp của vũ khí, chứ không phải vận tốc uyển chuyển, xuất quỷ nhập thần, của chiến binh.

• “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?” Một người đây là “đồng lòng nhất chí. Một dân tộc, một tấm lòng.”

Một quân đội (đứa bé) đến từ dân, toàn dân lo lắng nuôi nấng quân đội, vua lo lắng quân trang quân dụng, đáp ứng các nhu cầu của quân đội. Một quốc gia đoàn kết như thế, ắt phải chiến thắng.

• Và đứa bé bắt đầu ăn uống to lớn: Đó là biểu tượng của quân đội và nhu cầu của quân đội. Quân đội rất tốn kém. Một đứa bé mà cả làng phải lo ăn lo mặc. Cho nên chuyện chiến tranh là chuyện rất tốn phí, chỉ là chuyện bất dắc dĩ. Không nên đánh nhau khi không cần.

Binh pháp Tôn tử nói: “Bách chiến bách thắng cũng chưa phải là cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.”

• Cả làng nuôi đứa bé cũng là ý nói quân đội cần gần dân, cần được dân hỗ trợ. Quân đội không thể sống vững nếu xa dân.

• Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), em bé mới duỗi chân thành người cao lớn cưỡi ngựa sắt tấn công: Đây là chiến lược “phòng thủ bằng cách tấn công”, không đợi địch đến vây thành và ở trong thành để chỉ phòng thủ bị động. Chủ động tấn công trước, tại chiến địa do ta lựa chọn.

Dùng thế núi tấn công là chọn lợi thế địa hình cho ta: Vừa có địa thế tốt, vừa quen địa thế.

Luôn luôn chủ động chiến trường. Binh pháp Tôn Tử nói: “Người chỉ huy tác chiến giỏi là người có thể điều khiển quân địch chứ không theo sự điều khiển của quân địch.”

• Thắng trận song rồi cởi áo bay về trời: Các chiến binh sau chiến tranh là cởi áo giải ngủ, trở về đời sống vô danh, không mong danh lợi.

Chiến binh chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

Toàn dân chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

Đây có hai điều hơi trái ngược nhau trong truyện. Long Quân khuyên vua: “Phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài.” Đó là về phần vua, phải tỏ lòng thành bằng chính sách đãi ngộ nhân tài.

Nhưng nhân tài, nhất là chiến sĩ, chiến đấu hy sinh vì yêu tổ quốc chứ không phải vì danh tiếng, quan chức, bỗng lộc. Vua cũng phải hiểu đến điều này, để lấy cái tâm, láy lòng thành, mà trị quốc, chứ không phải chỉ đem lợi danh ra mồi chài những kẻ bất tài vô tướng.

Tưởng nhớ đến Thánh Dóng Phù Đổng Thiên Vương chính là tưởng nhớ đến các anh hùng vô danh của tổ quốc, từ các chiến sĩ vô danh đến các người dân vô danh, luôn hy sinh đời mình cho tổ quốc khi quốc biến.

(Trần Đình Hoành bình)

Thứ sáu, 26 tháng 3 năm 2010

Bài hôm nay

Huýt sáo trong khi làm việc & Bài ca dớ dẫn – Bạch Tuyết, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Khiêm nhường, Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Hành động nói mạnh hơn, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Quê hương khúc, Thơ, chị Hoa Trang Giọt Sương Tím.

Tôi đến – Khwaja Abdullah Ansari, Thánh Thi Sufi, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Mưa xuân, Chuyện Phố, chị Hoàng Khánh Hòa.

Tô xe lửa , Văn Hóa, Trà Đàm, anh Phạm Lưu Đạt.

Thiền sư TỪ ĐẠO HẠNH và văn khắc chuông chùa Thiên Phúc, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Nguyễn Hữu Vinh và TT Thích Thiện Niệm.

Bầy con của Thiên hoàng, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Scholarship, Grants & Jobs

Premiere of a new Vietnamese film, Cu & Chim Se Se


IVCE is pleased to announce the premiere of a new Vietnamese film, Cu & Chim Se Se (Owl and the Sparrow), directed by Stephane Gauger.

A discussion with director Mr. Stephane Gauger will follow each screening (not available at Cornell Univ).

More information, please download Premiere of a new Vietnamese film

IDRC Fellowships and Awards


This Fellowship (a bequest from Helen S. Bentley and C. Fred Bentley) provides assistance to Canadian and developing-country graduate students with a university degree in agriculture, forestry or biology, who wish to undertake postgraduate, applied, on-farm research with cooperating farmers in a developing country.

In principle, IDRC supports research on all parts of the developing regions of the world. At this time, Fellowships and Awards is not supporting awards which involve research in Burma, Cuba, Iran, Iraq, Eastern Europe or Central Asia.

Projects should evaluate and/or promote the use of fertility enhancing plants, such as leguminous forages, shrubs, cover crops, and grain legumes in small farms. The intent is to seek ways to increase the yield of food crops, improve farmers’ livelihoods, and improve soil fertility.

Readmore:
http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/03/idrc-fellowships-and-awards.html
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Huýt sáo trong khi làm việc & Bài ca dớ dẫn – phim Snow White (Walt Disney)

Chào các bạn,

Buổi sáng thức dậy vui vẻ với hai bài hát trong Bạch Tuyết và 7 Chú Lùn. 🙂

Bài đầu, lúc Bạch Tuyết lạc trong rừng tìm ra nhà của 7 chú lùn, nhỏ như nhà đồ chơi, Bạch Tuyết cùng chim chóc thú vật, dọn dẹp nhà cửa và hát bài Huýt Sáo Trong Khi Làm Việc:

Cứ huýt sáo khi làm việc
Và cùng vui khi ta dọn dẹp nhà cửa
Vậy thì ngân nga một đoạn nhạc vui
Thời gian qua mau khi có bài ca giữ nhịp

Và khi quét phòng
Tưởng tượng cây chổi là người ta yêu
Rồi ta sẽ sớm thấy ta khiêu vũ theo nhạc cùng cây chổi

(Nói: Oh, no, no, no, no! Bỏ trong chậu nước!)
Khi quả tim đang say thời gian bay nhanh, vậy thì huýt sáo trong khi làm việc
.

Just whistle while you work
And cheerfully together we can tidy up the place
So hum a merry tune
It won’t take long when there’s a song to help you set the pace

And as you sweep the room
Imagine that the broom is someone that you love
And soon you’ll find you’re dancing to the tune

(Spoken: Oh, no, no, no, no! Put them in the tub)
When hearts are high the time will fly so whistle while you work

.

Và sau khi 7 chú lùn về nhà thấy Bạch Tuyết và các thú vật đã dọn sạch nhà cửa, các chú hát The Silly Song (Bài ca dớ dẩn).

(hát giọng gió)

Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay-ee-la-ee-ay-ee-lee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay-ee-la-lee-ay-lee-o-lee-ay

(lập lại)

Tôi thích vũ và nhịp chân
Nhưng chân tôi không giữ nhịp được
Bạn biết không, tôi rửa cả hai chân hôm nay
và tôi chẳng làm gì được với chúng

(Điệp khúc)

Hô hăm… bài nhạc thật dốt
Lời nhạc chẳng nghĩa gì cả
Có phải đây là bài ca dớ dẩn
Cho bất kì ai hát?

Tôi đuổi con chồn chạy lên cây
Tuốt ngoài cành chót vót
Vì khi hắn rớ được mặt tốt của tôi
Tôi nắm được mặt xấu của hắn

(Điệp khúc)

(Yodel, v.v…)
.

(Yodel:)

Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay-ee-la-ee-ay-ee-lee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay
Ho-la-la-ee-ay-ee-la-lee-ay-lee-o-lee-ay

(repeat)

I’d like to dance and tap my feet
But they won’t keep in rhythm
You see, I washed them both today
And I can’t do nothing with ’em

(Chorus)
Ho hum the tune is dumb
The words don’t mean a thing
Isn’t this a silly song
For anyone to sing?

I chased a polecat up a tree
Way out on upon a limb
And when he got the best of me
I got the worst of him

(Chorus)

(Yodel, etc.)

Chúc các bạn một ngày dớ dẩn 🙂 để nói chuyện dớ dẩn. 🙂

Hoành
.

Snow White and Seven dwarfs – The Silly Song (Dwarfs Yodel Song)

Quê hương khúc

Xuân nay Mậu Tý xênh xang áo
Dẫu thêm một tuổi nắng úa vàng
Cũng vui như pháo. Em như pháo
Tiếng cười ngân vọng… Động trời quang

***

Vườn Thanh Long trắng hoa trinh khiết
Buổi sớm tinh mơ lóng lánh sương
Ngơ ngẩn hồn mềm em tiêng tiếc
Khi trời nắng chói hoa thê lương

***

Trước ngõ, sân sau mấy cội mai
Vàng cúc lối đi thắm trang đài
Không gian thay áo. Em thay áo
Phím lòng rung nhẹ điệu khoan thai

***

Quê nhà thương mãi dẫu đi xa
Biển xanh hoài ru khúc tình ca
Mây, trời, núi, cát… em ôm hết
Trân quý ngàn năm tình thật thà

*giotsuongtim,25/3/08

Tôi đến – Khwaja Abdullah Ansari

Khwaja Abdullah Ansari (Sheikh Ansari Jabir ibn ‘Abdullah al-Ansari, còn gọi là Ansari of Herat) sinh năm 1006 ở Herat, miền tây Afghanistan.

Khwaja Abdullah Ansari mất ở Herat năm 1088, và nơi chôn cất ông vẫn là nơi để hàng nghìn giáo dân hồi giáo Sufis hành hương hàng năm.

Tôi đến

Từ Không tôi đến
Và dựng lều trong Rừng Hiện hữu Vật thể
Tôi đi qua các vương quốc kim loại và cây cỏ,
Rồi khí cụ trí óc của tôi mang tôi vào vương quốc thú vật;
Đã đến đó, tôi lại vượt qua nó;
Rồi bên trong lớp vỏ trong suốt thủy tinh của quả tim người
Tôi nuôi nấng giọt tự ngã trong Viên Ngọc Trai,
Và cùng với người thiện
Lòng vòng trong Nhà Nguyện,
Và đã thể nghiệm điều đó, tôi vượt qua nó;
Rồi tôi chọn con đường đến với Ngài,
Và trở thành nô lệ tại cổng Ngài;
Rồi cách chia biến mất
Và tôi trở thành thẩm thấu vào Ngài.

TĐH dịch

Ghi chú: Chữ “Không” trong câu đầu là từ Phật giáo, dùng để dịch từ “the un-manifest” của Hồi giáo ở đây.

I Came

From the un-manifest I came,
And pitched my tent, in the Forest of Material existence.
I passed through mineral and vegetable kingdoms,
Then my mental equipment carried me into the animal kingdom;
Having reached there I crossed beyond it;
Then in the crystal clear shell of human heart
I nursed the drop of self in a Pearl,
And in association with good men
Wandered round the Prayer House,
And having experienced that, crossed beyond it;
Then I took the road that leads to Him,
And became a slave at His gate;
Then the duality disappeared
And I became absorbed in Him.

Khwaja Abdullah Ansari

Mưa xuân

Cuối tháng ba, nắng lên nhiều và tuyết đã tan gần hết. Những cành cây vẫn khô queo sau một cơn ủ đông dài, nhưng nhìn từ xa vẫn có thể thấy chúng không còn nhẵn nhụi nữa. Một vài chấm nhỏ đã xuất hiện, từ đó chồi non sẽ nhú lên.

Trời ấm và mưa nhiều hơn. Những tinh thể nước trong không trung đang len lỏi vào không khí, vào đất, vào da người, gắn lại những đường nứt nẻ của mùa đông.

Anh bỏ bớt đi một chiếc áo len dày và vươn vai một cái thật dài. Em nhẹ sờ lên má, khẽ một nụ cười hạnh phúc khi cảm nhận được sự mềm mại tự nhiên của làn da mình đã quay trở lại.

***

Đôi khi, một cơn mưa bất chợt làm em luống cuống vì quên mang theo ô. Hôm nay mưa cũng bất ngờ khiến em phải đội mưa đi trên phố. Lên xe bus, ai đó chợt kêu “Mưa to quá”. Em cười, “Mùa xuân đang đến mà. Những cây kia đang cần mưa lắm”.

Phải rồi. Cỏ cây đang khát những giọt nước kia đến bao nhiêu. Nếu chẳng có chúng, em hẳn sẽ chẳng có được một mùa xuân đầy màu xanh của lá và muôn sắc màu của hoa như trong những tấm ảnh năm ngoái mình đã chụp với nhau.

Yêu sao những cơn mưa đầu xuân. Em sẽ chẳng thể giận chúng được nếu một ngày phải đội mưa đi như hôm nay. Vì một sớm mai, nắng gõ cửa và em có thể thấy chồi non xanh đã vươn lên trên những cành cây khẳng khiu ngoài kia.

Hoàng Khánh Hòa

Tô xe lửa

Phở là món ăn đơn giản và phổ thông nhất cho những người Việt nước ngoài ở những vùng đông dân cư như thành phố Westminster và Garden Grove thuộc quận Orange, tiểu bang California. Nơi đây còn có một cái tên rất quen thuộc gọi là khu phố Bolsa và người ở đây cũng được gọi là dân Bolsa…

Phở Thái Bình Dương, Houston, Texas, USA

Khu vực này có trên 100 ngàn dân Việt đang sinh sống và đương nhiên là những quán phở theo nhau mọc như nấm sau cơn mưa vậy… Đi đâu cũng thấy tiệm phở, nhiều quá không nhớ hết, vậy mà tiệm phở lại tiếp tục mở thêm và lan dần qua những khu vực chung quanh, lây sang khu phố người Hàn Quốc và dể dàng trở thành món ăn khoái khẩu của dân Kim Chi, một giống dân được coi là khó tính, nhất là về ăn uống. Và người Hàn Quốc đã sản xuất phở ăn liền trước người Việt Nam hay Thái Lan?

Khi vào một tiệm phở, những bạn từ Việt Nam mới sang chắc không khỏi giật mình khi thấy những tô phở xe lửa to bằng cái thau ( đường kính của tô khoảng hơn 20cm). Làm sao ăn cho hết!

Đương nhiên rồi, mấy ai ăn hết được, thế mà rất nhiều người ăn bằng mắt, dù có bụng nhỏ hay có eo, ăn hết hay không, vẩn cứ mua. Lý do: chỉ trả thêm 1 hay 2 dollar bạn sẽ đi từ tô nhỏ đến tô trung và cuối cùng là tô xe lửa. Chỉ có thêm 2 đồng, được ăn một tô phở vĩ đại như vậy, nhiều người cảm thấy rẻ, ăn không hết thì bỏ mứa, có sao đâu? lo gì ba cái lẻ tẻ, thêm 2 dollar thôi mà, có phải không?

Thế là nhiều tô phở mà khách chỉ ăn chưa tới một phân nửa bỏ mứa vô tội vạ. vì cái tính tham rẻ và ăn bằng mắt của mình…

và bên kia bờ đại dương, trên quê hương hình cong như chữ S: rất nhiều em học sinh nghèo vẩn mòn mõi mơ về những 1 hay 2 US dollar đó để được ăn, được áo quần lành lặn và được đi học….mà thôi.

Phạm Lưu Đạt 03/25/2010

ps: theo sáng kiến của người sinh viên trẻ Phan Thế Danh ở Hà Nội, Đạt dùng chữ S: (có hai chấm bên cạnh để tượng trưng
cho Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam)

Thiền sư TỪ ĐẠO HẠNH và văn khắc chuông chùa Thiên Phúc

Nguyễn Hữu Vinh dịch
Thích Thiện Niệm chỉnh sửa

Thiền sư Đạo Hạnh là một danh sư đời Lý, có công lớn đối với triều đình. Công đức của ngài được ghi lại nhiều trong Thiền Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Sử Lược, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư v.v. An Nam Chí Lược, một cuốn sử xưa, quyển thứ 15 viết rằng: “Thiền sư Từ Đạo Hạnh là một nho sinh, thích thổi sáo, ngày cùng bạn đi chơi khắp nơi, đêm đọc sách suốt sáng. Một hôm vào chơi núi Phật Tích, thấy một hòn đá có dấu chân bên phải, ấn chân vào so thử, in như hệt. Về nhà từ biệt cha mẹ vào núi cất am tu hành. Vua Lý chưa có con nối dõi, khiến các thầy chùa danh tiếng cầu đảo. Có một ông sư, không đến làm lễ cầu tự cho vua mà còn dùng phép trán yểm. Vua nghe được bèn hạ ngục tất cả các thầy chùa trong vùng. Nhờ có một hoàng tử, hết lòng cứu giúp mới khỏi. Hoàng tử nói với sư rằng: “Ta cũng không có con, xin sư vì ta mà cầu đảo”. Sư nói với hoàng tử bảo với phu nhân vào phòng tắm rửa, sư đi ngang cửa phòng, phu nhân liền có thai. Đến ngày hạ sinh, hoàng tử cho mời sư đến, thì sư đã mất trong núi. Phu nhân sinh được một trai, mặt mũi khôi ngô. Vua Lý lập làm Thái tử…”. Chuyện này khá trùng hợp với chính sử ghi trong Việt Sử Lược. Hoàng tử này là Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông. Sau vua Lý Nhân Tông vì không có con, nên nhường ngôi cho con của Hầu,, tên là Dương Hoán, sau này là Lý Thần Tông.

Theo Thiền Uyển Tập Anh, thì “Thiền sư Đạo Hạnh (? – 1117) ở chùa Thiên Phúc 天福寺, núi Phật Tích 佛跡, họ Từ, tên Lộ. Cha là Vinh, làm quan tới chức Tăng quan Đô Án, thường đi học tại làng An lãng. Lấy một người con gái họ Tăng rồi theo quê vợ…”. Sư cuộc đời thần bí, thường ngao du cầu sư học đạo, tu và mất ở chùa Thiên Phúc. Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thì “chùa Phật Tích (nguyên văn viết là chùa, có lẽ viết nhầm) ở xã Thuỵ Khê, huyện Yên sơn, một tên khác là núi Sài. Phong cảnh đẹp đẽ trông ngang xuống mặt hồ, trên núi có hang sâu là chỗ Từ Ðạo Hạnh mất. Vách hang còn có dấu đầu và dấu chân. Trên đó có am Hương Hải và viện Bồ Ðà đều do Thiền sư dựng nên, nay là chùa Thiên Phúc…”. Chùa Thiên Phúc, theo Việt Sử Lược, phần Lý kỷ thì chùa do vua Lý Thánh Tôn xây vào năm Đinh Dậu Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057). Theo Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Ðôn, phần Phong Vực (bờ cõi) thì chùa toạ lạc ở núi Sài (Sài sơn) thuộc huyện Yên sơn, núi này đời Lý gọi là Bồ Ðà Lạc, đời Trần gọi là núi Phật Tích. Trên núi có động tiên và chùa, trong núi có tám chỗ lõm, như dấu chân người va chạm vào, lại có dấu chân như của người khổng lồ. Dưới núi có chùa Thiên Phúc, trước có hồ nước lớn, sau có lầu chuông, có chuông do Thiền sư Ðạo Hạnh đúc thành vào năm Long Phù Nguyên Hoá thứ 9 (1109) đời Lý Nhân Tông, do đệ tử Huệ Hưng soạn ra văn khắc trên chuông…Ðấy là vật xưa 700 năm đến nay. Dưới văn khắc có khắc sắc chỉ của vua Trần Anh Tông cấp ruộng thờ vào năm Hưng Long thứ 12 (1304)… Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, phần Bắc Kỳ, tỉnh Sơn Tây, mục Tự quán thì “Chùa Thiên Phúc toạ lạc tại xã Sài tây, huyện Yên Sơn, xưa gọi là am Hương Hải, còn gọi là viện Bồ Ðà. Bên trái chùa thờ Thiền sư, bên phải có tượng thờ vua Lý Thần Tông, ở giữa thờ Phật…”. Chùa, nay tục gọi là chùa Thầy, còn gọi là Tử Trầm sơn, toạ lạc tại chân núi Sài, tức núi Phật Tích, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc dưới đây là một tư liệu rất quý nói về công đức hoằng pháp Phật giáo của ngài. Nhiều điều trong bài văn khắc này rất phù hợp với An Nam Chí Nguyên trang 209 khi viết về Từ Ðạo Hạnh như sau: “Thiền sư Ðạo Hạnh là vị sư ở huyện Thạch Thất, thường đi khắp nơi trong núi non tầm sư học đạo. Sư đắc đạo, có thể gọi kêu chim rừng thú nội cùng nhau đến nghe lệnh sai bảo. Sư cầu mưa trị bệnh, không có gì là không ứng nghiệm…”. Cũng như rất phù hợpvới những điều mà Lê Quý Đôn đã đề cập tới trong cuốn Kiến Văn Tiểu Lục. Có lẽ đây chính là chuông này. Tư liệu nguyên viết bằng chữ Hán lối cổ, được công bố trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”. Sách này là công trình nghiên cứu về văn khắc xưa của Việt Nam, do sự hợp tác của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm ở Hà Nội, École Francais d’Extrême Orient ở Paris và trường đại học Chung Cheng ở Taiwan.

Nhận thấy đây là tài liệu quý về vị thiền sư nổi danh này, dịch giả xin dịch ra tiếng Việt để giới thiệu và cũng để tiện bề tham khảo.

Nguyên văn chữ Hán trích trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”:

[山西處國威府安山縣瑞圭杜佛蹟山]

天福寺洪鐘銘文

龍符元化九年己丑正月、道行禪師緣化巨越國、朱門白屋、人人喜供、獲赤銅貳千餘斤、鑄洪鐘一口、懸於蒲陀落香海院內、扣擊六時行道、上報四恩、下濟三塗者。

夫妙理雖一、妄境寔繁、稟雖一而萬化生成、隨萬化而惟一圓點、無形可測、無語可諳、無形而形遍大千、無語而語周億剎、窄不為礙、雜不為緇、在纖塵而花藏莊嚴、居濁劫而圓珠瑩徹、是眾生之幸意、非諸佛之別心、覺也者、一路涅槃,迷也者、六趣生滅、由是自相悲憫、假相殊倫、聖賢服如蟻慕羶、神力化如風偃草、亟職芒昧、邪病纏綿、演古教而導矣、定未齊知,俾信器而警焉、方能漸進、其教也、依根立說、以一乘而括囊,其器也、取象成名、以洪鐘為鈐轄。

鐘者、外示圓寔、內表含虛、其圓也、常用而靡覺,其寔也、取難壞之名,其含也、諸入而勿礙,其虛也、揚無盡之意、不如是、何佛命一叩、天雷吞聲、地籟收響、即三界返悟;幸智乃三塗纘諸苦真、豈越列不以事濟天下耶、洎後欣光結席、承撻而淨眾駢羅,慶喜登猊、依擊而說法嚴備、自茲、孰能繼者、是真可矣。

而今即有道行禪師、幼而秀骨、長乃奇姿、誦習蓮經、玉戛喉而嘹喨,出家運度、佛生意而慈悲、建八種而海寓盡嚴,究三篋而禪經共貫、覯時大旱、燃一指而雨霈然、斅古休糧、坐多年而容無饑色 、萬民起厲、持水洒而幸絕病源,諸事未萌、預言知而的如符契、經曰:「佛有八辨」、非師而不繼圓音、佛制尸羅、非師而不能堅固、帝釋福田、非師而不播雄馨、藥王燒臂、非師而不奈苦誠、觀音救難、非師而不紹功名、高僧顯異、非師而不踵神靈」。

然濟機云畢、擇處栖遲、出城西而耳斷喧、歷禍路而心自淨、越一江水、見一山青、掉石而步落俗塵、捫蘿而身登上界、其山也、聳()之繞、生寶月之秋、有奇尺梯、八圓龕、石龕也、五色雲成就、七珠寶纍垂、蛛網相聯、銖衣間綵、下存佛跡、中壯倪臺、其跡也、白玉在底、青龍盤外,其臺也、犀角鎮傍、燈釭連次、豈模仗室、即模鷲峰、昔隱者功德所成、豈神靈造化所異、師居未逾旬、事還感應、野虎來伏、山虯自馴、寂寞夜而誦蓮經、穹崇天而送花鼓、處周六載、惠普積千、諸王子之車馬響風、傾國人之香花頂禮、御書赍詔、法席降臨、賜寶衣而等上朋、陟佛車而牟四果、齋罷之日、金錫迴立於山腳、弟子各伸其言意、雷同曰:「岩巔峭直、雲路歌(敧)危、師神足之易登、客凡蹤之難步、唯占下土、亦合勝方、巒屈曲而豈異蒲陀、水澄徹而何殊香海」、命其良匠、揆彼中央、構玉宇而晃四維、坐金容而光有截、眾馳斯語、樹即揚聲、片時而士女親來、不日而境界便現、採梓杞木、陶碧瓦爐、繩墨縱橫、斤斧雜遝、峨峨新院、業業巍樓、裁(栽)松而徑引清涼、藝化而景延馥郁。

師乃曰:「斯堂秩秩、就眾森森、不免說法之筵、必掛洪鐘之警、法雖自我、鐘必從他」、故築(策)仗(杖)下化、高於阡陌、如麟遊獸舞、逐鳳翔凰、競隨行未兩旬、施堆一阜、詣於興福寺、章飛雲陛、天錫金宮、鍊土成模、揚火精鍛、鑄之日、師雖緘默、人競稱揚、感太后之同風、遣中使之赍室、次乃輪蹄奔而空朱戶、少艾走而閴(闃)閭閻、擅入香階、紛若東市、頃、火工肆力、金匠嚴令、鼓橐籥而聲振海隅、迸煙爐而光騰銀漢、完器有異、嘉瑞相生、未幾者、更邀庶類、抗縻巨扛、纔礱而色奪雪花、乍擊而聲逾雷吼、天下聆之、人咸慶仰、師將歸蒲陀岩畔大悲雲樓、懸以金索、撞以鯨槌、旦夕行道、先報今上永化、寶祚長新、感國器而世蕃昌、字黎元而邦彌泰、然願崇高慕道、洞達純真、以福蔭於蒼生、用匡扶於洪業、後冀施修巨細等、順風遷善、頂戴香花、今景祿來茨、後悟符本覺。

師見余曰:「新成犍稚一口、則眾緣同修、我罔績可紀、留芳施者名、聊記傳後」、惠興淺學、不辭搦管為銘 。

銘曰:

佛以洪鐘警物兮、悟本心

師成法器化世兮、發信音

天宮既著欲色兮、還自覺

地府當要刑戮兮、放若深

龍符元化九年己丑、八月、初九日立記、天福寺賜紫大沙門釋惠興撰。

[…]

[陳英宗興隆十二年、給祀田聖旨]。

Bài dịch:

Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc

Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc, ở núi Phật Tích, xã Thuỵ Khê, huyện An Sơn, Phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây.

Tháng giêng năm Kỷ Sửu nhằm vào năm thứ chín niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá (1), Thiền sư Đạo Hạnh đi lạc quyên trong nước Đại Việt (2). Mọi người từ giàu đến nghèo, ai ai cũng vui vẻ cúng dường. Quyên được đồng đỏ tất cả hơn hai ngàn cân. Đúc được một cái chuông lớn, treo trong viện Hương Hải (3) ở núi Bồ Đà Lạc (4) , sáu thời (5) đánh chuông hành đạo, trước báo bốn ơn (6), sau cứu tam đồ (7).

Diệu lý tuy chỉ có một mà vọng cảnh (8) thì thật nhiều. Tuy là một nhưng do thiên biến vạn hoá tạo thành. Dù thiên biến vạn hoá tạo thành cũng chỉ là duy nhất mà thôi, không hình tượng mà có thể lường được, không lời nói mà có thể cảm được, không hình tượng mà hiện khắp cõi đại thiên (9), không lời nói mà nghe vang khắp cõi Phật (10). Nhỏ bé mà không cùng, hổn độn mà không hoá thành đen, ở đời trần bụi mà  trang nghiêm như Hoa Tạng thế giới , ở kiếp ô trược mà long lanh như ngọc thạch. Đó là sự may mắn của chúng sinh, chứ chẳng phải ý riêng gì của chư Phật. Kẻ giác ngộ thì thẳng đường lên Niết Bàn, còn kẻ mê lầm thì sinh diệt theo sáu con đường (11). Rồi thì cứ lo lắng, giả tướng thì nhiều. Việc thánh hiền sánh như kiến tìm mùi tanh. Chuyện thần lực cũng như gió đè cỏ mọc. Cứu mê tăm tối, bận rộn lăn lóc với những công việc cấp bách, lại phải vương mang vào tà ma, bệnh tật. Đem lời cổ nhân ra dạy bảo cũng khó làm được. Nay dùng chuông làm vật cảnh tỉnh, mới có thể có hiệu quả dần dần. Việc giáo hoá thì phải tuỳ căn cơ mà tìm phương cách. Thấy giáo lý “Nhất Thừa” (12) là hơn cả, mà chuông là vật quan hệ nhất.

Chuông, ngoài Tròn (13), Chắc (14), trong Rỗng (15), Không (16). Thường sử dụng, quá quen nên hay quên nên gọi là Tròn. Khó bị hư nên gọi là Chắc. Đem vật thọc vào, đổ chứa vào mà không trở ngại gì nên gọi là Rỗng. Ngân nga vang vọng nên gọi là Không. Nếu không phải thì sao Phật cho gõ một tiếng mà sấm trời im bặt, mọi âm vang trên mặt đất đều lặng câm. Đó là lúc trong Tam Giới (17) tỏ ngộ. May mắn biết rằng chúng sinh trong Tam Đồ mãi chịu Khổ. Biết như vậy mà không đem sức mình ra để cứu thiên hạ hay sao? Từ đó về sau, mỗi khi gặp lễ, đèn treo, chỗ sắp, nghe tiếng chuông Phật tử sắp thành hàng. Bước lên bệ gióng chuông thuyết pháp bội phần trang nghiêm. Làm được như vậy, có ai hơn được!

Nay có thầy Đạo Hạnh, từ bé cho đến lớn, cốt cách lạ thường, Tụng học kinh Liên (18) sang sảng. Xuất gia hành đạo, thấm nhuần ý Phật từ bi. Xây tháp (19) trang nghiêm. Học kinh kệ thấm nhuần đạo lý. Gặp lúc trời hạn, vung tay một cái trời mưa xuống dầm dề. Học thói người xưa nhịn ăn, ngồi nhiều năm mà vẻ mặt không thấy đói. Dân gặp lúc bịnh dịch, phẩy nước lạnh thì bịnh lành ngay. Việc chưa xảy ra mà đoán biết trước như có phù phép. Kinh dạy rằng Phật có “Tám Lời” (20), nếu không có thầy thì làm sao Tám Lời âm vang tiếp tục. Phật đặt ra “Thi La” (21), nếu không có thầy thì làm sao “Thi La” bền vững. Nếu không có thầy thì làm sao thắp được hương trong vườn phúc của Đế Thích (22). Dược Vương (23) đốt thịt chữa bệnh, nếu không có thầy thì ai chịu đựng nỗi. Quan Âm cứu nạn, nếu không có thầy thì ai biết đến công đức của ngài. Cao tăng tỏ việc linh dị, nếu không có thầy ai nối gót thần linh?

Nay chuyện hành đạo đã xong, muốn tìm nơi ẩn náu. Ra phía tây kinh thành, nơi tĩnh mịch xa, chốn ồn ào huyên náo, đi qua đường lối hiểm nghèo nhưng lòng thanh tịnh. Qua khỏi con sông, gặp núi xanh, leo đường dốc đi lên, đất đá rơi xuống lăn lóc, nắm dây trèo lên nơi cao. Núi này cao ngút bao bọc như núi Lăng Già (24), có trăng thu tròn đẹp, có dốc đá kỳ vĩ, có vòm đá, động đá thờ Phật, có mây ngũ sắc kết tủa như châu ngọc buông rèm, rực rỡ tơ vương đan hình vào nhau như màng nhện. Dưới có vết tích của Phật, giữa có đài nghê tráng lệ. Dấu Phật có ngọc trắng dưới đáy, có rồng xanh bao bọc bên ngoài. Ðài nghê có tê giác đứng trấn bên cạnh. Có đèn treo kết chuỗi thành hàng. Ðây đâu phải chỉ giống phòng phương trượng, mà chính là ngọn Thứu Phong (25). Ngày xưa các bậc ẩn sĩ góp sức, góp của làm nên, đâu có khác gì thần linh tạo thành? Thầy đến ở chưa tới mười ngày mà đã có điều linh ứng. Cọp tới chầu hầu, rồng kia thuần tính. Ðêm vắng tụng kinh Liên, trời cao vòi vọi vang nghe tiếng trống. Thầy ở suốt sáu năm, ân huệ vun đầy. Các hoàng tử xe ngựa tới lui tấp nập. Mọi người trong nước đến dâng hoa đảnh lễ. Vua cho người lại ban chiếu chỉ, làm tiệc chay cúng dường. Ban cho áo mão cà sa, cung nghinh như bậc thượng khách. Lên xe Phật để cầu Tứ quả (26). Lễ chay xong rồi, thầy chống gậy đi trở xuống chân núi. Tất cả các đệ tử mọi người cùng nói rằng: “Vách đá dựng đứng, đường đi nguy hiểm. Bước chân như thần của thầy thì đi dễ, chứ khách phàm thì làm sao bước đi được. Xem chỗ đất này cũng là nơi thắng cảnh. Ðồi núi chập chùng đâu khác gì núi Bồ Ðà. Nước trong vắt thua gì biển Hương Hải. Gọi thợ giỏi, chọn nơi chính giữa, xây lầu ngọc sáng chói bốn phương. Giữa đặt tượng Phật hào quang sáng rạng. Mọi người cùng tỏ lời nói này. Cây cỏ rì rào cùng loan tin đi. Trong chốc lát, thiện nam tín nữ tề tựu đông đúc. Chỉ trong một ngày mà quang cảnh trở nên khác lạ. Người đốn cây quý, kẻ xây lò gạch. Thước mực giăng đầy. Búa rìu chan chát. Chốc lát, sân mới nguy nga, gác lầu sừng sững. Trồng tùng xanh cho mát mẻ lối đi. Gầy hoa cảnh cho vườn thêm ngát.

Thầy nói rằng: “Chùa thì trang nghiêm, Phật tử thì đông đúc. Gặp lúc lễ lượt thuyết pháp thì phải treo chuông cảnh tỉnh. Phật pháp là chuyện của ta, nhưng chuông thì phải nhờ người”. Nói rồi, chống pháp trượng ra đi, thoăn thoắt trên khắp nẻo đường, như lân vờn thú nhảy, như phượng múa rồng bay. Người ta tranh nhau đi theo, chưa tới hai mươi ngày đã quyên được (đồng đỏ) đem về chất một đống cao. Rồi đem đến chùa Hưng Phúc. Gửi thư về tâu cho vua rõ, ngài đã cho phép dựng chùa. Nhào đất làm khuôn, đốt lửa luyện đồng Ngày đúc, thầy dù chẳng nói gì, nhưng người người vui vẻ huyên náo. Cám ơn Thái Hậu (27) nhiệt tình cho người đem tặng lễ vật. Rồi thì hết cả nhà giàu đều kéo xe tới, trai trẻ cũng lũ lượt tới giúp đến nối buôn làng vắng vẻ. Người đến đông như đi phiên chợ đông vậy. Chẳng mấy chốc, thợ rèn gắng sức, thợ đúc lo lắng chuẩn bị, thổi ống bệ tiếng nghe vang dội, lửa đỏ cháy rực, chiếu sáng lên tới dãy ngân hà. Chuông đúc xong thấy rõ lạ thường, có nhiều điểm tốt lành. Không lâu sau đó, mời mọi người buộc thừng khiêng lên. Mới chùi mà sáng bóng tợ hoa tuyết. Vừa gõ thì tiếng ngân vang như sấm, vang dậy khắp nơi. Mọi người đều mừng rỡ thích thú. Thầy sắp trở về lầu Đại Bi trên núi Bồ Đà. Dùng dây vàng buộc treo, dùng chày kình đánh chuông, ngày đêm hành đạo. Trước, báo ân dày của vua (28), cầu mong ngai vàng bền vững. Nhờ pháp khí (chuông) mà dân gian thanh bình, đất nước bình yên, con dân no ấm. Nguyện rằng đem đạo nhiệm mầu, thấu triệt thuần chân làm phúc lớn che chở cho mọi người, để khuông phò nghiệp lớn. Sau, mong cho mọi. người lớn bé cùng nương theo mà hướng đến cõi thiện, cùng theo Phật pháp. Hôm nay có được phúc lành để sau chứng ngộ.

Thầy nói với tôi rằng: “Chuông đã đúc xong, vì mọi người có duyên tu tập, còn ta chẳng có công đức gì. Hãy ghi lại tên tuổi của những người đã cúng dường để lưu truyền lại mai sau”. Huệ Hưng ít học, cầm bút viết bài minh này.

Viết rằng:

Chư Phật dùng chuông (29) cảnh tỉnh để ngộ bản tâm
Nay thầy dùng chuông phát tín âm để răn dạy đời
Trời đã mang dục sắc, hãy trở về bốn giác
Âm phủ đã bắt đầu hình phạt, hãy nghĩ cho sâu xa

Sa Môn áo tía (30) Thích Huệ Hưng phụng soạn vào ngày mồng chín, tháng tám, năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín.

[…]

Đời Trần Anh Tông thứ 12 niên hiệu Hưng Long có chiếu cấp cho ruộng thờ. (31)

Do câu cuối trong văn khắc trên chuông, chúng ta biết chuông đã được người đời Trần khắc thêm hàng chữ này.

Chú thích:

1)  Long Phù Nguyên Hoá cửu niên Kỷ Sửu: Tức là năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín (1109), đời vua Lý Nhân Tôn.

2)  Đại Việt: Nguyên chữ Cự Việt quốc 巨越國, Cự nghĩa là Lớn, Đại

3) Viện Hương Hải: tên xưa của chùa Thiên Phúc.

4) Bồ Ðà Lạc sơn: tức là núi Phật Tích, nơi chùa toạ lạc

5) Sáu thời 六時 Nguyên chữ “Lục thời” chỉ: Sáng, Trưa, Chiều, Tối, Khuya và Sáng sớm.

6) Bốn Ơn: 四恩 Tứ Ân, có nhiều thuyết. 1. Theo Kinh Tâm Ðịa Quán Bốn ơn gồm: , Ơn mẹ cha, Ơn chúng sanh, Ơn quốc vương và Ơn Tam bảo. Theo Thích Thị Yếu Lãm thì bốn Ơn gồm: Ơn cha mẹ, Ơn sư trưởng, Ơn quốc vương và Ơn thí chủ.

7) Tam đồ: 三塗 Chỉ ba con đường ác là Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh. Ba đường còn là: 1. Hỏa đồ (đường lửa): Chỉ cho Ðịa ngục là chổ nổi lửa mạnh để thiêu đốt tội nhân; 2. Huyết đồ (đường máu): Chỉ cho nẻo Súc sanh là chổ ăn thịt lẫn nhau; 3. Ðao đồ (đường dao): Chỉ cho nẻo Ngạ quỷ là chổ bị gươm đao, gậy gộc bức bách.

8 ) Vọng cảnh : 妄境 Cảnh giả, không thật

9) Đại thiên: 大千. Tức là Tam thiên Ðại thiên thế giới, Kinh nói: Thế giới chia ra làm Tiểu thiên, Trung thiên và Ðại thiên, ba loại khác nhau. Gộp 4 đại châu, mặt trăng, mặt trời, chư thiên lại thì thành một thế giới. Một ngàn thế giới thì gọi là Tiểu thiên thế giới. Một ngàn Tiểu thiên thì gọi là Trung thiên thế giới. Một ngàn Trung thiên thì gọi là Ðại thiên thế giới.

10) Cõi Phật: Nguyên chữ “Sát 剎” , nghĩa là: Ruộng, nước, xứ. Thông thường dùng để chỉ “đất Phật”

11) Sáu con đường: Nguyên chữ Lục thú: 六趣 Còn gọi là Lục đạo, sáu đường ở chốn luân hồi. Theo Phật học, chúng sanh tùy theo nghiệp quả của mình mà chuyển sanh vào lục đạo: Thiên (Trời), A Tu La (Thần), Nhân (Người), Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ (Quỷ đói), Súc Sinh (Thú vật).

12) Nhất Thừa: 一乘 Cỗ xe duy nhất, để chỉ Phật thừa, là pháp môn duy nhất viên mãn. Cỗ xe mà Phật dùng đi đường, tức cỗ xe độc nhất tối sơ tối hậu mà mỗi chúng sanh vốn mang Phật tính dùng để đi trên con đường Ðạo nhất như chân thật. Danh từ này còn dùng để chỉ Bồ tát thừa trong Tam thừa.

13) Tròn: Nguyên chữ Viên 圓

14) Chắc: Nguyên chữ Thực 寔

15) Rỗng: Nguyên chữ Hàm 含

16) Không:.Nguyên chữ Hư 虛

17) Tam Giới: 三界 Chỉ nơi sinh sống của chúng sinh gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

18) Kinh Liên: Nguyên chữ Liên kinh 蓮經 chỉ Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tức kinh Pháp Hoa

19) Xây tháp: Nguyên chữ Bát Chủng 八種, chỉ Bát Chủng tháp 八種塔 như tháp Như Lai 如來塔, tháp Bồ Tát 菩薩塔, tháp Duyên Giác 緣覺塔, tháp A La Hán 阿羅漢塔, tháp A Na Hàm 阿那含塔, tháp Tư Ðà Hàm 斯陀含塔, tháp Tu Ðà Hoàn 須陀洹塔 và tháp Chuyển Luân Vương 轉輪王塔. Tám vị: Như Lai, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán, A Na Hàm, Tư Ðà Hàm, Tu Ðà Hoàn và Chuyển Luân Vương sau khi nhập diệt (chết) phải xây tháp thờ.

20) Tám Lời: Văn khắc viết 辨(辯), nguyên chữ Bát Biện 八辯 Tám biện tài. Chỉ tám tài khéo biện luận của Như Lai: 1. Bất Tư Hát biện 不嘶喝辯 (Biện luận chẳng cần hò hét, gào thét) ; 2. Bất Mê Loạn biện 不迷亂辯 (Biện luận chẳng mê loạn, lú lẫn) ; 3. Bất Bố Úy biện 不怖畏辯 (Biện luận mạnh dạn, không sợ hãi gì) ; 4. Bất Kiêu Mạn biện 不憍慢辯 (Biện luận không tỏ vẻ kiêu mạn) ; 5. Nghĩa Cụ Túc biện 義具足辯 (Biện luận nghĩa lý đầy đủ) ; 6. Vị Cụ Túc biện 味具足辯 (Biện luận ý vị đầy đủ) ; 7. Bất chuyết sáp biện 不拙澀辯 (Biện luận lưu loát, chẳng vụng về ngắt ngứ) ; 8. Ứng Thời Phân biện 應時分辯 (Biện luận đúng lúc).

21) Thi La: 尸羅 Dịch âm tiếng Phạn Sila, có nghĩa là phòng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và tâm. Phật đặt ra để đệ tử thi hành ngăn ngừa điều dữ.

22) Vườn phúc của Đế Thích: Nguyên chữ Đế Thích phúc điền 帝釋福田. Do chữ Đế Thích tứ uyển 帝釋四苑 là nơi Đế Thích Thiên cư ngụ, có hồ Như Ý đầy ắp nước tám Công Đức 帝釋天居於須彌山頂之善見城,城外之四面各有一苑,形皆正方,於各苑之中央皆有一如意池,池中八功德水盈滿,為帝釋諸天遊戲之處

23) Dược Vương: 藥王 vị Bồ Tát chuyên ban phát thuốc lành cứu chữa bệnh tật cho chúng sinh.

24) Lăng Già sơn: 楞伽山 núi Lăng Già, còn gọi là Già Sơn. Tương truyền nơi đây Phật truyền giảng kinh Lăng Già. Núi chất đầy bảo vật, hào quang sáng lạng, chiếu khắp mười phương, có đầy hoa thơm cỏ lạ, nhiều chùa, nhiều bảo vật cúng dường Phật pháp.

25) Thứu phong: 鷲峰 Còn gọi là Linh Thứu phong, Thứu Ðầu sơn, Thứu Ðài. Tương truyền đây là nơi Phật truyền giảng kinh Pháp Hoa.

26) Tứ quả: 四果 Chỉ bốn loại thánh quả khác nhau của Thanh Văn thừa: Các nhà phiên dịch cũ dùng tên Phạn gọi bốn quả đó là: Quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm và quả A-la-hán. Các nhà phiên dịch mới dịch là: Dự Lưu quả, Nhất Lai quả, Bất Hoàn quả và A La Hán quả.

27) Thái hậu: Tức Ỷ Lan nguyên phi của vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông.

28) Vua: Chỉ vua Lý Nhân Tông

29) Chuông: Nguyên chữ Kiền Trĩ 犍稚 dịch từ chữ Phạn Ghantà, nghĩa là các dụng cụ dùng để báo giờ giấc trong chùa. Trong truyện Cảm Thông kể rằng ngày xưa Phật Tỳ Lô Giá Na ở nước Tu Ða La xứ Càn Trúc tạo một cái chuông bằng đá xanh, mỗi lần đánh lên thì có vô số Hoá Phật hiện thân trong hư không tuyên thuyết diệu pháp, người nghe ngộ đạo đến vô số. Chuông ở đây là chuông lớn, nguyên bản viết “Hồng Chung” 洪鐘 còn gọi là Ðại hồng chung hay chuông U Minh, đánh vào mỗi buổi sáng và khi hoàng hôn. Ðánh lúc hoàng hôn để nhắc nhở cảnh vô thường, đánh vào buổi sáng sớm thức tỉnh lòng người bỏ tà quy chánh, dứt bỏ trần duyên để thoát ly sanh tử luân hồi.

30) Áo tía: Vua ban Cà Sa màu tía cho các vị thường là Quốc sư. Tục này bắt đầu tới Võ Tắc Thiên (684-774) ở Trung Quốc. Ở nước ta Thông Biện là người đầu tiên nhận áo tía được biết (theo Thiền Uyển Tập Anh).

31) Tức năm Giáp Thìn 1304 đời vua Trần Anh Tông,

Tham khảo:

  1. “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam-từ Bắc thuộc đến thời Lý”, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, 1999
  2. “Phật Quang đại từ điển”, Fo Kuang xuất bản xã, Taipei
  3. “Thiền Uyển Tập Anh”, Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản T.P Hồ Chí Minh, 1999
  4. “Lĩnh Nam Chích Quái”, Chen Ching Hao, Học Sinh thư cục xuất bản, Taipei, Taiwan, 1987
  5. “300 ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường, CD, Tin Việt, T.P Hồ Chí Minh, 1996
  6. “Việt Sử Lược”, bản Tứ Khố Toàn Thư, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan
  7. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư” bản Chính Hoà, 1696, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999
  8. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Hiệu hợp bản của Chen Ching Ho, Soka university, Tokyo
  9. “An Nam Chí Nguyên”, École Francais d’Extrême Orient, Hà Nội, 1931

10.  “Lịch triều hiến chương loại chí”, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan

11.  “Kiến Văn Tiểu Lục”, Lê Quý Đôn, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977.

12.  “An Nam Chí Lược”, “Lê Trắc (Tắc)”, Trung Hoa thư cục xuất bản, Peking, 1995 .

13. “Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Sơn Tây”, Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Đặc Trách   Văn Hoá, phủ Quốc Vụ Khanh, 1963, Sàigon.

Bầy con của Thiên hoàng

Yamaoka Tesshu là thầy của Thiên hoàng. Yamaoka còn là một kiếm sư và là một thiền sư thâm hậu.

Nhà của thiền sư là nơi ở của những người lang thang. Thiền sư chỉ có một bộ đồ, vì những người này làm thiền sư nghèo mãi.

Thiên hoàng, thấy áo thiền sư đã sờn rách quá, cho thiền sư tiền để mua áo mới. Lần tới thiền sư đến, ông lại mang cái áo cũ.

“Vậy bộ áo mới đâu rồi, Yamaoka?” Thiên hoàng hỏi.

“Tôi mua áo quần cho đám con của bệ hạ rồi,” Yamaoka giải thích.
.

Bình:

• Tất cả thần dân trong nước đều được xem là con cái của Thiên hoàng.

• Thiền sư nghèo vì nuôi người nghèo là chuyện thường. Chuyện thú vị ở đây là Yamaoka là gạch nối thường trực giữa người cao nhất nước và những người nghèo nhất nước, một gạch nối rất chắc—sống với người nghèo hàng ngày, và dạy vua thường xuyên. Thế gian có bao nhiêu người làm được gạch nối đó?

• Và thế gian có bao nhiêu vua, bao nhiêu lãnh đạo, thông thái đủ để giữ được một gạch nối như vậy với mình?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Children of His Majesty

Yamaoka Tesshu was a tutor of the emperor. He was also a master of fencing and a profound student of Zen.

His home was the abode of vagabonds. He has but one suit of clothes, for they kept him always poor.

The emperor, observing how worn his garments were, gave Yamaoka some money to buy new ones. The next time Yamaoka appeared he wore the same old outfit.

“What became of the new clothes, Yamaoka?” asked the emperor.

“I provided clothes for the children of Your Majesty,” explained Yamaoka.

# 66

Thứ năm, 25 tháng 3 năm 2010

Bài hôm nay

“Bố tôi là người hốt rác” – Lonnie Donegan, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển.

Phép vua thua lệ làng, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Tình yêu, Danh Ngôn, song ngữ, chị Lê Dung.

Quê hương ơi xin ân xá hồn trần, Thơ, anh Bùi Minh Vũ.

Bạn – Người Ngư Phủ, Thiền thi Ikkyu, anh Trần Đình Hoành.

Dấu đá chưa mờ, Nước Việt Mến Yêu, Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Một bài luận về Cuộc Sống , Trà Đàm, song ngữ, chị Hoàng Khánh Hòa.

Trừ ma, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Scholarship, Grants & Jobs

UNESCO Fellowships


The fellowships offered under this scheme are of short term duration (6 months maximum) and are intended for specialized training at the postgraduate level. Priority targets are promising and qualified specialists who seek to undertake advanced research or to upgrade their skills and knowledge of state-of-the-art developments in their field of study or work.

Target candidates:

Graduate and Postgraduate candidates for study abroad wishing to:

* Pursue training;
* Undertake advanced research;
* Upgrade skills; or
* Attend specialized or refresher courses.

Readmore:
http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/03/unesco-fellowships.html

Essence of Thang Long Cuisine (Tinh hoa ẩm thực Thăng Long Hà Nội)

IVCE is pleased to announce the seminar on “The Essence of Thang Long Hanoi Cuisine”

Thousands of traditional soul foods of Thang Long Hanoi have been well preserved in restaurants or street-food stands all over Vietnam, and some are introduced and promoted around the world, yet many have been forgotten. Beginning from the “Thuc vat Tat Khao” (Thực vật tất khảo tường ký lục “Records of the methodic steps in food recipes”), which was written in Nôm (the traditional Vietnamese language) in 1735 during the Le-Trinh dynasty, there were 189 exotic gourmet recipes… to the “Nu cong Thang Lam” (Nữ công thắng lãm “Winning Magnificient Recipes for the Work of Women) written by Medicine Grandmaster Hai Thuong Lan Ong… to those colorful dishes specially prepared for Tet (New Year) celebrations, wedding ceremonies, family dining, etc.

Time: 5-7pm. Friday March 26, 2010.
Happy hour, 5-6pm: food and drink
Place: Viet Cafe. 345 Greenwich Street, New York City. Tel: (212)431-8889.

More info: Please click here The Essence of Thang Long Hanoi Cuisine

Source: http://ivce.org/index.php
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

“Bố tôi là người hốt rác” – Lonnie Donegan

Chào các bạn,

Những công việc như giám đốc, kỹ sư, giáo viên, bồi bàn tuy khác nhau về thu nhập và đặc điểm công việc, và trong một xã hội kỳ thị, là vị trí xã hội. Nhưng, bỏ qua mấy cái nhãn hiệu công việc đi, đằng sau đó là ai nhỉ?

Là những người lao động để trước nhất nuôi ấm bản thân và gia đình, sau đó là giúp ích cho cộng đồng.  Tất cả đều có những câu chuyện của mình. Người hàng xóm của bạn là ai? Là bác xe ôm nuôi cậu con đi học đại học hay cô gái uốn tóc kiếm tiền gửi cho gia đình ở quê?

Tất cả những con người ít thấy đó cần được biết đến nhiều hơn để hòa nhập chung với cộng đồng và nâng cao nhân phẩm xã hội. À, mình không bắt đầu nghiêm trọng đâu nhé. Tại sao ta không hát vui về họ nhỉ? Bác lái xe ôm ơi, bác thích công việc của mình thế nào? Nghề của bác có gì hay, có gì không hay? Thỉnh thoảng gặp lưu manh thì bác làm thế nào?

Tại sao không sáng tác các ca khúc về những con người trên đường phố ta thấy hàng ngày nhỉ?

Bài hát sau đây, “Bố của tôi là người hốt rác” hát về câu chuyện của người bố làm nghề hốt rác rất vui vẻ do anh Lonnie Donegan sáng tác. Lonnie Donegan được coi là vua của thể loại nhạc Skiffle và là nghệ sĩ người Anh thành công và có ảnh hưởng lớn nhất trước ban nhạc Beatles.

“My old man is a dustman” đứng vị trí số 1 của UK Singles Chart tháng 4 năm 1960 và đứng thứ 29 trong “Top 100 Hits of 1960” của 40 đài radio đứng đầu của Canada. Bài hát này cũng là nhạc chuông điện thoại phổ biến ngày hôm nay. 🙂

Sau đây chúng ta có ba video của bài hát. Hai video đầu mô tả cuộc sống của My old man do ca sĩ Lonnie Donegan hát. Video thứ ba do nhóm nhạc cây nhà lá vườn thể hiện 🙂 Sau đó là lời nhạc.

What does your old man do?

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển
.

My old man’s a dustman
.

My old mans a dustman
.

My Old Man’s A Dustman
Bob Ritchie ( accordion ), Ian Ritchie ( eigenharp, vox ) and Holly Penfield ( piano, vox ) perform “My Old Man’s A Dustman” in Parbold, Lancashire. August 2009.
.

MY OLD MAN’S A DUSTMAN
(Buchanan / Donegan / Thorne)
Lonnie Donegan – 1960

Now here’s a little story
To tell it is a must
About an unsung hero
That moves away your dust.
Some people make a fortune,
Others earn a mint;
My old man don’t earn much:
In fact he’s flippin’ skint.
Oh, my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
He looks a proper nana
In his great big hobnail boots,
He’s got such a job to pull them up
That he calls ’em daisy roots.
Some folks give tips at Christmas,
And some of them forget,
So when he picks their bins up
He spills some on the step.
Now one old man got nasty
And to the council wrote,
Next time my old man went round there
He punched him up the throat.
Oh my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, Les.
Les: Yes?
Lonnie: I, er, I found a police dog in my dustbin.
Les: Well how do you do know he’s a police dog?
Lonnie: He had a policeman with him.
Though my old man’s a dustman,
He’s got an ‘eart of gold,
He got married recently
Though he’s eighty-six years old.
We said “‘Ere, hang on, Dad,
You’re getting past your prime”;
He said “Well, when you get to my age
It helps to pass the time.”
Oi! My old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, I say!
Les: Huh?
Lonnie: My dustbin’s full of lilies.
Les: Well throw ’em away then!
Lonnie: I can’t: Lily’s wearing them.
Now one day whilst in a hurry,
He missed a lady’s bin:
He hadn’t gone but a few yards
When she chased after him.
“What game do you think you’re playing?”
She cried right from the ‘eart,
“You’ve missed me, am I too late?”
“No, jump up on the cart!”
Oi! My old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, I say!
Les: Not you again!
Lonnie: My dustbin’s absolutely full with toadstools.
Les: How do you know it’s full?
Lonnie: ‘Cos there’s not mushroom inside.
He found a tiger’s head one day
Nailed to a piece of wood
The tiger looked like miserable,
But I suppose he should.
Just then from out a window
A voice began to wail,
It said “Oi! Where’s me tiger’s head?”
“Four foot from his tail.”
Oh my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Next time you see a dustman
Looking all pale and sad,
Don’t kick him in the dustbin:
It might be my old dad.

Tư duy tích cực mỗi ngày